3- Phân tích nội dung phân tích chuẩn độ thể tích trong các đề thi học sinh giỏiQuốc gia vòng 1, vòng 2 để thấy được mức độ yêu cầu vận dụng cơ sở lí thuyết ngàycàng cao của các đề thi,
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc BẢN ĐĂNG KÝ SÁNG KIẾN NĂM HỌC 2014-2015
I TÊN SÁNG KIẾN:
“VẬN DỤNG LÍ THUYẾT CHUẨN ĐỘ AXIT – BAZƠ TRONG GIẢNG DẠY HÓA HỌC Ở TRƯỜNG CHUYÊN VÀ PHỤC VỤ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA, QUỐC TẾ”
II TÁC GIẢ SÁNG KIẾN: ĐOÀN THỊ KIM DUNG
- Khi giải các bài tập liên quan đến chuẩn độ axit bazơ phải sử dụng các công thức tính toán rất phức tạp của chương trình Đại học:
Trang 2Chương II: CHUẨN ĐỘ CÁC AXIT MẠNH VÀ BAZƠ MẠNH
II.1.1 Chuẩn độ axit mạnh bằng bazơ mạnh
Xét phép chuẩn độ Vo ml axit mạnh HY nồng độ Co mol/l (thường cần phải xácđịnh) bằng dung dịch bazơ mạnh XOH đã biết nồng độ C mol/l Cho biết thể tíchbazơ XOH đã dùng khi chuẩn độ là V ml
* Phương trình phản ứng chuẩn độ :
H+ + OH- → H2O
* Thành phần tại điểm tương đương:
H2O → [H+] = [OH-] = 1,00.10-7, pHTĐ = 7,00
* Đường chuẩn độ: biểu diễn sự phụ thuộc của pH theo thể tích V của dung dịch
chuẩn thêm vào, hoặc theo tỉ số mol P =
o
o V C
V C V V
CV
=
])]
[]([
[
])]
[]([
C C
OH H
C C
XOH
C
C C
Trang 3o o
C C
CC V
V
V C
C
C
(II.4)
II.1.2.Chuẩn độ bazơ mạnh bằng axit mạnh
Xét phép chuẩn độ Vo ml bazơ mạnh XOH nồng độ Co mol/l bằng dung dịchaxit mạnh HY C mol/l Thể tích axit HY đã dùng khi chuẩn độ là V ml
CV
=
])]
[]([
[
])]
[]([
C C
OH H
C C
C
C
(II.6)
Chương III: CHUẨN ĐỘ ĐƠN AXIT YẾU, ĐƠN BAZƠ YẾU
III.1.1 CHUẨN ĐỘ ĐƠN AXIT YẾU BẰNG BAZƠ MẠNH
Trong trường hợp tổng quát khi chuẩn độ Vo ml axit HA nồng độ Co mol/l có hằng
số phân li axit Ka bằng dung dịch bazơ mạnh NaOH C mol/l
* Phương trình phản ứng chuẩn độ:
Trang 4C
0
0 0
V V
V C
t
[ ]
0
0 0
V V
V C
CV
, [A-] = CHA.A =
0
0 0
V V
V C
a
K h
K
Sau khi tổ hợp ta có:
P =
)]
([
)]
([
0
0 0
0
h
K h C C
h
K h h K
K C C V C
CV
w
w a
C'
hoặc q =
HA
XOH C
C'
(III.2)
Trong đó: C’HA là nồng độ axit chưa bị chuẩn độ
C’XOH là nồng độ XOH dư so với lượng cần thiết để đạt được điểm tươngđương
Trang 5CHA là nồng độ axit HA tại điểm dừng chuẩn độ
Áp dụng điều kiện proton với mức không là thành phần tại điểm dừng chuẩn độ gồm:
A-, OH-(C’XOH), H2O ta có:
[H+] = [OH-] – C’XOH – [HA]
C’XOH = - ([H+] - [OH-] ) –[HA]
Trong đó K h h
a HA
o o
C C
CC V
V
V C
III.1.2 CHUẨN ĐỘ ĐƠN BAZƠ YẾU BẰNG AXIT MẠNH
Trong trường hợp tổng quát khi chuẩn độ Vo ml bazơ B* nồng độ Co mol/l bằngdung dịch axit mạnh HY C mol/l
* Trước khi chuẩn độ, dung dịch có phản ứng bazơ:
B + H2O HB* + OH- Kb=
Ka Kw
V V
V C
t
[ ]
0
0 0
V V
V C
t - h h h
* Phương trình đường chuẩn độ: được xây dựng từ phương trình bảo toàn proton:
Trang 6[H+] - [OH-] + [BH+] - [Y-] = 0
Trong đó: [BH+] = CB BH=
0
0 0
V V
V C
)]
([
0
0 0
0
h
K h C C
h
K h h K
h C C V C
CV
w
w a
CB- là nồng độ B- tại điểm cuối chuẩn độ
Áp dụng điều kiện proton cho hệ khi dư HY (quá chuẩn độ) với mức không là thànhphần tại điểm dừng chuẩn độ gồm: HB, HY (C’HY), H2O ta có:
(III.7)
Trong đó K K h
a
a B
o o
C C
CC V
V
V C
Trang 7Chương IV: CHUẨN ĐỘ HỖN HỢP CÁC ĐƠN AXIT VÀ ĐƠN BAZƠ
IV.1.1 Hỗn hợp axit mạnh và đơn axit yếu.
Giả sử chuẩn độ Vo ml dung dịch chứa axit mạnh HY Co1 mol/l và HA Co2 mol/lbằng dung dịch chuẩn bazơ mạnh XOH C mol/l Trong dung dịch có các quá trình:
HY → H+ + Y
HA H+ + A- Ka
IV.1.1.1 Trường hợp chuẩn độ riêng được axit mạnh (khi axit HA rất yếu, Ka rất bé)
pHTĐ1 chính là pH của dung dịch HA (đã kể đến sự pha loãng thể tích)
Phương trình sai số được thiết lập từ ĐKP với mức không là HY (C’), HA,
H2O là:
q1 = - (h - Kw/h) A
o
o o
o C
C CC
C C
1
2 1
* Sai số chuẩn độ nấc 2:
q2 = - (h - Kw/h) HA
o o
o o
o
o o
C C
C C
C C
C C C
2 1
2 2
1
2 1
IV.1.2 Chuẩn độ hỗn hợp hai đơn axit yếu
Giả sử chuẩn độ Vo ml hỗn hợp axit HA Co1 mol/l và axit HB Co2 M bằng dung dịchXOH C mol/l Trong dung dịch có các quá trình:
Trang 8
* Trường hợp chuẩn độ riêng axit HA
][
HB K K
aA
aB w
o
C
C CC
C C
1
2 1
1
(IV.4)
* Khi chuẩn độ tổng lượng hai axit
- pH tại ĐTĐ là pH của dung dịch gồm hai đơn bazơ A- và B
- Sai số chuẩn độ:
q2 = - (h - Kw/h)
o HA
o o
o o
o
o o
C C
C C
C
C C
C C
C C C
2 1
2 2
1
1 2
1
2 1
Chương V: CHUẨN ĐỘ ĐA AXIT, ĐA BAZƠ
V.1.1 CHUẨN ĐỘ ĐA AXIT BẰNG BAZƠ MẠNH
Các quá trình xảy ra trong dung dịch đa axit HnA
Trang 9Chuẩn độ Vo ml dung dịch H3A (Co mol/l, có các hằng số phân li axit Kai) bằngdung dịch bazơ mạnh (C mol/l), thể tích tiêu thụ là V ml.
