1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nhện (araneae) trong hang động tại vườn quốc gia ba bể, bắc kạn

68 372 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu đa dạng sinh vật nói chung và đa dạng thành phần loài nhện nói riêng ở nhiều sinh cảnh khác nhau có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chất lượng môi trường tại các v

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

Nghiên cứu nhện (Araneae) trong hang động tại vườn quốc gia Ba Bể,

tỉnh Bắc Kạn”

Đinh Thị Thu Hà

Thái Nguyên, 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành luận văn, em được sự chỉ bảo, hướng dẫn rất lớn

từ thầy hướng dẫn: TS Phạm Đình Sắc Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy

và lời xin lỗi vì trong quá trình làm luận văn em đã chưa thực sự cố gắng và chăm chỉ

Em xin chân thành cảm ơn cơ sở đào tạo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tạo điều kiện cho em nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn

Em xin cảm ơn sự hỗ trợ của đề tài Wafosted mã số 106 12 2010 18,

Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới tất cả người thân, gia đình, bạn bè đã động viên, ủng hộ và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội,15-12-2014

Sinh viên

Đinh Thị Thu Hà

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Toàn bộ

số liệu và kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ bất kì luận văn nào

Tôi cam đoan các thông tin và tài liệu tham khảo trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội,ngày 15 tháng 12 năm 2014

Tác giả

Đinh Thị Thu Hà

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Bộ nhện (Araneae) là một trong những nhóm động vật chân khớp cổ có tính

đa dạng sinh học cao, phân bố rộng khắp và phổ biến nhất ở hệ sinh thái trên cạn Nhện được tìm thấy ở mọi nơi: trong nhà, trong rừng, vườn cây, trên cánh đồng lúa, công viên, bụi cây, ven sông, ven suối, Nhện không chỉ đa dạng về số loài

mà còn chiếm ưu thế về mặt số lượng trong quần thể các nhóm chân khớp

Thức ăn chủ yếu của chúng là côn trùng, nhờ đó mà nhện được xem như là một trong những tác nhân quan trọng trong việc kiểm soát quần xã côn trùng trong

hệ sinh thái cạn Nhện có vai trò tích cực trong việc hạn chế sự phát triển của côn trùng gây hại trên cây trồng nông nghiệp Ngoài ra, nhện còn được coi như sinh vật chỉ thị tốt để so sánh đặc điểm sinh thái của các khu hệ có điều kiện môi trường khác nhau và đánh giá ảnh hưởng của môi trường lên hệ sinh thái

Việc nghiên cứu đa dạng sinh vật nói chung và đa dạng thành phần loài nhện nói riêng ở nhiều sinh cảnh khác nhau có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chất lượng môi trường tại các vùng nghiên cứu Khu hệ nhện Việt Nam được đánh giá là có mức đa dạng sinh học cao, nhưng chưa được tập trung nghiên cứu Trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về nhện Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ tập trung chủ yếu trên một số cây trồng nông nghiệp như lúa, đậu tương, nhãn vải Các nghiên cứu về nhện ở các sinh cảnh rừng tự nhiên, đặc biệt là các nghiên cứu về nhện hang động còn rất ít

Vườn quốc gia Ba Bể còn có một hệ thống hang động vô cùng kỳ thú với hệ động vật chưa được khám phá Cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về nhện trong hang động tại VQG Ba Bể Từ những lý do trên,

chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu nhện (Araneae) trong hang động tại vườn

quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” để góp phần nghiên cứu nhện ở Việt Nam

2 Mục tiêu của đề tài

Xác định thành phần loài, nơi cư trú, và ảnh hưởng từ các hoạt động của con người đến nhện trong hang động khu vực Vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Cạn; là cơ

Trang 5

sở để khuyến nghị một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý bền vững hang động

3 Nội dung nghiên cứu

- Thành phần loài nhện trong hang động của Vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Cạn

- Phân bố của các loài nhện theo các vị trí khác nhau trong hang động (cửa hang, chuyển tiếp, vùng tối)

- Ảnh hưởng từ các hoạt động của con người đến nhện trong hang động

- Khuyến nghị một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý bền vững hang động

4 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài:

Nhện là một trong những nhóm động vật không xương sống phong phú và đa dạng nhất ở hệ sinh thái trên cạn Chúng được xem như là tác nhân chủ yếu trong việc kiểm soát quần xã côn trùng trong hệ sinh thái cạn Nhện còn được coi như sinh vật chỉ thị tốt để so sánh đặc điểm sinh thái của các khu hệ có điều kiện môi trường khác nhau và đánh giá ảnh hưởng của môi trường lên hệ sinh thái

Môi trường trong hang động rất đặc trưng, khác biệt với các môi trường khác

cả về ánh sáng, độ ẩm, và độ sâu nên các sinh vật ở đây rất đặc trưng về hình thái và có tính đặc hữu cao Hiện nay, các nghiên cứu về nhện hang động được coi

là lĩnh vực khá mới

Vườn Quốc Gia (VQG) Ba Bể có một hệ thống hang động rất phong phú, đa dạng và độc đáo Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về nhện trong hang động tại khu vực

Lần đầu tiên, nghiên cứu về nhện hang động tại VQG Ba Bể được tiến hành; nhằm xác định thành phần loài nhện trong các hang động khu vực nghiên cứu, tìm hiểu các hoạt động của con người ảnh hưởng như thế nào đến nhện trong hang động Qua đó, là cơ sở để đưa ra một số khuyến nghị góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý hang động tại địa phương

Trang 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về nhện

Bộ nhện có tên khoa học là Araneae, tên tiếng anh là spider Bộ nhện Araneae thuộc lớp hình nhện Arachnida, ngành động vật chân đốt Arthropoda Theo Platnick (2011), bộ nhện chiếm ưu thế về số loài và số lượng cá thể trong 11 bộ

của lớp hình nhện Trên thế giới đã ghi nhận được 42.751 loài thuộc 3.859 giống

của 110 họ nhện

Platnick (2006) phân bộ nhện làm hai phân bộ dựa vào cơ quan hô hấp còn gọi là phổi sách (Book-lungs) và bộ phận nhả tơ (Spinnerets), bao gồm: Mygalomorphae với hai đôi phổi sách và bốn núm nhả tơ; và Araneomorphae với một đôi phổi sách và 6 núm nhả tơ

Nhện khác với côn trùng ở đặc điểm: nhện không có râu, không có mắt kép, không có cánh và bụng không phân đốt Trong khi cơ thể côn trùng có 3 phần và 3 đôi chân thì cơ thể nhện chỉ gồm 2 phần và mang 4 đôi chân

 Một số đặc điểm sinh thái, sinh học của nhện

Nhện đóng vai trò là nhóm chân khớp săn mồi đáng kể trong tự nhiên Côn trùng là con mồi chủ yếu của nhện nhưng chúng cũng ăn các nhóm chân khớp khác như rết hay thậm chí một số loài nhện còn ăn cả đồng loại của mình Trong các loài côn trùng thì ruồi, muỗi và collembola đóng góp một lượng thức ăn lớn cho nhện (Foelix, 1996) Đặc biệt, collembola là thành phần thức ăn chính của nhiều loài nhện nhỏ Tuy nhiên, không phải tất cả côn trùng đều được nhện chọn làm thức ăn của chúng Hầu hết các loài nhện tránh các loại con mồi như một số loại kiến, ong bắp cày, hay một số loài sâu bướm, bọ cánh cứng Những côn trùng này thường có mùi khó chịu hoặc tiết ra các chất hóa học để bảo vệ mình Nhờ có số lượng và thành phần rất đa dạng và phong phú, nên nhện có vai trò quan trọng trong mạng lưới thức ăn trong tự nhiên (Foelix 1996)

Trang 7

Khả năng săn mồi của nhện khác nhau không chỉ phụ thuộc vào loại con mồi

mà cả số lượng vật mồi Nếu số lượng vật mồi nhiều, nhện có thể ăn nhiều hơn bình thường Điều này giúp cho nhện có thể hấp thu được đầy đủ năng lượng không chỉ giúp chúng tồn tại, phát triển mà còn giúp chúng trưởng thành nhanh hơn Ngoài ra, việc ăn nhiều cũng giúp chúng dự trữ được một nguồn năng lượng lớn để chúng có thể duy trì sự sống nếu sau đó chúng gặp điều kiện bất lợi về thức

ăn Mỗi loài nhện tiêu thụ một lượng thức ăn nhất định mỗi ngày Ví dụ, nhện sói

họ Lycosidae ăn khoảng 3,5 mg côn trùng hàng ngày, tương đương với 12% trọng lượng cơ thể của loài nhện đó Những loài nhện chăng lưới thuộc họ Linyphiidae

ăn một lượng thức ăn tương đương khoảng 10-25% trọng lượng cơ thể của nó (Foelix 1996) Khi gặp điều kiện bất lợi, thức ăn khan hiếm cũng làm giảm thành phần loài nhện Những loài nhện nào có khả năng chống chọi tốt sẽ sống sót, những loài này hoặc là có kỹ năng săn mồi tốt hoặc là có khả năng dự trữ và tích lũy năng lượng để chịu đựng đói trong một thời gian dài

