42 3.2 Đánh giá tình hình chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn tại huyện 3.2.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt nông thôn tại huyện Kim 3.3.2 Các vấn đề chính ảnh hưởng
Trang 1BỌ GIAO DỤC VA ĐAO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
HOÀNG THỊ THÚY HẰNG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TỔNG HỢP
CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT KHU VựC NÔNG THÔN HUYỆN KIM THÀNH- TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2013
Trang 2BỌ GIAO DỤC VA ĐAO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
HOÀNG THỊ THÚY HẰNG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TỔNG HỢP
CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT KHU VựC NÔNG THÔN HUYỆN KIM THÀNH- TỈNH HẢI DƯƠNG
MÃ SỐ : 60.44.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRỊNH QUANG HUY
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳcông trình nào khác
Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Thúy Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy cô giáo Khoa Tài nguyên và Môitrường, Viện đào tạo sau đại học trường Đại học Nông nghiệp Hà nội đã truyền đạtcho tôi những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trìnhhọc cao học trong suốt 2 năm qua
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Trịnh Quang Huy đãdành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi hoàn thành đề tàinghiên cứu đề tài này
Tôi xin cảm ơn UBND 6 xã Việt Hưng, Kim Tân, Tam Kỳ, Ngũ Phúc, CộngHòa, Đồng Gia đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập nhữngthông tin, lấy mẫu phân tích cần thiết cho đề tài Tôi cũng xin cảm ơn phòng Tàinguyên Môi trường huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đã tạo điều kiện thuận lợi chotôi trong việc khảo sát thông tin phục vụ cho đề tài
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã độngviên và giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập vàthực hiện đề tài
Hà Nội, ngày 03 tháng 10 năm 2013 Học viên
Hoàng Thị Thúy Hằng
Trang 5MỤC LỤC
1.1 Cơ sở khoa học liên quan đến đề tài nghiên cứu 4
1.1.2 Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn 141.2 Tình hình quản lý rác thải sinh hoạt trên thế giới vàViệt Nam 161.2.1 Tình hình quản lý rác thải sinh hoạt trên thế giới 161.2.2 Hiện trạng phát sinh và quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn Việt
2.3.5 Phương pháp xác định hệ số phát sinh và thành phần rác thải 39
2.3.7 Phương pháp ước tính tổng lượng rác thải phát sinh 40
Trang 62.3.9 Phương pháp dự báo 402.3.10 Phương pháp SWOT (Phương pháp phân tích điểm mạnh - điểm yếu
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế -xã hội của huyện Kim Thành 42
3.2 Đánh giá tình hình chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn tại huyện
3.2.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt nông thôn tại huyện Kim
3.3.2 Các vấn đề chính ảnh hưởng tới hiệu quả của hệ thống quản lý chất
3.4 Đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn huyên
3.4.1 Dự báo phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn huyện
Trang 73.4.2 Đề xuất giải pháp quản lý tổng hợp rác thải sinh hoạt và nhân rộng mô
hình trên địa bàn huyện Kim Thành - tỉnh Hải Dương 783.4.2 Tuyên truyền nâng cao nhận thức về rác thải và bảo vệ môi trường 863.4.3 Đào tạo nâng cao năng lực quản lý rác thải sinh hoạt 863.4.4 Cải tiến, hình thành hệ thống quản lý chất thải rắn tại địa phương 88
Trang 8DANH MỤC BẢNG
2.1 So sánh tỷ lệ (%) thành phần của chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới
2.1 Danh sách 06 xã của huyện Kim Thành thực hiện điều tra theo quyết
định của Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Dương 362.2 Nguồn gốc các số liệu thứ cấp quan trọng cần thu thập 363.1 Tổng lượng mưa hàng tháng (mm) theo các năm tại Hải Dương 433.2 Bảng giá trị nhiệt độ trung bình các tháng tỉnh Hải Dương (oC) 433.3 Lượng rác thải nông thôn phát sinh trên địa bàn huyện Kim Thành -
3.4 Tỷ lệ Thành phần rác thải phát sinh tại khu vực nông thôn của các xã
3.5 Tỷ lệ hộ áp dụng tự quản lý và xử lý rác thải (%) 543.6 Số lượng xe thu gom, quãng đường thu gom và nhân lực trung bình
của một tổ thu gom trên địa bàn huyện Kim Thành 583.7 Nguồn gốc một số loại trang thiết bị phục vụ thu gom, vận chuyểnCTR 60
3.9 So sánh khoảng cách từ BCL đến khu dân cư của các xã 64
3.11 Mức phí thu gom rác thải trung bình của khu vực nghiên cứu 673.12 Tỷ lệ thải bỏ thực tế của các loại rác thải sau khi tái chế, tái sử dụng 713.13 Dự báo tổng lượng phát thải tương ứng với tốc độ gia tăng dân số của
huyện Kim Thành (hệ số phát sinh rác thải tăng 8-10% hàng năm) 773.14 Những điểm thuận lợi và không thuận lợi của mô hình 85
Trang 9DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
1.2Nguyên tắc cơ bản trong quản lý và xử lý chất thải ( Nguồn McGrawHill,
1.3 Quy trình chung trong quản lý tổng hợp chất thải rắn (Nguồn:
1.4 Sơ đồ tính toán so sánh các tác động đến môi trường của việc tái chế
1.5 Quy trình công nghệ chế biến phân bón từ rác thải 101.6 Tổ chức hành chính cấp quốc gia về quản lý chất thải rắn tại Việt Nam
1.8 Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trung bình/người/năm tại một
số quốc gia trên thế giới
16
1.9 Ví dụ về mô hình quản lý chất thải tổng hợp tại Tây Ban Nha 211.10 Ví dụ về mô hình quản lý chất thải tổng hợp tại Italia 222.11 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn nông nghiệp 231.12 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn của làng nghề 241.13 Cơ cấu ngành sản xuất ở nông thôn Việt Nam năm 2011 261.14 Tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt tại các vùng nông thôn Việt Nam 27
3.1 Mối quan hệ giữa lượng phát thải và loại hộ gia đình 503.2 Tỷ lệ hộ áp dụng tự quản lý và xử lý rác thải (%) 553.3 Hình thức tổ chức quản lý rác thải trên địa bànnghiên cứu 573.4 Một số xe thu gom rác được sử dụng trên địa bàn huyện Kim Thành -
3.5 Hiệu quả thu gom rác thải sinh hoạt khu vực nông thôn huyện Kim Thành 70
Trang 10Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rác thải nói chung và chất thải rắn sinh hoạt nói riêng đang là một vấn đề
“nóng” được tất cả các nước trên thế giới quan tâm Việt Nam cũng đang là quốc giacoi trọng vấn đề này khi mà nền kinh tế chúng ta đang có những chuyển biến tích cựctrong việc hội nhập cùng thế giới
Khi nói đến rác, nhiều người thường nghĩ đó là vấn đề cấp bách của các đô thị hay cácthành phố lớn Điều đó đúng nhưng chưa đủ Với sự phát triển củakhoa học kỹ thuật, nhất là kỹ thuật sản xuất, đóng gói bao bì, nhiều loại giấy, hộpđóng gói được làm chủ yếu bằng ni lông, nhựa, thiếc rất tiện lợi, góp phần làm thayđổi phong cách và tập quán sống của nhiều người dân từ nông thôn đến thành thị.Khách hàng dù đến bất kỳ nhà hàng nào, mua sản phẩm gì cũng được đóng gói cẩnthận bằng túi ni lông hay đồ đóng gói tương tự từ cà, mắm, muối cho đến các sảnphẩm cao cấp khác Chính nhờ những dịch vụ chăm sóc khách hàng đó cùng với sựphát triển kinh tế xã hội mà nhu cầu sinh hoạt của con người ngày càng cao và luônđược đáp ứng kịp thời Song bên cạnh các mặt tích cực ấy là lượng rác thải ra ngàycàng lớn, không chỉ ở các đô thị mà còn ở các vùng nông thôn, nó đã và đang trởthành vấn đề được mọi người quan tâm
Thực tế ở nông thôn Việt Nam trước đây, việc phân loại rác vốn được thực hiện rấttốt Lượng rác thải ở nông thôn vốn nhỏ, chủ yếu là rác thải hữu cơ Lượng rác thảihữu cơ này nguồn gốc chủ yếu từ thức ăn thừa, được tận dụng làm thức ăn cho giasúc Một lượng chất thải rắn khác là phân người và gia súc được tận dụng làm phânbón ruộng Các phế phẩm nông nghiệp như rơm rạ, được dùng làm đun nấu và thức ăngia súc Ý thức người dân về sử dụng và phân loại rác rất tốt, và hầu như không có rácthải đổ ra môi trường
Trang 12Trong mô hình canh tác kiểu truyền thống cộng với điều kiện kinh tế trước đây củanông thôn Việt Nam thì lượng rác thải sinh ra là rất nhỏ và hầu như được tận dụnghoàn toàn Tuy nhiên, trong một vài năm trở lại đây, khi điều kiện kinh tế phát triển,lượng rác thải nông thôn tăng mạnh, cùng với đó là sự xuất hiện của túi ni lông, làchất không phân hủy hay tái chế được, khiến tình hình rác thải ở nông thôn trở thànhvấn đề nghiêm trọng Bên cạnh đó là sự gia tăng mạnh mẽ về dân số, tạo thêm một áplực lớn cho vấn đề rác thải nông thôn.
