trong đó khâu đột phá lúc này là chuyển một số xí nghiệp quốc doanh có khả năng thu hút vốn thành Công ty cổ phần, một hình thức hỗ hợp sở hữu giữa Nhà nước và cá nhân, kể cả các xí nghi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TĂNG THÁI HÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CỔ PHẦN HÓA CÁC DNNN
Ở TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS.HỒ ĐỨC HÙNG
TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2000
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trang
– Mục đích nghiên cứu
– Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Kết cấu của luận án
– Phương pháp nghiên cứu
– Các công trình nghiên cứu liên quan
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CỔ PHẦN HÓA VÀ CÔNG TY CỔ PHẦN 1 Doanh nghiệp Nhà nước 1
1.1.Vai trò DNNN trong nền kinh tế 1
1.2.Vấn đề sở hữu tại các DNNN 2
1.3.Thực trạng các DNNN trong nền kinh tế 3
2 Cổ phần hóa và tư nhân hóa 7
3 Mục tiêu cổ phần hóa 9
4 Một số đặc điểm CPH-DNNN tại Việt Nam 11
5 Chủ trương CPH-DNNN hiện nay 14
CHƯƠNG II : KHẢO SÁT TÌNH HÌNH CỔ PHẦN HÓA DNNN TẠI TP HỒ CHÍ MINH 1 Kết quả thực hiện từ trước đến nay : 20
2 Những vướng mắc trong công tác CPH : .27
2.1 Thủ tục chuyển giao bất động sản, nhà xưởng, vật kiến trúc 27
2.2 Xử lý tồn tại về công nợ trước khi CPH 28
2.3 Về nghiệp vụ định giá 30
2.4 Xử lý tài sản không cần dùng 30
2.5 Đối với Doanh nghiệp 30
3 Thực hiện việc chỉ đạo xây dựng kế hoạch : 31
4 Nhận xét – đánh giá : 33
- Về nhận thức và chủ trương
Trang 3- Về chính sách chế độ đối với người lao động và DNNN
- Người mua
CHƯƠNG III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CỔ PHẦN HÓA TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở TP HỒ CHÍ MINH 1 2 3 4 5 6 Vấn đề định giá: 39
1.1.Về đất đai 39
1.2 Về lợi thế kinh doanh 40
1.3 Về cơ chế định giá 1 số DNNN 41
Phát huy tác dụng của thị trường chứng khoán 41
Xây dựng đề án CPH 44
Ban hành luật CPH 45
Chính sách đối với người lao động tại Doanh nghiệp cổ phần hóa 45
Công tác tuyên truyền vận động 46
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ : 46
1 Giải pháp khi không bán được cổ phần 46
2 Mô hình cổ phần hóa hai bước 47
KẾT LUẬN PHỤ LỤC
1 Quy trình cổ phần hóa DNNN
2 Danh sách DNNN đã CPH trong cả nước đến 31/12/1999
3 Tổng hợp tình hình CPH / DNNN cả nước trong năm 1999
4 Kế hoạch CPH và được đa dạng hóa năm 2000
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4Huy động vốn trong nước để phát triển kinh tế là một nhiệm vụ tập trung để phát huy nội lực trong tiến trình phát triển kinh tế ở Việt Nam Đó là nguồn vốn khoảng 20.000 tỷ trong dân, mà nếu Nhà nước có các biện pháp, chính sách phù hợp để đưa được vào sản xuất và kinh doanh thì sẽ tạo được một bước phát triển vô cùng quan trọng cho nền kinh tế đất nước Đa dạng hoá sở hữu là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm thu hút mọi nguồn vốn của người dân Trong đó hình thức Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp tiêu biểu cho sự đa dạng hoá sở hữu,xã hội hóa nguồn vốn
Chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đã được đặt ra tại kỳ họp thứ X, quốc hội khoá VIII Trong báo cáo về nhiệm vụ phát triển kinh tế 1991 –
1995 tại kỳ họp thứ X quốc hội khoá VIII Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nay là Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh ” Để khai thác nguồn lực của những người có vốn nhưng không có khả năng và điều kiện đầu tư kinh doanh, ngoài việc gởi qũy tiết kiệm, cần chú trọng những hình thức khác, đặc biệt là hình thức cổ phiếu trong đó khâu đột phá lúc này là chuyển một số xí nghiệp quốc doanh có khả năng thu hút vốn thành Công ty cổ phần, một hình thức hỗ hợp sở hữu giữa Nhà nước và cá nhân, kể cả các xí nghiệp hiện có và xí nghiệp mới xây dựng”
Chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước lần đầu tiên được nêu tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCH Trung ương khoá VII (11/1991) được cụ thể trong Nghị quyết Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII (01/1994), Nghị quyết 10/NQ-TW của Bộ chính trị ngày 17/03/1995, Thông báo số 63/TB-TW ngày 04/04/1997 của Bộ Chính trị Đặc biệt là từ khi có Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của BCH Trung ương khoá VIII thì chủ trương CPH/DNNN được khẳng định rõ hơn Chính phủ đã triển khai từng bước thực hiện các Nghị quyết nói trên và chú ý điều chỉnh các chính sách cho phù hợp với tình hình thực tế Tuy vậy sau hơn 7 năm thực hiện
Trang 5kể từ giai đoạn thí điểm theo QĐ 202/CT ngày 08/06/1992 cho đến cuối năm
1999, kết quả vẫn chưa được như mong đợi
Cổ phần hoá DNNN, là một chủ trương lớn, đúng đắn của Đảng và Nhà nước Nhưng trong quá trình tổ chức thực hiện thuờng phát sinh nhiều vấn đề
Là học viên cao học của trường Đại học Kinh tế chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, với kiến thức được nhà Trường trang bị và thực tiễn khảo sát được, để góp phần giải quyết vấn đề trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài :
“Một số giải pháp thúc đẩy cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước
ở TP Hồ Chí Minh”
nhằm đóng góp một phần nhỏ ý kiến của mình chung quanh vấn đề này
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Qua luận văn này, chúng tôi muốn tập trung nghiên cứu các nguyên nhân làm chậm trễ quá trình Cổ phần hóa DNNN tại TP Hồ Chí Minh, đồng thời đề xuất các giải pháp góp phần cung cấp cho các cơ quan Nhà nước cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá tại TP Hồ Chí Minh, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả của bộ phận các DNNN được cổ phần hoá trong nền kinh tế thị trường