Nhện bắt mồi theo hai phương pháp là giăng lưới bắt mồi (thụ động), hoặc rình và săn mồi tự do (chủ động) Đối với nhóm nhện giăng lưới bắt mồi, sau khi giăng lưới, chúng nằm yên một chỗ đợi con mồi mắc phải lưới, chúng sẽ nhả tơ quấn chặt con mồi lại rồi tiêm nọc độc làm con mồi chết Nhện chăng lưới bắt mồi chia ra 2 nhóm Nhóm thứ nhất chăng lưới bắt mồi vào ban ngày, chúng treo tất cả các bọc chứa con mồi trên mạng để ăn dần Một nhóm chăng lưới khác thường hoạt động săn mồi vào ban đêm, chúng giăng lưới vào chiều tối và sáng chúng lại thu lưới và con mồi lại mang về nơi trú ẩn (họ Araneidae và Tetragnathidae) Đối với nhện săn mồi tự do, chúng thường rình và vồ con mồi sau đó dùng đôi chân kìm giữ và tiêm nọc độc làm chết con mồi (như nhện nhảy Salticidae)

Cũng theo Foelix (1996) nhện phát triển qua 3 giai đoạn là trứng, nhện non và nhện trưởng thành Giai đoạn con non có thể kéo dài từ 5-7 tuổi tùy theo loài Nhện non phải qua nhiều lần lột xác mới tạo nhện trưởng thành Nhện qua lần lột xác cuối cùng, cơ quan sinh dục hình thành mới phân biệt được nhện đực nhện cái rõ ràng Về kích thước cơ thể thì nhện cái thường lớn hơn nhện đực Nhện đực sau

Trang 8

khi thành thục, chúng tìm bạn đời để giao phối Hầu hết con đực bị chết sau khi giao phối do bị nhện cái ăn thịt Tinh dịch của nhện được cất giữ tại chân xúc giác nhện đực Sau khi giao phối, nhện cái đẻ trứng thành ổ được bọc bởi tơ nhện do chính nhện cái tạo ra Mỗi loài nhện có số lượng và kích thước trứng khác nhau Bọc trứng thường được treo trên lưới nhện, trong tổ nhện, hoặc được nhện mẹ mang theo Một số loài thuộc họ nhện sói Lycosidae mang trứng ở phần gần cuối bụng, họ nhện càng cua lớn Heteropodidae mang trứng ở dưới ngực, còn họ Phocidae thì thường ngậm trứng ở hàm trước Nhện mẹ canh giữ trứng và nhện con cho tới khi nhện con đủ cứng cáp và phân tán Nhện con mới nở thường tập trung trong ổ trứng

1.2 Tình hình nghiên cứu nhện trên thế giới

Việc đặt tên khoa học cho nhện được bắt đầu từ năm 1757; tác giả Ovid đã đưa ra tên của bộ nhện là Araneae, Clerek đã đưa ra tên của bộ nhện là Aranei Đến năm 1801, Latreille đưa ra tên bộ nhện là Araneida Năm 1862, Dallas cũng nêu ra tên của bộ nhện là Araneida Năm 1938, Bristowe đưa tên bộ nhện là Araneae và tên này được sử dụng cho đến ngày nay (Platnick, 2012)

Năm 1965, hội nhện quốc tế (International Society for Arachnology) được thành lập, cho đến nay đã có hàng nghìn thành viên từ trên 70 nước trên thế giới Nghiên cứu về nhện đã thực sự trở thành một môn khoa học Arachnology – Nhện học

Theo thống kê của Platnick (2012), trên thế giới đã ghi nhận được 42.351 loài nhện thuộc 3859 giống của 110 họ nhện Trong số các loài nhện đã ghi nhận được trên thế giới hiện nay, có 15 loài được ghi vào danh lục đỏ của IUCN

Tác giả Davies (1986, 1988) đã nghiên cứu và xây dựng khoá định loại tới họ của bộ nhện và khoá định loại tới loài của nhóm nhện chăng lưới đã ghi nhận được tại Australia

Năm 2000, Murphy đã đưa ra danh sách các loài nhện đã ghi nhận được tại các nước khu vực Đông Nam châu Á, sắp xếp theo thứ tự số lượng loài đã ghi nhận

Trang 9

được từ cao đến thấp là: Indonesia (660 loài), Malaysia (463 loài), Myanma (455 loài), Philippines (426 loài), Singapore (308 loài), Thái Lan (156 loài), Việt Nam (230 loài)

Họ nhện nhảy Salticidae có số loài ghi nhận được cao nhất trong các họ thuộc

bộ nhện Tác giả Proszynski (2003) đã xây dựng cơ sở dữ liệu về họ Salticidae trên thế giới

Murphy & Murphy (2000) đã đưa ra danh sách các loài nhện ghi nhận được tại các nước khu vực Đông Nam châu Á, sắp xếp theo thứ tự số lượng loài đã ghi nhận được từ cao đến thấp là: Indonesia (660 loài), Malaysia (463 loài), Myanma (455 loài), Philipine (426 loài), Singapo (308 loài), ThaiLan (156 loài), Việt Nam (230 loài) Theo tác giả, khu hệ nhện của 3 nước thuộc khu vực này bao gồm Brunei, Campuchia và Lào chưa được nghiên cứu

Nghiên cứu nhện trên cây lúa ở khu vực Đông Nam châu Á, Barrion và Litsinger (1995) đã ghi nhận 342 loài thuộc 131 giống của 26 họ nhện Trên cánh đồng lúa ở Philippines, Barrion và cs (1981) đã điều tra thu thập và định loại được

32 loài thuộc 21 giống của 9 họ nhện Okuma và cs (1993) đã công bố 55 loài thuộc 36 giống của 10 họ nhện bắt gặp trên cây lúa ở Bangladet

Ở Trung Quốc, nghiên cứu về nhện bắt đầu từ năm 1798 Năm 1999, Song và Zhu đưa ra danh sách 2361 loài thuộc 450 giống của 56 họ nhện đã ghi nhận được

ở nước này Cho đến nay, Trung Quốc đã xuất bản được 5 tập sách Động vật chí của 6 họ nhện bao gồm các họ Araneidae với 286 loài, 33 giống (Yin và cs, 1997);

họ Thomicidae với 115 loài, 29 giống (Song và Zhu, 1997); họ Tetragnathidae với

111 loài, 20 giống (Zhu và cs, 2003); họ Therididae với 223 loài, 27 giống (Zhu, 1998); họ Gnaphosidae với 166 loài, 34 giống (Song và cs, 2004 ); họ Philodromidae với 30 loài, 3 giống (Song và Zhu, 1997)

Nghiên cứu nhện ở các trang trại trồng cây ăn quả ở Trung Quốc, Chen và Gao (1990) đã ghi nhận được 332 loài nhện

Trang 10

1.3 Tình hình nghiên cứu nhện ở Việt Nam

Những công bố về nhện đầu tiên ở Việt Nam bởi Simon (1886, 1896, 1903,

1904, 1906, 1908), và Hogg (1922) Hai tác giả trên đã công bố ra 20 loài nhện mới cho khoa học được phát hiện ở Việt Nam

Zabka (1985) đã công bố kết quả chuyến khảo sát của mình về họ nhện nhảy Salticidae ở Việt Nam Tác giả đã ghi nhận được 100 loài nhện nhảy, trong đó bao gồm 51 loài và 8 giống mới cho khoa học

Qua việc phân tích các mẫu vật thu được ở Việt Nam, Ono (1997, 1999, 2002, 2003) đã phát hiện 7 loài nhện mới cho khoa học thuộc các họ Zodaridae và Liphistidae

Năm 2003, Peng và Li đã công bố 1 loài nhện nhảy mới cho khoa học phát hiện được ở Cao Bằng

Một loài mới cho khoa học thuộc họ Zodaridae đã được công bố bởi Gristian (2004)

Bùi Hải Sơn (1995) đã ghi nhận được 34 loài nhện trên lúa vùng ngoại thành

Hà Nội Trên đồng lúa ở Nghệ An đã phát hiện được 26 loài thuộc 18 giống của 8

họ nhện (Phạm Bình Quyền và cs, 1999) Phạm Văn Lầm và cs (1997, 2002), đã ghi nhận 52 loài nhện trên cánh đồng lúa ở Việt Nam

Phạm Đình Sắc và cs (2004) đã cho công bố danh sách và phân bố của 108 loài nhện nhảy họ Salticidae ở Việt Nam

Phạm Đình Sắc và cs (2005) đã bổ sung thêm 5 loài nhện nhảy Salticidae cho khu hệ nhện Việt Nam

Nghiên cứu nhện trên đậu tương khu vực Hà Nội, Trần Đình Chiến (2002) đã ghi nhận được 18 loài thuộc 8 họ nhện Phạm Đình Sắc và Khuất Đăng Long (2001) đã công bố thành phần loài nhện trên đậu tương tại 3 tỉnh Hà Nội, Hoà Bình

và Bắc Ninh bao gồm 26 loài thuộc 9 họ nhện

Trang 11

Một số công trình nghiên cứu thành phần loài nhện trên cây vải thiều đã được công bố Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn (2002) đã ghi nhận được 34 loài nhện trên cây vải thiều ở Sóc Sơn, Hà Nội; 29 loài nhện trên cây vải thiều ở Mê Linh, Vĩnh Phúc Thái Trần Bái và cs (2005) đã phát hiện được 33 loài nhện trên cây vải thiều ở Thanh Hà, Hải Dương