Hải Dương là một tỉnh với phần lớn diện tích và dân số nằm trong khu vựcnông nghiệp Hiện nay, công tác quản lý rác thải sinh hoạt đặc biệt là rác thải sinh
hoạt ở khuvực nông thôn chưa được quản lý chặt chẽ Chủtrương của tỉnh là tất cả các xã trong tỉnh đều phải quy hoạch địa điểm chôn lấp ráctập trung và thành lập đơn vị thu gom Đến nay, tất cả các huyện, thị xã, thành phố đãxây dựng đề án và đang triển khai thực hiện Công tác thu gom rác thải sinh hoạt ởthành phố Hải Dương và các thị trấn được tổ chức khá quy củ Tại khu vực nông thôn,theo một số tài liệu khảo sát ban đầu cho thấy công tác thu gom và xử lý rác thải ở khuvực nông thôn đang gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ thu gom chỉ đạt 50% đối với khu vựccác xã có đơn vị thu gom và xử lý tại BCL tập trung Các thôn xóm có tổ thu gom rácthải riêng, các trang thiết bị ban đầu cho tổ thu gom được lấy từ ngân sách của huyện
và xã, kinh phí để duy trì tổ thu gom là do dân đóng góp Kinh phí chi trả lương chongười thu gom do người dân tự nguyện đóng góp nên thu nhập của người thu gom cònthấp chỉ từ 500.000 - 700.000 đ/tháng Tại những xã chưa có đơn vị thu gom và BCLtập trung, một phần rác thải sinh hoạt được thu gom và xử lý ngay tại gia đình; mộtphần được đổ thải không theo quy định được thu gom và đổ thải tại các ao làng, ao hồ,kênh mương ngoài đồng đã và đang tác động không nhỏ tới đời sống và hoạt động sảnxuất của người dân tại các khu vực nông thôn
Trang 13Tính tới thời điểm hiện tại, toàn tỉnh chưa có số liệu thống kê đầy đủ về hiện trạngphát sinh, hiệu quả thu gom và công tác xử lý rác thải sinh hoạt Điều này đã và đanggây khó khăn không nhỏ cho công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, xây dựng kếhoạch quản lý rác thải sinh hoạt tại các khu vực nông thôn trên địa bàn toàn tỉnh Vàhuyện Kim Thành là một trong những huyện thể hiện đại diện những vấn đề về quản
lý rác thải sinh hoạt tại khu vực nông thôn của tỉnh Hải Dương Đề tài: “ Nghiên cứu
giải pháp quản lý tổng hợp chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn huyện Kim Thành- Tỉnh Hải Dương " là rất cần thiết, góp phần là cơ sở để lãnh đạo các cấp, các cơ
quan quản lý môi trường huyện Kim Thành - tỉnh Hải Dương giải quyết các vấn đề vềrác thải nông thôn, từng bước cải thiện môi trường, nâng cao đời sống người dân nôngthôn trên địa bàn huyện, thực hiện thành công chủ trương hiện đại hóa nông nghiệpnông thôn của tỉnh 2 Mục đích ý nghĩa:
Yêu cầu của nghiên cứu
Các số liệu phải đảm bảo tính chính xác, khoa học làm cơ sở cho việc triển khai
đề án giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn Công tác điều tra
phải đảm bảo theo đúng các quy định của Nhà nước, của Bộ Tàinguyên và Môi trường và tỉnh Hải Dương
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Quản lý tổng hợp chất thải rắn
1.1.11 Giới thiệu cách tiếp cận trong quản lý chất thải rắn
Một cách khái quát, công tác quản lý chất thải rắn ở các quốc gia trên thế giớibao gồm các phương pháp tiếp cận như sau:
- Quản lý chất thải ở cuối công đoạn sản xuất (còn gọi là cách tiếp cận
“cuối đường ống”): theo kinh nghiệm, cách tiếp cận này bị động, đòi hỏi chi phí lớnnhưng vẫn cần thiết áp dụng đối với các cơ sở sản xuất không có khả năng đổi mớitoàn bộ công nghệ sản xuất
- Quản lý chất thải trong suốt quá trình sản xuất (cách tiếp cận “theođường ống”): cách tiếp cận này đòi hỏi quản lý chất thải trong suốt quá trình sản xuất,bao gồm việc giảm thiểu cũng như tái sử dụng, tái chế và thu hồi chất thải ở mọi khâu,mọi công đoạn của quá trình sản xuất Đây có thể được xem là một phần của chươngtrình đánh giá vòng đời sản phẩm
Quản lý chất thải nhấn mạnh vào khâu tiêu dùng: cách tiếp cận này tập trungnâng cao nhận thức của người tiêu dùng để họ lựa chọn và sử dụng các sản phẩm thânthiện với môi trường Vì vậy, nhà sản xuất cũng phải chịu sức ép cải tiến sản phẩm vàqui trình sản xuất đạt tiêu chuẩn môi trường và bảo vệ sức khỏe cộng đồng (ví dụ ISO
14001, OHSAS 18001, )
Quản lý tổng hợp chất thải (QLTHCT), đôi khi còn được gọi là quản lý tổng
hợp chất thải bền vững (Van de Klundert and Anschutz 2001) Quản lý tổng hợp chất
thải là cách tiếp cận mới trong quản lý chất thải, nó đưa ranhững cách thức quản lý khác nhau giúp giảm bớt đồng thời sức ép về thu gom vàchôn lấp chất thải Cách tiếp cận này làm tăng tính bền vững và
vềmôi trường, cả về kinh tế và xã hội của hệ thống quản lý chất thải nói chung
Trang 15Hình 1.1: Mô hình quản lý tổng hợp chất thải
(Nguồn: Nguyễn Danh Sơn, 2010)
