TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN VÕ KIM THOA KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG MÁY ĐIỆN HÀNG HẢI TRONG NGHỀ LƯỚI KÉO Ở THỊ XÃ HÀ TIÊN TỈNH KIÊN GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH K
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN
VÕ KIM THOA
KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG MÁY ĐIỆN HÀNG HẢI TRONG NGHỀ LƯỚI KÉO
Ở THỊ XÃ HÀ TIÊN TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KHAI THÁC THỦY SẢN
2006
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 2TÓM TẮT
Đề tài “Khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo ở Thị xã Hà Tiên tỉnh Kiên Giang” đã được thực hiện từ tháng 01/2006 đến tháng 07/2006 nhằm đánh giá hiện trạng trang bị và sử dụng máy điện hàng hải của ngư dân để làm cơ sở đề ra giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng máy điện hàng hải nói riêng và hiệu quả khai thác nói chung Qua 66 phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp ngư dân cùng những thông tin thứ cấp được thu thập từ các cơ quan địa phương cho thấy tỷ lệ tàu hoạt động khai thác thủy sản ở Thị xã Hà Tiên có trang bị máy điện hàng hải đạt 89,7% Trong đó 100% tàu lưới kéo có công suất từ 90 CV trở lên đều trang bị máy hàng hải, đối với các tàu có công suất dưới 90 CV tỷ lệ này đạt 88,4% Các loại máy hàng hải được trang bị trên tàu chủ yếu là máy đàm thoại và máy định vị Hiệu máy đàm thoại được ngư dân ưa chuộng nhất là máy Super Star 2400 (47%) Đối với máy định vị, tất cả ngư dân đều chọn hiệu máy Furuno do Nhật Bản sản xuất để trang bị cho tàu với các model khác nhau, trong đó máy Furuno
GP 31 chiếm tỷ lệ cao nhất (51,5%) Đa số các loại máy hàng hải được mua mới từ các cửa hàng trong tỉnh, ngư dân tự lắp đặt Giá thành máy hàng hải có
sự chêch lệch cao (từ 4 – 25 triệu đồng/máy) Hầu hết ngư dân biết sử dụng máy do học hỏi qua đồng nghiệp Việc sử dụng các loại máy hàng hải có mang lại hiệu quả trong sản lượng, hành trình và liên lạc nhưng kết quả đạt được chưa cao, người dân chưa biết khai thác và ứng dụng hết các chức năng sẵn có của máy vào thực tế sản xuất do trình độ khoa học kỹ thuật của ngư dân còn hạn chế Cần có kế hoạch tập huấn cho ngư dân để sử dụng máy hàng hải đạt hiệu quả cao nhất
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm tạ i
Tóm tắt ii
Mục lục iii
Danh sách bảng v
Danh sách hình vi
Danh mục từ viết tắt vii
Chương 1: Giới thiệu 1
Chương 2: Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tình hình khai thác thủy sản 3
2.1.1 Khai thác thủy sản trên thế giới 3
2.1.2 Khai thác thủy sản ở Việt Nam 4
2.1.3 Khai thác thủy sản ở ĐBSCL và tỉnh Kiên Giang 5
2.2 Hiện trạng khai thác thủy sản ở Thị xã Hà Tiên 6
2.2.1 Điều kiện tự nhiên 6
2.2.2 Ngư trường và nguồn lợi 7
2.2.3 Cơ cấu ngành nghề khai thác thủy sản 8
2.2.4 Sản lượng thủy sản khai thác 9
2.3 Tính năng các loại máy hàng hải 11
2.3.1 Nguyên lý vận hành 11
2.3.2 Chức năng sử dụng các loại máy hàng hải 13
2.3.3 Đánh giá ưu, nhược điểm các loại máy hàng hải 14
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 16
3.1 Địa điểm nghiên cứu 16
3.2 Phương pháp nghiên cứu 16
3.2.1 Thông tin thứ cấp 16
3.2.2 Thông tin sơ cấp 16
3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 17
Chương 4: Kết quả và thảo luận 18
4.1 Hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo ở Thị xã Hà Tiên tỉnh Kiên Giang 18
4.1.1 Tỷ lệ phần trăm số tàu có sử dụng máy điện hàng hải 18
4.1.2 Các loại máy hàng hải đang được trang bị trong nghề lưới kéo 19
4.1.3 Những thông tin về vận hành và lắp đặt máy điện hàng hải 22
4.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng máy điện hàng hải 28
4.2.1 Hiệu quả sử dụng máy điện hàng hải 28
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 44.2.2 Những thuận lợi và khó khăn trong sử dụng máy điện hàng hải 34
4.3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng máy điện hàng hải 37
Chương 5: Kết luận và đề xuất 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Đề xuất 40
Tài liệu tham khảo 42
Phụ lục A 43
Phụ lục B 49
Phụ lục C 52
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 5DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Số tàu đóng mới qua các năm của tỉnh Kiên Giang 5
Bảng 2.2: Cơ cấu các nghề khai thác ở Thị xã Hà Tiên 8
Bảng 2.3: Thống kê số tàu thuyền, công suất, sản lượng thủy sản qua các năm của Thị xã Hà Tiên 9
Bảng 4.1: Tỷ lệ tàu có trang bị và không trang bị MĐHH 18
Bảng 4.2: Tỷ lệ phần trăm các hiệu máy được trang bị trên tàu 21
Bảng 4.3: Giá thành các loại máy điện hàng hải 28
Bảng 4.4: Mức độ cần thiết trang bị các loại máy hàng hải 29
Bảng 4.5: Hiệu quả sử dụng máy điện hàng hải 34
Bảng 4.6: Các trở ngại trong việc trang bị và sử dụng máy hàng hải 35
Bảng 4.7: Ý kiến đề xuất về việc trang bị máy điện hàng hải 36
Bảng 4.8: Các hình thức hướng dẫn sử dụng máy hàng hải 37
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 6DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình2.1: Bản đồ thị xã Hà Tiên 6
Hình 2.2: Sản lượng thủy sản khai thác của TXHT qua các năm 10
Hình 2.3: Máy Super Star 2400 11
Hình 2.4: Máy ICOM 707 12
Hình 2.5: Máy Furuno GP 31 13
Hình 4.1: Tàu lưới ghẹ tại khu du lịch Mũi Nai 19
Hình 4.2: Tỷ lệ tàu trang bị các loại máy điện hàng hải ở Thị xã Hà Tiên 20
Hình 4.3: Trình độ văn hoá của người sử dụng máy điện hàng hải 23