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU :
Nhằm giải quyết thỏa đáng mục đích trên, luận án đã tập trung nghiên cứu thực trạng các Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) đang chuẩn bị cổ phần hóa (CPH) và các DNNN đã hoàn tất quá trình CPH nhằm đánh giá các mặt mạnh cần phát huy cũng như các mặt yếu cần khắc phục để làm cơ sở đề xuất các giải pháp
Phạm vi nghiên cứu được xác định là các DNNN trên địa bàn TP Hồ Chí Minh thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, có quy mô hoạt động khác nhau
Thời gian nghiên cứu được xác định từ giai đoạn thực hiện thí điểm CPH năm 1992 theo QĐ 202/CT ngày 08/6/1992 đến cuối năm 1999
KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN :
Trang 6Nội dung của luận án được chia thành 3 chương :
CHƯƠNG I : Lý Luận Cơ Bản Về Cổ Phần Hóa DNNN
CHƯƠNG II :Thực Trạng Cổ Phần Hóa DNNN tại TP Hồ Chí Minh
CHƯƠNG III : Một số giải pháp nhằm thúc đẩy CPH DNNN tại TPHCM
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Đề tài nghiên cứu này được thực hiện dựa trên cơ sở chủ yếu của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng CSVN và Nhà nước Việt Nam trong tình hình thực tế của Việt Nam nói chung và của TP.Hồ Chí Minh nói riêng Đây cũng là quá trình vận dụng những kiến thức đã tiếp thu được trong quá trình theo học chương trình Cao học ngành Quản Trị Kinh Doanh tại trường Đại học Kinh Tế
Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học cũng được vận dụng như: phương pháp phân tích toàn diện tổng hợp, logic và lịch sử, các phương pháp thống kê toán học
Để phù hợp với nội dung đề tài, hướng tiếp cận chủ yếu được vận dụng là hướng tiếp cận từ thực tiễn, có đối chiếu các vấn đề lý luận
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Hiện nay, liên quan đến đề tài này, đã có không ít công trình nghiên cứu
do các nhà nghiên cứu, học giả lẫn các cơ quan chuyên trách thực hiện Trong đó có thể kể đến các công trình tiêu biểu như sau :
1 Viện Kinh tế học : “ Kinh nghiệm thí điểm chế độ cổ phần ở trung Quốc” –
Trang 75 Phan Văn Tiên – Tình hình thực hiện cổ phần hoá DNNN, những kiến nghị về tiếp tục mở rộng thí điểm cổ phần hoá trong thời gian tới – Tạp chí Phát triển kinh tế số Xuân 1996
6 GS.TS Vũ Huy Từ : “Thí điểm cổ phần hoá – Thực trạng về giải pháp” – Hội
thảo Khoa học 1993
7 TS.Nguyễn Đăng Liêm “Cổ Phần hóa các DNNN trong cơ chế thị trường”–
Nhà Xuất Bản Trẻ 1996
8 Tập thể tác giả trường ĐHKT-TPHCM do GS.TS Trần Văn Chánh làm chủ đề
tài : “Một số biện pháp chủ yếu nhằm thực hiện CPH một bộ phận DNNN”
– 1999
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều vạch ra lợi ích của việc cổ phần hoá DNNN trong giai đoạn hiện nay, nêu ra những nguyên nhân làm chậm trễ quá trình cổ phần hoá đồng thời đề xuất được nhiều giải pháp có giá trị cao để đẩy mạnh công tác cổ phần hoá trong cả nước nói chung
Tiếp thu kết quả của các công trình nghiên cứu trước, luận án này tập trung cho việc nhận xét và đánh giá tình hình CPH – DNNN trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh
Khác với các công trình trước, luận án này đóng góp các giải pháp cụ thể như nhóm giải pháp về kích thích tác động của thị trường chứng khoán trong tiến trình cổ phần hóa DNNN, giải pháp về việc tính giá trị đất, giải pháp khi không bán được cổ phần, giải pháp về mô hình cổ phần hóa 2 bước
Dưới đây là nội dung chính của luận án
Trang 8CHƯƠNG I
1 DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC :
1.1 Vai trò DNNN trong nền kinh tế :
Ở Việt Nam, các DNNN tồn tại từ rất sớm (sắc lệnh đầu tiên về doanh nghiệp Quốc gia do Hồ Chủ tịch ký 01/01/1948) và đã sớm đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ đất nước còn chiến tranh đến khi hoà bình thống nhất đất nước Sau ngày đất nước thống nhất, nước ta theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, với quan điểm cải tạo các thành phần kinh tế khác vàchưa thừa nhận thành phần kinh tế tư nhân, DNNN nhanh chóng tăng nhanh về số lượng và quy
mô Có thể nói vai trò của DNNN trong thời kỳ này là bảo đảm cho hầu hết các
tế của Nhà nước
Trong điều kiện hiện nay chúng ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, các thành phần kinh tế đều được khuyến khích phát triển và bình đẳng với nhau trong hoạt động kinh doanh cũng như trước pháp luật Vai trò của DNNN chẳng những để giải quyết các vấn đề Kinh tế xã hội mà còn là điều kiện để Nhà nước quản lý vĩ mô nền kinh tế
- DNNN sẽ chỉ tồn tại và phát triển ở những ngành và lĩnh vực then chốt, quan trọng của nền kinh tế DNNN là công cụ vật chất giúp Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, can thiệp vào thị trường khắc phục các khuyết tật của kinh tế thị trường
- DNNN còn phải được duy trì và phát triển ở những ngành, lĩnh vực kinh doanh mang lại ít lợi nhuận hay không mang lại lợi nhuận Vì ít lợi nhuận nên
Trang 9các thành phần kinh tế khác sẽ không đầu tư nhưng một số DNNN vẫn phải có mặt để đảm bảo nhu cầu chung của nền kinh tế và các lợi ích công cộng
- Nhà nước cũng phải đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi vốn lớn mà các thành phần kinh tế khác không đủ sức đầu tư