Thuật ngữ “tổng hợp” có nghĩa là nối kết hay phối hợp với nhau Quản lý tổnghợp chất thải bao gồm ít nhất ba loại phối kết hợp sau: (1) Phối kếthợp các chiến lược quản lý chất thải, (2) Phối kết hợp các khía cạnh xã hội, kinh tế,luật pháp, chính trị, thể chế, môi trường và công nghệ trong quản lý chất thải, và (3)Phối kết hợp ý kiến, ưu tiên và năng lực cung cấp dịch vụ của các nhóm liên quan
- Quản lý tổng hợp chất thải: cách tiếp cận này cho phép xem xét tổng hợpcác khía cạnh liên quan đến quản lý chất thải như môi trường tự nhiên, xã hội, kinh tế,thể chế với sự tham gia của các bên liên quan vào các hợp phần của hệ thống quản lýchất thải (giảm thiểu, thu gom, tái sử dụng, tái chế, chôn lấp) chứ không chỉ tập trungvào duy nhất công nghệ xử lý (chôn lấp, tái chế, tái sử dụng, ) theo cách truyềnthống Phương pháp tiếp cận này được xem như
Trang 16một giải pháp tích hợp đảm bảo tính bền vững khi lựa chọn các giải pháp quy hoạch
và quản lý môi trường trong từng điều kiện cụ thể
Tái chếThu hồi năng lượng
Thải bỏ
Hình 1.2 Nguyên tắc cơ bản trong quản lý và xử lý chất thải ( Nguồn
ĐẦU VÀO CHẤT THẢI RẮN
PHÂN LOẠI TRƯỚC VÀ THU GOM
Tồn dư 1
Ạ Y
I Nguyên I vật liệu thứ cấp
Năng ! lượng
XỬ LÝSINH HỌC
XỬ LÝ NHIỆT
SX phân compost
Dư lượng phân compost
Trang 171.11.2 Kết hợp các giải pháp chiến lược về quản lý chất thải
Mô hình kết hợp các giải pháp trong chiến lược quản lý chất thải bao gồm tất
cả các phương án quản lý chất thải, thay vì chỉ tập trung vào công tác xử lý (thu gom,chôn lấp) truyền thống trước đây Các giải pháp quản lý chất thải được lựa chọn có thểbao gồm việc giảm nguồn thải, tái sử dụng, tái chế, sản xuất phân hữu
cơ, thu hồi năng lượng, nhằm làm giảm dòng chất thảiđưa ra bãi chôn lấp, từ đó tăng thời gian sử dụng của bãi chôn lấp và giảm chi phí cả
về kinh tế lẫn môi trường trong công tác quản lý chất thải rác, khí thải và nước rỉ rác.Việc tính toán dịch chuyển dòng thải này trong quy hoạch quản lý chất thải là cơ sở đểxác định nhu cầu về năng lực thu gom chất thải và thời gian sử dụng bãi chôn lấp
Để có các giải pháp quản lý chất thải trong điều kiện thực tế cần có sự hiểubiết nhất định về thành phần và tính chất của dòng thải Đây là đặc tính quan trong,nhờ đó các nhà chuyên môn, nhà quản lý đề xuất các giải pháp quản lý rác thải phùhợp và tối ưu nhất cho mình Các giải pháp quản lý này có thể được áp dụng riêng lẻhoặc kết hợp để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý
Căn cứ vào thành phần và tính chất của nguồn chất thải, các giải pháp quản lý
và xử lý được đề xuất và thảo luận như bên dưới
a Giảm phát thải
Nói đến giảm phát thải không chỉ là giảm số lượng chất thải mà còn đề cập cảđến việc giảm nồng độ và độc tính của chất thải ngay tại nguồn phát thải Giảm phátthải trong công nghiệp bao gồm giảm lượng thải trong quá trình sản xuất, sản
xuất các sản phẩm tạo ít phát thải, sản phẩm dễ dàng phânhủy khi thải bỏ, sản phẩm không hoặc chứa ít chất thải nguy hại, Ngay cả việc thayđổi thói quen tiêu dùng hàng ngày hướng tới các sản phẩm thân thiện môi trường, sảnphẩm ít bao bì, ít hoạt chất, cũng là một giải pháp hữu hiệu để giảm phát thải
Trang 18Ngoài ra, việc giảm phát thải của một qui trình sản xuất cũng được thực hiệnbằng nhiều giải pháp khác nhau, trong đó đánh giá sản xuất sạch hơn cũng là một giảipháp tích cực và hiệu quả trong thời gian qua Việc áp dụng các chương trình sản xuấtsạch hơn tại các nhà máy, các doanh nghiệp sản xuất làm tăng hiệu quả kinh tế trong
quá trình sản xuất của họ thông qua giảm ô nhiễm tại nguồn (Lê Hoàng Việt, Nguyễn
sử dụng được
Các giải pháp chiến lược thúc đẩy tái sử dụng và tái chế trong công nghiệp cóthể dưới dạng chương trình trao đổi chất thải công nghiệp Trong chương trình này,chất thải của một ngành nghề sản xuất nhưng lại là nguyên liệu cho một ngành sảnxuất khác, có thể được thông tin và trao đổi lẫn nhau nhằm sử dụng hiệu quả và tối ưunguồn tài nguyên trước khi thải bỏ
Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động tái sử dụng và tái chế là một ngành kinhdoanh không chính thức tuy nhiên mức đóng góp của hoạt động này trong giải quyếtcông ăn việc làm và giảm nguồn thải là rất đang kể Điều tra của DiGregorio et al.(1998) tiến hành vào năm 1996 ở Hà Nội ước tính có khoảng 6.000 lao động có thunhập từ việc thu gom chất thải cho tái chế và tái sử dụng Hoạt động này làm giảmkhoảng 20 T- 25% lượng chất thải cho các
Trang 19bãi chôn lấp, tương đương 80.000 tấn chất thải mỗi năm Một lợi ích kinh tế khácđược ghi nhận từ công việc này là giảm bớt chi phí của chính quyền thành phố chocông tác thu gom chất thải.