Hình 4.4: Lý do người dân biết sử dụng máy điện hàng hải 23
Hình 4.5: Nguồn gốc của hệ thống máy điện hàng hải 24
Hình 4.6: Nguồn gốc từng loại máy hàng hải 24
Hình 4.7: Hình thức lắp đặt hệ thống máy hàng hải 25
Hình 4.8: Cách lắp đặt các loại máy điện hàng hải 26
Hình 4.9: Thời gian lắp đặt máy điện hàng hải 27
Hình 4.10: Hiện trạng trang bị máy hàng hải của tàu công suất lớn 30
Hình 4.11: Hiện trạng trang bị máy hàng hải của tàu công suất nhỏ 30
Hình 4.12: Ngư trường khai thác thủy sản của tàu lưới kéo 31
Hình 4.13: Hiệu quả sử dụng máy điện hàng hải của tàu công suất lớn 32
Hình 4.14: Hiệu quả sử dụng máy điện hàng hải của tàu công suất nhỏ 32
Hình 4.15: Hiệu quả sử dụng máy hàng hải của tàu công suất lớn 33
Hình 4.16: Hiệu quả sử dụng máy hàng hải của tàu công suất nhỏ 33
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CCBVNLTS: Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
ĐTTG: Đàm thoại tầm gần ĐTTX: Đàm thoại tầm xa KTTS: Khai thác thủy sản MĐHH: Máy điện hàng hải N: Tổng số mẫu NLNN: Nông – Lâm – Ngư nghiệp NTTS: Nuôi trồng thủy sản
Std: Độ lệch chuẩn TB: Trung bình TXHT: Thị xã Hà Tiên
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Việt Nam là một quốc gia biển Vì vậy ngành thủy sản đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, trong đó ngành khai thác thủy sản (KTTS) giữ vai trò rất quan trọng Tỷ trọng GDP của ngành Thủy sản trong tổng GDP toàn quốc liên tục tăng, từ 2,9% (năm 1995) lên 3,4% (năm 2000) và đạt 3,93% vào năm 2003 (Thái Thanh Dương, 2004) Sản lượng thủy sản khai thác tăng liên tục, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân và xuất khẩu Năm 2005 sản lượng thủy sản đạt hơn 1,8 triệu tấn, tăng 4,4% so với năm 2004 và bằng 103,4% kế hoạch năm (Hoàng Thanh, 2005)
Để giữ vững và phát triển ngành khai thác thủy sản cần có lực lượng tàu thuyền cơ giới hóa nhiều về số lượng, tốt về chất lượng Đồng thời phải trang bị đầy đủ hệ thống máy móc trên tàu nhằm bảo đảm tàu hoạt động an toàn và hiệu quả Một trong những yếu tố góp phần đảm bảo tính an toàn cho tàu là hệ thống máy điện hàng hải (MĐHH)
Máy điện hàng hải bao gồm các loại máy móc có đầy đủ chức năng kỹ thuật đáp ứng nhu cầu định hướng, thông tin liên lạc, thăm dò ngư trường đối với người đi biển; chẳng hạn như máy đàm thoại, máy định vị, ra đa, máy dò cá… Việc trang bị máy điện hàng hải trên tàu hoạt động khai thác thủy sản
là rất cần thiết
Trên thế giới, nghề lưới kéo được sử dụng để khai thác các loài thủy sản từ cuối thế kỷ XVII Ngày nay, lưới kéo là một trong những ngư cụ quan trọng nhất trong cơ cấu nghề KTTS toàn cầu Lưới kéo có thể hoạt động đánh bắt
ở mọi vùng nước, tầng nước, đối tượng đánh bắt đa dạng và là nghề khai thác có hiệu quả cao nhất Ở Việt Nam, sản lượng thủy sản khai thác hàng năm của nghề lưới kéo chiếm khoảng 40% tổng sản lượng khai thác cá biển của cả nước Nghề khai thác thủy sản ở nước ta rất đa dạng và phong phú
về quy mô cũng như tên gọi Theo thống kê của Bộ Thủy Sản, có trên 20 loại nghề khác nhau, được xếp vào 6 họ nghề chủ yếu Trong đó số tàu hoạt động nghề lưới kéo chiếm khoảng 34,2% tổng số lượng tàu của cả nước (Thái Thanh Dương, 2004) Riêng tỉnh Kiên Giang, số tàu khai thác thủy sản bằng nghề lưới kéo chiếm khoảng 41,5% trong họ nghề lưới kéo cả nước (Vũ Đình Thắng và Nguyễn Viết Trung, 2005)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 9Hà Tiên là 1 thị xã ở phía Tây Bắc của tỉnh Kiên Giang, hai phía (Tây và Nam) giáp biển, có 22 km bờ biển và 15 hòn đảo lớn nhỏ, là vùng ven biển
có ngư trường khai thác rộng lớn Số tàu khai thác thủy sản của Thị xã Hà Tiên (TXHT) được xếp thứ ba toàn tỉnh, sau Thị xã Rạch Giá và huyện Phú Quốc (Sở Thủy sản, 2005) Số tàu hoạt động nghề lưới kéo ở Thị xã Hà Tiên chiếm tỷ lệ trên 70% tổng số tàu toàn Thị xã
Hầu hết các tàu lưới kéo đánh bắt trên ngư trường đều trang bị máy điện hàng hải, nhưng hiệu quả sử dụng các loại máy móc này chưa cao Người dân chỉ biết sử dụng một vài chức năng thông thường của máy, không biết điều chỉnh máy theo mục đích yêu cầu cần dùng Đa số ngư dân khai thác thủy sản dựa theo kinh nghiệm của bản thân là chủ yếu, rất hạn chế về kỹ thuật Hiệu quả sử dụng các loại máy hàng hải nhằm phục vụ cho việc khai thác thủy sản trên biển chưa tương xứng với chức năng vốn có của máy Cần có kế hoạch tập huấn cho người dân các kỹ thuật sử dụng máy hàng hải
để nâng cao hiệu quả sử dụng trong hoạt động khai thác thủy sản trên biển
Trước những khó khăn trên, đề tài "Khảo sát hiện trạng sử dụng máy
điện hàng hải trong nghề lưới kéo ở Thị xã Hà Tiên tỉnh Kiên Giang"
được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải của ngư dân Qua đó tổng kết lại những khó khăn thường gặp phải trong việc vận hành các loại máy điện hàng hải để có phương hướng khắc phục
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu nắm bắt được hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo ở Thị xã Hà Tiên tỉnh Kiên Giang để tìm
ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả khai thác
Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện đề tài “Khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo ở Thị xã Hà Tiên tỉnh Kiên Giang”, các nội dung nghiên cứu chủ yếu bao gồm:
(i) Khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải;
(ii) Đánh giá hiệu quả sử dụng máy điện hàng hải;