Nhận thức mới về vai trò của DNNN trong kinh tế thị trường là một cơ sở lý luận quan trọng cho việc cải cách khu vực kinh tế Nhà nước, vì hiện nay các DNNN tồn tại ở hầu hết các ngành và lĩnh vực trong nền kinh tế
1.2 Vấn đề chủ sở hữu tại các DNNN:
Hiện nay đã phát sinh không ít vấn đề về tính chất “vô chủ” của các DNNN Thực ra ở đây muốn nói đến việc chưa thể xác định được người chủ cụ thể của các DNNN Thể hiện cụ thể là việc giải quyết vấn đề giao quyền tự chủ cho các DNNN vẫn còn gặp nhiều mâu thuẩn Một mặt, tuy đã được giao khá nhiều quyền tự chủ trong điều hành quản lý của mình nhưng vẫn còn nhiều vấn đề các doanh nghiệp cảm thấy còn bị bó buộc như : các quy định về khống chế số vốn vay, quy định về thanh lý tài sản, các khống chế về qũy chi tiêu, chi phí,… Mặt khác, việc giao quyền tự chủ lại xem ra vẫn chưa giải quyết thỏa đáng chế độ về trách nhiệm của giám đốc, dẫn đến tình trạng rất nhiều DNNN làm ăn thua lỗ gây thiệt hại cho Nhà nước nhưng không thể giải quyết được phần trách nhiệm của các Giám đốc
Vì vậy có nhiều ý kiến cho rằng chính tính chất sở hữu tại các DNNN gây khó khăn trong việc tìm kiếm một cơ chế quản lý hiệu quả cho loại hình doanh nghiệp này Quan điểm này dựa trên thực tế là tính kém hiệu quả gắn liền với hầu hết các DNNN trên thế giới chứ không riêng gì ở Việt Nam Điều này được phản ánh bởi thực trạng các DNNN trong nền kinh tế
1.3 Thực trạng các DNNN trong nền kinh tế :
Hơn 10 năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chỉ thị, Nghị quyết và quan tâm chỉ đạo đổi mới DNNN Qua đó, đã có nhiều giải pháp được áp dụng như : Đổi mới cơ chế quản lý, trao quyền quyết định và tự chủ cho DNNN ; xóa bỏ hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh và tiêu thụ tập trung ; xóa bỏ bao cấp từ
Trang 10ngân sách Tổ chức lại hệ thống quản lý DNNN, tạo lập khuôn khổ pháp lý cho
DNNN, tiến hành sắp xếp lại DNNN, Tổng công ty Thực hiện các giải pháp đa
dạng hoá sở hữu, cổ phần hoá, mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, thu hút đầu
tư nước ngoài
Nhờ vậy DNNN đã có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực, công cuộc
đổi mới DNNN đã có nhiều thành tựu nhất định Qua đó DNNN đóng góp quan
trọng về nguồn thu ngân sách, nắm giữ những ngành nghề quan trọng, nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh doanh, hiệu quả sử dụng đồng vốn Trong khi số lượng
DNNN giảm đi rất nhiều, đồng thời cũng cắt giảm được rất nhiều các khoản tài
trợ từ ngân sách Nhà nước cho DNNN Từ 12.300 năm 1990 đến cuối năm 1997
qua sắp xếp còn 5.790 DNNN, đóng góp 41% GDP, 44% thu ngân sách Hiệu quả
đồng vốn rất thấp, 1 đồng vốn năm 1997 sau khi đóng thuế chỉ còn 0,1 đồng lãi
35% doanh nghiệp thua lỗ (Xd Đảng 8/98)
Hiệu quả hoạt động DNNN
Bảng I.1 TỔNG SỐ DNNN
CHỈ TIÊU
Số lượng %
VỐN NN (Tỷ đồng)
TỔNG NỢ (Tỷ đồng)
II- Tổng số DNNN do T.Ư quản
(Nguồn : Bộ Tài chính năm 1998) Tính đến tháng 7/1998 theo số liệu điều tra của 51 Cục Quản lý vốn và
Thành phố, tại 3528 DNNN có kết quả hoạt động năm 1997 như sau :
Trang 11Kết quả khảo sát hoạt động DNNN năm 1997
Bảng I.2
Theo đó, có thể chia thành 3 loại Doanh nghiệp như sau :
Số DNNN làm ăn thua lỗ Số DNNN thật sự có lời Số DNNN chưa có hiệu quả, đang gặp khó khăn
Trong đó : - DNNN do Trung ương quản lý đạt 44 %
- DNNN do địa phương quản lý đạt 35 %
2 Số DNNN chưa có hiệu quả hoặc có khó khăn tạm thời chiếm 46,4 % (nợ kéo dài, lỗ lũy kế 1.135 tỷ đồng)
3 Số DNNN thua lỗ chiếm 16,6% ( lỗ và nợ kéo dài 1.763 tỷ đồng)
Nếu đánh giá được hết các tổn thất do giảm giá tài sản thì mức thiệt hại còn lớn hơn nhiều Tuy nhiên, điều cần lưu ý là việc hạch toán và báo cáo tài
Trang 12chính ở các DNNN nói riêng và ở các Doanh nghiệp Việt Nam đều chưa đáng tin cây Hiện tượng “lời giả, lỗ thật” và “lời thật, lỗ giả” đều có thể xảy ra ở từng nơi, từng lúc, từng Doanh nghiệp Có thể khẳng định rằng hiệu quả kinh doanh ở các Doanh nghiệp đều chưa rõ ràng, số liệu chưa thật hoàn toàn phản ánh đúng thực chất Do vậy, hệ thống DNNN vẫn còn nhiều tồn tại yếu kém phải tiếp tục giải quyết thì mới có thể đẩy mạnh nền kinh tế đất nước phát triển được
NHỮNG TỒN TẠI , YẾU KÉM CƠ BẢN
* Cơ cấu DNNN tuy đã được điều chỉnh lại nhưng vẫn còn nhiều bất hợp lý do chưa định rõ cơ cấu ngành nghề ưu tiên phát triển hoặc cần tiếp tục giảm bớt để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thực hiện vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế Nhà nước DNNN vẫn tiếp tục dàn trải ở các ngành, các địa phương, vẫn nhiều DNNN qui mô quá nhỏ, chưa khắc phục được tình trạng chồng chéo, trùng lắp và thiếu sự điều hoà, phối hợp để tận dụng năng lực, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh giữa các ngành, giữa doanh nghiệp Trung ương và doanh nghiệp địa phương trên cùng địa bàn lãnh thổ, chưa phân thành các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và các doanh nghiệp hoạt động công ích
* Tình trạng trang thiết bị lạc hậu, chắp vá từ nhiều nguồn, nhiều nước khác nhau trong khu vực DNNN đang là trở ngại cho việc nâng cao trình độ công nghệ, khả năng cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá đất nước
* Tình trạng lao động dư thừa (phổ biến khoảng 30% số lao động hiện có), biên chế cồng kềnh làm hạn chế hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN Tinh thần lao động, tinh thần trách nhiệm có nơi, có lúc chưa đáp ứng yêu cầu lao động khẩn trương trong kinh tế thị trường