Khu hệ nhện ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam rất ít được nghiên cứu Tại vườn quốc gia Ba Bể, Phạm Đình Sắc (2003) bước đầu

đã công bố danh sách 82 loài thuộc 23 họ nhện Lần đầu tiên ở Việt Nam, một loài nhện có nọc độc họ Theraphosidae đã được tìm thấy ở VQG Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc và khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên tỉnh Lạng Sơn (Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn, 2005)

Cho đến năm 2005, Việt Nam đã ghi nhận được 275 loài thuộc 144 giống của

30 họ nhện (Phạm Đình Sắc, 2005) Năm 2007 bổ sung thêm 45 loài, 15 giống, 1

họ cho khu hệ nhện Việt Nam (Phạm Đình Sắc và cs, 2007)

Trong giai đoạn từ 2009 đến 2012, tác giả Phạm Đình Sắc phối hợp với các chuyên gia nước ngoài tiến hành các đợt khảo sát nhện ở miền Bắc Việt Nam, đã

công bố 30 loài nhện mới cho khoa học (Lin & Pham & Li, 2009; Liu, Li & Pham, 2010a, 2010b; Zha, Pham & Li Shuqiang, 2012; Yao, Pham & Li, 2012)

Gần đây nhất, Hirotsugu Ono, Tạ Huy Thịnh, Phạm Đình Sắc (2012) đã thống

kê danh sách các loài nhện ở Việt Nam từ năm 1837 đến 2011 đã ghi nhận được

456 loài thuộc 41 họ Tuy nhiên, cũng theo các tác giả trên, một số họ đã ghi nhận được ở khu vực Đông Nam châu Á, nhưng vẫn còn chưa tìm thấy ở Việt Nam như: Atypidae, Idiopidae, Dipluridae, Nemessidae, Barychelidae, Segestriidae, Hypochilidae, Filistatidae, Eresidae, Oecobiidae, Titanoecidae, Hersiliidae, Papimanidae, Desidae, Hahniidae, Theridiosomatidae, Mysmenidae

Nghiên cứu về nhện trong hang động mới được tiến hành trong thời gian gần đây Năm 2009, sáu loài nhện mới được phát hiện trong hang động tại hai VQG Cúc Phương tỉnh Ninh Bình và Cát Bà tỉnh Hải Phòng (Lin & Pham & Li, 2009)

Trang 12

Năm 2010, thêm 1 loài nhện mới được phát hiện tại VQG Cát Bà Hải Phòng (Liu,

Li & Pham, 2010b) Nghiên cứu nhện trong hang động khu vực VQG Phong Nha

Kẻ Bàng tỉnh Quảng Bình, tác giả Phạm Đình Sắc đã chỉ ra rằng khu hệ nhện hang động tiềm ẩn nhiều điều mới lạ, cần khám phá (Phạm Đình Sắc và cs, 2011)

1.4 Khái quát về hang động

1.4.1 Các khái niệm về hang động

Thuật ngữ hang động thường được áp dụng để chỉ một khe hở tự nhiên, trong các loại đá khác nhau, đủ lớn để con người đi vào Thuật ngữ này mang tính chủ quan, chỉ dựa trên khả năng tiếp cận của con người, không dựa vào quá trình hình thành, do đó thiếu khoa học (J Fromaget, 1997) Đến nửa sau thế kỷ 19, nhờ những tiến bộ trong thăm dò hang động của nhiều nhà khoa học trên thế giới, khái niệm về hang động mới dần chính xác và khoa học hơn (Alexander Klimchouk, 1998) Một số khái niệm được chấp nhận và sử dụng hiện nay như:

- Theo hiệp hội hang động quốc tế, hang là sự mở rộng tự nhiên ở dưới các khối núi đá có chiều rộng đủ để con người đi vào

- Theo the National Park Service, hang có tổng chiều dài ít nhất 50 feel (khoảng 15m), chứa các vùng bóng tối hoặc chiều dài của các đoạn hang vượt quá chiều rộng của cửa ra vào

- Theo Federal Cave Resources Protection Act of 1988, USA – FCRPA, bất cứ chỗ trống, hốc, ngách, hoặc hệ thống các đoạn nối liền với nhau, xảy ra tự nhiên bên dưới bề mặt của trái đất, trong một vách đá hoặc gờ

đủ lớn để cho phép người đi vào, dù lối vào hình thành tự nhiên hoặc do con người tạo nên

Từ các khái niệm trên, thì hang động được hiểu là một hang, động kết nối với mặt đất thông qua lối vào, mà không xét đến hình thái, khích thước và nguồn gốc

Mặc dù, chưa có sự thống nhất về cách định nghĩa hang động giữa các quốc gia gia với nhau, nhưng khái niệm về hang động của hiệp hội hang động thế giới

Trang 13

được chấp nhận và sử dụng rộng rãi bởi các hiệp hội hang động của nhiều quốc gia (Klimchouk & Kasjan, 2001)

Theo Humphreys (2000), hang động được chia ra một số vùng sinh học khác biệt bao gồm: vùng cửa hang, vùng chuyển tiếp, và vùng tối Các vùng này tương ứng với chế độ ánh sáng và các điều kiện môi trường khác nhau Vùng cửa hang là khu vực có chế độ ánh sáng bình thường, thậm chí cây cối vẫn xảy ra quá trình quang hợp, nhiệt độ và ẩm độ thay đổi hàng ngày Vùng giáp ranh hay còn gọi là vùng chuyển tiếp (tranh tối, tranh sáng) là vùng cách xa vùng cửa hang, ưu thế bởi các loài địa y và các loài tảo là những loài thích hợp với điều kiện ánh sáng yếu Nhiệt độ và độ ẩm vẫn có thể thay đổi, và ẩm độ thường cao hơn so với bên ngoài

Đi sâu hơn vào trong hang, ánh sáng giảm tới 0, gọi là vùng tối Vùng tối nhiệt độ

và ẩm độ gần như không biến đổi

Trong hệ thống núi đá vôi của Ba Bể có một hệ thống hang động rất phong phú, đa dạng và độc đáo do thiên nhiên ban tặng Nhiều hang động đẹp có nét hấp dẫn riêng và độc đáo như: hang Puông, hang Nà Phòng, hang Hua Mạ Tại hang Puông có nhiều nhũ thạch đẹp, hang Puông cao trung bình tới 8m, có nơi cao tới 12-15m, rộng trung bình khoảng 8 - 12m, hang này còn có suối chảy qua với chiều dài trên 1.000m Ngoài ra, ở khu vực Ba Bể còn có một số hang động nhỏ khác nằm trong những núi đá thiên tạo, được tô điểm bởi các loài thực vật có hoa, có âm thanh dấu vết của các loài chim, thú, côn trùng hoàn toàn tạo cảm giác khám phá mới mẻ cho khách du lịch và có ý nghĩa sinh học như: Động Tiên, Động Nả Phòng, Động Ba Cửa, Hang Sơn Dương Đặc biệt là các hang động này ở gần khu dân cư rất dễ tiếp cận

Trang 14

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các loài nhện trong hang động

 Đặc điểm cấu tạo ngoài của nhện

Cơ thể nhện chia ra 2 phần: phần giáp đầu ngực (Cephalothorax) và phần bụng (Abdomen), hai phần này được nối với nhau bởi cuống bụng Phần giáp đầu ngực bao gồm tấm lưng ngực (carapace) và tấm bụng ngực (sternum) Phía trên đầu của giáp đầu ngực có miệng (môi trên – endite; môi dưới – labium) và một đôi chân kìm (chelicera), bên cạnh chân kìm là một đôi chân xúc giác (Palp) Cuối đôi

chân kìm của nhện có đôi răng lớn và khỏe dùng để bắt giữ và giết con mồi Trên

tấm lưng ngực của nhện còn thấy một cái rãnh (hố - Fovea)

Trang 15

Hình 1: Cấu tạo ngoài của cơ thể nhện: Mặt lƣng(Jocque.R,2007)

Các mắt nằm trên tấm lưng ngực (carapace), thông thường nhện có từ 6 đến 8

mắt xếp thành 2 đến 3 hàng Các mắt được chia thành: Mắt giữa trước (AME -

Anterior median eyes), mắt bên trước (ALE - Anterior lateral eyes), mắt giữa sau

(PME - Posterior median eyes) và mắt bên sau (PLE - Posterior lateral eyes)

Nhện có 4 đôi chân bò nằm trên phần giáp đầu ngực Mỗi chân nhện được cấu

tạo từ 7 đốt: đốt háng (Coxa), đốt chuyển (Trochanter), đốt đùi (Femur), đốt đầu gối (Patella), đốt ống chân (Tibia), đốt cổ chân (Metatarsus) và đốt bàn chân (tarsus) Đầu mỗi chân bò có từ 2-3 móng vuốt (claws) tùy thuộc vào từng loài

nhện

Chân xúc giác (Palp) có cấu tạo tương tự như chân bò nhưng chỉ có 6 đốt, không có đốt cổ chân (metatarsus) Ở con đực trưởng thành, hai đốt cuối của đôi chân xúc giác (Tibia và tarsus) phình to và có cấu tạo phức tạp, đây chính là bộ