Giả sử các nguyên liệu tái chế có cùng chất lượng và số lượng với các nguyênliệu gốc thì các so sánh về tác động môi trường của việc sử dụng hai loại vật liệu này
có thể tổng kết trong sơ đồ ở hình 1 Từ sơ đồ ta thấy nếu gọi các tác động đến môitrường của hệ thống quản lý tổng hợp chất thải rắn là A, trong đó Ar là tác động đếnmôi trường của hệ thống quản lý tổng hợp chất thải rắn có tái chế, Anr là tác động đếnmôi trường của hệ thống quản lý tổng hợp chất thải rắn không có tái chế; B là tácđộng đến môi trường của qui trình tái chế và C là tác động đến môi trường của quitrình sản xuất hàng hóa từ nguyên liệu gốc Sự khác biệt về tác động đến môi trườngcủa hệ thống có tái chế và không có tái chế sẽ được tính bằng công thức:
(Ar + B) - (Anr + C) = Ar + B - Anr - C = □ A + B - C với □
A = Ar - Anr
Một chương trình tái chế mang lại hiệu quả về mặt môi trường khi □ A
+ B < C
Hình 1.4: Sơ đồ tính toán so sánh các tác động đến môi trường của việc
tái chế (Nguồn: Forbes R McDougall et al., 2001)
Trang 20Trong hệ thống quản lý chất thải rắn của đô thị Việt Nam, tái chế và tái sửdụng hiện hữu như một thành phần phi chính qui nhưng có ảnh hưởng rất lớn đếnthành phần và lượng rác thải phát sinh Việc thừa nhận chính thức các thành phầntham gia tái sử dụng và tái chế chất thải là cần thiết nhằm ghi nhận những đóng gópcủa chúng và tạo nguồn cơ sở dữ liệu cho nghiên cứu và đánh giá hệ thống quản lý rácthải xác thực và hiệu quả hơn Qua đó, các lợi ích môi trường, lợi ích cộng đồng củaviệc tái sử dụng và tái chế chất thải cũng được xác định rõ ràng, góp phần khuyếnkhích sự tham gia của nhà đầu tư và các đối tượng liên quan.
c Sản xuất phân hữu cơ
Chế biến phân bón từ chất thải là một dạng tái chế chất thải bởi vì qua quátrình phân hủy sinh học hiếu khí, các chất thải hữu cơ (thường là thức ăn và rau
quả) được biến đổi thành phân bón hữu cơ giàu dinh dưỡng Mặc dùphân hữu cơ có hàm lượng dinh dưỡng không cao như phân hóa học nhưng sử dụngphân hữu cơ là hướng đến một nền sản xuất nông nghiệp bền vững
Căn cứ vào thành phần rác thải ở khu vực ĐBSCL như trình bày ở bảng 1, tathấy hàm lượng chất hữu cơ trong rác đô thị rất cao chiếm từ 57 T- 87% Đây chính làthành phần thiết yếu và thích hợp nhất cho chế biến phân hữu cơ
Hình 1.5: Quy trình công nghệ chế biến phân bón từ rác thải
(Nguồn: Lê Hoàng Việt và cộng sự - QLTHCTR - Cách tiếp cận mới cho
Trang 21d Thu hồi năng lượng
Việc thu hồi năng lượng từ quá trình thiêu hủy chất thải không chỉ đơn thuầntạo ra năng lượng mà còn làm giảm bớt khối lượng chất thải phải chôn lấp đến 90%.Tuy nhiên, hàm lượng rác thải ở Việt Nam có nhiệt trị cao rất thấp; do đó, thu hồinăng lượng không phải là phương án khả thi về kinh tế và kỹ thuật Trong trường hợpnày, định hướng phân loại chất thải tại nguồn sẽ là giải pháp ưu tiên thực hiện để phânlập dòng chất thải vô cơ đưa vào thiêu đốt hoặc chôn lấp
Sự kết hợp các giải pháp xử lý rác thải trong hệ thống quản lý chất thải rắn cóảnh hưởng rất lớn đến việc tính toán lượng phát thải vào môi trường đặc biệt là khígây hiệu ứng nhà kính (CO2 và CH4, CFCs và N2O) Lượng khí này được tính toánqui đổi thành lượng phát thải khí CO2 tương đương, là nguyên nhân chính gây biếnđổi khí hậu Các giải pháp quản lý và xử lý được cải thiện, tương đương với lượngphát thải CO2 được thu gom, xử lý hoặc giảm thiểu góp phần làm giảm biến đổi khíhậu toàn cầu Do đó, trong những năm qua chúng ta đã và đang xây dựng các dự ánquản lý và xử lý chất thải rắn theo cơ chế phát triển sạch (CDM) để bán
“chứng nhận khả năng giảm phát thải hiệu ứng nhà kính (CER)“ và thu về mộtlượng tiền không nhỏ Các dự án CDM ở thành phố Hồ Chí Minh đang bán 1 CER(tương đương 1 tấn CO2 qui đổi) với giá khoảng 14 USD Đây chính là một lợi thếlớn cho việc quản lý chất thải rắn ở các nước chậm phát triển và các nước phát triển,trong đó có Việt Nam
1.1.1.3 Kết hợp các khía cạnh liên quan
Phần lớn các hoạt động trong quản lý chất thải là các quyết định về công nghệ,tài chính, luật pháp hay cưỡng chế thi hành, xử phạt hành chính Tất cả các hoạt độngnày cần được kết hợp vào trong các quyết định về quản lý chất thải Ví dụ khi lựachọn vị trí xây dựng bãi chôn lấp, việc chọn địa điểm vì lý do ít tốn kém là chưa đầyđủ; người ra quyết định cần phải xác định
Trang 22cả các tác động môi trường tiềm tàng tại mỗi địa điểm, các tác động xã hộiđối với người dân địa phương và cả sự ủng hộ của họ đối với địa điểm đề xuất; côngnghệ chôn lấp cũng phải phù hợp cho công tác vận hành; đủ năng lực để tiến hànhđánh giá tác động môi trường cho bãi chôn lấp.
1.11.4 Kết hợp các bên liên quan
Nhiều cá nhân, tập thể và tổ chức có liên quan có thể bị ảnh hưởng bởi cácquyết định về quản lý chất thải Trong quản lý tổng hợp chất thải, cần thu thập ý kiếnphản hồi của các đối tượng bị ảnh hưởng bởi quy hoạch và quản lý Phương pháp tiếpcận có thể là tổ chức các cuộc hội thảo, các cuộc họp công khai, các cuộc điều tranghiên cứu, phỏng vấn hoạt động của các ban thẩm định, ban tư vấn Lắng nghe vàhành động với các thông tin đầu vào như vậy không chỉ giúp hoàn thiện thiết kế các
dự án quản lý chất thải, mà còn làm tăng nhận thức và tạo sự đồng tình và ủng hộ củanhững đối tượng chịu ảnh hưởng từ các dự án đó
Hình 1.6: Tổ chức hành chính cấp quốc gia về quản lý chất thải rắn tại
Trang 23Mặt khác sự kết hợp của các bên liên quan còn được hiểu như là nhu cầu hợptác trong cung cấp các dịch vụ quản lý chất thải và chia sẻ thông tin Việc cung cấpcác dịch vụ này có thể bao gồm sự cộng tác, hợp tác của các tổ chức cộng đồng, cácnhóm không chính quy, khu vực tư nhân và chính quyền thành phố, hoặc từng tổ chứcnày có thể hoạt động độc lập Tất cả các bên liên quan có thể hỗ trợ nhau thực hiệncác dịch vụ và làm tăng hiệu quả cung cấp dịch vụ nói chung Ở Việt Nam chiến lược
xã hội hóa trong quản lý chất thải đang được thực hiệncó kết quả ở nhiều
bên liên quan trong quản lý chất thải Hình 1.6 trình bày tổ chức hành chính cấp quốcgia về quản lý chất thải rắn, và sơ đồ hệ thống tổng thể quản lý chấtthải sinh hoạt đô thị tại Việt Nam
Việc tổ chức, quy hoạch và quản lý chất thải rắn ở Việt Nam đã được hìnhthành và phát triển trong thời gian qua dưới sự quản lý của Bộ Tài nguyên và Môitrường, nhưng nhìn chung sự quản lý còn chồng chéo và chưa hiệu quả, chia sẻ thôngtin giữa các cơ quan chưa cao Hệ thống quản lý và xử lý rác còn thô sơ, bãi chôn lấp
là lựa chọn chính; ủ phân hữu cơ, thiêu đốt hầu như không đáng kể Các đơn vị thamgia trong hệ thống quản lý rác chưa có sự phối hợp thực hiện tốt, chưa đồng bộ vàthống nhất từ trung ương đến địa phương; các giải pháp quản lý thường rất chungchung và tương tự nhau giữa các địa phương Việc giáo dục môi trường và nâng cao ýthức cộng đồng còn rất yếu kém, sơ sài và chưa có sự phối hợp tốt
1.11.5 Thứ tự ưu tiên trong quản lý tổng hợp chất thải
Trong tiếp cận quản lý tổng hợp chất thải thì phòng ngừa là nguyên tắc hàngđầu Phòng ngừa là ngăn chặn sự phát thải hoặc tránh tạo ra chất thải.Giảm thiểu là việc làm để sự phát thải là ít nhất Khi sự phát thải được giảm tới mứcbằng 0 thì đó là sự phòng ngừa tuyệt đối Phòng ngừa được coi là phương thức tốtnhất để giảm thiểu chất thải ngay từ nguồn phát sinh
Trang 24Phòng ngừa và giảm thiểu là hai nấc thang trên cùng trong thang bậc quản lýchất thải Trong kinh tế chất thải, bản chất của phòng ngừa là ngăn chặn tối đa sự phátsinh chất thải trong mọi hoạt động kinh tế (sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng).Tái sử dụng và tái chế là hai nấc thang tiếp theo, sau cùng là thu hồi và táichế chấtthải.