(iii) Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng máy điện hàng hải
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 10CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình Khai thác Thủy sản
2.1.1 Khai thác thủy sản trên thế giới
Trên thế giới nghề khai thác thủy sản đã phát triển từ rất lâu và mang lại hiệu quả kinh tế cao, đóng góp ngoại tệ đáng kể vào thu nhập của quốc gia Theo công bố của FAO, thời kỳ 1995 - 1997, tổng sản lượng thủy sản thế giới đạt bình quân mỗi năm là 119,4 triệu tấn Sản lượng thủy sản khai thác của thế giới đã tăng từ 17 triệu tấn/năm (1950) lên đến 81,7 triệu tấn/năm (1996) Khu vực Đông Nam Á và Nam Á là một trong những khu vực có nghề thủy sản lớn nhất thế giới Ở khu vực này có khoảng 10 triệu người tham gia làm nghề cá và mức tiêu thụ cá trên đầu người khá cao Bốn nước
có sản lượng thủy sản lớn nhất khu vực là Indonesia, Thái Lan, Philippin và Việt Nam Tôm, nhuyễn thể chân đầu (mực, bạch tuộc) là sản phẩm khai thác biển có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao (Vũ Đình Thắng và Nguyễn Viết Trung, 2005)
Nghề khai thác thủy sản không những góp phần thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển nhanh mà còn giải quyết vấn đề ổn định xã hội, tạo công ăn việc làm cho người dân Ở Philippin, nghề cá đóng góp 5% GDP và giải quyết việc làm cho 1 triệu lao động (Nguyễn Thị Hồng Vân, 2004) Nhờ đó mức sống của cộng đồng dân cư được nâng lên Bên cạnh đó nghề khai thác thủy sản phát triển quá nhanh làm cho nguồn tài nguyên thủy sản cạn kiệt
Ở Mỹ, vào năm 1936 – 1937 người ta khai thác cá mòi ở vùng biển California được ¾ triệu tấn, nhưng đến năm 1957 – 1958 sản lượng chỉ còn
17 tấn Năm 1970 số lượng cá thu vây xanh bị khai thác ở Úc, Nhật Bản và New Zealand là 200.000 con, đến nay loài cá này chỉ còn khoảng 30.000 con Các loài thủy sản khác như: cá kiếm, cá tầm, cá ngựa, cá hồi, tôm, cua, mực, bào ngư, hàu… cũng giảm sản lượng đáng kể (Nguyễn Thị Hồng Vân, 2004) Thêm vào đó các hoạt động khai thác mang tính hủy diệt như: dùng xung điện, chất độc, chất nổ… làm cạn kiệt nhanh chóng nguồn lợi thủy sản, môi trường sinh thái bị phá vỡ, khả năng tái tạo và phục hồi lại nguồn tài nguyên thủy sản là một vấn đề nan giải, đặc biệt là các quốc gia Đông Nam Á
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 112.1.2 Khai thác thủy sản ở Việt Nam
Năm 1986 nước ta chỉ có khoảng 31.680 tàu khai thác với tổng công suất 537.500 CV Đến năm 1997 tổng số tàu thuyền đã đạt 103.037 chiếc với tổng công suất 3.202.453 CV, trong đó số tàu đánh bắt xa bờ khoảng 6.000 chiếc với tổng công suất là 1.000.000 CV Trong số tàu thuyền có công suất dưới 90 CV thì loại tàu từ 45 CV trở xuống chiếm khoảng 85% số lượng Trong số tàu có công suất từ 45 CV đến 90 CV chỉ có khoảng 33% tổng số tàu có máy định vị, 21% có máy dò cá, 63% có máy bộ đàm, 12,5% có máy thông tin liên lạc tầm xa (Thái Thanh Dương, 2004) Phần lớn tàu thuyền thiếu phương tiện thông tin liên lạc, phao cứu sinh và phương tiện an toàn hàng hải nên chỉ có khả năng đánh bắt vùng gần bờ Năm 2005, Việt Nam
có 90.880 chiếc tàu thuyền với tổng công suất là 5.317.447 CV, tăng 23%
về số lượng và tăng 64% về công suất so với năm 2000
Theo thống kê của Bộ Thủy sản, tổng số lao động thủy sản khoảng 3,4 triệu người Lực lượng lao động chưa được đào tạo chiếm tỷ lệ lớn Trình độ văn hóa của ngư dân còn thấp: 68% chưa tốt nghiệp tiểu học, hơn 20% tốt nghiệp tiểu học, gần 10% có trình độ trung học cơ sở và 0,65% có bằng tốt nghiệp ở trường dạy nghề hoặc đại học Nghề khai thác thủy sản thu hút khoảng 530.000 lao động, trong đó có 80% hoạt động khai thác vùng gần
bờ (Vũ Đình Thắng và Nguyễn Viết Trung, 2005)
Năm 1990 tổng sản lượng thủy sản là 890.590 tấn, đến năm 2005 đã tăng lên 2.003.000 tấn, đạt mức tăng trưởng 15% (MOFI, 2001 Trích dẫn bởi Thái Thanh Dương, 2004) Sản lượng khai thác thủy hải sản năm 2005 đạt hơn 1,8 triệu tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2004 và bằng 103,4% kế hoạch năm Sáu tháng đầu năm 2006 ngành thủy sản đã khai thác được trên 1,2 triệu tấn thủy sản, trong đó khai thác tự nhiên đạt khoảng 750.000 tấn
và sản lượng thu được từ nuôi trồng là trên 512.000 tấn Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 972 triệu USD, tăng 3,98% so với cùng kỳ năm 2005 (Hoàng Thanh, 2005)
Ngành Thủy sản có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các ngành kinh tế khác Trong các hoạt động của ngành, KTTS giữ vị trí rất quan trọng Sản lượng thủy sản khai thác trong 10 năm gần đây tăng liên tục với tốc độ tăng bình quân hằng năm khoảng 7,7% (giai đoạn 1991 - 1995) và 10% (giai đoạn 1996 - 2003) Năm 2005, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 2,65 tỷ USD, bằng 106% chỉ tiêu kế hoạch do Ðại hội Ðảng lần thứ IX
đề ra, tăng 10,38% so với năm 2004, nâng tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả kỳ kế hoạch 5 năm (2001 – 2005) lên 11,068 tỷ USD, đạt tốc độ tăng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12trưởng bình quân 10,5%/năm, tăng 132,15% so với cùng kỳ kế hoạch 1996
- 2000 Sáu tháng đầu năm 2006, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 972 triệu USD, tăng 3,98% so với cùng kỳ năm 2005 (Thu Hương, 2005)
2.1.3 Khai thác thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Kiên Giang