Trang 16

phận sinh dục của con đực (xúc biện) dùng để giao hợp Đối với con cái thì chân xúc giác có cấu tạo bình thường, thuôn đều

a b

Hình 2: Cấu tạo ngoài của cơ thể nhện: mặt bụng

a Phân bộ nhện Araneomorphae

b Phân bộ nhện Mygalomorphae

Phần bụng nhện đa dạng về hình dạng, kích thước và màu sắc tùy vào từng

loài Mặt dưới bụng con cái có cơ quan sinh dục cái và cơ quan hô hấp (booklung), còn con đực thì chỉ có cơ quan hô hấp Phần cuối của bụng là hậu môn (anal

tubercle) và bộ phận nhả tơ (Spinnerets) Bộ phận nhả tơ thường có 2 ống nhả tơ

bên trước (ALS - Anterior lateral spinnerets), hai ống nhả tơ bên sau (PLS -

Posterior lateral spinerets), một số loài có thêm 2 ống ở giữa sau (PMS – Posterior median spinerets) Một số loài nhện thuộc phân bộ Araneomorphae có

tấm nhả tơ (cribellum – cribellate) ở phía trước bộ phận nhả tơ (spinnerets)

Trang 17

a

Hình 3 Cấu tạo cơ quan sinh dục của nhện đực

– nằm trên cơ quan xúc giác (male palp) a: Cơ quan sinh dục đực (Entelegyne – mặt bên); b: Cơ quan sinh dục đực (Entelegyne – Mặt dưới); c: Cơ quan sinh dục

đực (Haplogyne )

Một số cấu phần của cơ quan sinh dục nhện đực (male palp):

-Retrolateral tibial apophysis: mấu gai bên phía sau

-Median apophysis: Mấu giữa

-Cymbium: Mặt trên của đốt cuối râu nhện đực (cơ quan xúc giác – cơ quan sinh dục đực – male palpal tarsus)

Trang 18

-Bulbus: Phần (khối) cấu trúc phức tạp của bộ phận sinh dục đực, thường nằm ngay dưới vùng lõm của cymbium

-Embolus:Phần đưa vào trong của male palpal bulus, thường mảnh, có đầu nhọn, chứa phần cuối cùng của ống dẫn tinh

-Sperm duct: ống dẫn tinh

a

b

Hình 4 Cấu tạo trong cơ quan sinh dục của nhện cái

(a: Haplogyne; b: Entelegyne (Epigastric furrow: vùng thượng vị; Entrance duct:

ống dẫn vào; Fertilization duct: ống dẫn ra; copulatory: thể giao cấu)

Cơ quan sinh dục của nhện có hai dạng:

-Entelegyne: Cơ quan sinh dục của nhện có thể sinh dục ngoài với các ống dẫn tách biệt cho việc vận chuyển tinh dịch trong suốt quá trình thụ tinh (đối với túi nhận tinh - spermathecae) và sự thu tinh (đối với tử cung - uterus)

Trang 19

-Haplogyne: Cơ quan sinh dục của nhện thiếu thể sinh dục ngoài do đó chỉ

có một cặp ống dẫn để vận chuyển tinh dịch từ tử cung tới túi nhận tinh trong suốt quá trình thụ tinh

2.2 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trong ba năm 2012-2014 Thu thập mẫu vật được tiến hành trong 2 đợt:

- Đợt 1: Tháng 9-10 năm 2012

- Đợt 2: Tháng 4-5 năm 2013

Thời gian còn lại, chúng tôi tiến hành thu thập tài liệu, phân tích mẫu, xử lý số liệu và viết báo cáo

2.3 Địa điểm và phạm vi nghiên cứu

2.3.1 Giới thiệu về Vườn quốc gia Ba Bể

* Vị trí địa lý

- VQG Ba Bể mở rộng bao gồm vùng bảo vệ nghiêm ngặt và vùng đệm nằm ở các

xã Nam Mẫu, Khang Ninh, Cao Thượng, Quảng Khê, Cao Trĩ thuộc vùng núi đá vôi xen kẽ các thung lũng đất hẹp thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Với toạ độ địa

lý (theo UTM 1 / 50.000) 105036’ Đông, 22030’ Bắc,VQG Ba Bể cách Hà Nội 254

km, cách thị xã Bắc Kạn 75 km, nằm trên trục đường Hà Nội - Cao Bằng (tuyến giao thông quan trọng Quốc gia)

- Vườn có diện tích 7.610 ha, trong đó diện tích khu bảo vệ nghiêm ngặt 3.226,2 ha; khu phục hồi sinh thái 4.083,6 ha; khu hành chính phục vụ 300,2 ha; và vùng đệm 42.100 ha

- Vườn quốc gia Ba Bể có ranh giới như sau:

+ Phía Đông và Bắc: Giáp các xã Cao Thượng, Cao Trĩ và Khang Ninh (huyện Ba Bể), xã Yến Dương, Chu Hương (huyện Chợ Đồn)

Trang 20

+ Phía Tây và Nam là ranh giới hai tỉnh Bắc Kạn, Tuyên Quang và giáp các xã Quảng Khê, Nam Cường, Xuân Lạc (huyện Chợ Đồn), Đà Vị ( Na Hang- Tuyên Quang)

Với ranh giới này VQG Ba Bể mở rộng bao gồm diện tích rừng và đất rừng thuộc 7 xã huyện Ba Bể thuộc vùng núi đá vôi đặc trưng cho vùng caxtơ khu Đông Bắc và các núi đất thuộc dãy Phia Biooc

- Vị trí địa lý của VQG Ba Bể rất thuận lợi cho giao thông và phát triển du lịch Hiện nay trong các tuyến du lịch Hà Nội - Bắc Kạn - Cao Bằng, du khách thường lưu trú từ 1 đến 2 ngày tại VQG Ba Bể sau đó tiếp tục đi tới các điểm tham quan khác tại Bắc Kạn và Cao Bằng Khách nước ngoài tới Ba Bể là du lịch tự do hay các nhóm nhỏ từ 3 đến 5 người

*Khí hậu, thủy văn

Vườn quốc gia Ba Bể mang đặc điểm khí hậu của vùng núi phía Bắc Việt Nam Trung tâm của vườn là hồ Ba Bể với diện tích 500 ha Sự bốc hơi liên tục tạo nên

vi khí hậu vùng hồ mát mẻ, giảm bớt sự khắc nghiệt của các mùa ( mùa hè không quá nóng, mùa đông không quá lạnh )

+ Nhiệt độ trung bình năm: 220

C

+ Độ ẩm tương đối trung bình năm: 83,3%

+ Lượng mưa trung bình năm 1.378mm

+ Số ngày mưa phùn trung bình trong năm: 33,3 ngày

+ Số ngày có dông, mưa trung bình năm tại chợ Rã: 41,2 ngày

- Hồ Ba Bể là hồ tự nhiên lớn có diện tích 500 ha, được cấp nước bởi các sông Chợ Lèng, Ta Han, Nam Cường, các suối Tả Nam, Pó Lù tốc độ dòng chảy 0,5m / giây Hồ có chiều dài 8 km, sâu nhất 35 m, độ sâu trung bình 25 m Nước hồ trong xanh quanh năm với độ trong từ 150 tới 200m Nhiệt độ nước tầng mặt biến thiên theo mùa, phụ thuộc vào nhiệt độ không khí Ước tính hồ chứa 90.106

Hồ có chức năng điều tiết lũ cho sông Năng và mang hai tính chất rõ rệt:

Trang 21

Tính chất của hồ nước ngọt tự nhiên lớn

Tính chất là đoạn cuối của sông chợ Lèng

Điều kiện khí hậu trong lành mát mẻ rất tốt cho sức khoẻ con người nên có thể mở rộng khai thác du lịch theo loại hình nghỉ ngơi, an dưỡng, nghỉ cuối tuần

Hồ Ba Bể được bao bọc bởi những vách núi đá vôi với nhiều hang ngầm khi

ẩn khi hiện và được ca ngợi là hồ đẹp nhất Việt Nam, được công nhận là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 1996 có sức hấp dẫn lớn đối với khách du khách Diện tích mặt hồ lớn và mực nước ổn định quanh năm tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động du lịch trên hồ thăm các đảo, hang động, danh lam thắng cảnh khác Ngoài ra, còn có thể phát triển thêm một số trò thể thao nước

*Địa chất, địa hình, thổ nhƣỡng

- VQG Ba Bể nằm trong vùng caxtơ chợ Rã Ba Bể - Chợ Đồn, hai khối này là khối đá vôi Givet ( Kỷ đề vôn giữa ) nằm trên phiến đá Protezol , bên cạnh hai khối

đá hoa cương Tuổi tuyệt đối của khối đá vôi này đã trải qua chế độ lục địa khoảng

200 triệu năm Điều này nói nên sự già nua các dịa hình caxtơ ỏ đây khác với các nơi khác Độ cao trung bình của núi đá vôi là 800 - 900 m so với mặt nước biển