Xét trường hợp có khả năng chuẩn độ riêng được từng nấc
V.1.1.1 Tính pH tại các điểm tương đương(TĐ)
* Tại điểm tương đương 1 (TĐ1)
- Phương trình phản ứng chuẩn độ :
H3A + OH- → H2A- + H2O
- Phương trình tính [H+]1 =
].[
1
][
2
1 1
2 2
A H K Kw
a
a (V.1) Nếu Kw << Ka2.Co và 1 << Ka1-1.Co từ (V.1) ta có
1
][
2 1 2
2 3
HA K Kw
a
a (V.3) Nếu Kw << Ka3.C2ovà 1 << Ka2-1.C2o từ (V.3) ta có
Bằng cách thiết lập tương tự, chúng ta có phương trình tổng quát đường chuẩn độ
H3A (Co mol/l; pKai) bằng XOH (C mol/l) như sau:
Trang 10Kw h C
C V C CV
o
A HA
A H o o
o
3 2
i
)
V.1.1.3 Sai số chuẩn độ:
Tương tự như biểu thức tính sai số trong các phép chuẩn độ đơn axit, đơn bazơ:
-Tại điểm cuối chuẩn độ thứ nhất:
q1 = 3 1 33 1
''
A H
A H
A H
XOH
C
C C
' :nồng độ H3A còn dư chưa bị chuẩn độ
Ở gần điểm tương đương có thể coi :
o
o o
o o A
CC V
V
V C C
3 (V.7) Với C H3A1: nồng độ H3A tại điểm cuối chuẩn độ 1;
V1: thể tích XOH dùng để trung hòa hết nấc 1 của axit H3A
Áp dụng điều kiện proton cho hệ tại điểm cuối chuẩn độ ta có phương trình sai số:
q1 = - HA A H A
o
o CC
C C h
Kw h
3 3
o o A
H
C C
CC V
V
V C C
2
2 2
3 là nồng độ H3A tại điểm cuối chuẩn độ 2 và V2: thểtích XOH dùng để trung hòa hết nấc 2 của axit H3A
q2 =- ( 2 )
2
1 2
2
3 2
A o
o CC
C C h
Trang 11Trường hợp nếu chuẩn độ được nấc 3 thì phương trình sai số có dạng:
q3 3 3 3
'
A H
o o
C C
CC V
V
V C
3
HA o
o CC
C C h
Kw
h (V.12)
V.1.2 CHUẨN ĐỘ HỖN HỢP AXIT MẠNH VÀ ĐA AXIT
Giả sử chuẩn độ hỗn hợp gồm axit mạnh HY (Co1 M) và đa axit H3A (Co2 M, Ka1,
pHT Đ2 là pH của dung dịch HA2-, H2O theo (V.3)
Sơ đồ chuẩn độ hỗn hợp axit mạnh HY và đa axit H3A
Trang 12V2 XY + XH2A
V XOH
XY + X2HA
Từ sơ đồ ta thấy thể tích XOH để trung hòa một nấc của H3A là V = V2 – V1
thể tích XOH để trung hòa HY là V’ = V1 - V = 2V1 – V2
XOH
C C
2 2
1
2 1
A H HA o o
o o
o
o o
C C
C C
C C
C C C h
2 (
2
3 2
3 2 1
2 2
1
2 1
A H A
H A o o
o o
o
o o
C C
C C
C C
C C C h
V.1.3 CHUẨN ĐỘ ĐA BAZƠ BẰNG AXIT MẠNH
Việc chuẩn độ các đa bazơ bằng axit mạnh diễn ra ngược lại với quá trình chuẩn
độ đa axit bằng kiềm Khả năng chuẩn độ từng nấc cũng phụ thuộc tỉ số giữa cáchằng số phân li kế tiếp của axit liên hợp
Giả sử chuẩn độ X3A (Co M) có các hằng số phân li của axit liên hợp H3A là
Ka1, Ka2, Ka3 bằng axit mạnh HY (C M)
Hoàn toàn tương tự như phép chuẩn độ đa axit, ta có
- Phương trình đường chuẩn độ
h
Kw h C
C V
C
CV
o
A HA
A H o o
o
3 2
Trang 13o CC
C C h
2
2 3
C C h
C C h
Kw h
2
3
1 3
3
(V.19)
* Ưu nhược điểm của giải pháp cũ
- Ưu điểm: chỉ việc áp dụng công thức, tính toán nhanh
- Nhược điểm: áp dụng tính toán không hiểu bản chất các quá trình xảy ra trong dung dịch Vả lại việc áp dụng các công thức này không phù hợp với trình độ của học sinh cấp THPT
A Giải pháp mới cải tiến
Vận dụng lý thuyết chuẩn độ axit- bazơ trong giảng dạy hóa học ở trường chuyên, phục vụ bồi dưỡng học sinh giỏi Quốc gia, Quốc tế
MỞ ĐẦU
Trang 14I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Phản ứng hoá học xảy ra không kèm theo sự thay đổi số oxi hoá của cácnguyên tố - Đó là các phản ứng trao đổi, trong đó có phản ứng axít- bazơ
- Phản ứng xảy ra có kèm theo sự thay đổi số oxi hoá của các nguyên tố, đó làphản ứng oxi hoá -khử
Phản ứng axít- bazơ và phản ứng oxi hoá -khử có vai trò to lớn, chiếm một vịtrí quan trọng trong quá trình giảng dạy môn hoá học ở trường THPT, đặc biệt đối vớicác trường chuyên và luyện thi học sinh giỏi Quốc gia Trong thực tế giảng dạy ở cáctrường phổ thông nói chung và ở các trường chuyên - là trường có nhiệm vụ bồidưỡng nhân tài- nói riêng, lý thuyết về phản ứng axít- bazơ và oxi hoá - khử đượctrình bày xuyên suốt trong giáo trình hoá học phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12 dướinhiều góc độ khác nhau, nhưng chủ yếu được trình bày trên cơ sở mô tả những hiệntượng bên ngoài, định tính, mà chưa đi sâu vào bản chất của phản ứng Xuất phát từthực trạng dạy và học ở các lớp chuyên Hóa cũng như việc bồi dưỡng học sinh giỏiQuốc gia môn hóa học cho thấy có một số khó khăn như:
- Đã có tài liệu giáo khoa dành riêng cho học sinh chuyên hóa [32], [33], [4],song nội dung kiến thức chưa đủ và còn có khoảng cách rất xa so với nội dungchương trình thi Olympic Quốc gia, đặc biệt là Olympic Quốc tế
- Thiếu tài liệu tham khảo, nội dung kiến thức còn nằm rải rác ở nhiều tài liệukhác nhau
- Trong các đề thi Olympic Quốc gia từ năm 1994 đến nay và trong một số đềthi Olympic Quốc tế, hóa học phân tích chiếm một vị trí khá quan trọng, trong đó nộidung thi thường được ra dưới dạng tổng hợp, kết hợp nhiều vấn đề về cân bằng iontrong dung dịch Thế nhưng trong các tài liệu giáo khoa chuyên, các bài tập đượctrình bày dưới dạng từng vấn đề riêng rẽ, cụ thể và đơn giản
Để rút ngắn khoảng cách giữa nội dung kiến thức được học ở các trườngchuyên và nội dung thi Olympic Quốc gia, Quốc tế, cần thiết phải trang bị cho cả
Trang 15giáo viên và học sinh những kiến thức nâng cao ngang tầm chương trình đại học,nhưng vẫn đảm bảo mức độ hợp lý, phù hợp với trình độ học sinh phổ thông Trongnhững năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu việc vận dụng lý thuyết hóahọc phân tích [24], về phản ứng oxi hóa-khử [18], phản ứng axit-bazơ [20], phản ứngtạo thành hợp chất ít tan [23] trong giảng dạy học sinh trường chuyên và bồi dưỡnghọc sinh giỏi Quốc gia Nhưng các công trình trên mới chỉ tập trung đi sâu vào tínhtoán cân bằng ion trong dung dịch, mà chưa đề cập đến nội dung phân tích định lượnghóa học, mà trọng tâm là phân tích thể tích – là một trong những nội dung có trongchương trình thi học sinh giỏi Quốc gia và Quốc tế Hiện nay nội dung chuẩn độ dungdịch bao gồm chuẩn độ axit-bazơ và chuẩn độ oxi hóa–khử bằng phương pháppemanganat đã được đưa vào trong chương trình SGK 12 nâng cao, tuy nhiên thờilượng dành cho nội dung này quá ít (2 tiết lý thuyết và 1 tiết thực hành) và nội dungkiến thức cũng hết sức đơn giản (một số khái niệm, một số dụng cụ đo thể tích;nguyên tắc chung của phép chuẩn độ axit-bazơ, chuẩn độ oxi hóa-khử; chuẩn độ HClbằng NaOH; chuẩn độ chất khử bằng KMnO4) Điều này khó đảm bảo để các em cóthể giải quyết trọn vẹn được các bài toán về định lượng hóa học được ra dưới cácdạng khác nhau trong các đề thi học sinh giỏi Quốc gia, Quốc tế Trong khi đó từ năm