Như vậy một chiến lược quản lý tổng hợp chất thải cần được chú ýtrước tiên vào các biện pháp hạn chế phát thải, nghĩa là theo nguyên tắc phòng ngừa.Trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, nếu càng giảm thiểu được phát thải thì cànggiảm được các chi phí cho các khâu tiếp theo để xử lý chất thải (tái sử dụng, tái chế,thu hồi, chôn lấp, ) Trường hợp phát sinh chất thải trong sản xuất và tiêu dùng thìcần cố gắng tái sử dụng và tái chế tối đa trước khi đem chôn lấp trả chúng về môitrường
Hình 1.7: Thang bậc quản lý chất thải
(Nguồn: Chỉnh sửa từ Lê Hoàng Việt, Nguyễn Xuân Hoàng, 2002)
1.1.2 Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn.
Ngày 17/12/2009, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã ký ban hànhQuyết định số 2149/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chấtthải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 Theo đó, phấn đấu tới năm 2050, tất
cả các loại chất thải rắn phát sinh đều được thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý triệt
để bằng những công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường và hạn chế khối lượngchất thải rắn phải chôn lấp đến mức thấp nhất
Trang 25Quản lý tổng hợp chất thải rắn là một trong những ưu tiên của công tác bảo vệmôi trường, góp phần kiểm soát ô nhiễm, hướng tới phát triển bền vững đất nước Đây
là điểm khác biệt quan trọng so với “Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị vàkhu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020” được ban hành 10 năm trước
đây (tại Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số152/1999/QĐ-TTg ngày 10/7/1999)
Quản lý tổng hợp chất thải rắn hiện nay là trách nhiệm chung của toàn xã hội,trong đó Nhà nước có vai trò chủ đạo; đẩy mạnh xã hội hóa, huy động tối đamọi nguồn lực, tăng cường đầu tư cho công tác quản lý tổng hợp chất thải rắn Quản
lý tổng hợp chất thải rắn phải đáp ứng theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trảtiền”; các tổ chức và cá nhân phát sinh chất thải, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường cótrách nhiệm đóng góp kinh phí khắc phục và bồi thường thiệt hại
Chiến lược quốc gia mới đặt ra mục tiêu đến năm 2025, 100% các đô thị cócông trình tái chế chất thải rắn thực hiện phân loại tại hộ gia đình; 100% tổng lượngchất thải rắn sinh hoạt đô thị, 100% tổng lượng chất thải rắn công nghiệp không nguyhại và nguy hại, 90% tổng lượng chất thải rắn xây dựng đô thị và 90% lượng chất thảirắn phát sinh tại các điểm dân cư nông thôn và 100% tại các làng nghề được thu gom
và xử lý đảm bảo môi trường Lượng túi nilon sử dụng tại các siêu thị và trung tâmthương mại sẽ giảm 85% so với năm 2010
Để đạt được các mục tiêu trên, các giải pháp chiến lược bao gồm:
- Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và cơ chế chính sách về quản lý chấtthải rắn, xây dựng nguồn lực thực hiện chiến lược;
- Quy hoạch quản lý chất thải rắn gồm lập và thực hiện quy hoạch xây dựngkhu liên hợp xử lý chất thải rắn cho các vùng kinh tế của cả nước, các tỉnh, thành phốcủa cả nước, xây dựng và thực hiện quy hoạch xây dựng khu xử lý chất thải rắn đếntận phường, xã;
Trang 26- Thiết lập cơ sở dữ liệu và hệ thống quan trắc dữ liệu về chất thải rắn toàn quốc;
- Thúc đẩy các nghiên cứu khoa học có liên quan để phục vụ hiệu quả công tác quản lý tổng hợp chất thải rắn;
- Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng, khuyến khích tham gia vào các hoạt độngphân loại tại nguồn, giảm
thiểu, tái chế tái sửdụng chất thải, hạn chế sử dụng túi nilon, không đổ rác bừa bãi, tăng cường trao đổi
và hợp tác kỹ thuật với các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ về quản lý
chất thải rắn, Trong công tác đào tạo nguồn nhân lực, mộtsố
Viện Trường ở Việt Nam đã liên kết với các Viện Trường nước ngoài để biên soạncác tài liệu giảng dạy về quản lý tổng hợp chất thải rắn, trong đó có xem xét cụ thể
1.2 Tình hình quản lý rác thải sinh hoạt trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình quản lý rác thải sinh hoạt trên thế giới
Hình 1.8 Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trung bình/người/năm
tại một số quốc gia trên thế giới.
Trang 27Các nướcthu nhậpthấp
Các nướcthu nhậptrung bình
Các nướcthu nhậpcao
Trang 28Công việc thu gom và vận chuyển rác thải tại các nước trên thế giới có sự đónggóp rất lớn của các đơn vị tư nhân, các công ty dịch vụ môi trường với đội ngũ côngnhân thu gom chuyên nghiệp bên cạnh các đơn vị thu gom vận chuyển chất thải củanhà nước Tại các nước phát triển quy định đối với việc thu gom và vận chuyển rácthải rất rõ ràng Công tác thu gom, phân loại rác tại nguồn mang lại nhiều thuận lợicho công tác xử lý.