Dạng địa hình caxtơ điển hình tạo thành nhiều hệ thống hang động, núi đá vôi đẹp mà tiêu biểu là hệ thống các hang động kỳ vĩ như Động Puông, Động Tiên, Động Nả Phòng, Động Ba Cửa, Hang Sơn Dương Diện tích trong lòng hang động lên tới hàng trăm hàng nghìn m2

với các loại nhũ đá, cột đá hình thù sinh động độc đáo Địa hình khu vực cũng tạo nên hồ Ba Bể , một trong những di sản thiên nhiên độc đáo và đẹp bậc nhất nước ta Hồ Ba Bể nằm kẹp giữa hai dãy núi lớn ở Việt Bắc là cánh cung Sông Gâm và cánh cung Ngân Sơn với nhữnh đỉnh núi cao trên 1.000 m Bao bọc quanh hồ là các vách núi đá vôi dựng đứng, hiểm trở với vẻ đẹp hùng vĩ và nhiều cánh rừng nguyên sinh, những dòng sông suối ngầm khi ẩn khi hiện Hồ được cắt khúc thành ba hồ nhỏ: Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng chạy theo hướng Bắc - Nam Trong lòng hồ có các đảo nhỏ gắn liền với truyền thuyết vùng hồ, là những nơi có nhiều loài phong lan và chim muông sinh sống Hồ nằm

Trang 22

trong hệ tự nhiên của VQG Ba Bể một di sản thiên nhiên quý giá có diện tích 7.610

ha Đây là một hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi với sự đa dạng lớn về tài nguyên động thực vật, là tiềm năng lớn cho hoạt động phát triển loại hình DLST

Đặc điểm cấu tạo địa chất tạo nên địa hình khu vực đa dạng, hấp dẫn, độc đáo cho phát triển DLST dưới các loại hình tìm hiểu và tham quan các danh lam thắng cảnh, các hang động, các đảo gắn liền vối truyền thuyết về Hồ Ba Bể và lịch

sử hào hùng của dân tộc Ngoài ra, với điều kiện địa hình như vậy, việc mở rộng loại hình du lịch mạo hiểm có thể là một hướng đi mới cần được lưu ý

* Thực vật

Theo điều tra ban đầu, khu hệ thực vật VQG Ba Bể bao gồm 4 yếu tố: thực vật bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung Quốc, thực vật di cư India - Myanma, thực vật quý hiếm và thực vật đặc hữu của vùng

Chỉ riêng loài thân gỗ đã đến 620 loài thuộc 300 chi, 138 họ, trong đó có đủ các loài đặc trưng điển hình của vùng núi đá vôi Đông Bắc Việt Nam: Nghiến, Đinh, Trai, Lát, Lát Hoa và hàng trăm loài Phong lan, Địa lan, đặc biệt loài Trúc dây quý hiếm chỉ có ở Ba Bể thường mọc ở các vách đá ven hồ và sông Năng, thân

rủ xuống hồ tạo ấn tượng đẹp cổ kính

VQG Ba Bể có thảm thực vật rừng đặc trưng riêng thể hiện ở các kiểu rừng

và trạng thái rừng sau:

Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi: phân bố từ

độ cao 400 đến 700m, diện tích còn lại nhỏ do bị tác động, loài ưu thế: Nghiến, Trai, Đinh, Lát hoa, một số loài họ Giẻ ở ven hồ có loài Trâm trắng, Trâm vối, Ken, Si, Mùng Quân

Rừng rậm thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở thung lũng tập trung một số loài Sấu, Thung , Đinh thôi Trong kiểu này rừng phân thành 4 tầng rõ rệt, có tầng vượt tán là Thung thân trắng phân biệt với nền xanh của 3 tầng dưới

Trang 23

Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đất: phân bố chủ yếu ở độ cao 200 đến 800 m với một số loài Giẻ, Thích, Lòng mang ở trên đỉnh cao; Đinh, Lát, Sấu ở thấp hơn và Hu, Trám, Sồi, Chẹo ở những rừng phục hồi sau nương rẫy

Thảm cây bụi, cây gỗ rải rác ( trên núi đá và núi đất ): đa phần là các cây gỗ tạp (Thôi ba, Thôi chanh, Hồng bì rừng ) và các cây bụi như Tổ kén, Cò ke

Rừng tre nứa với các loại Vầu, Trúc sào và một ít diện tích rừng Nứa, Tre mậy hốc, Trúc dây - loài đặc hữu thường mọc tập trung ở các vách đá ven hồ và sông Năng

Với khu hệ thực vật có tính đa dạng sinh học cao mang cả tính chất bản địa

và di cư với nhiều loài quý hiếm và đặc hữu Đây vừa là điểm hấp dẫn lớn với du khách đồng thời là đối tượng nghiên cứu của khoa học Những loại hình du lịch tương ứng với tiềm năng này phải kể đến là tìm hiểu, nghiên cứu khoa học trong các khu đa dạng sinh học cao, mở các tuyến tham quan xuyên rừng nguyên sinh Tuy nhiên,cần có biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt ở những vùng nhạy cảm, tránh các tác động của hoạt động du lịch Đặc biệt, cần có các biện pháp giảm thiểu tác động xấu của du khách tới TNTN và môi trường Đó được coi như là một nguyên tắc không thể thiếu trong sử dụng bền vững nguồn TNTN

Bể, có 54 loài cá chiếm 1/3 số loài cá nước ngọt Việt Nam ( có 10 loài quý hiếm có tên trong sách đỏ ) Có hơn 400 loài bướm trong đó có 2-3 loài mới được phát hiện lần đầu tiên tại Ba Bể, chưa kể các loài không xương sống khác

Trang 24

Tại hồ Ba Bể có 137 loài thực vật nổi, gồm nhiều loài như tảo lam, silic, tảo lục, tảo giáp, tảo vàng

Khu hệ động vật VQG Ba Bể được xếp vào khu đa dạng sinh học loại A, là đối tượng cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và tham quan Tuy nhiên, rất khó tiếp xúc với động vật hoang dã trong môi trường tự nhiên, nên cần xây dựng khu nuôi chim, động vật bán hoang dã để khách du lịch dễ dàng tiếp cận với chúng hơn Đây cũng là phần nhạy cảm nhất của hệ sinh thái Vì vậy, cần quy hoạch, phân vùng các khu bảo tồn nghiêm ngặt nhằm bảo vệ động vật hoang dã, cấm tất

cả các hoạt động săn bắn trong phạm vi quản lý của vườn

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Nghiên cứu thực địa

Sử dụng các phương pháp điều tra, thu mẫu chuẩn đối với nhện (Churchill, 1993; Churchill và Arthur, 1999), bao gồm:

Phương pháp bắt trực tiếp bằng tay: sử dụng đèn để quan sát trong hang tối

và sử dụng các dụng cụ hỗ trợ như phanh mềm, panh cứng, chổi lông, ống hút để thu bắt nhện trong hang Nhện sẽ được cho vào lọ có chứa cồn 80 độ để giữ mẫu mang về phòng thí nghiệm

Phương pháp dùng rây rác : để thu các mẫu nhện trong các lớp rác bề mặt,

sỏi đất vụn ở nền hang Rây rác gồm một túi được chia làm 2 phần ngăn cách với một rây lưới làm bằng kim loại có kích thước mắt lưới 1-2 cm2 Miệng rây rác rộng, gắn với một vòng kim loại hoặc gỗ có cán cầm để cố định kích thước và hình dạng của miệng rây rác.Đáy của rây rác có dạng một cái túi mở, có dây để huộc đáy lại thành dạng túi Cho rác, đất, sỏi trên nền hang vào rây rác Dùng tay lắc mạnh sao cho các nhóm động vật lẫn trong lớp đất đá và rác rơi xuống túi bên dưới của dây rác Các loại rác, lá cây và đất đá có kích thước lớn sẽ bị giữ lại ở tầng trên của rây rác Loại bỏ lớp rác tầng trên, cho toàn bộ đất đá, rác lá vụn có lẫn động vật rơi xuống tầng dưới của rây rác vào một tấm vải hoặc nilon trắng Dùng panh, ống hút hoặc chổi lông để bắt nhện lẫn trong rác vụn và giữ trong cồn 80 độ

Trang 25

Phương pháp sử dụng bẫy hố: Bẫy hố cấu tạo gồm hai cốc nhựa Cốc nhựa

ngoài (kích thước 8cm x 14 cm) được chôn ngập xuống đất sao cho bề mặt cốc nhựa bằng với bề mặt nền hang Cốc trong được lồng vào trong cốc ngoài, trong cốc nhựa này cho 100ml dung dịch hỗn hợp gồm cồn 95%, nước và ethylen glycol theo tỷ lệ 70:15:15 Đối với mỗi đợt thu mẫu, một hang chúng tôi đặt 18 bẫy hố chia theo 3 vị trí (vùng cửa hang, vùng chuyển tiếp và vùng tối), mỗi vùng đặt 6 bẫy hố chia làm 3 cụm, mỗi cụm đặt 2 bẫy, mỗi bẫy trong một cụm cách nhau 3m Bẫy được đặt trong 5 ngày sau đó lọc mẫu nhện (có cả các nhóm động vật đất khác) bằng rây lọc rồi giữ mẫu trong cồn 80 độ Mỗi đợt nghiên cứu thực địa chúng tôi đặt bẫy trong vòng khoảng 1 tháng với 5 lần lặp lại Như vậy, với mỗi đợt, một hang đặt 90 bẫy (5 lần lặp lại x 18 bẫy một lần) ; với 3 hang sẽ có 270 bẫy/ 1 đợt Tổng 2 đợt thu mẫu chúng tôi đã đặt tất cả 540 bẫy hố