2007 nội dung kiến thức chuẩn độ axit – bazơ đã được chính thức đưa vào trong các
đề thi học sinh giỏi Quốc gia hàng năm
Là một giáo viên của trường chuyên Lương Văn Tụy – Ninh Bình, tham gia giảngdạy bồi dưỡng và luyện đội tuyển Quốc gia với thực tế và những lý do trên nên chúng
tôi chọn đề tài: “Vận dụng lý thuyết chuẩn độ axit – bazơ trong giảng dạy hoá học
ở trường chuyên, phục vụ việc bồi dưỡng học sinh giỏi Quốc gia, Quốc tế”
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Vận dụng lý thuyết về phân tích chuẩn độ để phân loại, xây dựng tiêu chí cácbài tập về chuẩn độ thể tích phục vụ cho bồi dưỡng học sinh giỏi Quốc gia
III NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
Trang 161- Nghiên cứu lí thuyết về phân tích thể tích trong chương trình hoá học phântích, khoa Hoá Đại học Sư phạm Hà Nội [9], [12] và tìm hiểu nội dung giảng dạyphương pháp phân tích chuẩn độ ở chương trình hoá học phổ thông và trường chuyên 2- Thống kê, phân loại các bài tập trong tài liệu giáo khoa, sách bài tập, trongcác tài liệu tham khảo có nội dung liên quan đến phân tích chuẩn độ thể tích, từ đóphân tích việc vận dụng nội dung lí thuyết chuẩn độ thể tích trong giảng dạy hoá học
ở các trường chuyên và xây dựng tiêu chí, cấu trúc các bài tập về chuẩn độ thể tích 3- Phân tích nội dung phân tích chuẩn độ thể tích trong các đề thi học sinh giỏiQuốc gia vòng 1, vòng 2 để thấy được mức độ yêu cầu vận dụng cơ sở lí thuyết ngàycàng cao của các đề thi, từ đó đặt ra nhiệm vụ cho các giáo viên phải có khả năng tựbồi dưỡng nâng cao trình độ để không những trang bị được kiến thức cơ bản, nângcao cần thiết cho các em mà còn phải biết dạy cách học, dạy bản chất vấn đề để giúphọc sinh học có hiệu quả nhất
PHẦN 1: TỔNG QUAN
Trang 17I- TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHẢN ỨNG BAZƠ, CHUẨN ĐỘ BAZƠ
Trong thực tế giảng dạy ở phổ thông, định nghĩa về axit, bazơ được học sinh (HS)tiếp thu từ những năm cấp II khi mới làm quen môn hoá Tính chất của axit, bazơcũng được học sinh hiểu từ những năm cấp II Với vốn kiến thức về axít – bazơ cũngnhư tính chất hoá học của chúng mà giúp cho học sinh giải quyết được một số lượnglớn các bài tập có liên quan đến phản ứng axit –bazơ Lý thuyết về phản ứng axit -bazơ được phát triển dần lên trong chương trình phổ thông lớp 11, học kỳ I với kiếnthức được cung cấp ở lớp 11, đã giúp cho học sinh giải thích, minh hoạ hầu hết tínhchất của các chất, đặc biệt là khi các chất xảy ra trong dung dịch, sự tương tác của cácchất điện li Bởi vì, hầu hết các quá trình xảy ra trong dung dịch nước đều có liênquan tới đặc tính axit, bazơ của các chất
Phương pháp phân tích chuẩn độ là phương pháp hoá học định lượng, dựa trên sự
đo thể tích dung dịch thuốc thử có nồng độ đã biết phản ứng với một thể tích xác địnhdung dịch của chất có nồng độ chưa biết cần xác định
Nội dung chính của phương pháp phân tích chuẩn độ mới chỉ được đưa vàochương trình hoá phổ thông vào cuối năm lớp 12, tuy nhiên học sinh đã được làmquen khi bắt đầu học môn hoá học thông qua các dạng bài trộn chất này với chất kia
để tính nồng độ, thể tích của chất chưa biết, rồi nâng dần lên các dạng bài tập tính pHcủa dung dịch mà trong phần chuẩn độ chính là dạng bài tính pH tại các điểm dừngchuẩn độ
Trong phương pháp phân tích chuẩn độ người ta dùng nhiều loại phản ứng hoá họcnhư: phản ứng trung hoà, phản ứng oxi hoá khử và lấy tên của các loại phản ứng đóđặt tên cho phương pháp
Chuẩn độ axit - bazơ là một phương pháp phân tích quan trọng dựa trên sựtương tác giữa các axit - bazơ và được dùng để định lượng chúng
Trang 18Việc đưa nội dung này vào chương trình có ý nghĩa rất lớn, giúp cho học sinhhiểu đầy đủ và sâu sắc các quá trình hoá học xảy ra trong dung dịch các chất điện li.
Là cơ sở cho học sinh tiếp cận với các phương pháp phân tích hiện đại
Nếu học sinh nắm chắc các phương pháp tính toán cân bằng trong cân bằngaxit-bazơ và chuẩn độ axit bazơ thì việc phức tạp hoá các bài toán hoá phân tích sẽđơn giản hơn rất nhiều Có một số dạng bài tập thường gặp liên quan đến phươngpháp chuẩn độ axit –bazơ như xét sự thay đổi giá trị pH khi thêm dần lượng thuốcthử, xác định thành phần định tính, định lượng của dung dịch hỗn hợp
II- NỘI DUNG KIẾN THỨC CHUẨN ĐỘ AXIT –BAZƠ TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Trước đây trong chương trình hoá học phổ thông chưa có nội dung phần phântích chuẩn độ, mà nội dung hoá phân tích được đưa vào chương trình hóa học phổthông gồm cân bằng axit - bazơ, dung dịch và sự điện li với tổng số tiết là 18 tiết Hiện nay nội dung chuẩn độ dung dịch bao gồm chuẩn độ axi - bazơ và chuẩn
độ oxi hóa – khử bằng phương pháp pemanganat đã được đưa vào trong chương trìnhSGK 12 nâng cao, tuy nhiên thời lượng quá ít (2 tiết lý thuyết và 1 tiết thực hành sovới tổng số tiết học là 96 tiết) và nội dung kiến thức cũng hết sức đơn giản (một sốkhái niệm, một số dụng cụ đo thể tích; nguyên tắc chung của phép chuẩn độ axit-bazơ, chuẩn độ oxi hóa-khử; chuẩn độ HCl bằng NaOH; chuẩn độ chất khử bằngKMnO4) Phần bài tập trong [2] nghèo nàn số lượng bài tập còn ít, cũng như nội dungkiến thức các bài tập đưa ra còn ít, chủ yếu sử dụng định luật hợp thức tính nồng độhoặc thể tích của dung dịch chất Chưa hướng dẫn cho học sinh biết cách xác định thểtích tương đương, cách chọn chất chỉ thị nào thích hợp để sai số chuẩn độ nằm trongphạm vi cho phép và cách phác họa đường cong chuẩn độ, mà những vấn đề này rấthay gặp trong đề thi học sinh giỏi (HSG) Quốc gia và các đề thi Olympic Quốc tế
Trang 19Do đó khó đảm bảo để các em có thể giải quyết trọn vẹn được các bài toán vềđịnh lượng hóa học được ra dưới các dạng khác nhau trong các đề thi học sinh giỏiQuốc gia, Quốc tế [14,15,16,17].
III- TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ NỘI DUNG KIẾN THỨC CÂN BẰNG AXIT – BAZƠ VÀ CHUẨN ĐỘ AXIT – BAZƠ TRONG CÁC TÀI LIỆU HIỆN HÀNH Trong các tài liệu hiện hành thì những tài liệu dành cho học sinh giỏi, học sinh
chuyên còn ít, chủ yếu là các tài liệu cho học sinh ôn luyện thi đại học và cao đẳng.Theo [6], tác giả cũng đã trình bày, đề cập đến phần dung dịch, các hằng số axit, bazơ
và tích số ion của nước Cũng có bài tập về tính toán cân bằng, pH của dung dịch đơnaxit yếu, đơn bazơ yếu nhưng còn ở mức độ đơn giản với số lượng còn ít và chỉ mangtính chất chủ yếu là giới thiệu cho học sinh khá, giỏi Các bài tập chủ yếu về mảngkiến thức phản ứng axit – bazơ trong các tài liệu ôn thi đại học hiện nay đã trình bàysâu về các định nghĩa axit – bazơ theo Bronsted, các bài tập áp dụng đã có ở mức độ
từ đơn giản, cơ bản đến phức tạp và nâng cao Các bài tập định tính được đưa ra khásâu sắc và đầy đủ các dạng, các tình huống Phần bài tập tính toán cân bằng, pH củadung dịch axit mạnh, bazơ mạnh cũng đưa ra nhiều trường hợp để rèn luyện cho họcsinh kỹ năng tính toán, nắm được mối quan hệ của pH và nồng độ H + trong dungdịch, đưa ra các bài tập về tính toán độ điện li và hằng số phân li axit và bazơ Kvới nồng độ của dung dịch và pH của dung dịch Ngoài ra, trong các tài liệu hiệnnay cũng đã có các bài tập tính toán cân bằng trong dung dịch đơn axit yếu, đơn bazơyếu, tính cân bằng trong dung dịch đệm chứa hỗn hợp đơn axit yếu với bazơ liên hợpcủa chúng, tính cân bằng trong dung dịch đa axit, đa bazơ Tuy nhiên, những bài tậpnày chỉ ở mức độ đơn giản để giúp học sinh làm quen với việc tính toán cân bằngtrong dung dịch Trong [3] các tác giả đã đưa ra các bài tập khá sâu sắc, cơ bản màvẫn rèn luyện cho học sinh kỹ năng giải bài tập và tư duy phân tích Nội dung các bàitập đưa ra khá phong phú, đa dạng Tuy nhiên, những bài toán hỗn hợp có nhiều phảnứng xảy ra trong dung dịch đòi hỏi học sinh phải biết sắp xếp thứ tự xảy ra phản ứng
Trang 20từ đó dựa vào để xác định thành phần giơí hạn, mô tả cân bằng hóa học và dựa vào đó
để tính toán thì tài liệu [3], [11] đưa ra còn ít, các phản ứng còn đơn giản chỉ có mộthay hai phản ứng là học sinh xác định được thành phần giới hạn hoặc có khi thànhphần giới hạn trùng với thành phân cân bằng
Hơn nữa, tài liệu tham khảo cho học sinh chuyên hóa cũng chỉ là những dạng
cơ bản có nâng cao nhưng chưa có dạng tổng hợp để bồi dưỡng năng lực tư duy củahọc sinh Chưa có nhiều bài tập gắn kết nội dung của phản ứng axit – bazơ với cácbài tập phần phản ứng oxi hóa – khử, hay bài tập về cân bằng tạo phức, cân bằng hợpchất ít tan nên khó bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy tổng hợp để giải quyếtđược các bài tập trong các kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia cũng như Quốc tế
Mặt khác chưa có tài liệu đề cập đến nội dung phân tích định lượng hóa học,
mà trọng tâm là phân tích thể tích – là một trong những nội dung có trong chươngtrình thi học sinh giỏi Quốc gia và Quốc tế Trong các kỳ thi Olympic 30 – 4 hay là
kỳ thi HSG Quốc gia hàng năm nội dung hóa phân tích là nội dung thường có trongcác đề thi, nhưng mới chỉ dừng lại chủ yếu ở dạng tính cân bằng trong các dung dịch,tính thể tích thuốc thử cần thêm để đạt đến giá trị pH nhất định Trong khi đó trong đềthi Olympic quốc tế [7], [19],[22], [29], [30] có những dạng bài như: tính chính xácnồng độ, thể tích các chất tham gia phản ứng, tính sai số của phép chuẩn độ, chọn chỉthị thích cho phép chuẩn độ, vẽ đường cong chuẩn độ…Nội dung giữa kiến thức sáchgiáo khoa phổ thông với nội dung kiến thức thi học sinh giỏi Quốc gia và OlympicQuốc tế là một khoảng cách khá lớn Trong khi đó chưa có một tài liệu nào vận dụng
lí thuyết chuẩn độ axit – bazơ trong giảng dạy hóa học ở trường chuyên để làm tàiliệu tham khảo cho giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia và Olympic Quốc tế
IV- VAI TRÒ CỦA BÀI TẬP TRONG VIỆC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA
Để đặt ra được các yêu cầu cho học sinh (HS) trong quá trình giảng dạy thìviệc lựa chọn, xây dựng các bài tập là việc làm rất quan trọng và cần thiết đối với mỗi
Trang 21giáo viên(GV) Thông qua bài tập, GV sẽ đánh giá được khả năng nhận thức, khảnăng vận dụng kiến thức của HS Bài tập là phương tiện cơ bản nhất để dạy HS tậpvận dụng kiến thức vào thực hành, thực tế sự vận dụng các kiến thức thông qua cácbài tập có rất nhiều hình thức phong phú và đa dạng Chính nhờ việc giải các bài tập
mà kiến thức được củng cố, khắc sâu, chính xác hóa, mở rộng và nâng cao Cho nên,bài tập vừa là nội dung, vừa là phương pháp, vừa là phương tiện để dạy tốt và học tốt Đặc biệt, bài tập hóa học là phương tiện cơ bản để dạy học sinh vận dụng các kiếnthức hóa học vào thực tế đời sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học Bài tập hóahọc có tác dụng giáo dục trí dục và đức dục to lớn, đó là:
- Rèn luyện cho HS khả năng vận dụng các kiến thức đã học
- Đào sâu và mở rộng kiến thức một cách phong phú, hấp dẫn
- Ôn tập, củng cố và hệ thống hóa kiến thức một cách thuận lợi nhất
- Rèn luyện được những kĩ năng cần thiết về hóa học như kĩ năng cân bằngphương trình phản ứng, kĩ năng tính toán theo công thức hóa học và phương trình hóahọc,…
Phát triển năng lực nhận thức, trí thông minh cho HS
Giáo dục tư tưởng, đạo đức, tác phong như rèn luyện tính kiên nhẫn, trung thựcsáng tạo, chính xác, khoa học.Nâng cao lòng yêu thích học tập bộ môn Qua đó, pháttriển một cách toàn diện nhân cách cho HS