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế rộng khoảng 360.000 km2 với 750 km chiều dài bờ biển, chiếm 23% chiều dài bờ biển cả nước, vùng thềm lục địa có thế mạnh về thủy hải sản, trữ lượng hải sản có khả năng cho phép khai thác hàng năm khoảng 630.000 tấn/năm, có 25 cửa luồng lạch thuận tiện cho tàu thuyền đánh cá Thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của vùng Tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác nội địa của các tỉnh ĐBSCL trong 3 năm 2001 –
2003 đạt 1.973.669 tấn Riêng năm 2003 sản lượng đạt 740.369 tấn, bằng 66,69% cả nước (Tử Văn, 2004) Toàn vùng ĐBSCL có 65.589 tàu thuyền đánh cá, tổng công suất trên 1,7 triệu mã lực Năm 2003 toàn vùng đã khai thác thủy sản đạt sản lượng trên 629.000 tấn, bằng 106,65% kế hoạch năm, chiếm 42,79% sản lượng khai thác cả nước Nuôi trồng thủy sản (NTTS) đạt trên 740.000 tấn, bằng 66,69% so với cả nước Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 1.280 triệu USD, bằng 57,14% giá trị xuất khẩu thủy sản cả nước (Bùi Quang Huy, 2004)
Kiên Giang là một tỉnh ven biển thuộc vùng ĐBSCL Đường bờ biển kéo dài khoảng 200 km, có ngư trường KTTS rộng 63.000 km2, tập trung khoảng 105 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có 43 đảo có dân cư sinh sống Tổng sản lượng thủy sản tỉnh Kiên Giang thời kỳ 2001 – 2005 đạt 1.522.314 tấn, trong đó khai thác 1.412.700 tấn So với thời kỳ 1996 – 2000, tổng sản lượng thủy sản tăng 421.818 tấn (tăng 38,3%), trong đó khai thác tăng 357.581 tấn (tăng 33,8%) Từ năm 2001 đến nay, tàu thuyền nghề cá tỉnh Kiên Giang phát triển nhanh cả về số lượng và công suất Mỗi năm có khoảng 150 - 200 chiếc tàu có công suất từ 300 – 400 CV được đóng mới tham gia vào sản xuất (Sở Thủy sản, 2005)
Bảng 2.1: Số tàu đóng mới qua các năm của tỉnh Kiên Giang
Nội dung 2000 2001 2002 2003 2004
Số tàu đóng mới (chiếc) 105 111 106 275 269 Công suất bình quân
354,2 343,2 378,9 360,5 348,8
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 13Tính đến ngày 31/12/2005 toàn tỉnh có 7.700 chiếc tàu với tổng công suất 1.170.446 CV, bình quân 150 CV/chiếc So với năm 2000, tổng công suất tàu thuyền tăng 521.453 CV, tăng 83,2% Đặc biệt loại tàu công suất lớn khai thác xa bờ từ 90 CV/chiếc trở lên ngày càng tăng, từ 25,9% năm 2000 lên 32,9% năm 2003, tăng thêm 669 chiếc (Sở Thủy sản, 2005) Ngành KTTS Kiên Giang đã và đang dẫn đầu cả nước về số lượng, công suất phương tiện và sản lượng đánh bắt (Phụ lục B.1)
2.2 Hiện trạng khai thác thủy sản ở Thị xã Hà Tiên 2.2.1 Điều kiện tự nhiên
TXHT có diện tích tự nhiên 88,51 km2, dân số 37.867 người, mật độ dân số
428 người/km2 Hà Tiên có 4 phường (Đông Hồ, Tô Châu, Bình San, Pháo Đài) và 3 xã (Thuận Yên, Mỹ Đức, Tiên Hải) Đặc biệt xã đảo Tiên Hải (quần đảo Hải Tặc) gồm 15 đảo lớn nhỏ là ngư trường đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản đầy tiềm năng
Vị trí địa lý: Hà Tiên là một thị xã ven biển, phía Bắc giáp Campuchia,
phía Đông giáp huyện Kiên Lương, phía Nam và phía Tây giáp biển Địa hình TXHT đa dạng, gồm: đồng bằng, núi và núi đá, hang động, biển, đầm, quần đảo…
Hình2.1: Bản đồ thị xã Hà Tiên (http://www.kitra.com.vn/hatotra/hatien.asp)
Khu vực nghiên cứu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14Khí hậu: TXHT nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo Nhiệt độ
trung bình khoảng 27o – 28oC Độ ẩm trung bình 81,9% Trong năm có 2 mùa mưa nắng rõ rệt Có 2 hướng gió chính: gió Tây Nam (từ tháng 3 đến tháng 9) – vụ cá Nam, gió Đông Bắc (từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau) –
vụ cá Bắc
Dông: Số ngày dông trung bình hàng năm 25 – 30 ngày, dông thường kèm
theo mưa và gió mạnh Vào các ngày này, tàu thuyền không ra khơi ảnh hưởng lớn đến sản lượng thủy sản khai thác
Triều cường: Biên độ triều cường đạt 1,1 m, biến thiên từ 0,5 - 1,0 m; biên
độ triều khi triều kém 0,2 - 0,5 m; mực nước triều cao hơn mặt đất tự nhiên 0,2 - 0,3 m (Phòng Nông – Lâm – Ngư nghiệp Thị xã Hà Tiên, 2005)
2.2.2 Ngư trường và nguồn lợi
Nguồn lợi thủy sản Việt Nam đa dạng và phong phú Nguồn lợi sinh vật biển có 11.000 loài, trong đó động vật nổi 468 loài, động vật đáy 6.377 loài, san hô cứng 298 loài, động vật chân đầu 53 loài Biển Việt Nam có trên 2.000 loài cá thuộc 717 giống, 178 họ, trong đó khoảng 130 loài cá có giá trị kinh tế, tôm biển có 225 loài, rong biển có 667 loài (V ũ Đình Thắng và Nguyễn Viết Trung, 2005) Trữ lượng cá biển trong toàn vùng biển khoảng 4,2 triệu tấn, trong đó sản lượng cho phép khai thác là 1,7 triệu tấn/năm, bao gồm 850.000 tấn cá đáy, 700.000 tấn cá nổi nhỏ, 120.000 tấn cá nổi đại dương Ngoài ra còn có nhiều nguồn lợi tự nhiên khác như trên 1.600 loài giáp xác, sản lượng cho phép khai thác 50 – 60 nghìn tấn/năm, khoảng 2.500 loài động vật thân mềm, cho phép khai thác 60 – 70 nghìn tấn/năm; hằng năm có thể khai thác từ 45 – 50 nghìn tấn rong biển Bên cạnh đó, còn rất nhiều loài đặc sản quí như bào ngư, đồi mồi, chim biển và có thể khai thác vây cá, bóng cá, ngọc trai, v.v (Thái Thanh Dương, 2004)
Ngư dân TXHT hoạt động KTTS tại vùng biển Tây Nam Bộ (vịnh Thái Lan) giới hạn từ vĩ độ 6o30’N – 10o30’N Đây là một vịnh kín, đáy hình lòng chảo, nơi sâu nhất không quá 80 m Nguồn lợi vùng biển Tây Nam Bộ