Tại mỗi hang, chúng tôi nghiên cứu nhện tại 3 vị trí gồm có: vùng cửa hang, vùng chuyển tiếp và vùng tối Các vùng này tương ứng với chế độ ánh sáng và các điều kiện môi trường khác nhau (theo Humphreys, 2000)

- Vùng cửa hang (vùng sáng) là khu vực có chế độ ánh sáng gần với bên ngoài, thậm chí cây cối vẫn xảy ra quá trình quang hợp, nhiệt độ và ẩm độ thay đổi hàng ngày

- Vùng chuyển tiếp là vùng cách xa vùng cửa hang, ưu thế bởi các loài địa y

và các loài tảo là những loài thích hợp với điều kiện ánh sáng yếu Nhiệt độ và độ

ẩm vẫn có thể thay đổi, và độ ẩm thường cao hơn so với bên ngoài

- Vùng tối (vùng hang sâu) là vùng không có ánh sáng tự nhiên, có nhiệt độ và

ẩm độ gần như ít biến đổi

2.4.2 Phân tích và xử lý mẫu vật trong phòng thí nghiệm

Mẫu nhện thu thập tại điểm nghiên cứu được bảo quản trong cồn 70% và được lưu trữ tại Viện Sinh thái tài nguyên sinh vật Mẫu vật sẽ được định loại tại phòng Sinh thái môi trường đất, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật; và Trung tâm Đa dạng sinh học Tự nhiên Hà Lan

Trang 26

Chúng tôi chỉ sử dụng các mẫu nhện trưởng thành để định loại tới loài, bởi vì việc định loại nhện ở giai đoạn con non đến cấp độ giống và loài là rất khó

Định loại nhện theo các tài liệu Zabka (1985); Davies (1986); Davies 1988; Chen và Gao (1990); Feng (1990); Barrion và Litsinger (1995); Song và cộng sự (1997, 1999, 2004); Yin và cộng sự (1997); Zhu và cộng sự (1998, 2003), Jocque (2007)

Trang 27

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đa dạng thành phần loài và số lượng cá thể nhện thu được ở ba hang

động nghiên cứu tại VQG Ba Bể tỉnh Bắc Cạn

3.1.1 Thành phần loài và số lượng cá thể nhện hang động thu được tại khu

vực nghiên cứu

Đã thu được 390 cá thể nhện trong 3 hang động thuộc 31 loài, 15 họ Hang Puông thu được 126 cá thể thuộc 13 loài; Nà Phòng thu được 138 cá thể thuộc 16 loài, hang Hua Mạ thu được 136 cá thể thuộc 14 loài Họ Pholcidae có số loài nhiều nhất là 7 loài; ba họ có 3 loài là: Araneidae, Telemidae và Theridiosomatidae; bốn họ có 2 loài là: Salticidae, Theridiidae, Lyniphiidae, Ctenizidae; 7 họ còn lại, mỗi họ chỉ có một loài

Trong số 23 loài nhện ghi nhận được trong 3 hang động khu vực nghiên cứu; bao gồm 12 loài có đời sống chuyên biệt trong hang động, 7 loài phân bố cả trong môi trường hang động và bên ngoài, các loài còn lại (12 loài) là những loài sống bên ngoài hang động và sự hiện diện của những loài này trong hang động là do yếu

tố khách quan (Bảng 1)

Bảng 1 Thành phần và số lượng cá thể các loài nhện bắt gặp

tại điểm nghiên cứu

Puông

Hang

Nà Phòng

Hang Hua

Trang 28

5 Thiania bhamoensis Thorell,

Trang 29

138 (16)

136 (14)

390 (31)

Ghi chú: * ( Loài chuyên biệt hang động),

** (Loài phân bố cả trong hang và bên ngoài)

Trong tổng số cá thể nhện thu được ở cả 3 hang, loài Heteropoda venatoria

chiếm ưu thế với số lượng cá thể thu được nhiều nhất (145 cá thể - 37,18%)

Qua bảng 1 và hình 10 ta thấy, có 2 loài nhện tìm thấy ở cả 3 hang là:

Heteropoda venatoria, Khorata digitata; Có 8 loài chỉ tìm thấy ở hang Puông là:

Trang 30

Bianor angulosus, Heptathela tomokunii, Belisana sp1, Belisana sp2, Belisana

sp3, Khorata sp.1, Khorata sp.2, Telema cucphongensis. Có 7 loài chỉ thấy ở hang

Nà Phòng là: Neoscona theisi, Thiania bhamoensis, Theridion blaisei, Spermophora sp.1, Telema sp1, Theridiosoma caaguara, Theridiosoma diwang;

Có 6 loài chỉ gặp ở hang Hua Mạ: Araneus blaisei, Coleosoma blandum, Gongylidiellum linguiformis, Pardosa pseudoanulata, Telema sp2, Theridiosoma shuangbi

Trong số 31 loài nhện ghi nhận được, có 7 loài thuộc nhóm vãng lai, tức là những loài được tìm thấy phổ biến bên ngoài hang động, 24 loài còn lại thuộc nhóm thích nghi chuyên biệt với môi trường hang động (bảng 1)

Các loài động vật tìm thấy trong hang động bao gồm 2 nhóm: nhóm vãng lai

và nhóm chuyên biệt hang động (Howarth 1973) Nhóm vãng lai (Accidentals) là nhóm phổ biến ở ngoài hang, là những động vật mà hang động không phải là môi

trường sống chính của chúng; chúng thâm nhập vào hang do các yếu tố khách quan như sự hấp dẫn của nguồn thức ăn hay di chuyển thụ động bởi gió, lũ lụt,…

Nhóm thích nghi chuyên biệt với môi trường hang động (Troglobites,

Troglophiles) là những động vật bắt buộc phải có những thích nghi riêng biệt như

không có hoặc tiêu giảm các sắc tố trên cơ thể, hay đối với mắt; bay nhảy kém, nhưng phát triển các thích nghi phụ và chuyên biệt (Barr 1968, Poulson and White 1969) Những loài này hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn thức ăn và điều kiện sinh sản ở trong hang động Chúng ở vùng hang sâu nơi mà các điều kiện là ổn định nhất

Bảy loài nhện thuộc nhóm vãng lai thu được tại khu vực nghiên cứu baogồm: Erigone grandidens; Gnaphosa kompirensis; Heteropoda venatoria; Latouchia cunicularia; Latouchia cunicularia; Phobestinus investis; Khorata digitata; Các loài này đã được ghi nhận phổ biến ở vùng núi phía Bắc Việt Nam

(Phạm Đình Sắc, 2005; Phạm Đình Sắc và cs, 2007)

Trang 31

3.1.1 Đặc điểm nhận dạng chính của các họ nhện thu được trong ba hang động

tai VQG Ba Bể

3.1.1.1 Họ Araneidae

Nhện chăng lưới, có chiều dài cơ thể từ 3-30mm, có 3031 loài trên thế giới (Platnick, 2012), thuộc phân bộ Araneomorphae Con đực nhỏ hơn nhiều so với con cái Cơ quan sinh dục dạng entelegyne, cơ quan sinh dục đực rất ngắn và phức tạp Nhện có 8 mắt xếp thành 2 hàng (4:4), mắt bên cách xa mắt giữa Chân có

nhiều gai, đốt cuối của chân (tarsi) có 3 móng vuốt (claw) Khoảng cách giữa mắt

và chân kìm (clypeus) rất ngắn Môi trên (labium) có chiều ngang rộng hơn chiều dài, có 2 phổi sách (booklung) Bộ phận nhả tơ (spinnerets) đơn giản, có 3 đôi,

ecribellate Việt Nam đã ghi nhận được 63 loài nhện họ Araneidae (Ono, Ta Huy Thinh, và Pham Dinh Sac, 2012)

3.1.1.2 Họ Ctenizidae

Nhện đào hố làm tổ dưới đất, có chiều dài cơ thể từ 15-43mm, có 128 loài trên thế giới (Platnick, 2012), thuộc phân bộ Mygalomorphae Cơ quan sinh dục đực đơn giản Nhện có 8 mắt xếp thành 2 hoặc 3 hàng, các mắt tập trung thành một khu vực (các mắt gần nhau), các mắt trước lớn và dễ thấy hơn, các mắt sau nhỏ và

mờ Clypeus không quá cao Chân ngắn, tròn, to, có 3 vuốt (claw), phần đầu của chân I và II có nhiều gai ngắn, nhỏ, ở mặt lưng Môi dưới (Labium) cũng có nhiều

những gai nhỏ và ngắn giống chân I và II Cơ thể phủ nhiều lông Có 2 đôi nhả tơ,

4 phổi sách Việt Nam đã ghi nhận được 2 loài nhện họ Ctenizidae (Ono, Ta Huy Thinh, và Pham Dinh Sac, 2012)