* Đặc biệt tình trạng thiếu vốn hoạt động và sử dụng vốn kém hiệu quả còn phổ biến trong khu vực DNNN và là nguy cơ tiềm tàng cản trở sự tăng trưởng và dẫn đến tình trạng thua lỗ của DNNN
* Trong tình trạng thiếu vốn như vậy, DNNN phải đi vay để kinh doanh, nhưng công nợ của DNNN đã vượt xa mức bình thường của hoạt động kinh doanh và có nguy cơ mất khả năng thanh toán đối với nhiều DNNN Nợ nước ngoài của doanh nghiệp cao : 1 tỷ USD ngắn hạn, 2,5 tỷ USD trung hạn và dài hạn
Trang 13* Hiệu quả đồng vốn rất thấp, đồng vốn năm 97 sau khi trừ thuế chỉ còn 0,1 đồng lãi, 35% DNNN thua lỗ (Xây dựng Đảng 3/98) Hiệu quả sản xuất kinh doanh của khu vực DNNN tuy có tăng, nhưng chưa đồng đều giữa các ngành và chưa tương xứng với tiềm lực mà Nhà nước trang bị cho DNNN ; ở nhiều DNNN nguồn tài nguyên, đất đai chưa được quản lý chặt chẽ, hiệu quả sử dụng chưa cao, lực lượng lao động có trình độ khoa học, kỹ thuật, tay nghề cao tập trung trong DNNN chưa phát huy hết khả năng
* Cơ chế quản lý tài chính mặc dù đã có nhiều đổi mới và tiến bộ nhưng vẫn còn sơ hở :
- Tình trạng thất thoát vốn, tài sản khu vực DNNN còn rất lớn và nghiêm trọng
- Chế độ trách nhiệm chưa rõ, chưa đủ sức tạo động lực khuyến khích đội ngũ quản lý doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và bảo đảm quyền lợi của chủ sở hữu
- Việc cấp trên xét duyệt quyết toán trước đây làm doanh nghiệp không thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc hạch toán và quyết định (sai thì đùn đẩy trách nhiệm)
- Việc xử lý các khoản công nợ khó đòi, lổ, tổn thất kinh doanh chưa qui định rõ nên phần lớn đều treo trên sổ sách, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh bình thường của doanh nghiệp Đến năm 1997 thì tổng công nợ của khu vực DNNN khoảng 170.000 tỷ đồng
Trong đó :
- Phải thu : 75.000 tỷ đồng
- Phải trả : 95.000 tỷ đồng (Thời báo Kinh tế 25/07/98)
* Việc thành lập các Tổng Công ty đã tạo ra những thuận lợi đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhưng đồng thời cũng nảy sinh nhiều nhân tố hạn chế cạnh tranh và độc quyền đang là thách thức đối với chính sách thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào quá trình công nghiệp hoá
Từ những yếu kém trên, cần khẩn trương sắp xếp lại DNNN, tiếp tục cải cách DNNN Trong đó cổ phần hoá là một chiến lược cải cách quan trọng
Trang 142 CỔ PHẦN HOÁ VÀ TƯ NHÂN HÓA :
Trong hàng loạt các biện pháp cải cách, ngay từ những năm 1980 trên thế giới đã xuất hiện xu hướng tư nhân hoá Nguyên nhân chính yếu của xu hướng này chính là người ta bắt đầu nhận ra vấn đề mấu chốt ở đây chính là quyền sở hữu tại các DNNN Qua đó họ hy vọng rằng nhờ vào tư nhân hoá, quyền sở hữu được chuyển bớt về tay khu vực tư nhân sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này
Một tồn tại trong nhận thức hiện nay ở nhiều người là đồng nhất giữa CPH và tư nhân hoá
Trước hết chúng ta xem xét cơ sở khách quan của tư nhân hóa được trình bày tóm tắt theo bảng dưới đây :
thực tiễn Các biện pháp cải cách vẫn chưa nâng cao hiệu quả kinh doanh các DNNN
Đồng thời có thể thấy được sự khác biệt giữa tư nhân hóa và cổ phần hóa qua bảng đối chiếu sau :
Trang 15Bảng đối chiếu CPH và TNH
tư nhân
Chuyển thành Công ty Cổ phần tất cả các dạng Doanh nghiệp Nhà nước lẫn Doanh nghiệp ngoài quốc doanh như Công ty Liên doanh, Công ty 100% vốn nước ngoài, Công ty TNHH và Doanh nghiệp tư nhân
Do phạm vi tác động rộng lớn của Cổ phần hóa nên tại Việt Nam, hình thức này thích hợp để đáp ứng nhu cầu huy động vốn rộng rãi đồng thời tạo các giải pháp hữu hiệu cho việc cải cách Doanh nghiệp Việt Nam nói chung
Tư nhân hoá tiếng Anh là “Privatization” là một khái niệm tương đối độc lập với thuật ngữ quốc hữu hoá, tiếng Anh là “Nationalization” Theo đó nếu quốc hữu hoá là việc chuyển các doanh nghiệp tư nhân thành sở hữu Nhà nước thì tư nhân hoá chính là việc chuyển các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước thành sở hữu tư nhân
Có 2 mức độ tư nhân hoá :
- Tư nhân hoá hoạt động : Một hoạt động do khu vực Nhà nước điều hành nay chuyển sang cho khu vực tư nhân điều hành, nhưng Nhà nước vẫn còn giữ quyền sở hữu Thí dụ : Tư nhân được thuê hay thầu khai thác một DNNN, một công trình cơ sở hạ tầng thuộc sở hữu Nhà nước
- Tư nhân hoá sở hữu : Nhà nước chuyển nhượng toàn bộ quyền sở hữu một tài sản cho tư nhân
Trang 16Trong khi, Cổ phần hoá, tiếng Anh là “Equitization” với quan niệm sâu rộng hơn, là chuyển thể từ một dạng doanh nghiệp chưa cổ phần thành công ty cổ phần Do đó, việc CPH có phạm vi rộng lớn hơn nhằm tạo các giải pháp hữu hiệu cho việc cải cách các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, chứ không riêng gì doanh nghiệp Nhà nước Điều này khác với quan niệm xưa nay khi đề cập đến CPH người ta chỉ đơn thuần nghĩ đến CPH/DNNN Chúng ta có thể và cần CPH cả loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh như Công ty liên doanh, Công ty 100% vốn nước ngoài, các Công ty TNHH và các doanh nghiệp tư nhân để huy động vốn rộng rãi hơn
Riêng đối với DNNN ở Việt Nam thì CPH/DNNN còn là :
- Chuyển hình thức tổ chức quản lý DNNN mang tính hành chính bao cấp sang hình thức quản lý mang tính kinh doanh thật sự, tạo ra động lực trong Doanh nghiệp Chuyển DNNN từ tình trạng có chủ sở hữu rất mơ hồ – sở hữu toàn dân được đại diện bởi Nhà nước – sang trạng thái có chủ sở hữu thật cụ thể, rõ ràng – mỗi cổ đông là một chủ thể kinh tế có tư cách pháp nhân hay thể nhân