Tại các nước đang phát triển thì việc thu gom rác thải còn nhiều bất cập Việc
bố trí mạng lưới thu gom, vận chuyển rác thải chưa hợp lý, trang thiết bị còn thô sơ vàthiếu thốn dẫn đến chi phí thu gom tăng lên
Trên thế giới, các nước phát triển đã có những mô hình phân loại và thu gomrác thải sinh hoạt rất hiệu quả Việc thu gom, phân loại rác thải đã vàđang là thói quen, là trật tự xã hội công cộng ở những nước này Ví dụ ở các nướcphát triển:
Nhật Bản: Các gia đình Nhật đã phân loại chất thải rắn sinh hoạt thành ba loại
riêng biệt và cho vào 3 túi với 3 màu sắc riêng biệt theo quy định: rác hữu cơ; rác vô
cơ và giấy, vải, thuỷ tinh; rác kim loại Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lý rácthải để sản xuất phân vi sinh Các loại rác còn lại đều được đưa đến các cơ sở tái chếhàng hoá
Đức: Mỗi hộ gia đình được phát 3 thùng rác xanh, vàng và đen Màu xanh
dùng để đựng giấy; màu vàng dùng để đựng túi nhựa và kim loại còn màu đen đựngcác chất khác Các loại này sẽ được mang đi xử lý khác nhau Đối với hệ thống thugom rác thải công cộng đặt trên hè phố, rác được chia thành 4 loại với 4 thùng màusắc khác nhau: màu xanh lam dựng giấy, màu vàng đựng túi nhựa và kim loại, màu đỏđựng kính và thuỷ tinh, màu xanh thẫm đựng rác còn lại
Hà Lan: Rác thải sinh hoạt là một vấn đề nan giải Ở Hà Lan người dân phân
loại rác thải và những gì có thể tái chế sẽ được tách riêng Những thùng rác với nhữngkiểu dáng, màu sắc khác nhau được sử dụng trong thành phố Thùng
Trang 29lớn màu vàng ở gần siêu thị để chứa các đồ thuỷ tinh, kính Thùng màu xanh nhạt đểchứa giấy Tại các nơi đông dân cư sinh sống thường đặt hai thùng rác màu khácnhau, loại chứa rác có thể phân huỷ và loại không phân huỷ.
Một số nước trong khu vực cũng có công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt rấthiện đại
Singapore: Là 1 nước nhỏ, không đủ diện tích để chôn lấp rác như những quốc
gia khác nên đã kết hợp xử lý đốt rác và chôn lấp Những thành phần chất thải rắnkhông cháy được chôn lấp ở bãi rác ngoài biển Bãi chôn lấp rác Semakau được xâydựng bằng cách đắp đê ngăn nước biển ở một đảo nhỏ ngoài khơi Singapore Rác thải
từ các nguồn khác nhau sau khi thu gom được đưa đến trung tâm phân loại rác Ở đâyrác được phân loại ra những thành phần cháy được và không cháy được Những chấtcháy được sẽ đem đến nhà máy đốt rác còn những chất không cháy được sẽ chở đếncác cảng trung chuyển và chở đến khu chôn lấp rác Các công đoạn này phối hợp rấtnhịp nhàng và ăn khớp với nhau trong tất cả các khâu Khí thải từ các lò đốt rác đượcthực hiện theo quy trình nghiêm ngặt để tránh sự ô nhiễm không khí
Xây dựng bãi rác trên biển sẽ tiết kiệm được đất đai trong đất liền và
mở rộng thêm đất khi đóng bãi Tuy nhiên việc xây dựng bãi chôn lấp đòi hỏi sự đầu
tư rất lớn và sự tuân thủ nghiêm ngặt theo những quy trình để đảm bảo sự an toàn củacông trình và bảo vệ môi trường
Tại Thái Lan: Việc phân loại rác được thực hiện ngay tại nguồn Người ta chia
ra 3 loại rác và bỏ vào 3 thùng riêng biệt: những chất có thể tái sinh, thực phẩm vàchất độc hại Các loại này được thu gom và chở bằng các xe ép rác có màu sắc khácnhau
Rác tái sinh sau khi được phân loại sơ bộ tại nguồn được chuyển đến nhà máyphân loại rác để tách ra các loại vật liệu khác nhau sử dụng trong tái sản xuất Chấtthải thực phẩm được chuyển đến nhà máy chế biến phân vi
Trang 30sinh Những chất còn lại sau khi tái sinh hay chế biến phân vi sinh được xử lý bằngphương pháp đốt.
Ở Philippin, dự án phân loại rác được triển khai trên các đảo nhỏ Chính vì
diện tích nhỏ hẹp nên vấn đề xử lý rác thải và bảo vệ môi trường ở đây trở nên rất
quan trọng Người dân cũng ý thức được vấn đề này nên rấtnghiêm túc thực hiện Chính quyền địa phương của nước này đã cử ra những đội giámsát chuyên kiểm tra các điểm tập kết rác thải ở các điểm dân cư, nếu điểm nào chưatốt sẽ tiến hành chấn chỉnh và xử lý luôn Nếu mỗi người dân hay mỗi điểm tập kết có
3 lần vi phạm những yêu cầu của chương trình phân loại rác và bảo vệ môi trường sẽ
bị xử phạt ở mức độ cao hơn
Hoạt động tái chế rác thải cũng được áp dụng ở nhiều nước Các loạichất thải có thể tái chế như giấy (ở Pháp thu hồi 35%), thuỷ tinh (ở Đức, Thụy Điển,Đan Mạch trên 50%), chất sợi (ở Đức 40%, Pháp 8%) Việc thu hồi để tái chế các
loại chất thải không những làm giảm lượng rác thải phải xử lý màcòn góp phần cải thiện chất lượng việc xử lý bởi các phương pháp khác như đốt hoặc
ủ phân compost
Sáng kiến 3R, viết tắt của 3 chữ tiếng Anh: Reduce (giảm thiểu), Reuse (tái sửdụng), Recycle (tái chế) đã được thực hiện tại một số nước trên thếgiới Sáng kiến này đã đem lại nhiều lợi ích cho các nước trong việc BVMT và tậndụng tối đa nguồn tài nguyên rác thải
Reduce (giảm thiểu): giảm thiểu lượng rác thông qua việc thay đổi
lốisống và cách tiêu dùng, cải thiện các quy trình sản xuất, mua bán sạch Ví dụ sửdụng làn hay túi giấy, vải đi chợ thay cho túi nilon để nhằm giảm lượng rác thải phátsinh từ túi nilon
Reuse (tái sử dụng): Sử dụng lại sản phẩm hay một phần của sản phẩm chochính mục đích cũ hay cho mục đích khác Ví dụ như sử dụng lại các chai dựng nước
Trang 31mà họ đã áp dụng và triển khai.
Thu gom CTRSH
T 1
-282000 cư dân 40 khu đo thi
77852 đô thị cao tầng
Chất thải thương mại
110000 tấn chất thải rắn đô thi
MRF HOOOt l ị
Figure 3.2 Integrated Waste Management in Pamplona Spain 1996.
Nguồn: McGraw-Hill, 2002).
Trang 32Hình 1.10 Ví dụ về mô hình quản lý chất thải tổng hợp tại Italia.