có khoảng 315 loài tôm cá thuộc 149 giống, 83 họ Riêng Kiên Giang đã xác định được 273 loài cá, 23 loài tôm và 23 loài mực Theo điều tra của Viện nghiên cứu biển Việt Nam thì trữ lượng tôm cá ở đây khoảng 464.660 tấn, khả năng khai thác cho phép bằng 44% trữ lượng (trên 200.000 tấn) Ngư dân Kiên Giang đánh bắt tôm cá quanh năm Vùng biển này có nhiều bãi cá lớn như: Bãi cá Tây Nam Phú Quốc có trữ lượng ước tính 37.000 tấn Bãi cá Tây Nam Bộ có diện tích 1.025 km2, trữ lượng ước tính 54.970 tấn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 15m, trữ lượng ước tính 1.056 tấn Bãi tôm Nam Du chiếm diện tích 10.925
km2, độ sâu đánh bắt 10 – 22 m, trữ lượng ước tính 3.960 tấn Bãi mực Tây Nam và Đông Nam Phú Quốc, trữ lượng ước tính: mực nang 3.700 tấn, mực ống 1.270 tấn Ngoài ra vùng biển Kiên Giang còn có nhiều loài đặc sản như đồi mồi, sò huyết, hải sâm, nghêu lụa, ngọc trai… (Huỳnh Văn Gành, 2002)
2.2.3 Cơ cấu ngành nghề khai thác thủy sản
Nghề nghiệp khai thác ở nước ta rất đa dạng phong phú về quy mô cũng như tên gọi Theo thống kê của Bộ Thủy sản, có trên 20 loại nghề khác nhau, được xếp vào 6 họ nghề chủ yếu, trong đó nghề lưới kéo chiếm khoảng 34,2%, nghề lưới vây chiếm 21,1%, nghề lưới rê chiếm 20,4%, nghề mành vó chiếm 5%, nghề câu 17,3%, các nghề khác chiếm 2% tổng số lượng tàu (Thái Thanh Dương, 2004) Tỉnh Kiên Giang có các nghề khai thác chủ yếu sau: lưới kéo, lưới rê, lưới vây, lưới hường, lưới thưng, lưới quàng, lưới ghẹ, lưới tôm, lưới kiến, lưới sĩ, lưới rùng, câu kiều, câu mực… Trong đó nghề lưới kéo chiếm tỷ lệ lớn (Phụ lục B.2) Cơ cấu nghề khai thác ở TXHT cũng khá đa dạng, gồm các nghề: lưới kéo, lưới rê, lưới thưng, lưới ghẹ, lưới sĩ, nghề câu…(CCBVNLTS, 2005)
Bảng 2.2: Cơ cấu các nghề khai thác ở Thị xã Hà Tiên
Tổng Nghề
Tàu có công suất dưới 90
CV (chiếc)
Tàu có công suất trên 90
CV (chiếc)
Số lượng (chiếc)
Công suất (CV)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 16công suất 24.552 CV Tổng sản lượng KTTS năm 2005 là 24.552 tấn, chiếm 6,2 – 6,4% so với toàn tỉnh Số lao động nghề cá của TXHT chiếm khoảng 6 – 9% tổng số lao động trong lĩnh vực thủy sản của tỉnh (Phòng NLNN TXHT, 2005) Ngoài ra, Thị xã có nhiều cơ sở sản xuất nước đá, cơ
sở sửa chữa tàu thuyền, dịch vụ hậu cần phục vụ ngành thủy sản
Bảng 2.3: Thống kê số tàu thuyền, công suất, sản lượng thủy sản qua các năm của Thị xã Hà Tiên
Năm Tổng số tàu thuyền
(chiếc)
Tổng công suất (CV)
Tổng sản lượng (tấn)
2.2.4 Sản lượng thủy sản khai thác
Ở nước ta nghề KTTS mang tính nhân dân rõ nét Nghề cá ở khu vực nhân dân chiếm 99% số lượng lao động và 99,5% sản lượng thủy sản khai thác (Vũ Đình Thắng và Nguyễn Viết Trung, 2005) Sản lượng thủy sản khai thác năm 2005 của tỉnh Kiên Giang khoảng 305.565 tấn, đạt 101,19% kế hoạch năm, tăng 3,41% so với cùng kỳ năm 2004 Tổng sản lượng thủy sản thời kỳ 2001 – 2003 là 862.407 tấn, trong đó khai thác 812.200 tấn và nuôi trồng 50.207 tấn Giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản 155 triệu USD Năm
2004, tổng sản lượng thủy sản là 321.382 tấn, trong đó khai thác 295.500 tấn và nuôi trồng là 25.882 tấn Giá trị kim ngạch xuất khẩu 82 triệu USD Năm 2005 tổng sản lượng thủy sản là 338.525 tấn, trong đó khai thác 305.565 tấn và nuôi trồng 32.960 tấn Giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản
là 100 triệu USD Như vậy thời kỳ 2001 – 2005, tổng sản lượng thủy sản đạt 1.522.314 tấn, trong đó khai thác 1.412.700 tấn và nuôi trồng 109.614 tấn Kim ngạch xuất khẩu 337 triệu USD So với thời kỳ 1996 – 2000, tổng sản lượng thủy sản tăng 421.818 tấn (tăng 38,3%), trong đó khai thác tăng 357.581 tấn (tăng 33,8%) và nuôi trồng tăng 64.237 tấn (tăng 141,5%) Giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng 184,899 triệu USD (tăng 121,56%) Riêng năm 2004 sản lượng khai thác bằng 100,17% so với kế hoạch, tăng 3,32%
so với cùng kỳ năm 2003, sản lượng nuôi trồng tăng 3,7% so với kế hoạch, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm trước Kim ngạch xuất khẩu bằng 91,1% so
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17xuất khẩu tăng 21,9% so với năm 2004 Nhờ năng lực phương tiện tăng lên nên sản lượng khai thác ổn định Năm 2000, sản lượng hải sản các loại đạt 239.219 tấn, trong đó có 21.530 tấn tôm và 17.846 tấn mực; đến năm 2003 đạt 286.000 tấn, trong đó có 26.050 tấn tôm và 23.000 tấn mực Bình quân mỗi năm tốc độ sản lượng khai thác tăng 6,15%, trong đó tôm tăng 6,55%
và mực tăng 8,8%
Sản lượng thủy sản khai thác của TXHT tăng liên tục qua các năm Năm
2000, tổng sản lượng thủy sản của Thị xã là 15.830 tấn Đến năm 2005 sản lượng đã lên đến 24.552 tấn, đạt và vượt chỉ tiêu đề ra (Bảng 2.3 và Hình 2.2) Các loài thủy hải sản đánh bắt chủ yếu gồm: tôm, cá, mực, ghẹ…
15.830 16.903 17.494 18.485
20.449
24.552
0.0005.00010.00015.00020.00025.00030.000
2000 2001 2002 2003 2004 2005 Năm
Sản lượng (tấn)
Hình 2.2: Sản lượng thủy sản khai thác của TXHT qua các năm Đối với các tàu có công suất dưới 90 CV, sản phẩm khai thác chủ yếu là tôm gậy (khoảng 21% tổng sản lượng) Các tàu có công suất trên 90 CV thì sản phẩm khai thác chủ yếu là các loài cá (khoảng 61% tổng sản lượng)
Thực hiện chủ trương khuyến khích khai thác xa bờ, nghề cá Kiên Giang đã đóng mới được nhiều phương tiện có công suất lớn, trang bị khá đầy đủ các loại máy điện hàng hải nhằm đáp ứng nhu cầu KTTS ngoài biển khơi Trước năm 1992, ngư trường khai thác của tàu thuyền ngư dân tỉnh Kiên Giang chủ yếu là vùng vịnh Thái Lan (từ 50 m nước trở vào) Từ năm 1993 đến nay, ngư trường khai thác đã mở rộng sang vùng biển phía Đông Bình quân hàng năm có khoảng trên 400 tàu cá công suất lớn khai thác xa bờ đi khai thác trên ngư trường biển Đông