- Đổi mới cơ chế quản lý Doanh nghiệp : tách DNNN ra khỏi cơ quan quản lý Nhà nước ( Bôï, Sở ngành chủ quản ) để hoạt động độc lập, bình đẳng như các loại hình Doanh nghiệp khác – chịu sự quản lý, chi phối chung trong một khung pháp lý chung
Muốn thu hút vốn trong dân, thu hút vốn của công chúng nước ngoài, gia tăng tiềm lực tài chính doanh nghiệp đề đầu tư công nghiệp hoá – hiện đại hoá, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước thì một trong
những giải phảp không thể thiếu được là phải khuyến khích ngày càng có nhiều
doanh nghiệp hiện hữu chưa là Công ty cổ phần để trở thành Công ty cổ phần
3 MỤC TIÊU CỔ PHẦN HOÁ :
Xác định đúng mục tiêu và nhận thức đúng mục tiêu là công tác hết sức quan trọng trong quá trình cổ phần hoá Mục tiêu cổ phần hoá sẽ chi phối phương thức, chính sách và kế hoạch cổ phần hoá Tuỳ theo tình hình cụ thể mà mỗi nước có mục tiêu khác nhau khi tiến hành cổ phần hoá, tư nhân hoá Chẳng hạn :
Trang 17Mục đích chính của việc tư nhân hoá ở Hungari : Hình thành nền kinh tế thị trường trên cơ sở sở hữu tư nhân, xử lý quan hệ sở hữu
* Tăng hiệu quả kinh doanh
* Giảm sự thiếu vốn của nền kinh tế
* Tiếp thu công nghệ và phương pháp quản lý mới, hiện đại
* Khuyến khích thay đổi cơ cấu kinh tế
* Ngăn chặn việc đánh mất thị trường, tìm thị trường mới
* Mở rộng phạm vi hoạt động ở thị trường nội địa và ngoại địa
* Phát triển thị trường vốn trong nước, thu hút các công ty đa quốc gia, vốn trong nước và vốn quốc tế
* Duy trì sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đối với quá trình tư nhân hoá
* Tham gia tích cực vào quá trình phân công lao động quốc tế
* Hỗ trợ cho sự phát triển làm ăn trong nước
* Duy trì khả năng hoạt động của cơ sở kinh tế
* Duy trì và tạo công ăn việc làm
* Sử dụng nguồn thu do tư nhân hoá để cải thiện sự ổn định tài chính phát triển công nghệ, tái tổ chức, giảm thiệt hại môi trường và mở rộng xuất khẩu
* Thúc đẩy người lao động mua tài sản, lãnh đạo mua cổ phần
* Mở rộng phạm vi các nhà đầu tư nhỏ trong nhân dân, trao tài sản phù hợp với số tiền được đền bù
của Đài Loan thì việc dân doanh hoá nhằm đạt các mục tiêu sau :
* Nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội: Ở đây nhấn mạnh sử dụng hợp lý nguồn vốn của quốc gia
* Nâng cao sức cạnh tranh giữa các Công ty với nhau và với các Công ty nước ngoài
Trang 18* Thu hồi vốn cho ngân sách, phân phối lại tài sản quốc gia cho mọi người, tăng tốc độ đầu tư vào các công trình công cộng nâng cao mức sống cho nhân dân
* Thu hút nguồn tài chính trong dân, giảm gánh nặng cho Ngân sách, cộng với nguồn tài chính Nhà nước hợp thành nguồn tài chính mới
* Tăng cường quyền chủ động cho các doanh nghiệp, giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước vào các doanh nghiệp
Từ những mục tiêu khác nhau nên mỗi nước có cách làm cũng khác nhau
Ví dụ như ở Hàn Quốc nhấn mạnh đến mục tiêu công bằng xã hội nên họ áp dụng bán cổ phần hạ giá cho một nhóm người có thu nhập thấp Còn ở những nước nhấn mạnh đến mục tiêu tăng hiệu quả thì lại tìm cách đưa các DNNN vào tình trạng cạnh tranh nhiều hơn
Ở Việt Nam, theo Nghị định 28/CP của Chính Phủ ngày 7/5/1996 thì cổ phần hoá DNNN nhằm mục tiêu :
* Huy động vốn của CNVC trong doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức kinh tế trong nước và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ phát triển doanh nghiệp
* Tạo điều kiện để những người góp vốn và CNVC trong doanh nghiệp có cổ phần, nâng cao vai trỏ làm chủ thực sự, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả
4 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỔ PHẦN HOÁ DNNN TẠI VIỆT NAM:
Thứ nhất, cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam gắn liền với định hướng
Xã Hội Chủ Nghĩa
Chúng ta chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa thì liệu cổ phần hoá các DNNN có ảnh hưởng gì đến định hướng này ? Mục tiêu của cổ phần hoá là nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp, đồng thời giúp cơ cấu lại các DNNN cho phù hợp vai trò mới của nó là : Điều kiện giúp Nhà nước thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa nên chắc
Trang 19chắn các doanh nghiệp được giữ lại sẽ giúp Nhà nước xác lập định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế
Có thể nói trong điều kiện hiện nay thì DNNN vẫn cần tiếp tục giữ một vai trò chủ đạo, song vai trò chủ đạo này phải được thể hiện bằng tính hiệu quả và ưu việt thực sự của DNNN chứ không phải với thực trạng nhiều yếu kém như hiện nay
Sau cổ phần hoá, sẽ tạo ra hàng loạt các Công ty cổ phần hoạt động bình đẳng với các hình thức kinh doanh khác trong nền kinh tế với một ưu điểm lớn là tính xã hội hoá cao Theo một số nhà nghiên cứu lý luận Trung Quốc thì cổ phần hoá góp phần xã hội hoá tư liệu sản xuất, đây là một đặc điểm của định hướng xã hội chủ nghĩa, họ có chủ định gọi cổ phần hoá là “dân doanh hoá” (tạm hiểu là mọi người dân kinh doanh) Tất nhiên, để đảm bảo được tính xã hội hoá này, cần có một hệ thống luật pháp đủ mạnh để chống lại các xu hướng xấu như : đầu
cơ, thâu tóm cổ phiếu,…
Như vậy cổ phần hoá không những không đi ngược lại định hướng xã hội chủ nghĩa mà còn có tác động tích cực cho định hướng này Ngược lại, định hướng xã hội chủ nghĩa cũng có tác động trở lại tiến trình cổ phần hoá Cổ phần hoá ở Việt Nam không giống như các nước khác, trong quá trình cổ phần hoá chúng ta luôn phải quan tâm đến lợi ích của người lao động, cả sau khi Công ty cổ phần đi vào hoạt động