V- NGUYÊN TẮC CHUNG VỀ CẤU TRÚC CÁC LOẠI BÀI TẬP
Một bài toán hóa học thường cấu trúc gồm:
- Nội dung hóa học các dạng phương trình phản ứng hóa học
- Tính toán theo các dạng phương trình phản ứng (toán hóa)
- Các thuật toán (toán hóa)
Một bài toán hóa học hay phải có nội dung hóa học tốt, đảm bảo tính chính xác vềmặt khoa học nhưng về mặt toán học không quá phức tạp
Trang 22Trên cơ sở cấu trúc cơ bản của bài toán hóa, người giáo viên cần phải nắm đượcnguyên tắc chung về cấu trúc các loại bài tập Đó là :
- Bài tập ra để minh họa lý thuyết, giúp học sinh nắm chắc lý thuyết cơ bản,củng cố được kiến thức của mình
- Bài tập ra để xây dựng cho HS phương pháp Trên cơ sở một bài tập mẫu cóthể tự giải quyết các bài tập khác tương tự Qua đó rèn cho HS khả năng áp dụng cácbài toán một cách linh hoạt cho phù hợp với mỗi đối tượng
- Bài tập để rèn luyện năng lực tư duy, khả năng vận dụng kiến thức, khảnăng xử lí tình huống, các trường hợp phức tạp
- Thông qua bài tập để rèn luyện phương pháp tự học, tự nghiên cứu của HS
- Bài tập phát triển tư duy, trí thông minh cho HS
Đó là nguyên tắc chung mà cần phải áp dụng cho bất kỳ việc xây dựng một bàitoán hóa Tuy nhiên, đối với việc xây dựng bài tập về phản ứng axit – bazơ ngoài việctuân thủ các nguyên tắc chung như trên, nó còn cần phải có một số nguyên tắc riêng
mà người giáo viên cần phải biết để xây dựng cho đúng, chính xác
- Nếu trong dung dịch xảy ra đồng thời nhiều quá trình thì chọn quá trình chủyếu nhất để xét, bằng cách so sánh quan hệ nồng độ,hằng số cân bằng Nhưng chỉ sosánh các cân bằng cùng dạng như: so sánh các hằng số axit của một đa axit hoặc cáchằng số bazơ của một đa bazơ, so sánh sự phân li của các đơn axit,…
- Khi cho hỗn hợp các chất có cùng bản chất nhưng các hằng số lại khôngchênh lệch nhau nhiều, không loại bỏ được cân bằng nào, thì nên chọn bài toán gồmcác cân bằng tương đương mà khi giải chỉ cần từ 1 đến 2 vòng là hội tụ Kết quả giảigần đúng có thể chấp nhận với sai số cho phép là 1 – 10%
- Khi có phản ứng hóa học xảy ra và phải tính theo thành phần giới hạn thìphải cho các hằng số đảm bảo cho các phản ứng xảy ra hoàn toàn
- Khi giải bài toán về chuẩn độ nhất thiết HS phải xác định được thời điểmkết thúc chuẩn độ từ đó xác định được TPGH
Trang 23- Tình huống đưa ra phải đa dạng, minh họa được thực tế phong phú nhưngkhi giải lại đơn giản, cho kết quả phù hợp.
- Bài tập đưa ra phải khắc sâu, minh họa kiến thức cơ bản tốt nhưng đồngthời cũng phải rèn luyện cho HS năng lực tư duy phân tích, tổng hợp
- Các bài tập tính xuôi và tính ngược theo cân bằng để HS thấy được mốiquan hệ của các bài tập, đồng thời củng cố được lý thuyết sâu sắc hơn
- Bài tập phân dạng được đưa ra từ dễ đến khó theo trình tự cung cấp kiếnthức cho HS Các bài tập định tính rồi phát triển dần thành các bài tập bán định lượng
và cuối cùng là bài tập định lượng Trong bài tập định lượng đối tượng được cho phải
từ đơn giản đến phức tạp, tức là từ tính toán một cân bằng, rồi đến nhiều cân bằnggiống nhau nhưng có thể so sánh loại đi các cân bằng phụ xảy ra yếu hơn rồi lại đưa
về dạng tính toán cơ bản có một cân bằng, đến giải với nhiều cân bằng xảy ra tươngđương nhau
Đối với cùng một dạng bài tập nhưng tình huống và đối tượng được thay đổitùy theo khả năng tiếp thu kiến thức của HS Riêng đối với các bài tập nâng cao dànhcho HSG và các em trong đội tuyển thì phải ra như thể nào đó để các em không bị sa
đà vào việc tính toán mà quên đi bản chất hóa học Do đó, nên đưa thêm các tìnhhuống thực tế vào trong các bài tập để giúp các em hiểu sâu sắc và nhớ lâu hơn Hoặccũng có thể vẫn đối tượng đó nhưng số lượng được đưa nhiều hơn, có nhiều quá trìnhtương tác xảy ra để đòi hỏi HS phải xác định được phản ứng nào để tính toán cho cânbằng cuối cùng xảy ra trong dung dịch hoặc từ đó nhận ra được đối tượng, tình huốngquen thuộc với mình
Trang 24PHẦN II:
VẬN DỤNG LÍ THUYẾT CHUẨN ĐỘ AXIT – BAZƠ TRONG GIẢNG DẠY HÓA HỌC Ở TRƯỜNG CHUYÊN VÀ PHỤC VỤ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA, QUỐC TẾ
Chương I: ĐỊNH NGHĨA VÀ CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
I.1 TÓM TẮT LÍ THUYẾT
- Nguyên tắc chung của phương pháp chuẩn độ thể tích: là dựa trên sự đo thể tíchdung dịch thuốc thử có nồng độ đã biết phản ứng với một thể tích xác định dung dịchcủa chất có nồng độ chưa biết cần xác định.Cách xác định nồng độ của dung dịch đógọi là sự chuẩn độ
- Phương pháp chuẩn độ axit - bazơ là phương pháp chuẩn độ thể tích dựa trên sựtương tác giữa các axit, bazơ và được dùng để định lượng chúng Hay nói cách khácphản ứng chuẩn độ là phản ứng trung hòa
I.1.1:CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
- Dung dịch cần chuẩn (dung dịch phân tích) là dung dịch cần xác định nồng độ
- Dung dịch đã biết nồng độ chính xác và được dùng để xác định nồng độ cácdung dịch khác gọi là dung dịch chuẩn (dung dịch thuốc thử)
- Quá trình chuẩn độ là quá trình thêm dần dung dịch chuẩn vào dung dịch cầnchuẩn
- Điểm tương đương là thời điểm tại đó lượng chất chuẩn đã cho đủ để phản ứngvừa hết với toàn bộ chất cần chuẩn
- Trong quá trình chuẩn độ cần thiết phải dựa vào một tín hiệu nào đó để dừngphép chuẩn độ Chất có khả năng thay đổi tín hiệụ khi chuẩn độ gọi là chất chỉ thị
- Thời điểm tại đó chất chỉ thị thay đổi tín hiệu gọi là điểm kết thúc chuẩn độ.(điểm dừng chuẩn độ hay điểm cuối chuẩn độ)