1.2.2 Hiện trạng phát sinh và quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn Việt Nam.
Việt Nam đang trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mạnh
mẽ Cùng với sự gia tăng số lượng và quy mô các ngành nghề sản xuất, sự hình thànhcác khu dân cư tập trung, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, nguyên vật liệu và năng lượngngày càng tăng Những sự gia tăng đó đã tạo điều kiện kích thích các ngành sản xuất,kinh doanh và dịch vụ mở rộng và phát triển nhanh chóng, đóng góp tích cực cho sự
phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước Tuy nhiên, song song với sự phát triển mạnh mẽ này là sự phóng thích mộtlượng lớn phát thải vào môi trường, đặc biệt là chất thải rắn như chất thải sinh hoạt,
chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chấtthải xây dựng, chất thải nguy hại
Thực tế ở nông thôn Việt Nam trước kia, việc phân loại rác vốn được thựchiện tốt Lượng rác thải ở nông thôn vốn nhỏ, chủ yếu là rác thải hữu cơ
Trang 33Lượng rác thải hữu cơ này nguồn gốc chủ yếu từ thức ăn thừa, được tận dụng làmthức ăn cho gia súc Một lượng chất thải rắn khác là phân người và gia súc được tậndụng làm phân bón ruộng Các phế phẩm nông nghiệp như rơm rạ, được dung làmđun nấu và thức ăn gia súc Ý thức người dân về sử dụng và phân loại rác rất tốt, vàhầu như không có rác thải đổ ra môi trường.
Trong mô hình canh tác kiểu truyền thống cộng với điều kiện kinh tế trước kiacủa nông thôn Việt Nam thì lượng rác thải sinh ra là rất nhỏ và hầu như được tận dụnghoàn toàn Tuy nhiên, trong một vài năm trở lại đây, khi điều kiện kinh tế phát triển,lượng rác thải nông thôn tăng mạnh, cùng với đó là sự xuất hiện của túi ni lông, làchất không phân hủy hay tái chế được, khiến tình hình rác thải ở nông thôn trở thànhvấn đề nghiêm trọng Bên cạnh đó là sự gia tăng mạnh mẽ về dân số, tạo them một áplực lớn cho vấn đề rác thải nông thôn
1.22.1 Nguồn gốc, thành phần chất thải rắn nông thôn Chất thải rắn nông nghiệp là
chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như: trồng trọt, thu hoạch, bảo quản và sơ chế nông sản, các chất thải ra từ chăn nuôi, giết mổ động vật, chế biến sữa
Hình 2.11: Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn nông nghiệp
Trang 34Thành phần chất thải rắn nông nghiệp gồm nhiều chủng loại khác nhau
- Chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học: phân gia súc, các phế phụ phẩmtrồng trọt như rơm rạ, chất thải từ chăn nuôi, giết mổ
- Các chất thải khó phân hủy và độc hại: bao bì đóng gói, chai lọ đựngthuốc BVTV, thuốc trừ sâu các bệnh phẩm của động vật nhiễm bệnh ( gà rù, lợn lởmồm long móng, gà cúm, trâu bò điên )
Chất thải rắn làng nghề
Làng nghề là một đặc thù của nông thôn Việt Nam trong quá trình phát triểnkinh tế xã hội Tại các làng nghề, nhiều sản phẩm phi nông nghiệp đã được những laođộng có nguồn gốc nông dân trực tiếp sản xuất và trở thành thương phẩm trao đổihàng hóa, góp phần cải thiện đời sống, và tận dụng lao
động dư thừa
Có khoảng 1450 làng nghề phân bố trên các cùng nông thôn, mỗi năm phátthải khoảng 774000 tấn chất thải công nghiệp không nguy hại Lượng chất thải chủyếu phát sinh từ các tỉnh Hà Tây, Bắc Ninh, Hà Nội Các loại chất thải phát sinh từcác làng nghề ở nông thôn lớn nhất từ các ngành gốm
sứ, vật liệu xây dựng, lò vôi, lò gạch Tiếp đến là các ngành dệt may thủ công,
4
4
Hình 1.12 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn của làng nghề
Trang 35Chất thải rắn sinh hoạt ở nông thôn
Chất thải rắn sinh hoạt nông thôn phát sinh từ các nguồn: các hộ giađình, chợ, nhà kho, trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính Chất thải rắn sinhhoạt khu vực nông thôn có tỷ lệ khá cao chất hữu cơ, chủ yếu là từ thực phẩm thải,chất thải vườn và phần lớn đều là chất hữu cơ dễ phân hủy (tỷ lệ các thành phần dễ
phân hủy chiếm tới 65% trong chất thải sinh hoạt gia đình ởnông thôn) Thành phần hữu cơ chủ yếu là thực phẩm thừa, giấy, nhựa, vải,cao su,da, gỗ Và có các thành phần vô cơ như thủy tinh, nhôm, sắt, bụi
I.2.2.2 Hiện trạng phát sinh CTR sinh hoạt nông thôn
Dân số Việt Nam hiện nay phần lớn vẫn tập trung ở khu vực nông thôn, chiếm
68,25% (Tổng cục thống kê, 2011) Trong những năm gần đây, ở khu vực nông thôn
mặc dù tỷ lệ dân số có giảm, nhưng vẫn ở mức cao Quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và lao động tương đối chậm, tuy nhiên cơ cấungành sản xuất ở nông thôn đang ngày càng đa dạng và được đẩy mạnh Sau gần 3năm triển khai Nghị quyết 26- NQ/TW của Ban Chấp hành TW Đảng khóa X về nôngnghiệp, nông dân, nông thôn, theo đánh giá của Chính phủ, các bộ, ngành, đời sốngcủa người nông dân đã có nhiều chuyển biến tích cực, thu nhập của người nông dânnăm 2010 tăng 34,5% so với năm 2008, tất cả các lĩnh vực sản xuất như trồng trọt,chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, dịch vụ đều có bước phát triển khá
Nông nghiệp đã chuyển mạnh sang cơ cấu sản xuất hiệu quả hơn và đạt tốc độtăng trưởng khá cao; an ninh lương thực được bảo đảm Cơ cấu hộ nông dân theongành nghề đang chuyển dịch theo hướng tăng dần số lượng và tỷ trọng nhóm các hộtham gia sản xuất phi nông nghiệp, như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Tỷ trọng phát triển ngành nghề công nghiệp, dịch vụ tăng lên rõrệt, góp phần
tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèocho nông dân
Trang 36Hình 1.13 Cơ cấu ngành sản xuất ở nông thôn Việt Nam năm 2011
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2011
Song song với sự chuyển biến tích cực, nông thôn Việt Nam vẫn còn bộc lộnhững hạn chế, yếu kém: phát triển thiếu quy hoạch, tự phát, có khoảng 23% xã cóquy hoạch nhưng chất lượng quy hoạch chưa cao Kết cấu hạ tầng kỹthuật và hạ tầng xã hội còn lạc hậu, VSMT nông thôn còn nhiều vấn đề bất cập Cảnước hiện còn hơn 400 nghìn nhà ở tạm bợ Hầu hết nhà ở nông thôn được xây không
có quy hoạch, quy chuẩn Chính những hạn chế, yếu kém này kéo theo tình trạng ônhiễm môi trường nông thôn đang ở mức báo động ở nhiều nơi
Một trong những nguyên nhân chính của ô nhiễm môi trường nông thôn là doCTR từ hoạt động nông nghiệp, chăn nuôi, sự lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, phânbón trong sản xuất nông nghiệp, CTR từ hoạt động làng nghề và rác thải từ sinh hoạt.CTR nông thôn có thể phân thành 3 dạng chính:
- Chất thải rắn sinh hoạt ở nông thôn
- Chất thải rắn nông nghiệp
- Chất thải rắn làng nghề
Dân số ngày càng tăng, điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, nhucầu tiêu dùng của người dân ở các vùng nông thôn nói chung và khu dân
Trang 37cư nói riêng ngày càng phong phú và đa dạng Đây cũng là nguyên nhân chính làm giatăng thành phần và tải lượng rác thải sinh hoạt nông thôn.