Thứ hai, cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam trong điều kiện thị trường chứng
khoán chưa ra đời
Thị trường chứng khoán (TTCK) là nơi diễn ra hoạt động mua bán chứng khoán TTCK có tác động rất tích cực đến tiến trình cổ phần hoá, như :
- TTCK tạo điều kiện dễ dàng hơn cho việc huy động vốn trong nền kinh tế, qua đó sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn để bán cổ phiếu cho người dân Nhất là trong điều kiện nước ta hiện nay, vốn còn tồn đọng trong nhân dân còn rất nhiều (ước tính khoảng 20.000 tỷ đồng)
- TTCK giúp nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán, qua đó khi mua cổ phiếu, người dân vẫn có thể chuyển cổ phiếu đó thành tiền mặt bằng
Trang 20cách bán chúng trên TTCK Điều này làm giảm thiểu phần nào rủi ro khi mua cổ phiếu các doanh nghiệp
- TTCK giúp người đầu tư còn có thể mong đợi vào khoản lời từ việc tăng giá chứng khoán, ngoài phần lãi cổ phiếu
- TTCK góp phần hỗ trợ việc định giá cổ phần cho tiến trình cổ phần hoá Việc bán các cổ phiếu thông qua công ty môi giới trên thị trường chứng khoán giúp giá trị chứng khoán được thị trường định đoạt, đây là cách tốt nhất để xác định giá trị cổ phiếu của các doanh nghiệp được cổ phần hoá
Như vậy, nếu TTCK chưa ra đời và phát triển đầy đủ, ta sẽ không tận dụng được các ưu thế trên Điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tốc độ và các biện pháp kỹ thuật của tiến trình cổ phần hoá Song ngược lại chúng ta cũng hy vọng rằng tiến trình cổ phần hoá cũng sẽ góp phần nhất định thúc đẩy nhanh hơn việc hình thành TTCK thông qua việc làm tăng số lượng chứng khoán trong nền kinh tế qua đó làm tăng nhu cầu mua bán các chứng khoán
Thứ ba, cổ phần hoá ở Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế thị trường
chưa hình thành và phát triển hoàn chỉnh, điều kiện thông tin chưa được thông
suốt và đầy đủ
Đây là một đặc điểm kém thuận lợi mà chúng ta cần quan tâm Theo kinh nghiệm các nước trên thế giới thì cổ phần hoá thường thành công hơn ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Đặc điểm này đặc biệt ảnh hưởng đến phương pháp định giá các doanh nghiệp Nền kinh tế còn nhiều biến động làm ảnh hưởng đến tâm lý của các nhà đầu tư vốn, thông tin tài chính nghèo nàn gây khó khăn cho việc so sánh giữa các Công ty và việc định giá các doanh nghiệp
Thứ tư, cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam trong điều kiện hệ thống luật pháp chưa được hoàn chỉnh
Cổ phần hoá là một biện pháp lớn tác động khá nhiều đến kinh tế xã hội,
do vậy việc thiết lập một khung pháp lý đầy đủ là rất cần thiết Hiện nay văn bản pháp lý cao nhất liên quan trực tiếp đến cổ phần hoá là Nghị định 44/CP, chúng ta vẫn chưa có luật về cổ phần hoá Theo kinh nghiệm các quốc gia khác
Trang 21thì một trong các bước đầu tiên của tiến trình cổ phần hoá là xây dựng các văn bản luật về cổ phần hoá
Mặt khác, do ta chưa có một hệ thống luật hoàn chỉnh nên có thể gặp khó khăn trong việc hạn chế các xu hướng xấu của cổ phần hoá như việc đầu cơ cổ phiếu, tập trung vào tay một số cá nhân, khống chế về tài chính công ty cổ phần,…Do vậy song song với tiến trình cổ phần hoá hệ thống luật pháp cần được chú trọng hoàn thiện để hổ trợ
5 CHỦ TRƯƠNG CỔ PHẦN HOÁ DNNN HIỆN NAY :
Với Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/06/1998 về chuyển DNNN thành Công ty cổ phần và việc thành lập ban đổi mối quản lý TW đã tỏ rõ quyết tâm đẩy mạnh tình hình cổ phần hoá ở nước ta
1 Mục tiêu cổ phần hoá – Nghị định 44/CP đã qui định 2 mục tiêu :
* Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước đề đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển DNNN
* Tạo điều kiện để người lao động được làm chủ thực sự, thay đổi phương thức quản lý, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Góp phần tăng trường kinh tế đất nước
Lần này mục tiêu cổ phần hoá DNNN được xác định cụ thể hơn, rõ ràng hơn Đó là : Huy động vốn của toàn xã hội, trong đó bao gồm cả các tổ chức xã hội trong và ngoài nước ; tạo điều kiện để người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và những người đã góp vốn làm chủ thực sự Vấn đề thay đổi phương thức quản lý, hiệu quả của doanh nghiệp, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước được đưa vào mục tiêu cổ phần hoá DNNN
2 Đối tượng cổ phần hoá :
DNNN được phân làm 3 loại để lựa chọn cổ phần hoá, không phân biệt theo qiu mô vốn và lao động như trước đây Đó là :
* Loại doanh nghiệp Nhà nước hiện có, chưa tiến hành cổ phần hoá :
- Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích qui định tại Điều 1 – Nghị định số 56/CP ngày 02/10/1996 của Chính Phủ
Trang 22- Sản xuất sản phẩm cung ứng dịch vụ Nhà nước độc quyền kinh doanh : vật liệu nổ, hoá chất độc, chất phóng xạ, in bạc và các chứng chỉ có giá, mạng trục thông tin quốc gia và quốc tế
* Loại doanh nghiệp Nhà nước hiện có, Nhà nước cần nắm cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt khi tiến hành cổ phần hoá:
- Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích trên 10 tỷ đồng
- Khai thác quặng quý hiến
- Khai thác khoáng sản qui mô lớn
- Sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc chữa bệnh và hoá dược
- Sản xuất kim loại màu và kim loại quý hiếm quy mô lớn
- Sản xuất điện quy mô lớn, truyền tải và phân phối điện
- Sửa chữa phương tiện bay
- Dịch vụ khai thác bưu chính, viễn thông
- Vận tải đường sắt, hàng không, viễn dương