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18Ở Hà Tiên, tàu lưới kéo công suất nhỏ chiếm tỉ lệ cao (khoảng 90%) Do
đó, ngư trường khai thác của ngư dân chủ yếu là vùng ven bờ, độ sâu khoảng 10 – 25 m Đối với các tàu có công suất lớn thì ngư trường được mở rộng hơn, có thể đánh bắt ở độ sâu 30 – 50 m Vì đánh bắt ở vùng ven bờ là chủ yếu nên ngư dân chỉ trang bị máy đàm thoại tầm gần, máy định vị Các loại MĐHH khác như: máy đàm thoại tầm xa, máy dò cá, ra đa… không được người dân chú trọng
2.3 Tính năng các loại máy hàng hải 2.3.1 Nguyên lý vận hành
Các loại máy hàng hải vận hành theo nguyên tắc dựa vào sóng điện từ Máy điện hàng hải hoạt động nhờ nguồn điện một chiều của bình acquy
Đối với máy đàm thoại tầm gần đa số ngư dân chọn máy hiệu Super Star
2400 để trang bị cho tàu lưới kéo, có 47% tổng số tàu điều tra được ngư dân trang bị hiệu máy Super Star 2400
Giới thiệu máy đàm thoại tầm gần Super Star 2400
Dãy tần số phát: 26.065 – 28.755 Mhz, chia làm 6 băng A, B, C, D, E, F
40 kênh/băng, mỗi kênh cách nhau 10 Khz
Phương thức điều chế: AM, FM, USB, LSB, CW Hình 2.3: Máy Super Star 2400 Công suất phát sóng USB, LSB, CW mức thấp nhất 2 W, trung bình 8 W, cao nhất 12 W
Ưu điểm của máy: chất lượng âm thanh tốt, giá thành phù hợp với khả năng tài chính, dễ sử dụng các chức năng thông thường, thao tác đơn giản, máy
sử dụng nguồn điện một chiều
Nhược điểm: Thời tiết xấu nghe không rõ, dễ cháy cầu chì, thường hư bộ phận thu phát
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 19Khi KTTS xa bờ (từ độ sâu 30 m nước trở ra) ngư dân TXHT trang bị thêm máy đàm thoại tầm xa trên tàu, nhưng số lượng tàu được trang bị loại máy này rất hạn chế Thông thường, ngư dân chọn máy hiệu ICOM 707 do Nhật Bản sản xuất
Giới thiệu máy đàm thoại tầm xa ICOM 707
Nước sản xuất: Nhật Bản Dải tần số phát nhỏ nhất từ 18.000 – 19.999 Mhz Dải tần số phát lớn nhất từ 28.000 – 297.000 Mhz
Dải tần số thu từ 500 – 30 Khz Các phương thức điều chế: USB, LSB,
CW, AM, FM
Số băng: 20 Nhiệt độ chịu đựng: từ -10o C đến 60o C Hình 2.4: Máy ICOM 707 Trở kháng lối ra anten: 50 Ω
Công suất phát ra loa USB, LSB, CW: (5 – 100) W, AM: (5 – 25) W Trở kháng lối vào micro: 600 Ω Nguồn điện: 13,8 VDC
Cầu chì 20 A Dòng tiêu thụ 1,3 A
Ưu điểm của máy: dải tần số thu phát rộng, thu được tần số của các đài Radio để nghe thông tin dự báo thời tiết, chất lượng âm thanh tốt, liên lạc từ tàu về đất liền dễ dàng, có thể kết nối để liên lạc với đất liền bằng điện thoại khi gọi các đài có tần số trực canh (thường gọi Cần Thơ Radio), máy sử dụng nguồn điện một chiều ổn định Khi cần liên lạc từ tàu về đất liền mà máy đàm thoại ở nhà bị tắt thì thuyền trưởng có thể gọi các đài có tần số trực canh để kết nối với điện thoại tại nhà Hoặc trường hợp gặp sự cố trên biển, thuyền trưởng gọi các đài để yêu cầu được giúp đỡ (Phụ lục B.4)
Nhược điểm: giá thành của máy khá cao (khoảng 12 – 15 triệu đồng/máy), các chức năng của máy khó sử dụng, đòi hỏi phải có trình độ khoa học kỹ thuật mà trình độ hiểu biết của ngư dân lại rất hạn chế
Giới thiệu máy định vị Furuno GP 31
Máy Furuno GP 31 là một máy định vị đời mới được sản xuất tại Nhật Máy có độ bền cao
Màn hình có 5 kiểu hiển thị (Floter Display – Kiểu lưu vết đường đi, Highway Display – Kiểu xa lộ (giúp lái tàu dễ dàng), Steering Display –
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20Kiểu chỉ hướng la bàn, Nav Data Display – Kiểu báo vị trí, User Display – Kiểu màn hình do người sử dụng soạn thảo)
Bộ nhớ có 950 điểm
Vẽ lại vết đường đi của tàu Chức năng báo động:
Báo động điểm đến / trôi neo;
Báo động lệch đường đi;
Báo động tốc độ chạy tàu;
Báo động thời gian
Điện áp nguồn từ 10,2 – 31,2 VDC Tiêu thụ điện năng thấp (khoảng 3 W)
Hình 2.5: Máy Furuno GP 31
Ưu điểm của máy: độ chính xác cao, các thao tác sử dụng máy đơn giản, giá thành phù hợp với khả năng tài chính Máy có trọng lượng nhẹ (khoảng 0,6 kg), dễ lắp đặt, máy sử dụng nguồn điện một chiều, công suất tiêu thụ điện năng thấp (khoảng 3 W), máy có bộ nhớ điểm lớn (950 điểm) Đặc biệt máy định vị này rất phù hợp với nghề lưới kéo, ngư dân sử dụng máy trong quá trình đánh bắt đạt hiệu quả khai thác cao
Nhược điểm: cầu chì dễ bị rỉ, vỏ bọc cách điện nhanh bị hư hỏng
Máy dò cá: Máy dò cá hoạt động nhờ vào sóng siêu âm có tần số dao động
từ 16 Khz đến 10 Mhz Trong không khí, vận tốc sóng siêu âm khoảng 330 m/s Trong nước biển, vận tốc sóng siêu âm khoảng 1.500 m/s Nhiệt độ và
độ mặn của nước biển ảnh hưởng đến vận tốc truyền sóng siêu âm Khi sóng siêu âm gặp cá ở trong nước thì một phần năng lượng bị phản xạ trở
lại ngay khi tiếp xúc với thân cá (Trần Tiến Phức, 2004)
Ra đa: Ra đa là thiết bị dùng sóng vô tuyến để thăm dò, xác định hướng, vị
trí hay sự chuyển động của mục tiêu so với nơi lắp đặt, phát hiện và xử lý các mục tiêu trên biển ở khoảng cách xa hơn so với mắt thường khi tầm nhìn bị hạn chế như mưa, sương mù, đêm tối…(Trần Tiến Phức, 2004)
2.3.2 Chức năng sử dụng các loại máy hàng hải Máy đàm thoại: Máy đàm thoại có chức năng thu nhận tình hình thời tiết,
thông tin liên lạc giữa các tàu với nhau hay đàm thoại từ tàu về đất liền Ngoài ra, máy đàm thoại còn cung cấp thông tin về cứu hộ, cứu nạn…(Trần Tiến Phức, 2004) Trên tàu đánh cá ở Việt Nam hiện nay, các loại máy đàm