Chất chỉ thị có vai trò quan trọng trong phép chuẩn độ để xác định điểm dừngchuẩn độ, nếu điểm dừng chuẩn độ càng gần với điểm tương đương thì sai số càngnhỏ, phép chuẩn độ càng chính xác
Trang 25I.1.2 CÁC CHẤT CHỈ THỊ AXIT - BAZƠ
I.1.2.1 Bản chất của các chất chỉ thị axit - bazơ
Các chất chỉ thị dùng trong chuẩn độ axit-bazơ phải thỏa mãn yêu cầu cơ bản là
sự đổi màu của chất chỉ thị phải thuận nghịch với sự biến đổi pH của dung dịch trongqúa trình chuẩn độ, nghĩa là bản thân chất chỉ thị phải là một axit hoặc bazơ yếu vàmàu của hai dạng axit và bazơ liên hợp của chất chỉ thị phải khác nhau Hầu hết cácchất chỉ thị là những axit hoặc bazơ hữu cơ yếu
Các chất chỉ thị thường dùng có thể chia làm 3 loại:
Các sunfophtalein như phenol đỏ, bromphenol xanh, crezol đỏ
Các chất chỉ thị thuộc phenolphtalein như: phenolphtalein,thimolphtalein, naphtolphtalein
Các hợp chất azo như: tropeolin 0 0, metyl da cam, metyl đỏ, đỏ trungtính, cogo đỏ, metyl vàng
Trong các dung dịch axit, đa số các chất chỉ thị thuộc loại azo đều có màu đỏcòn trong các dung dịch trung tính và kiềm có màu hoặc màu da cam
I.1.2.2.Khoảng pH chuyển màu của các chất chỉ thị axit bazơ: là khoảng pH
tại đó chất chỉ thị đổi màu
Sơ đồ biểu diễn cân bằng giữa dạng axit của chỉ thị, kí hiệu HIn và dạngbazơ liên hợp In như sau:
f là hệ số hoạt độ, Ka là hằng số phân li nhiệt động Màu của chất chỉ thị phụ thuộcvào tỉ số nồng độ của 2 dạng có màu In- và HIn, do đó biến đổi theo pH
Thông thường mắt có thể thấy màu của dạng axit HIn, nếu [HIn] > 10[In-] hoặcchỉ thấy màu của dạng bazơIn nếu [In-] > 10[HIn]
Trang 26Trong khu vực 1/10 <[[HIn In ]]
I.1.2.3 Chỉ số chuẩn độ pT của chất chỉ thị: là giá trị pH (thuộc khoảng pH
chuyển màu) tại đó màu chỉ thị thay đổi rõ nhất Phép chuẩn độ thường kết thúc tạigiá trị pH này
Chỉ số chuẩn độ phụ thuộc vào chất chỉ thị và thứ tự chuẩn độ, phụ thuộc vàonhiệt độ, dung môi, lực ion và môi trường của dung dịch
I.1.2.4 Nguyên tắc chọn chỉ thị:
Về nguyên tắc phải chọn chất chỉ thị có chỉ số chuẩn độ trùng hoặc rất gần với
pH tại điểm tương đương của phép chuẩn độ (pT ≈ pHT Đ) Tuy nhiên thực tế khôngphải lúc nào cũng chọn được chất chỉ thị thỏa mãn điều kiện đó mà số lượng chất chỉthị dùng cho một phép chuẩn độ cụ thể không nhiều, do vậy không nhất thiết phảichọn chỉ thị có pT ≈ pHT Đ mà có thể chọn bất kì chất chỉ thị nào có chỉ số chuẩn độnằm trong bước nhảy chuẩn độ tương ứng với sai số cho phép
I.1.2.5 Bước nhảy chuẩn độ: Sự biến thiên đột ngột pH tương ứng với sự biến
thiên một lượng không đáng kể chất chuẩn (trong phạm vi sai số cho phép) ở gầnđiểm tương đương tạo thành bước nhảy chuẩn độ
Sự xuất hiện bước nhảy chuẩn độ cho phép mở rộng phạm vi chọn chất chỉ thị
và có khả năng chuẩn độ chính xác
I.1.2.6 Sai số chuẩn độ: là tỉ số % lượng chất chuẩn đã cho dư hoặc còn thiếu
so với lượng cần thiết để chuẩn độ đến điểm tương đương
q = 100
TĐ
TĐ c V
Trang 27Ví dụ I.1 [33]
Trình bày nguyên tắc của phép chuẩn độ trung hòa Cho ví dụ minh họa?
Chuẩn độ axit-bazơ, hay còn gọi là chuẩn độ trung hòa, là phương pháp phân tíchchuẩn độ được sử dụng rộng rãi để xác định nồng độ các dung dịch axit hoặc cácdung dịch bazơ Trong phương pháp này người ta dùng dung dịch kiềm (NaOH hoặcKOH) đã biết chính xác nồng độ làm dung dịch chuẩn để chuẩn độ dung dịch axithoặc dùng dung dịch axit mạnh (HCl, HClO4, HNO3) đã biết chính xác nồng độ đểchuẩn độ dung dịch bazơ Thực chất các phản ứng chuẩn độ là phản ứng trung hòa.Thí dụ chuẩn độ dung dịch HCl chưa biết nồng độ bằng dung dịch chuẩn NaOH: HCl + NaOH → NaCl + H2O (1)
Chuẩn độ dung dịch NH3 bằng dung dịch chuẩn HCl:
Trang 28Tuy nhiên đối với đối tượng là HSPT chưa quen với khái niệm ‘chỉ số chuẩn độpT’ do đó GV nên ra dưới dạng sau:
“ Cho biết khoảng chuyển màu của chỉ thị Metyl da cam là 3,1(đỏ) - 4,4 (vàng),
pH = 4,0 dung dịch có màu hồng da cam Hãy cho biết sự đổi màu và giá trị pH tạithời điểm chỉ thị đổi màu rõ nhất khi chuẩn độ dung dịch HCl bằng NaOH và ngượclại”
Ở đây GV nên cho HS biết thực chất phản ứng chuẩn độ là phản ứng trung hòa,
do đó có thể thay khái niệm “chuẩn độ dung dịch HCl bằng NaOH” bằng khái niệm
“trung hòa dung dịch HCl bằng NaOH “ để HS đỡ bỡ ngỡ
1/ Khi chưa chuẩn độ, tức là chưa thêm NaOH vào dung dịch HCl có chứaMetyl da cam thì dung dịch có màu đỏ Khi thêm dần NaOH vào dung dịch HCl, pHtăng dần và màu của hỗn hợp sẽ chuyển từ màu đỏ sang hồng da cam (nhưng chưarõ), rồi từ hồng da cam sang vàng Đây là thời điểm sự chuyển màu rõ nhất.Vậy pT =
Ở đây GV có thể hướng dẫn cho HS xét tương tác hỗn hợp xảy ra trong hệ
H+ + OH → H2O
Trang 29hoặc có thể so sánh số mol để thấy dư OH- mà không cần tính cụ thể Từ số mol
OH- dư → pH > 7 > 4,4 sẽ khẳng định được màu của hệ Nhưng trước khi so sánh sốmol, các em phải tính được COH- từ pH = 11,4
Với pH = 11,4 HS có thể suy ra ngay COH- = [OH-] = 10-2,6
Cũng với dạng bài này Gv có thể thay đổi chỉ thị, thay đổi nồng độ, thể tích cácchất Hoặc nêu yêu cầu cao hơn với các HS tham gia đội tuyển, có thể thay đổi giá trị
pH NaOH nằm trong khu vực 7 < pH <7,5 để các em phải tính CNaOH có kể đến sự phân
li của nước
Ví dụ I.5 [10]
Một chất chỉ thị axit-bazơ có pKa = 7,1 Khoảng pH chuyển màu của chất chỉ thị
là 5,6 - 7,6 Hãy cho biết tỉ lệ nồng độ hai dạng có màu của chất chỉ thị phải thiết lập
Trang 30- Để nhìn rõ màu dạng bazơ pH = 7,6 →[HIn[In ]]
] [
> 10; Hoặc để nhìn rõ màu
của dạng axit thì [[In HIn]] > 10 nhưng thực tế có nhiều chất chỉ thị, sự đổi màu xảy ra
khi tỉ lệ nồng độ các dạng có màu có thể đạt tới hoặc phải quá 10!
