1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn đổi mới phương pháp giảng dạy trong giờ ôn tập ngữ văn bậc THCS

22 497 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

skkn đổi mới phương pháp giảng dạy trong giờ ôn tập ngữ văn bậc THCS

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

-ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng xét duyệt Sáng kiến Thành phố Ninh Bình

Trình độ chuyên môn

Tỷ lệ

% đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến

1 Hoàng Thị Thanh Hoa 25/9/1975

TrườngTHCS NinhThành

TổtrưởngTổKHXH

Hiệutrưởng

Đại

Là nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Đổi mới phương pháp giảng dạy trong giờ Ôn tập Ngữ văn bậc THCS”.

I LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN: Môn Ngữ văn cấp THCS.

II CHỦ ĐẦU TƯ SÁNG KIẾN: Trường THCS Ninh Thành.

III THỜI GIAN ÁP DỤNG: Năm học 2013 - 2014, 2014 - 2015.

Trang 2

IV Mễ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN

Đổi mới phương phỏp dạy học theo hướng phỏt huy tớnh tớch cực của họcsinh là một trong những yếu tố quan trọng gúp phần nõng cao hiệu quả, chất lượngdạy và học nhất là ở bậc học THCS Nghị quyết Hội nghị Trung ơng VIII khóa IX

về đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục cũng đó nờu rừ:“Tiếp tục đổi mới mạnh

mẽ phương phỏp dạy và học theo hướng hiện đại; phỏt huy tớnh tớch cực chủ động, sỏng tạo và vận dụng kiến thức kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều, ghi nhớ mỏy múc Tập trung dạy cỏch học, cỏch nghĩ, khuyến khớch tự học chuyển từ học chủ yếu trờn lớp sang tổ chức hỡnh thức học tập đa dạng, chỳ

ý cỏc hoạt động xó hội ngoại khúa ”

Đối với cỏc bộ mụn khoa học khỏc việc thực hiện đổi mới phương phỏp dạyhọc để đạt được hiệu quả tốt đó là khú, khụng phải một sớm một chiều cú thể thựchiện được, thỡ đối với mụn Ngữ văn điều đú càng khụng dễ dàng, nhất là ở nhữngtiết “ễn tập”, “Tổng kết” Những tiết học này hầu như được phõn phối đều ở cỏckhối lớp cuối mỗi học kỳ hoặc tổng kết mỗi giai đoạn văn học:

chương trỡnh

Ghi chỳ

8 ễn tập truyện kớ Việt NamTổng kết phần văn 132-13338

9 ễn tập về thơTổng kết phần văn bản nhật dụng 133-134129

Trang 3

nghiệp vụ và tài liệu tham khảo,… chưa đổi mới được hình thức ôn tập dẫn đến giờhọc nhàm chán, căng thẳng, không gây được hứng thú học tập cho học sinh; học sinh ngại học, chán học, không phát huy được tính tích cực, chủ động của bản thân.

Vậy làm thế nào để thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học ở nhữngtiết ôn tập phần văn thuộc môn Ngữ văn THCS? Làm thế nào để phát huy được tínhtích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập? Giúp học sinh không chỉyêu thích môn học mà còn say mê học tập, chủ động chiếm lĩnh kiến thức, tự tinmạnh dạn thể hiện được khả năng sáng tạo của bản thân trong các giờ ôn tập?

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới và thực tế giảng dạy chúng tôi mạnh dạn đề xuất giải

pháp: “Đổi mới phương pháp giảng dạy trong giờ Ôn tập ngữ văn bậc THCS”

1 Giải pháp cũ thường làm

1.1 Mô tả giải pháp cũ

Kiến thức của dạng bài ôn tập có liên quan chặt chẽ không chỉ trong mộtcụm bài nhất định của một khối lớp nào đó mà có sự gắn kết kiến thức trong cảmột học kì hoặc cả một chương trình học nên nội dung kiến thức của bài ôn tậpthông thường bao giờ cũng gồm có hai phần cơ bản đó là phần hệ thống lại nhữngkiến thức cơ bản của các văn bản đã học theo mẫu bảng thống kê trong sách giáokhoa (về tên các văn bản đã học, tác giả, thể loại, nội dung, giá trị nghệ thuật đặcsắc) và phần còn lại từ việc củng cố khắc sâu kiến thức của các văn bản giúp chohọc sinh nắm vững hơn về giá trị nội dung, nghệ thuật, thể loại hoặc có cái nhìnkhái quát hơn về hiện thực được phản ánh trong các văn bản Từ đó giúp học sinhbiết liên hệ, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn

Thông thường khi dạy dạng bài này giáo viên thường sử dụng phương phápđàm thoại là chủ yếu để ôn tập kiến thức Cụ thể: ở phần lập bảng thống kê theomẫu giáo viên thường phát vấn theo những yêu cầu ở bảng thống kê về từng vănbản để học sinh nhớ lại những kiến thức đã học hoàn thành bảng thống kê

Ví dụ: Khi dạy bài Ôn tập truyện và kí tiết 117 ở lớp 6 để giúp học sinh hoàn

Trang 4

Giáo viên thường đặt các kiểu câu hỏi như:

? Văn bản truyện hiện đại đầu tiên mà em được học trong chương trình Ngữvăn 6 là văn bản nào? Tác giả là ai?

? Theo em văn vản này viết theo thể loại gì

? Em hãy tóm tắt nội dung, nghệ thuật của văn bản

Sau khi hệ thống xong kiến thức của văn bản thứ nhất giáo viên lại lần lượt chuyểnsang các văn bản khác cho đến khi hoàn thành bảng thống kê

Hoặc giáo viên cho học sinh kể tên, hệ thống lại toàn bộ các văn bản truyện và kíhiện đại đã học Rồi lần lượt tổ chức cho học sinh chỉ ra tên tác giả, thể loại, nghệthuật, nội dung của từng văn bản

1.2 Ưu điểm của giải pháp cũ

- Với cách làm này, bài dạy vẫn tuân thủ đầy đủ nội dung trong sách giáo khoa

- Giúp học sinh củng cố được những kiến thức đã học

1.3 Tồn tại của giải pháp cũ

- Không phát huy được vai trò chủ động tích cực của học sinh, hình thức hỏi lặp đilặp lại sẽ khiến giờ học trở nên nhàm chán

- Học sinh thụ động, chỉ trả lời theo những câu hỏi của thầy rồi ghi chép vào vở.Đối với những học sinh yếu sẽ càng trở nên chán nản, uể oải không tạo được hứngthú học tập và không phát huy được sự sáng tạo của học sinh

- Do phải ghi chép lại các nội dung theo bảng thống kê nên học sinh mất nhiều thờigian vào việc ghi chép, thời gian dành cho việc củng cố khắc sâu kiến thức bài cũ

sẽ hạn chế Khảo sát từ thực tiễn ở nhà trường cũng đã cho thấy nhiều học sinhngại hoặc không thích học các giờ ôn tập là vì những lí do trên

2 Giải pháp mới cải tiến

2.1 Mô tả giải pháp mới

Để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, tạo cho các em niềm hàohứng, sự say mê sôi nổi trong giờ học, dễ dàng củng cố nắm chắc kiến thức đã họcnhất là với các đối tượng học sinh yếu, đòi hỏi giáo viên phải đổi mới, thực hiện tốt

Trang 5

ở tất cả các khâu từ chuẩn bị bài cho đến việc tổ chức các hoạt động dạy học trênlớp.

a/ Khâu chuẩn bị bài

* Đối với giáo viên:

- Giáo viên phải chuẩn bị bài thật kỹ Phải định hướng trước các đơn vị kiến thứctrong tiết ôn tập Kiến thức nào lướt qua, kiến thức nào cần khắc sâu? Nên tiếnhành ôn tập theo phương pháp nào? Cần chuẩn bị đồ dùng dạy học nào? Phươngtiện dạy học gì? Phần luyện tập cần giải những bài tập nào theo SGK, bài nào đểhọc sinh về nhà làm… Cần luyện tập thực hành theo hình thức nào? Nghĩa là giáoviên phải thiết kế được bài dạy theo hướng thực sự đổi mới, phải tích cực ứng dụngcông nghệ thông tin trong việc xây dựng phương pháp ôn tập sáng tạo, linh hoạt vàgây hứng thú học tập cho học sinh qua các trò chơi “chơi mà học - học mà chơi ”;qua các nội dung khám phá vv… Thay đổi hình thức ôn tập theo nội dung của từngphần để học sinh không cảm thấy nhàm chán Phải thiết kế được nội dung ôn tậpđảm bảo cho tất cả các đối tượng học sinh đều hào hứng tham gia

- Để giờ Ôn tập thành công, từ tiết học trước, giáo viên phải dặn dò học sinh chuẩn

bị bài thật kỹ, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các em Phần lập bảng hệ thống hóa kiến thức đã học, giáo viên nên cho học sinh chủ động tự lập bảng trước ở nhà.