Với dân số 60,703 triệu người sống ở khu vực nông thôn (năm 2010), lượngphát sinh chất thải của người dân ở các vùng nông thôn khoảng 0,3 kg/người/ngày, ta
có thể ước tính lượng rác thải sinh hoạt phát sinh khoảng 18,21 tấn/ngày
tương đương với 6,6 triệu tấn/năm Vùng Đồng bằng sôngHồng và Đồng bằng sông Cửu Long có lượng CTR sinh hoạt nông thôn phát sinh lớn
nhất do có mức độ hoạt động sản xuất nông nghiệp cao - Báo cáo môi trường quốc
gia 2011.
Hình 1.14 Tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt tại các vùng
nông thôn Việt Nam
(Nguồn: Viện Khoa học và Công nghệ môi trường, - Đại học Bách Khoa Hà Nội,
2011 - Báo cáo môi trường Quốc gia 2011)
CTR làng nghề chiếm phần lớn trong nguồn phát sinh CTR nông thôn Sự pháttriển mạnh mẽ của các làng nghề đã mang lại lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội cho cácđịa phương Tuy nhiên, sự phát triển đó cũng tạo sức ép lớn đối với môi trường khithải ra lượng CTR lớn Hiện cả nước có khoảng 1.324 làng nghề được công nhận và
Trang 38thôn đã tạo ra việc làm cho hơn 11 triệu lao động, thu hút khoảng 30% lực lượng laođộng nông thôn; đặc biệt có những địa phương đã thu hút được hơn 60% lao động của
cả làng, đã và đang có nhiều đóng góp cho ổn định đời
sống nông dân, góp phần phát triển kinh tế nông thôn (Bộ TN & MT, 2011) Chất thải
rắn làng nghề gồm nhiều chủng loại khác nhau, phụ thuộc vào nhiều nguồn phát sinh
và mang đặc tính của loại hình sản xuất Cùng với sự gia tăng về số lượng, chất thảilàng nghề ngày càng đa dạng và phức tạp về thành phần, có thể thấy rằng chất thảilàng nghề bao gồm những thành phần chính như: phế phụ phẩm từ chế biến lươngthực, thực phẩm, chai lọ thủy tinh, nhựa, nilon, vỏ bao bì đựng nguyên vật liệu, gốm
sứ, gỗ, kim loại
Để giải quyết tình trạng ô nhiễm chất thải rắn cần phải có một chiến lược cụthể và có mô hình quản lý, xử lý chất thải thích hợp và đồng bộ cho tất cả các nguồnthải Ở nước ta quản lý chất thải rắn theo hướng bền vững là một trong bảy chươngtrình ưu tiên được xác định trong “Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia 2001^
2010 và định hướng đến năm 2020” và là một nội dung thuộc lĩnh vực ưu tiên trongchính sách phát triển của Chương trình nghị sự 21 - Định hướng chiến lược phát triểnbền vững ở Việt Nam
I.2.2.3 Phân loại và thu gom CTR sinh hoạt nông thôn.
Cũng như giai đoạn trước, hiện tại quá trình xử lý rác thải cũng như thu gomrác thải tại nông thôn vẫn chủ yếu tập trung tại hộ gia đình Rác thải có thể tái chếđược phù hợp với điều kiện nông thôn được tận dụng một cách tối đa Những rác
thải còn lại không tận dụng được thường bị vứt ra vườn hoặctại những địa điểm công cộng thiếu sự quản lý của chính quyền (như các khu vực giápdanh giữa các làng, xã )
Việc phân loại CTR sinh hoạt nông thôn được tiến hành ngay tại hộ gia đìnhđối với một số loại chất thải như giấy, các tông, kim loại (để bán), thức ăn thừa, lá cải,
su hào, (sử dụng cho chăn nuôi) Các CTR sinh hoạt khác không
Trang 39sử dụng được hầu hết không được phân loại mà để lẫn lộn, bao gồm cả các loại rác cókhả năng phân hủy và khó phân hủy như túi nilon, thủy tinh, cành cây, lá cây, hoa quả
ôi thối, xác động vật chết Hiện nay, tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại khu vực nôngthôn vào khoảng 40 - 55% Theo thống kê có khoảng 60% số thôn hoặc xã tổ chức thudọn định kỳ; trên 40% thôn, xã đã hình thành các tổ thu gom rác thải tự quản Việcthu gom rác còn rất thô sơ bằng các xe cải tiến
Nhiều xã không có quy hoạch các BCL tập trung, không có BCL công cộng,không quy định chỗ tập trung rác, không có người và phương tiện chuyên chở rác Do
đó, các BCL tự phát đã hình thành ở rất nhiều nơi, làm cho tình trạng CTR sinh hoạtnông thôn trở thành vấn đề nan giải khó quản lý Một số huyện, xã mặc dù đã có quyhoạch BCL, nhưng vẫn chưa có các cơ quan quản lý, biện pháp xử lý đúng kỹ thuật
và người dân vẫn chưa có ý thức đổ rác theo quy định
Hình 1.15 Rác thải sinh hoạt tại khu vực nông thôn.
Trang 40đổ thải vẫn tiếp tục diễn ra Tại hầu hết các xã ở nông thôn hiện tại đều có các quyđịnh cấm đổ rác thải bừa bãi, tuy nhiên tại các khu vực giáp danh, nơi không có sựquản lý chặt chẽ, đã trở thành bãi rác chung cho cả khu vực Người dân cũng nhậnthức được rõ ràng tác hại của bao bì thuốc trừ sâu đối với sức khỏe tuy nhiên việc vứtbừa bãi chúng trên đồng ruộng vẫn diễn ra, và hầu như không có biện pháp nào để giảiquyết vấn đề này.
I.2.2.4 Tái sử dụng, tái chế chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
a Phân compost (phân hữu cơ)
Sản xuất phân compost là giải pháp được sử dụng rộng rãi tại các nước có hệthống phân loại tốt, trên cơ sở quá trình phân huỷ hiếu khí tự nhiên của các vi sinh vậtbiến rác thành mùn và chất dinh dưỡng cho cây trồng Ưu điểm của phương pháp làgiảm ô nhiễm môi trường, tạo phân hữu cơ vi sinh có tác dụng tốt cho đất và câytrồng, giá thành phù hợp với điều kiện nước ta
Hiện nay, ở Việt Nam sản xuất phân compost đã được thực hiện ở một số nhàmáy - được xây dựng gần các đô thị, nơi cung cấp chính các loại chất thải hữu cơ làmnguyên liệu đầu vào Hiện tại chưa có các số liệu đánh giá về chi phí - lợi ích
chưa có nhà máy nào được xây dựng để phục vụ xử lý rác thải nông thôn Rất khó đểđánh giá được hiệu quả của việc áp dụng làm phân compost ở quy mô nhỏ lẻ, từng hộgia đình, vì vậy tại khu vực nông thôn công nghệ này chưa được áp dụng phổ biến