- In, xuất bản, sản xuất rượu, bia, thuốc lá có quy mô lớn
- Kinh doanh xăng dầu có quy mô lớn
* Các loại doanh nghiệp Nhà nước hiện có còn lại đều có thể thực hiện cổ phần hoá và áp dụng các hình thức chuyển đổi sở hữu khác trong đó Nhà nước không giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt
Như vậy qua phân loại DNNN như trên cho thấy việc cổ phần hoá DNNN không còn là việc tự nguyện xin cổ phần hoá nữa, mà thay vào đó là “ chuyện phải làm”, là nhiệm vụ phải thực hiện của các Bộ, Ngành, địa phương
3 Hình thức cổ phần hoá : (4 hình thức)
- Giữ nguyên giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp
- Bán một phần giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp
- Tách một bộ phận của doanh nghiệp đủ điều kiện để cổ phần hoá
Trang 23- Bán toàn bộ giá trị hiện có của DNNN tại doanh nghiệp để chuyển thành Công ty cổ phần
Như vậy lần này Nghị định 44/CP đã bổ sung thêm hình thức thứ 4 ngoài 3 hình thức cũ trước đây
4 Đối tượng mua – phương thức bán, tỷ lệ bán cổ phần:
Ngoài đối tượng như Nghị định 28/CP đã qui định, lần này đối tượng mua cổ phần của đơn vị cổ phần hoá còn bao gồm cả người Việt định cư ở nước ngoài
; người nước ngoài định cư ở Việt Nam Riêng việc bán cổ phần cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện theo qui định của Chính phủ
Trước đây, ngoài việc bán công khai tại doanh nghiệp, cổ phần được bán thông qua các ngân hàng, trung tâm tài chính chỉ định, thì nay việc chỉ định được bãi bỏ Cổ phần có thể bán thông qua tổ chức tín dụng nào, kể cả ở các Sở, trung tâm giao dịch chứng khoán
Tỷ lệ cổ phần bán cho các đối tượng cũng được nới lỏng bằng việc phân loại doanh nghiệp cổ phần hoá
- Đối với đơn vị mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối :
Một pháp nhân được mua không quá 10%, thể nhân không quá 5% trên tổng số cổ phần doanh nghiệp
- Đối với đơn vị mà Nhà nước không cần nắm cổ phần chi phối :
Một pháp nhân được mua tối đa 20%, thể nhân không quá 10% trên tổng số cổ phần
- Loại doanh nghiệp mà Nhà nước không tham gia cổ phần:
Số lượng cổ phần bán cho các đối tượng không hạn chế
Đặc biệt đối với loại doanh nghiệp này, một hình thức cổ phần hoá mới đã chính thức được công nhận : bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nước tại doanh nghiệp để chuyển thành Công ty cổ phần
5 Về định giá doanh nghiệp :
Không nhất thiết bắt buộc phải qua kiểm toán độc lập như trước đây, mà chủ yếu dựa trên các yếu tố phát sinh tại thời điểm cổ phần hoá ; sổ sách kế toán
Trang 24của đơn vị ; giá thị trường ; lợi thế kinh doanh tất cả đều dựa trên nguyên tắc“ chấp thuận được” của người mua và người bán Giá trị thực tế là sau khi đã trừ các khoản nợ phải trả
Qui trình định giá này đã làm giảm nhẹ hơn trước so với qui trình cũ phải qua 3 bước :
+ Doanh nghiệp tự đánh giá rồi qua kiểm toán độc lập và sau nửa là Hội đông định giá
6 Sử dụng tiền bán cổ phần thuộc vốn Nhà nước:
Tiền bán cổ phần thuộc vốn Nhà nước theo Nghị định 44/CP lần này được sử dụng để :
- Đào tạo, đào tạo lại để giải quyết việc làm mới cho người lao động
- Trợ cấp cho số lao động dôi dư
- Bổ sung vốn cho các DNNN cần ưu tiên củng cố và đầu tư cho các DNNN đã cổ phần hoá theo phương án được duyệt
Đây là một điểm ưu đãi cho doanh nghiệp, vì trước đây số tiền thu được từ việc bán cổ phiếu này chỉ được sử dụng để đầu tư phát triển DNNN
7 Ưu đãi cho doanh nghiệp cổ phần hoá:
DNNN sau khi cổ phần hoá được coi là đầu tư mới nên được hưởng các ưu đãi theo luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) Nếu không đủ điều kiện trên, thì được giảm 56% thuế thu nhập trong 2 năm đầu Điều đặc biệt là doanh nghiệp được bình đẳng như DNNN trong việc vay vốn từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng của Nhà nước ; trong việc xuất nhập khẩu hàng hoá Đây là một tháo gỡ rất quan trọng mà trước đây nó là một trở ngại rất lớn cho đơn vị khi chuyển từ DNNN thành Công ty cổ phần Ngoài ra, chi phí hợp lý cho quá trình cổ phần hoá được trừ vào tiền bán cổ phần thuộc vốn Nhà nước ; Công ty cổ phần được miễn lệ phí trước bạ trong việc chuyển nhượng tài sản từ DNNN sang sở hữu của Công
ty cổ phần…là bớt được các mối lo cho doanh nghiệp khi thực hiện cổ phần hoá
Trang 258 Ưu đãi cho người lao động :
Nỗi lo thất nghiệp của người lao động được giải tỏa vì Nghị định 44 quy định rõ : Đơn vị cổ phần hoá có trách nhiệm sắp xếp, sử dụng hết số lao động hiện hành Tiền bán cổ phần thuộc vốn Nhà nước, thay vì chỉ được dùng để đầu
tư phát triển DNNN như trước đây (phải nộp hết vào kho bạc), nay được sử dụng để trợ cấp cho số lao động đoi ra, đào tạo, giải quyết việc làm cho người lao động và bổ sung vốn cho DNNN Như vậy các doanh nghiệp cổ phần hoá sẽ đỡ bức xúc vì có vốn lo cho người lao động
Trong việc mua cổ phần, người lao động được hưởng những ưu đãi đặc biệt:
* Một năm làm việc cho Nhà nước được mua tối đa 10 cổ phần(100.000đồng/cổ phần) với mức giảm giá 30% so với các đối tượng khác Tổng giá trị ưu đãi cho công nhân viên không vượt quá 20% giá trị vốn Nhà nước tại doanh nghiệp Mức này được tăng gấp rưỡi, lên 30% nếu đơn vị có vốn tự tích lũy bằng 40% giá trị doanh nghiệp
* Người lao động nghèo khi mua theo giá ưu đãi, được hoãn trả trong 3 năm đầu để hưởng cổ tức, và trả dần trong 10 năm không chịu lãi suất tất nhiên khi chưa trả hết tiền cho Nhà nước, thì cổ phần chưa được chuyển nhượng So với quy định về mua chịu của Nghị định 28/CP, thì việc mua cổ phần theo giá ưu đãi tại Nghị định 44 tạo điều kiện cho tất cả công nhân các xí nghiệp đều có thể mua được cổ phần