- Giáo viên phải kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh và có hình thức động viênkhuyến khích kịp thời để phát huy tính năng động, sáng tạo, tinh thần hợp tác tíchcực của học sinh trong suốt tiết ôn tập Bên cạnh đó giáo viên cũng phải có hìnhthức phê bình những học sinh không chuẩn bị bài, hoặc chuẩn bị qua loa, đối phó.Giáo viên cần tỏ ra nghiêm khắc nhưng cũng phải tạo môi trường thân thiện để họcsinh mạnh dạn tích cực, chủ động trong quá trình ôn tập

* Đối với học sinh:

Mặc dù thầy là người chủ đạo, là người điều khiển lớp học nhưng học sinh lại làđối tượng trung tâm Có phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh haykhông, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào sự chuẩn bị của các em Việc chủ độngchuẩn bị bài, hợp tác tích cực trong suốt tiết ôn tập của học sinh có vai trò vô cùng

Trang 6

quan trọng cho sự thành công của tiết ôn tập Để học tiết ôn tập thật tốt, học sinhcần:

- Chuẩn bị bài theo yêu cầu của giáo viên: có thể thống kê kiến thức theo dạng sơ

đồ như yêu cầu vở bài tập hoặc SGK hay chuẩn bị theo yêu cầu của phiếu học tập

- Học sinh phải tập so sánh chỉ ra những điểm giống và khác nhau, tác dụng của điểm giống và khác nhau của các đơn vị kiến thức Hoặc tìm những dẫn chứngthực tế liên hệ minh họa cho đơn vị kiến thức đang ôn tập Có như thế mới giúphọc sinh tư duy sâu và hiểu bài có hệ thống

- Học sinh có thể tập kịch, hoạt cảnh, ngâm thơ… để làm bật ý nghĩa của tác phẩmđang học

Ví dụ: khi dạy bài Ôn tập truyện dân gian ở lớp 6, giáo viên có thể cho học

sinh chuyển thể một đoạn trong truyện ngụ ngôn “Ếch ngồi đáy giếng” (Ngữ văn 6

tập 1) thành một đoạn kịch để thể hiện trước lớp Hoặc bài Ôn tập truyện kí Việt Nam ở lớp 8, học sinh có thể tập đóng vai nhân vật trong các trích đoạn “Lão

Hạc”; “Tức nước vỡ bờ” để thể hiện tâm trạng hoặc tính cách của nhân vật Khi

dạy Ôn tập về thơ ở lớp 9 giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị tập

ngâm thơ

b/ Tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp

Hoạt động 1 Giới thiệu bài, khởi động tiết học.

Đây là hoạt động tạo tâm thế tốt cho học sinh ngay từ đầu tiết học nên nhấtthiết giáo viên cần thực hiện tốt hoạt động này bằng việc tổ chức cho học sinh nghemột số các đoạn nhạc, hoặc xem các hình ảnh có liên quan đến các văn bản ôn tậpkết hợp với các câu hỏi đố vui để giúp học sinh hào hứng ngay từ những giây phútđầu tiên của giờ học

Ví dụ:

Dạy bài Ôn tập về thơ (tiết 129 - lớp 9): giáo viên cho học sinh nghe các đoạn nhạc được phổ nhạc từ bài thơ Đồng chí, Viếng lăng Bác, Mùa xuân nho nhỏ

sau đó hỏi học sinh: Những bài hát các em vừa nghe được phổ nhạc từ các bài thơ

ở giai đoạn nào mà các em đã được học ?

Từ những câu trả lời của học sinh giáo viên có thể dẫn dắt để giới thiệu vào bài

Trang 7

Hoạt động 2 Tiến hành nội dung ôn tập.