Ví dụ I.6 [10]
Dạng axit của chất chỉ thị HIn có màu đỏ, dạng bazơ In có màu vàng chất chỉ thị
có màu đỏ rõ khi [[In HIn ]] = 8 và [HIn[In]] = 12 Cho biết pKHIn= 4,8 Tính khoảng pHchuyển màu của chất chỉ thị
- Màu đỏ (màu dạng axit) rõ nhất khi [[In HIn]] = 8 → pH = 4,8 - lg8 = 3,9
- Màu vàng (màu dạng bazơ) rõ nhất khi [HIn[In ]]
Trang 31Muối axit dạng NaHA là một hợp chất lưỡng tính trong dung dịch có các cânbằng
4
HC
pH → dung dịch HC2O4- làm đỏ dung dịch metyl da cam
Từ đó các em sẽ nhận biết được các lọ hóa chất mất nhãn trên
Từ công thức tính pH gần đúng của dung dịch muối axit, nếu chỉ cần để nhậnbiết 3 lọ hóa chất mất nhãn trên thì bài ra không cần cho nồng độ của các dung dịch!
Trang 32Thông qua bài tập này giúp cho các em biết vận dụng kiến thức tính cân bằngtrong dung dịch để giải quyết các vấn đề thực tế.
Đối với các em HS giỏi, GV cần phân tích điều kiện áp dụng công thức gầnđúng trên, để các em đánh giá được trường hợp nào kết quả thỏa mãn, trường hợp nàophải tính chính xác theo công thức đầy đủ (khi đó cần cho nồng độ các chất cụ thể)
Áp dụng ĐKP cho các cân bằng xảy ra trong dung dịch muối axit HA- các em rút
ra được công thức tính [H+]
[H+]=
][1
][
1 1
HA K K
][
1 1
a
a (I.6)
* Nếu chỉ thỏa mãn điều kiện Ka1<< C → [H+] =
][
][
1 1
HA K K
a
a
w (I.7)Như vậy, nếu bài ra cho cụ thể nồng độ của muối axit thì có thể đánh giá chínhxác hơn giá trị pH của các dung dịch HSO3- và HC2O4- bởi vì do C = 0,1 ≈ Ka1 (tức làchỉ thỏa mãn điều kiện Kw <<Ka2C) → phải tính chính xác
4 2
HSO va pH
(I.6) cho pH HSO3 4,1vapH HC2O4 2,6
Mặc dù vậy với các giá trị pH gần đúng của HSO3- và HC2O4- vẫn cho phép nhậnbiết được các dung dịch trên
Ví dụ I.8[10]
Thêm 5 giọt (mỗi giọt 0,03 ml) phenolphtalein 2.10-3 M vào 100 ml dung dịchHCl 1.10-3 M Tính số ml dung dịch NaOH 1.10-3 M phải thêm vào dung dịch trên để
Trang 33bắt đầu xuất hiện màu hồng rõ của chất chỉ thị (tại đó nồng độ của dạng bazơ của chấtchỉ thị bằng 5.10-7 M Cho pKHIn = 9,6.
và nồng độ cân bằngcủa chỉ thị dạng bazơ tại điểm kết thúc chuẩn độ ([In-] = 5.10-7 M) do đó sử dụngphương trình (I.2)
pKa= pH + lg[HIn[In ]]
Để tính giá trị pH tại đó màu của chỉ thị thay đổi rõ nhất
Theo định luật bảo toàn nồng độ tính được [HIn] = 1,5.10-6 - 5.10-7
Thay vào (I.2) → pH=9,3
Sử dụng phương trình bảo toàn điện tích:
[H+] –[OH-] +[Na+] - [Cl-] -[In-] = 0
Ta có: -10-4,7+ 0
100
100 10 100
V
tính được V = 404,08 ml
Thông qua bài này càng củng cố thêm cho HS bản chất của quá trình chuẩn độchính là làm chuyển dịch cân bằng của chất chỉ thị đến một pH nhất định mà ở đó taquan sát sự thay đổi màu rõ nhất
Chương II: CHUẨN ĐỘ CÁC AXIT MẠNH VÀ BAZƠ MẠNH
Trang 34BÀI TẬP VẬN DỤNG VÀ NÂNG CAO
II.1 - Dạng1: Tính pH của dung dịch tại các thời điểm dừng chuẩn độ.
Đối với HS các trườngchuyên khái niệm pH và cách tính pH trong các dungdịch axit, bazơ đã được học trong chương trình hóa lớp 11, nên không có khó khăn gìkhi làm dạng bài tập này Tuy nhiên ở đây có đưa thêm khái niệm chuẩn độ nên GVcần hướng dẫn các em phân tích đề bài , phân tích các quá trình xảy ra trong quá trìnhchuẩn độ để đưa về bài toán quen thuộc với các em
Dạng toán đơn giản nhất đối với học sinh là tính pH của dung dịch axit mạnhhoặc bazơ mạnh biết trước nồng độ và nồng độ của axit , bazơ mạnh đều lớn hơn rấtnhiều so với 10—7 để bỏ qua cân bằng phân li của nước Tương ứng với các bài toán
về chuẩn độ, GV có thể ra bài tập tính pH của dung dịch, tại các thời điểm dừngchuẩn độ cách xa điểm tương đương
Ví dụ II.1[10]
Chuẩn độ 25,00 ml dung dịch HCl 0,060 M bằng dung dịch NaOH 0,15 M Tính
pH của hỗn hợp sau khi đã thêm
đó với khái niệm chuẩn độ, GV hướng dẫn HS xác định được điểm kết thúc chuẩn độ:trước, sau hay tại điểm TĐ Muốn vậy trước hết cần tính VTĐ dựa vào phản ứng chuẩn
độ, ví dụ ở bài này:
VTĐ = 250.,015,06 =10,00 ml
Trang 351/ Khi thêm VNaOH = 9,98 ml <VTĐ = 10,00 ml→ dừng trước điểm tương đương,
06 , 0 25 03 , 10 15 , 0
du OH
C >> 10-7 →[OH-] = 0,0387→ pH =12,59
Với dạng bài tập này GVcó thể thay đổi đề bài ‘tính pH của dung dịch thu đượcsau khi chuẩn độ được a% chất cần chuẩn’, hoặc thay đổi thể tích, nồng độ các chấtphản ứng làm phong phú thêm số lượng bài cho các em luyện tập
Trong trường hợp dừng chuẩn độ sát điểm tương đương tức là nồng độ axit(bazơ) dư không lớn hơn nhiều so với 10-7 thì cần phải chú ý tới sự phân li của H2O,lúc này đòi hỏi HS phải có khả năng tư duy cao hơn Để giải được dạng bài tập này
HS phải kể đến cân bằng phân li của H2O do đó hoặc dùng phương trình trung hòađiện để giải hoặc tính theo cân bằng phân li của H2O nhưng đã có sẵn một lượng ion
H+ hoặc OH- trong dung dịch
Ví dụ II.2
Tính pH của dung dịch thu được khi chuẩn độ 3,00 ml dung dịch NaOH5,012.10-5 M bằng 3,00 ml dung dịch HCl 5,0.10-5 M
Phân tích:
Trang 36Tương tự như Ví dụ II.1 HS tính lại nồng độ của H+ và OH- sau đó so sánh nồng
độ giữa hai ion này thấy rằng sau phản ứng trung hòa OH- dư với nồng độ bằng1,07.10-7M Nhưng do nồng độ OH- rất bé phải kể đến cân bằng phân li của nước
Đây là bài toán chuẩn độ axit mạnh bằng bazơ mạnh Trong trường hợp này bài
ra không nói gì đến sự đổi màu của chỉ thị, do đó có thể ngầm hiểu rằng lượng NaOHtiêu thụ chính là thể tích NaOH phản ứng vừa đủ với 20,00 ml HCl Hay nói cáchkhác có thể coi phép chuẩn độ này dừng đúng điểm tương đương do đó ta có thể tínhngay được CHCl theo tỉ lệ hợp thức
Tuy nhiên để học sinh dể hiểu, giáo viên có thể thay khái niệm “chuẩn độ” bằngkhái niệm “trung hòa” vì thực chất của phản ứng chuẩn độ axit – bazơ chính làphản ứng trung hòa: “trung hòa 20,00 ml dung dịch HCl bằng dung dịch NaOH thìtiêu thụ hết 17,00 ml dung dịch NaOH 0,12 M Tính CHCl.”