thoại đang dùng được chia làm 2 loại chính
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 21Máy tầm gần, công suất nhỏ, tần số dải CB (25 Mhz – 30 Mhz) như: ONWA, SUPER STAR, ARGO 300, GALAXY, FUICOM DSB-180… Tầm xa liên lạc trong điều kiện thời tiết bình thường có thể đạt tới 70 – 80 hải lý Trong nghề cá Việt Nam hiện nay ngư dân trong cả nước đang sử dụng ngày càng phổ biến các loại máy đàm thoại công suất nhỏ
Máy tầm xa, công suất lớn, dải tần MF và HF (1,6 Mhz – 30 Mhz) như: ICOM 707, ICOM 77, ICOM 78, ICOM 710, ICOM 718, FURUNO-FS 1503… Các tàu hoạt động trên vùng biển Đông, vịnh Thái Lan, vịnh Bắc
Bộ có thể liên lạc với nhau và gọi về đất liền qua hệ thống thông tin điện tử hàng hải: Móng Cái Radio, Cửa Ông Radio, Hòn Gai Radio, Hải Phòng Radio, Bến Thủy Radio… hoặc bưu điện các tỉnh có tần số trực canh
Máy định vị: Máy định vị có chức năng xác định vị trí tàu, nhớ các điểm
quan trọng, lưu vết đường đi lúc kéo lưới để xem xét cho mẻ lưới về sau, đi
về theo con đường tối ưu nhất Tại Việt Nam, các máy định vị được triển
khai cho ngư dân vào khoảng 1992 (Trần Tiến Phức, 2004)
Máy dò cá: Máy dò cá là một thiết bị điện tử dùng tín hiệu phát và nhận
sóng bị dội lại khi gặp phải vật cản từ dưới mặt nước để ghi thành ảnh động biểu đồ trên màn hình của máy, phản ảnh được tất cả những vật dưới biển trong phạm vi quét sóng Máy dò cá được phân thành 2 loại: máy dò đứng
và máy dò ngang (Trần Tiến Phức, 2004)
Ngoài ra, máy dò cá kết hợp định vị cũng được ngư dân chọn để trang bị cho tàu đánh cá của mình, chủ yếu là các tàu có công suất lớn, đánh bắt xa
bờ Các loại máy ngư dân thường chọn: Fuso, ONWA 686…
Ra đa: Ra đa xác định được khoảng cách góc mạn, vận tốc và hướng
chuyển động của mục tiêu Ra đa giúp cho tàu khi hành trình trên biển có thể xác định được vị trí của tàu mình so với các mục tiêu khác, quan sát và phòng tránh các nguy cơ va chạm có thể xảy ra Ở Việt Nam, ngư dân dùng
ra đa chủ yếu là để kiểm soát ngư cụ của mình Các tàu lưới kéo sử dụng ra
đa để xem xét vùng ngư trường đang hay sẽ thả lưới (Trần Tiến Phức,
2004)
2.3.3 Đánh giá ưu, nhược điểm các loại máy hàng hải
Các loại máy hàng hải vận hành rất phức tạp khi sử dụng đúng và đầy đủ tất
cả các chức năng vốn có của máy Tuy nhiên, ngư dân chỉ quan tâm đến các chức năng thông thường, dễ sử dụng nên các thao tác vận hành máy trở nên đơn giản hơn Giá thành các loại máy điện hàng hải khá cao so với khả năng tài chính của người dân Thông thường, ngư dân chỉ trang bị trên tàu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22đánh cá của mình máy đàm thoại tầm gần và máy định vị vì họ cho rằng chỉ như thế cũng đủ điều kiện để hoạt động khai thác trên biển Hơn nữa, giá thành của 2 loại máy này tương đối rẻ (máy đàm thoại tầm gần 3 – 5 triệu đồng/máy, máy định vị 4 – 6 triệu đồng/máy), phù hợp với khả năng của người dân Ngoài ra, cách lắp đặt máy tương đối đơn giản, ngư dân có thể
tự lắp đặt theo sự hướng dẫn của người bán hàng hoặc học hỏi qua các đồng nghiệp Máy đàm thoại tầm xa, máy dò cá, ra đa… giá thành khá cao (khoảng 12 – 30 triệu đồng/máy) Đây là các sản phẩm công nghệ cao nên thao tác vận hành máy phức tạp Cách lắp đặt các loại máy này cũng đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật nhất định Điều quan trọng nhất là do trình độ của người dân còn hạn chế, sử dụng máy không có hiệu quả hoặc cho dù có trang bị máy trên tàu cũng không thể sử dụng được
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại Thị xã Hà Tiên tỉnh Kiên Giang
3.2 Phương pháp nghiên cứu 3.2.1 Thông tin thứ cấp
v Các nội dung thông tin thứ cấp cần thu thập
Điều kiện tự nhiên Đặc điểm kinh tế xã hội Tình hình phát triển khai thác thủy sản
Hiện trạng trang bị máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo…
v Phương pháp nghiên cứu: Các thông tin thứ cấp được thu thập từ các
nghiên cứu, báo cáo của các cơ quan địa phương, sách, tạp chí, website
3.2.2 Thông tin sơ cấp
v Nội dung
- Thông tin chung
Họ và tên Địa chỉ Trình độ văn hóa Trình độ chuyên môn Chức vụ trên tàu Loại tàu
Loại nghề Thời gian hành nghề
Số tàu Các thông số cơ bản của tàu Ngư trường
- Thông tin về các loại trang thiết bị điện hàng hải trên tàu
Thông tin về người sử dụng máy Thông tin về các loại máy
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24- Thông tin về từng loại máy
Mục đích trang bị Hiệu quả sử dụng Mức độ cần thiết Mức độ hài lòng
- Nhận thức của ngư dân về nhu cầu sử dụng máy điện hàng hải
Thuận lợi Khó khăn Mong muốn Hướng khắc phục
v Phương pháp nghiên cứu:
Thông tin sơ cấp được phỏng vấn trực tiếp người sử dụng máy điện hàng hải theo bảng câu hỏi soạn sẵn (Phụ lục A)
v Số mẫu phỏng vấn
Do điều kiện về nhân lực, thời gian và kinh phí nên đề tài chỉ được tiến hành khảo sát theo 2 cỡ công suất tàu: loại tàu có công suất nhỏ hơn 90 CV; loại tàu có công suất lớn hơn 90 CV
- Loại tàu có công suất nhỏ hơn 90 CV: ít nhất 33 mẫu;
- Loại tàu có công suất lớn hơn 90 CV: ít nhất 33 mẫu
3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Các số liệu sẽ được tính toán theo tầng suất xuất hiện, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn Phần mềm Excel được sử dụng để xử lý số liệu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 25CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo ở Thị xã