Để học sinh hào hứng sôi nổi tích cực tham gia vào việc hoàn thành bảngthống kê, thay vì phương pháp đàm thoại như đã nói ở trên, hiện nay giáo viên đã

có nhiều phương tiện, thiết bị hiện đại hỗ trợ cho việc giảng dạy nên giáo viên cóthể thực hiện theo hình thức của một trò chơi mà nội dung của trò chơi dựa vàokiến thức cần đạt ở bảng thống kê

Ví dụ:

Khi dạy bài Ôn tập truyện kí Việt Nam (tiết 38 - lớp 8) phải giúp học sinh củng cố nắm chắc, khắc sâu kiến thức về các văn bản truyện kí đã học ở các phương diện thể loại, phương thức biểu đạt, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật theo yêu cầu cần đạt ở bảng thống kê:

Tên văn bản,

tác giả Thể loại

Phương thức biểu đạt

Nội dung chủ yếu Đặc sắc

nghệ thuật

Giáo viên có thể đóng vai như một người dẫn chương trình giúp học sinh hệthống lại kiến thức đã học một cách hào hứng, sôi nổi nhất theo các phần chơi:

1 Phần khởi động Mục đích của phần chơi này là giúp học sinh củng cố

kiến thức về các văn bản, tác giả đã học nên ở phần thi này giáo viên có thể chohọc sinh quan sát hình ảnh minh họa để kể tên văn bản truyện kí đã học và dựa vàomột số thông tin về tác giả để đoán chính xác tên tác giả tương ứng các văn bảntruyện kí đã học

2 Phần vào cuộc Ở phần này, các em học sinh phải thật nhanh mắt, nhanh

tay phát hiện phương án đúng về thể loại, phương thức biểu đạt của các văn bản

3 Phần vượt trướng ngại vật Dựa vào kiến thức đã học, học sinh phải có

kĩ năng quan sát nhanh dựa vào những số liệu đã cho trước để tìm ra giá trị nghệthuật của các văn bản

4 Phần về đích Phần này đòi hỏi các em phải nắm thật vững giá trị nội dung của

các văn bản để điền vào chỗ trống những từ ngữ còn thiếu, hoàn chỉnh nội dungcác văn bản truyện kí đã học

Trang 8

Tiết dạy minh họa cụ thể: Tiết 38 - lớp 8 Ôn tập truyện kí Việt Nam.

- Là nhà văn hiệnthực xuất sắc vớinhững truyện ngắn

(1911 - 1988)

- Quê: ngoại ôThành phố Huế

- Các sáng tác củaông đều toát lên vẻđẹp đằm thắm, tình

(1918 - 1982)

- Quê: thành phốNam Định

- Là nhà vănchuyên viết vềphụ nữ và nhi

Trang 9

nông thôn trước

Như vậy, qua những thông tin giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện ởphần khởi động, học sinh không chỉ có tên tất cả các văn bản cần ôn tập, giúp các

em nắm vững hơn về các tác giả, văn bản truyện kí Việt Nam đã học mà còn rènđược cho các em kĩ năng phát hiện vấn đề nhanh, chính xác, đặc biệt là kĩ năngtrình bày, giới thiệu về một vấn đề nào đó trước tập thể Với cách tổ chức này tất

cả học sinh đều hào hứng tham gia, kể cả học sinh yếu cũng mạnh dạn thể hiện ýkiến của bản thân

Phần 2: vào cuộc

Sau khi kết thúc phần chơi thứ nhất, giáo viên giới thiệu chuyển sang phầnchơi thứ 2 để học sinh xác định thể loại và phương thức biểu đạt của các văn bản

1 Bước 1: giáo viên cho học sinh xác định thể loại và phương thức biểu đạt

tương ứng với từng văn bản ng ng v i t ng v n b n ứng với từng văn bản ới từng văn bản ừng văn bản ăn bản ản

2 Bước 2: Kiểm tra, củng cố hiểu biết về các thể loại bằng cách yêu cầu học sinh trình bày những hiểu biết của mình về các thể loại đó.