3.1.1.3 Họ Gnaphosidae

Nhện sống tự do trên mặt đất, có chiều dài cơ thể từ 3-17mm, có 2134 loài trên thế giới (Platnick, 2012), thuộc phân bộ Araneomorphae Cơ quan sinh dục dạng entelegyne, cơ quan sinh dục đực khác nhau tùy từng loài Nhện có 8 mắt nhỏ, xếp thành 2 hàng (4:4), mắt giữa sau (PME) trong suốt Chân kìm ngắn Chân

bò có 2 vuốt, và những chùm lông và gai giúp nhện leo trèo Có 2 đôi nhả tơ, các

Trang 32

đôi nhả tơ cách xa nhau, ecribellate Việt Nam đã ghi nhận được 14 loài nhện họ Gnaphosidae (Ono, Ta Huy Thinh, và Pham Dinh Sac, 2012)

3.1.1.4 Họ Liphistiidae

Nhện dài từ 9-37mm, có 90 loài trên thế giới (Platnick, 2012) Cơ quan sinh dục rất phức tạp Nhện có 6 hoặc 8 mắt tùy từng loài, các mắt xếp chụm lại với nhau, các mắt bên lớn hơn nằm ở 4 góc bên ngoài, các mắt giữa nhỏ hơn Chân kìm lớn, chân bò có kích thước lớn dần từ chân số I tới chân số IV, có 3 vuốt Phần bụng có những vạch phân đoạn trên mặt lưng (12 đoạn) Có đôi nhả tơ Việt Nam đã ghi nhận được 7 loài nhện họ Liphistiidae (Ono, Ta Huy Thinh, và Pham Dinh Sac, 2012)

có mấu gai bên phía sau (retrolateral tibial apophyses) Nhện có 8 mắt, xếp thành

3 hàng (4:2:2), mắt có màu tối, hàng mắt trước có 4 mắt nhỏ, hàng thứ 2 có hai mắt rất lớn và hàng thứ 3 có 2 mắt cỡ trung bình Clypeus ngắn Chân kìm to

khỏe Chân bò có 3 vuốt, có nhiều gai và những chùm lông (scopula) giúp nhện

bám tốt khi leo trèo Có 3 đôi nhả tơ, ecribelate Việt Nam đã ghi nhận được 8 loài nhện họ Lycosidae (Ono, Ta Huy Thinh, và Pham Dinh Sac, 2012)

3.1.1.7 Họ Mimettidae

Trang 33

Họ Mimettidae gồm cả nhện chăng lưới và nhện sống tự do trên mặt đất, có chiều dài từ 3-7mm, thuộc phân bộ Araneomorphae Trên thế giới hiện biết 156 loài nhện thuộc họ này (Platnick, 2012) Cơ quan sinh dục dạng entelegyne, cơ quan sinh dục đực dài, bilb có embolus cong và khỏe Nhện có 8 mắt, mắt giữa trước thường lớn nhất, các mắt khác cùng kích thước Chân kìm dài, đặc biệt là với một số con đực Chân bò dài và mảnh, có 3 vuốt Chân số I, II dài hơn chân số III,

IV, chân có nhiều gai trong đó có những gai rất lớn xếp xen kẽ với những hàng gai

có kích thước nhỏ Có 3 đôi nhả tơ, ecribellate Việt Nam đã ghi nhận được 2 loài nhện họ Mimettidae (Ono, Ta Huy Thinh, và Pham Dinh Sac, 2012)

3.1.1.8 Họ Pholcidae

Nhện chăng lưới, gặp nhiều ở hang động, thuộc phân bộ Araneomorphae, có chiều dài cơ thể từ 1-10mm, hiện biết 1288 loài trên thế giới (Platnick, 2012) Cơ quan sinh dục dạng haplogyne Nhện có 6 hoặc 8 mắt tùy loài, mắt giữa trước thường rất nhỏ (với loài 8 mắt), hoặc không có (với loài 6 mắt) Chân bò dài và mảnh, có 3 vuốt rất ngắn Có 3 đôi nhả tơ, bộ phận nhả tơ trước dày và lớn hơn bộ phận nhả tơ sau, ecribellate Việt Nam đã ghi nhận được 6 loài nhện họ Pholcidae (Ono, Ta Huy Thinh, và Pham Dinh Sac, 2012)

3.1.1.9 Họ Psechridae

Nhện chăng lưới, chiều dài cơ thể từ 10-22mm, thuộc phân bộ Araneomorphae, hiện biết 30 loài trên thế giới (Platnick, 2012) Cơ quan sinh dục dạng entelegyne, cymbilum của cơ quan sinh dục đực có những chùm lông

(scopula) Nhện có 8 mắt, xếp thành 2 hàng, hàng mắt sau rộng hơn hàng mắt

trước Chân kìm khỏe Chân bò dài, chiều dài chân bò giảm dần theo thứ tự II-III, các chân có 3 vuốt và có nhiều những chùm lông và gai ở cuối mỗi đốt Có 3 đôi nhả tơ, mỗi bộ phận nhả tơ có 2 đoạn, bộ phận nhả tơ sau dài hơn trước Có

I-IV-tấm nhả tơ (cribellate) Việt Nam đã ghi nhận được 2 loài nhện họ Psechridae

(Ono, Ta Huy Thinh, và Pham Dinh Sac, 2012)

3.1.1.10 Họ Salticidae

Trang 34

Nhện săn mồi, có chiều dài cơ thể từ 3-17mm, thuộc phân bộ Araneomorphae, hiện biết 5468 loài trên thế giới (Platnick, 2012) Cơ quan sinh

dục dạng entelegyne, cơ quan sinh dục đực có mấu gai (tibial apophysis) Nhện có

8 mắt, xếp thành 3 hoặc 4 hàng; mắt giữa phía trước rất lớn, to hơn hẳn các mắt còn lại; tiếp đó là mắt trước bên, các mắt sau nhỏ hơn rất nhiều mắt trước Chân bò ngắn, có 2 vuốt, cặp chân trước thường dài và khỏe hơn các cặp chân khác Có 3 đôi nhả tơ, chiều dài bằng nhau Ecribellate Việt Nam đã ghi nhận được 116 loài nhện họ Salticidae (Ono, Ta Huy Thinh, và Pham Dinh Sac, 2012)

3.1.1.11 Họ Sparassidae

Nhện gặp nhiều trên cây, trên mặt đất, và nhiều trong hang động Chiều dài

cơ thể từ 6-40mm Thuộc phân bộ araneomorphae Hiện biết 1123 loài trên thế giới (Platnick, 2012) Cơ quan sinh dục dạng entelegyne, cơ quan sinh dục đực có mấu gai lớn (tibial apophysis) Nhện có 8 mắt, xếp thành 2 hàng (4:4), các mắt hàng sau thường cùng kích thước, phần lớn mắt giữa trước lớn hơn mắt bên trước Chân bò dài, có 2 vuốt, với nhiều chùm lông ở dưới chân của vuốt và ở đốt bàn và đốt trước bàn Việt Nam đã ghi nhận được 14 loài nhện họ Sparassidae (Ono, Ta Huy Thinh,

và Pham Dinh Sac, 2012)

3.1.1.12 Họ Telemidae

Nhện chăng lưới hoặc ở dưới đất, gặp nhiều trong hang động, kích thước cơ thể rất nhỏ (<2mm), thuộc phân bộ araneomorphae Hiện biết 61 loài trên thế giới (Platnick, 2012) Cơ quan sinh dục dạng haplogyne, cơ quan sinh dục đực có bulb đơn giản Nhện có 6 mắt, thường xếp thành 3 đôi, không có mắt giữa sau Chân bò dài và mảnh, có một vài cái gai, có 3 vuốt Có 3 đôi nhả tơ Bộ phận nhả tơ trước

có 2 đoạn, bộ phận nhả tơ sau có hình khối tứ diện, ecribellate Việt Nam đã ghi nhận được 2 loài nhện họ Telemidae (Ono, Ta Huy Thinh, và Pham Dinh Sac, 2012)

3.1.1.13 Họ Theridiidae

Nhện chăng lưới, có chiều dài cơ thể từ 2-15mm Hiện biết 2350 loài trên thế giới (Platnick, 2012) Thuộc phân bộ araneomorphae Cơ quan sinh dục dạng