Như vậy bài toán trở nên rất quen thuộc với học sinh và các em có thể tính dễdàng theo phản ứng trung hòa
Ví dụ II.4
Dung dịch A gồm 100,00 ml dung dịch NaOH chưa biết nồng độ và 2 giọt dungdịch phenolphtalein Thêm từ từ dung dịch HCl 5,00.10-3M vào dung dịch A cho tới
Trang 37khi mất màu của phenolphtalein thì phải dùng vừa hết 48,00 ml dung dịch HCl Tínhnồng độ dung dịch NaOH [10].
Phân tích:
Thực chất đây là bài toán chuẩn độ bazơ mạnh bằng axit mạnh: “chuẩn độ100,00 ml dung dịch NaOH đến mất màu chỉ thị phenolphtalein thì tiêu thụ hết 48,00
ml dung dịch HCl 5,00.10-3M Tính chính xác nồng độ dung dịch NaOH”
So với ví dụ II.2.1 thì bài toán này phức tạp hơn ở chỗ :VHCl = 48,00 ml khôngphải là VTĐ Do dừng chuẩn độ khi mất màu phenolphtalein, tức là phép chuẩn độ kếtthúc ở pH = pT = 8,00 > pHTĐ = 7,00 (dừng trước điểm TĐ) tức là lượng axit cho vàochưa trung hòa hết 100,00ml NaOH Nếu có kiến thức về hóa học phân tích nóichung hay kiến thức về chuẩn độ axit - bazơ nói riêng thì chúng ta có thể tính chínhxác CNaOH một cách dễ dàng thông qua sai số của phép chuẩn độ hoặc theo phươngtrình ĐKP hay phương trình bảo toàn điện tích:
Cách 1: hiệu chỉnh bằng sai số chuẩn độ
V
V C NaOH
HCl
100
48 10
với Cgđ,NaOH là nồng độ gần đúng của NaOH
Áp dụng phương trình sai số (II.6) của phép chuẩn độ bazơ mạnh bằng axit mạnh:
q = (h - Kw/h)
o
o CC
C
C
= (10-8 - 10-6 ) 4
3 3
3 3
10 105 , 6 10
4 , 2 10 5
10 4 , 2 10
(Ccx,NaOH : nồng độ chính xác của NaOH)
Cách 2: tại thời điểm chuyển màu của chỉ thị phenolphtalein pH = 8,00
Trang 38Từ phương trình bảo toàn điện tích hay phương trình bảo toàn proton (ĐKP) vớimức không là thành phần ban đầu (TPBĐ):
[H+] = [OH-] –[Na+] +[Cl-] , ta có:
10-8 = 10-6 -
48 100
48 10 5 48 100
→ Co 2 , 4015 10 3M
Tuy nhiên đối với học sinh phổ thông, chưa có khái niệm về phương trình sai sốchuẩn độ axit - bazơ vì vậy GV cần vận dụng kiến thức về chuẩn độ axit - bazơ mộtcách hợp lí để hướng dẫn các em giải bài toán này mà không cần phải sử dụng đếnphương trình sai số (quá nặng đối với các em), và cũng không nên dùng phương trìnhbảo toàn điện tích (thiên về ý nghĩa vật lí hơn là tư duy hóa học)
Trước hết giáo viên cần hướng dẫn cho các em xác định được giá trị pH tại thờiđiểm chỉ thị đổi màu (dựa vào khoảng chuyển màu của chỉ thị và dựa vào thứ tựchuẩn độ để HS biết được đối với bài toán này giá trị pH tại điểm kết thúc chuẩn độbằng 8 Với pH = 8,00 > 7,00, do đó còn dư NaOH theo phản ứng:
H+ + OH- → H2O
C
148
48 10
100 3
o C
pH = 8,00→ [OH-] = 10-6 >> [H+] = 10-8 → có thể coi COH- dư = [OH-]
148
48 10 5
100 3
o C
= 10-6 → Co 2 , 4015 10 3M
Như vậy với cách giải này các em hiểu được bản chất của các quá trình xảy ratrong dung dịch, nắm được hiện tượng hóa học, giúp phát triển tư duy hóa học
Cũng cần lưu ý rằng: với [OH-] = 10-6 10 7
(ta không thể nói 10-6 >>10-7) khó
có thể thuyết phục để các em chấp nhận COHdư = [OH-], nhưng nếu so sánh [OH-] =
10-6 >> [H+] = 10-8, có nghĩa là sự phân li của H2O có thể bỏ qua, do đó sự chấp nhận
COHdư = [OH-] là hợp lí
Trang 39Như vậy từ giá trị pH chuyển màu của chỉ thị (hay từ giá trị pH xác định đượckhi thực hiện phản ứng trung hòa) cho phép đánh giá được nồng độ của chất tham giaphản ứng Trên cơ sở này giáo viên có thể nâng mức độ phức tạp của bài toán nếu sửdụng hai chỉ thị sẽ cho phép xác định nồng độ của cả chất phân tích và chất chuẩn.
Ví dụ II.5
Chuẩn độ 50,00 ml dung dịch HCl bằng dung dịch NaOH đến đổi màuphenolphtalein (pT=9,00) thì phải dùng 25,00 ml NaOH Nếu chuẩn độ đến xuất hiệnmàu vàng của metyl da cam (pT=4,4) thì phải dùng 24,50 ml NaOH Tính nồng độHCl và NaOH.[10]
Phân tích:
Với nội dung của bài toán chuẩn độ này giáo viên có thể đặt vấn đề như sau để
HS đỡ bỡ ngỡ với khái niệm “chuẩn độ ”: “Trung hòa 50,00ml dung dịch HCl đến pH
= 9,00 thì phải dùng hết 25,00 ml NaOH Nếu trung hòa đến pH = 4,4 thì thể tíchNaOH tiêu thụ là 24,50 ml Tính nồng độ dung dịch HCl và NaOH.”
Như vậy nếu sử dụng phương trình bảo toàn điện tích các em chỉ cần thiết lập hệ
2 phương trình 2 ẩn số là CHCl và CNaOH ở hai giá trị pH khác nhau, từ đó sẽ tính đượcnồng độ các chất tham gia phản ứng Nhưng với cách giải như vậy chỉ thiên về công
cụ tính toán, nặng về ý nghĩa vật lí mà không chú ý đến tư duy hóa học Chính vì vậygiáo viên nên hướng dẫn cho các em phân tích bản chất các quá trình xảy ra trongdung dịch mặc dù cuối cùng vẫn phải giải hai phương trình hai ẩn số:
- Khi trung hòa đến pH = 9,00 > 7,00 → môi trường bazơ → dư NaOH
H+ + OH- → H2O
C
25 50
50
o C
25C C0
TPGH: OH- dư với nồng độ là:
75
50
25C C0
(M)
Vì pH = 9→ [OH-] = 10-5 >> [H+] = 10-9 → có thể coi COH- dư = [OH-]
Trang 40
75
50
50
o C
kì, do đó giáo viên cần khai thác thêm trường hợp nâng cao này
100
o C
45 100
10
100C0