9 Phân cấp rõ ràng hơn :
Quyền chọn lựa doanh nghiệp cổ phần hoá, quyền quyết định giá doanh nghiệp ; cử người trực tiếp quản lý phần vốn Nhà nước tại từng loại Công ty cổ phần hoá…được giao cho thủ trưởng các ngành, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW, Hội đồng quản trị các Tổng công ty 91 Đây là sự phân cấp rất rõ ràng nhằm giảm thủ tục và sự chồng chéo trong việc tiến hành cổ phần hoá so với trước đây
10 Đơn giản hoá thủ tục – Nghị định 44/CP qui định :
Trang 26- Quyết định chuyển DNNN thành Công ty cổ phần sẽ thay thế cho giấy phép thành lập Công ty cổ phần
- Được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong thời hạn 7 ngày thay vì 15 ngày như trước đây
11 Tập trung sức chỉ đạo thực hiện cổ phần hoá
Cùng với Nghị định 44/CP, Thủ tướng Chính phủ cũng đã quyết định thành lập ban đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương thay cho Ban chỉ đạo Trung ương đổi mới doanh nghiệp và Ban chỉ đạo trung ương cổ phần hoá trước đây Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp TW được sự chỉ đạo trực tiếp của 1 Phó thủ tướng (trưởng ban) Điều này cũng nói lên sự tập trung lãnh đạo để đảy mạnh tiến độ cổ phần hoá DNNN trong thời gian tới
***
* Tóm lại, giải pháp chủ yếu để tiến hành công cuộc đổi mới các Doanh nghiệp Nhà nước là cổ phần hóa Căn cứ mục tiêu của cổ phần hóa cùng với một số đặc điểm riêng có của nền kinh tế Việt Nam mà Nhà nước đã có chủ trương cụ thể về việc cổ phần hóa DNNN được qui định tại Nghị định 44/CP Tuy nhiên quá trình thực hiện chủ trương đó đã gặp không ít trở ngại Sau đây chúng tôi xin
đi vào kết quả khảo sát tình hình cổ phần hóa DNNN ở TP Hồ Chí Minh để thấy rõ thêm vấn đề này
Trang 27CHƯƠNG II
1 Kết quả thực hiện CPH – DNNN từ trước đến nay :
* Từ khi có chủ trương thí điểm cổ phần hoá năm 1992 đến nay UBND TP đã có Quyết định chọn 84 DNNN đưa vào diện cổ phần hoá, trong đó :
Năm 1998 trở về trước : 52 DN Năm 1999 là 32 DN
Theo Quyết định UBND TP giao chỉ tiêu kế hoạch cho các Sở Ngành, Quận Huyện, Tổng Công ty phải chọn 30 DNNN bổ sung thêm để xây dựng đề án trong năm 1999, nhưng đến nay các đơn vị mới gởi về 14 DN/30DN
* Kết quả được thể hiện sau đây :
- Số lượng DNNN đã chuyển thể thành Công ty cổ phần hoạt động theo Luật Công ty tính từ năm 1993 đến 31/12/1998 có 10 DN
- Sau khi có một số biện pháp thúc đẩy của UBND TP tại công văn 244/CV-UB-KT ngày 26/6/99 xử lý các vướng mắc về công nợ, và công văn 3444/CV-UB-KT ngày 20/8/99 giao nhiệm vụ cho Giám đốc doanh nghiệp cổ phần hoá thực hiện kế hoạch năm 1999 Theo chỉ đạo của UBND TP.Hồ Chí Minh, Thường trực Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp TP thường xuyên làm việc với các doanh nghiệp cổ phần hoá để xử lý các vấn đề vướng mắc về tài sản, công nợ Cục Quản lý vốn, Cục Thuế phối hợp để kiểm tra báo cáo tài chánh và quyết toán thuế ưu tiên cho các doanh nghiệp cổ phần hoá
Do vậy kết quả thực hiện tính đến ngày 26/11/1999 như sau (xem bảng II.1)
Trang 28Bảng II.1
KẾT QUẢ THỰC HIỆN CỔ PHẦN HÓA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÀNH PHỐ
(Đến ngày 26/11/1999)
* Số Doanh nghiệp đã đi vào hoạt động theo Luật Công ty : 20Doanh nghiệp :
1 Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh Ree
2 Công ty Cổ phần Nam Đô (cũ TTNC và SẢN XUẤT hóa mỹ phẩm)
3 Khách sạn Sàigòn
4 Công ty Ong mật
5 Công ty Sơn Bạch Tuyết
6 Công ty Bông Bạch Tuyết
7 Xí nghiệp Đông Nam Duợc Quận 5
8 Công ty Dịch vụ Văn hóa Tân Bình
9 Xí nghiệp Dược Quận 4
10 Công ty Gạch ngói Long Bình
11 Công ty Caosu Sàigòn
12 Công ty chế biến hàng xuất khẩu Tân Định
13 Nhà hàng Đồng Quê
14 Công ty Phong Lan xuất khẩu
15 Công ty Dịch vụ tiểu thủ công nghiệp Thành Phố
16 Công ty Dịch vụ Cây trồng Thủ Đức
17 Công ty Văn hóa Tổng hợp Quận 11
18 Transimex Sàigòn
19 Xí nghiệp Quốc doanh Cơ khí Tân Bình
20 Công ty Kinh doanh nhà Gia Định
* Số Doanh nghiệp đã có quyết định chuyển thể đang bán cổ phần : 9DN :
1 Xí nghiệp Mắt kính Sàigòn
2 Công ty Thêu may xuất khẩu Phú Nhuận
3 Xí nghiệp May Tiến Phát
4 Công ty Thảm len xuất khẩu
5 Công ty Dịch vụ Ăn uống Quận 11
6 Công ty Dược phẩm Phú Thọ Quận 11
7 Công ty Đầu tư Xây dựng Bình Chánh
8 Samco 3
Trang 29* Số Doanh nghiệp đã thông qua đề án : 11DN :
1 Công ty Hóa thực phẩm Gò Vấp
2 Công ty Dược Quận 10
3 Công ty DVDL Quận 3
4 Công ty xuất nhập khẩu Thủ Đức
5 Công ty Dược Quận 3
6 Xí nghiệp Dệt Len Sàigòn
7 Công ty Kinh doanh nhà Tân Bình
8 Xí nghiệp nhựa Tân Hóa
9 Công ty Mỹ phẩm Sàigòn
10 Xí nghiệp Quốc doanh Dệt lưới bao bì
11 Công ty khách sạn Du lịch Thanh Bình
* Số Doanh nghiệp đã thẩm tra giá trị DN, đang hoàn chỉnh đề án : 10DN:
1 Công ty Cơ khí Lữ Gia
2 Công ty Dịch vụ Hóa Mỹ phẩm
3 Công ty Dịch vụ Y tế tổng hợp Quận 4
4 Công ty Dược Quận 8
5 Công ty Elacins
6 Công ty nhựa Đông Phương
7 Nhà máy Tấm lợp
8 Công ty chất đốt
9 Công ty Dịch vụ Du lịch Quận 8
10 Xí nghiệp Mực in Tân Bình
* Số Doanh nghiệp đang thẩm tra giá trị Doanh nghiệp : 4DN :
1 Công ty đầu tư kinh doanh nhà Thành phố
2 Công ty Mỹ nghệ tổng hợp xuất khẩu
3 Công ty Dược Quận 5
4 Công ty Dược Quận 10
5 Công ty TM.XNK Quận 10
* Số Doanh nghiệp đang hoàn tất hồ sơ xác định giá trị Doanh nghiệp : 4DN:
1 Công ty Phát triển Nhà Thủ Đức
2 Công ty Thương mại Quận 7
3 Xí nghiệp Trang trí Nội thất – SJC
4 Công ty Dược Bình Thạnh