Ví dụ

? Em hãy trình bày những hiểu biết của mình về thể loại truyện ngắn

? Em hiểu gì về thể loại hồi kí? Thể loại tiểu thuyết có gì khác với truyệnngắn và hồi kí

Hoặc để kiểm tra việc nắm vững kiến thức ở học sinh, nắm vững nhữngkiến thức biểu đạt qua từng văn bản giáo viên có thể dựa vào bảng tổng hợp hỏi kĩhơn như: ? Em hãy chỉ ra yếu tổ biểu cảm được thể hiện trong văn bản Lão Hạc

Trang 10

Sau khi củng cố xong phần thể loại và phương thức biểu đạt giáo viên chốt ý

và chuyển sang phần khác

Phần 3: vượt chướng ngại vật

Mục đích của phần chơi này là củng cố khắc sâu kiến thức về giá trị nghệthuật của từng văn bản, nếu giáo viên chỉ phát vấn câu hỏi và học sinh trả lời thì cóthể các em sẽ trả lời theo kiểu học vẹt Để khắc phục tình trạng này, giáo viên chohọc sinh quan sát thật kỹ những thông tin cho trước về giá trị nghệ thuật của cácvăn bản để xác định xem những thông tin đó ứng với từng văn bản truyện kí nàothì đòi hỏi học sinh phải nắm chắc giá trị nghệ thuật của các văn bản mới tránhđược nhầm lẫn

- Miêu tả tâm lý nhân vật đặc sắc

- Có những hình ảnh so sánh độc đáo.

- Khắc họa nhân vật rõ nét, tự nhiên.

- Bút pháp miêu tả linh hoạt sống động.

- Ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ đối thoại đặc sắc.

- Nghệ thuật kể chuyện, khắc họa nhân vật đặc sắc.

- Bút pháp miêu tả tâm lý nhân vật.

Dựa vào kiến thức học sinh vừa xác định giáo viên có thể phát vấn để đánhgiá mức độ hiểu, vận dụng kiến thức của học sinh

Ví dụ:

? Em hãy chỉ ra những hình ảnh so sánh đặc sắc trong hai văn bản: Tôi đi học và Trong lòng mẹ.

? Những hình ảnh so sánh ở hai văn bản trên có tác dụng gì

? Tại sao nói nhân vật chị Dậu được khắc họa rõ nét, tự nhiên

? Những nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản có ý nghĩa gì (nghệ thuật là phương tiện để chuyển tải nội dung tư tưởng của tác giả, làm cho văn bản trở nên sinh

Trang 11

động, cuốn hút người đọc người nghe).

Sau khi giúp học sinh nhớ lại, củng cố khắc sâu kiến thức về giá trị nghệthuật của các văn bản truyện kí đã học giáo viên chốt ý và chuyển sang củng cố về

nội dung của văn bản qua phần chơi về đích

Bộ mặt tàn ác, bất nhân của xã hội thực dân phong kiến đương thời và

Số phận

của người nông

dân trong xã hội

cũ và

của họ.

Sau khi học sinh hoàn chỉnh về giá trị nội dung của các văn bản, giáo viêncần trực tiếp đặt câu hỏi để khắc sâu kiến thức về nội dung của các văn bản, cụ thểnhư sau:

Văn bản Tôi đi học:

? Những kỉ niệm trong sáng của nhân vật tôi trong ngày đầu đến trường được kể theo trình tự nào (trình tự thời gian, không gian: trên đường tới trường - lúc ở sân trường - ở trong lớp học)

? Qua đó giúp em hiểu được gì về cảm xúc, tâm trạng của nhân vật tôi trong ngày đầu tiên đến trường.

- Tâm trạng hồi hộp, cảm giác bỡ ngỡ, trang trọng và lo lắng của nhân vật tôi trong

buổi tựu trường đầu tiên

Văn bản Trong lòng mẹ:

? Tại sao chúng ta có thể khẳng định rằng Bé Hồng có một hoàn cảnh đáng thương và tội nghiệp.

- Mồ côi cha, sống xa mẹ Mẹ do nghèo túng phải bỏ đi tha hương cầu thực

- Bản thân sống nhờ nhà cô ruột nhưng thiếu vắng tình yêu thương, luôn bị hắt hủi

? Trong hoàn cảnh đó bé Hồng vẫn luôn dành cho mẹ tình cảm như thế nào.

- Yêu thương mẹ cháy bỏng, tôn trọng, tin tưởng mẹ

Ngày đăng: 11/12/2015, 21:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w