Ngày đăng: 11/12/2015, 08:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trần Đình Chiến, 2002. Nghiên cứu côn trùng, nhện lớn bắt mồi sâu hại đậu tương vùng Hà Nội và phụ cận, đặc tính sinh học của bọ chân chạy Chlaenius bioculatus Chaudoir và bọ rùa Menochilus sexmaculatus Fabr. Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chlaenius bioculatus "Chaudoir và bọ rùa "Menochilus sexmaculatus
18. Phạm Đình Sắc, Vũ Quang Côn, 2005. Loài nhện độc Ornithoctonus huwena (Araneae: Theraphosidae ) mới phát hiện ở Việt Nam. Tạp chí Sinh học, tập 31, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ornithoctonus huwena
36. Michal Knapp and Jan Ruzdcka, 2012. The effect of pitfall trap construction and preservative on catch size, species richness and species composition of ground beetles (Coleoptera: Carabidae), Eur. J. Entomol. 109: 419–426.http://www.eje.cz/scripts/viewabstract.php?abstract=1726 ISSN 1210-5759 (print), 1802- 8829 Link
1. Thái Trần Bái, Vũ Thị Ngọc Thuý, Phạm Đình Sắc, 2005. Góp phần nghiên cứu về nhện (Araneae) trên cây vải thiều ở Thanh Hà, Hải Dương. Báo cáo khoa học hội nghị toàn quốc lần thứ hai những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, 59-62 Khác
3. Vũ Quang Côn, Nguyễn Hữu Bình, Nguyễn Thị Hai, 1996. Nhện ăn thịt và vai trò của chúng trong việc kìm hãm sâu hại bông ở Đồng Nai và Ninh Thuận. Tạp chí Bảo vệ thực vật, số 5 / 1996 (149), 46-49 Khác
4. Nguyễn Văn Hùng, 1998. Sâu, bệnh, cỏ dại hại chè và biện pháp phòng trừ. Nhà xuất bản Nông nghiệp Khác
5. Trương Xuân Lam, 1998. Thành phần côn trùng ăn thịt và nhện bắt mồi, một số đặc điểm sinh thái của một số loài quan trọng trên cây đậu tương vụ hè thu tại Hà Tây. Luận văn Thạc sĩ khoa học Sinh học Khác
6. Phạm Văn Lầm, 1997. Kết quả nghiên cứu về nhện lớn bắt mồi ăn thịt trên đồng lúa từ năm 1990 đến 1995. Tạp chí NN và CNTP, 107-109 Khác
7. Phạm Văn Lầm, Nguyễn Kim Hoa, Nguyễn Thành Vĩnh, Trương Thị Lan, 2002. Một số kết quả nghiên cứu bổ sung về nhện lớn trên ruộng lúa trong năm 2001- 2002. Kỷ yếu hội thảo quốc gia về khoa học và công nghệ Bảo vệ thực vật. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 125-129 Khác
8. Phạm Văn Lầm, 2002. Kết quả thu thập và định danh nhện lớn trên ruộng ở Việt Nam. Kỷ yếu hội nghị côn trùng học toàn quốc lần thứ 4. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 255-260 Khác
9. Phạm Văn Lầm, Nguyễn Thị Kim Hoa, Trương Thị Lan, Nguyễn Thị Trường, 2004. Một số dẫn liệu về khả năng của nhện lớn bắt mồi tiêu diệt sâu hại lúa.Tạp chí Bảo vệ Thực vật, số 1/2004 (193), 31-35 Khác
10. Phùng Thị Hồng Lưỡng, Phạm Đình Sắc, 2011. Bước đầu nghiên cứu động vật chân khớp (arthropoda) trong hang động ở Vườn Quốc Gia Ba Bể, tỉnh Phú Thọ. Hội nghị khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ tư, tháng 10/2011. NXB Nông nghiệp Khác
11. Phạm Bình Quyền, Trần Ngọc Lân, Nguyễn Thị Thanh, 1999. Nhện lớn ăn thịt - thiên địch sâu hại lúa ở vùng Nghệ An. Tạp chí Bảo vệ thực vật, số 1/1999:18-24 Khác
12. Phạm Đình Sắc, Khuất Đăng Long, 2001. Nghiên cứu thành phần và vai trò của nhện lớn bắt mồi trên đậu tương. Tạp chí Bảo vệ Thực vật, số 6/2001 (180), 3-7 Khác
13. Phạm Đình Sắc, Vũ Quang Côn, 2002. Một số kết quả nghiên cứu nhện lớn bắt mồi (Araneae) trên nhãn vải vùng Mê Linh-Vĩnh Phúc. Báo cáo khoa học hội nghị côn trùng học toàn quốc lần thứ 4. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 406-410 Khác
14. Phạm Đình Sắc, 2002. Cấu trúc thành phần loài nhện bắt mồi và biến động số lượng của một số loài phổ biến trên cây vaỉ vùng Sóc Sơn-Hà Nội. Kỷ yếu hội thảo quốc gia về khoa học và công nghệ Bảo vệ thực vật. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 125-129 Khác
15. Phạm Đình Sắc, 2003. Một số kết quả nghiên cứu nhện ở vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn. Báo cáo hội thảo khoa học quốc gia vườn quốc gia Ba Bể và khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hang. Nhà xuất bản Lao động, 72-79 Khác
16. Phạm Đình Sắc, Vũ Quang Côn, Marek Zabka, 2004. Danh sách bước đầu về các loài nhện nhảy (Araneae: Salticidae) ở Việt Nam. Tạp chí Sinh học, tập 26, số 3A, 48-56 Khác
17. Phạm Đình Sắc, Vũ Quang Côn, Shuqiang Li, Xiang Xu, 2005. Bổ sung năm loài nhện nhảy (Araneae: Salticidae) ở Việt Nam. Báo cáo khoa học hội nghị côn trùng học toàn quốc lần thứ 5. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 205-207 Khác
19. Phạm Đình Sắc, 2005. Danh sách các loài nhện (Arachnida: Araneae) đã ghi nhận được ở Việt Nam. Tuyển tập báo cáo hội thảo Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Cấu tạo ngoài của cơ thể nhện: Mặt lƣng(Jocque.R,2007) - Nghiên cứu nhện (araneae) trong hang động tại vườn quốc gia ba bể, bắc kạn
Hình 1 Cấu tạo ngoài của cơ thể nhện: Mặt lƣng(Jocque.R,2007) (Trang 15)
Hình 3. Cấu tạo cơ quan sinh dục của nhện đực - Nghiên cứu nhện (araneae) trong hang động tại vườn quốc gia ba bể, bắc kạn
Hình 3. Cấu tạo cơ quan sinh dục của nhện đực (Trang 17)
Hình 4. Cấu tạo trong cơ quan sinh dục của nhện cái - Nghiên cứu nhện (araneae) trong hang động tại vườn quốc gia ba bể, bắc kạn
Hình 4. Cấu tạo trong cơ quan sinh dục của nhện cái (Trang 18)
Bảng 1. Thành phần và số lƣợng cá thể các loài nhện bắt gặp - Nghiên cứu nhện (araneae) trong hang động tại vườn quốc gia ba bể, bắc kạn
Bảng 1. Thành phần và số lƣợng cá thể các loài nhện bắt gặp (Trang 27)
Hình 11. Một số hình ảnh loài Belisana sp1  (a: Hình dáng ngoài; b: xúc biện) - Nghiên cứu nhện (araneae) trong hang động tại vườn quốc gia ba bể, bắc kạn
Hình 11. Một số hình ảnh loài Belisana sp1 (a: Hình dáng ngoài; b: xúc biện) (Trang 36)
Hình 12. Một số hình ảnh loài Belisana sp2 - Nghiên cứu nhện (araneae) trong hang động tại vườn quốc gia ba bể, bắc kạn
Hình 12. Một số hình ảnh loài Belisana sp2 (Trang 38)
Hình 13. Một số hình ảnh loài Belisana sp3 - Nghiên cứu nhện (araneae) trong hang động tại vườn quốc gia ba bể, bắc kạn
Hình 13. Một số hình ảnh loài Belisana sp3 (Trang 39)
Hình 15. Một số hình ảnh loài Khorata sp2 - Nghiên cứu nhện (araneae) trong hang động tại vườn quốc gia ba bể, bắc kạn
Hình 15. Một số hình ảnh loài Khorata sp2 (Trang 42)
Hình 16. Một số hình ảnh loài Spermophora sp1 - Nghiên cứu nhện (araneae) trong hang động tại vườn quốc gia ba bể, bắc kạn
Hình 16. Một số hình ảnh loài Spermophora sp1 (Trang 44)
Hình 17. Hình ảnh loài Telema sp1 (mặt lƣng) - Nghiên cứu nhện (araneae) trong hang động tại vườn quốc gia ba bể, bắc kạn
Hình 17. Hình ảnh loài Telema sp1 (mặt lƣng) (Trang 45)
Hình 18. Một số hình ảnh loài Telemidae sp2 - Nghiên cứu nhện (araneae) trong hang động tại vườn quốc gia ba bể, bắc kạn
Hình 18. Một số hình ảnh loài Telemidae sp2 (Trang 46)
Hình 19. Một số hình ảnh loài Latouchia sp1 - Nghiên cứu nhện (araneae) trong hang động tại vườn quốc gia ba bể, bắc kạn
Hình 19. Một số hình ảnh loài Latouchia sp1 (Trang 48)
Bảng 2: Số lượng và thành phần loài nhện thu được ở 3 vị trí khác nhau - Nghiên cứu nhện (araneae) trong hang động tại vườn quốc gia ba bể, bắc kạn
Bảng 2 Số lượng và thành phần loài nhện thu được ở 3 vị trí khác nhau (Trang 49)
Bảng 4: Số lƣợng và thành phần loài nhện thu đƣợc ở 3 vị trí khác - Nghiên cứu nhện (araneae) trong hang động tại vườn quốc gia ba bể, bắc kạn
Bảng 4 Số lƣợng và thành phần loài nhện thu đƣợc ở 3 vị trí khác (Trang 51)
Bảng 5. Số loài và số lượng cá thể nhện thu được trong hang Hua Mạ trước - Nghiên cứu nhện (araneae) trong hang động tại vườn quốc gia ba bể, bắc kạn
Bảng 5. Số loài và số lượng cá thể nhện thu được trong hang Hua Mạ trước (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w