Hà Tiên tỉnh Kiên Giang 4.1.1 Tỷ lệ phần trăm số tàu có sử dụng máy điện hàng hải
Theo số liệu thống kê của Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản Kiên Giang, tổng số tàu của Thị xã Hà Tiên tính đến ngày 31/12/2005 là 1.022 chiếc được xếp thứ ba toàn tỉnh, sau Thị xã Rạch Giá và huyện Phú Quốc, chiếm
tỷ lệ 13,3% tổng số tàu toàn tỉnh (CCBVNLTS, 2005) Thị xã Hà Tiên có
917 tàu trang bị máy điện hàng hải, chiếm tỷ lệ 89,7%; số tàu không trang
bị máy điện hàng hải là 105 chiếc, chiếm tỷ lệ 10,3% Trong đó loại tàu có công suất từ 90 CV trở lên chiếm số lượng 115 chiếc và 100% tàu đều trang
bị máy điện hàng hải Loại tàu công suất dưới 90 CV có 907 chiếc, số tàu
có trang bị máy điện hàng hải là 802 chiếc, đạt tỷ lệ 88,4% Số tàu công suất nhỏ không trang bị máy hàng hải là 105 chiếc, chiếm 11,6% (Bảng 4.1) Ta thấy tỷ lệ tàu có trang bị máy điện hàng hải chiếm tỷ lệ lớn, như vậy ngư dân đã nhận thức được tầm quan trọng của việc trang bị MĐHH đối với nghề khai thác thủy sản trên biển Đặc biệt các tàu có công suất lớn càng được người dân chú trọng đến việc trang bị máy hàng hải trên tàu đầy
đủ hơn so với tàu công suất nhỏ Các tàu hoạt động trên biển thường được người dân chọn máy đàm thoại tầm gần và máy định vị để trang bị cho tàu
do các loại máy này dễ sử dụng các chức năng thông thường, giá cả rẻ, phù hợp với khả năng tài chính của người dân
Bảng 4.1: Tỷ lệ tàu có trang bị và không trang bị MĐHH
Có trang bị MĐHH Không trang bị MĐHH
Số tàu Số lượng
(chiếc) Tỷ lệ (%)
Số lượng (chiếc) Tỷ lệ (%) Tổng số tàu 1.022 917 89,7 105 10,3 Trong đó
Tàu > 90 CV Tàu < 90 CV
0
105
0 11,6
Tuy nhiên các tàu có công suất nhỏ, hoạt động khai thác ven bờ, nhất là ở các khu du lịch Mũi Nai (Hình 4.1), Hòn Phụ Tử… không trang bị máy điện hàng hải vì đa số là tàu nhỏ, bà con ngư dân thuộc dạng hộ nghèo, không có tiền mua sắm máy móc trang thiết bị phục vụ cho hoạt động khai thác thủy sản Nghề khai thác chủ yếu tại những khu vực này là nghề lưới
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 26ghẹ, sản phẩm đa phần cung cấp cho khách du lịch Ngoài ra, số ít tàu làm nghề cào ven bờ cũng không trang bị máy điện hàng hải Với tỷ lệ 89,7% tàu hoạt động khai thác thủy sản (năm 2005) ở TXHT có trang bị máy điện hàng hải so với tỷ lệ chung của cả nước năm 1997 là 63% (Thái Thanh Dương, 2004) cho thấy rằng lực lượng tàu thuyền của nước ta ngày càng hoàn thiện, cơ giới hóa cao Như vậy, số tàu KTTS được trang bị máy điện hàng hải ngày càng nhiều Nhân dân nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích của việc trang bị MĐHH trên tàu Tỷ lệ tàu được trang bị máy hàng hải gia tăng hơn trước
Hình 4.1: Tàu lưới ghẹ tại khu du lịch Mũi Nai
4.1.2 Các loại máy hàng hải đang được trang bị trong nghề lưới kéo
Qua kết quả điều tra được thể hiện ở Hình 4.2 cho thấy có 100% tàu hoạt động nghề lưới kéo ở Thị xã Hà Tiên trang bị máy đàm thoại tầm gần và máy định vị Có 12% tổng số tàu điều tra trang bị máy đàm thoại tầm xa Ở
Hà Tiên, tàu được trang bị máy dò cá rất hiếm, chỉ có 5% số tàu được điều tra có máy dò cá Đặc biệt không có tàu nào trang bị ra đa Ta thấy tỷ lệ các loại máy hàng hải được trang bị rất khác nhau Máy đàm thoại tầm gần và máy định vị được các tàu lưới kéo trang bị đầy đủ, còn máy đàm thoại tầm
xa và máy dò cá có tỷ lệ trang bị rất thấp So với tỷ lệ trang bị máy hàng hải trên tàu lưới kéo xa bờ tỉnh Cà Mau năm 2003, có 100% ngư dân trang bị máy đàm thoại, định vị và máy dò cá (Nguyễn Quốc Khánh, 2003) thì tỷ lệ trang bị máy hàng hải trong nghề lưới kéo của ngư dân Thị xã Hà Tiên còn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 27Người dân thường chọn máy đàm thoại tầm gần và máy định vị để trang bị cho tàu khai thác thủy sản do các loại máy này dễ sử dụng các chức năng thông thường, giá thành phù hợp với khả năng tài chính của người dân (khoảng 3 – 6 triệu đồng/máy) Đối với máy đàm thoại tầm xa và máy dò cá thì giá cả của chúng khá cao (khoảng 12 – 30 triệu đồng/máy) nên ngư dân
ít trang bị các loại máy này Hơn nữa, đây là các sản phẩm công nghệ cao nên thao tác vận hành máy khá phức tạp Cách lắp đặt các loại máy này cũng đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật nhất định Điều quan trọng nhất là do trình độ của người dân còn hạn chế, sử dụng máy không có hiệu quả hoặc cho dù có trang bị máy trên tàu cũng không thể sử dụng được Hầu hết ngư dân KTTS ở Thị xã Hà Tiên đều không trang bị ra đa trên tàu lưới kéo vì họ cho rằng ra đa không cần thiết, kỹ thuật sử dụng quá phức tạp, giá thành cao, không mang lại hiệu quả kinh tế
Hình 4.2: Tỷ lệ tàu trang bị các loại máy điện hàng hải ở Thị xã Hà Tiên
Theo Bảng 4.2 cho thấy đối với máy đàm thoại tầm gần có 47% tổng số tàu điều tra chọn hiệu máy Super Star 2400, 34,8% chọn hiệu máy Galaxy, 18,2% chọn hiệu máy Onwa trang bị trên tàu Đa số ngư dân chọn hiệu máy Super Star 2400 trang bị cho tàu đánh cá vì máy có những ưu điểm: chất lượng âm thanh tốt, giá thành phù hợp với khả năng tài chính, dễ sử dụng các chức năng thông thường, thao tác đơn giản, máy sử dụng nguồn điện một chiều ổn định
Tuy nhiên, do trình độ hiểu biết của người dân về kỹ thuật sử dụng máy còn hạn chế (thường bóp micro phát hơn 1 phút, sử dụng máy trong lúc đang
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 28sạc bình, không có cầu chì bảo vệ máy) nên tuổi thọ của máy giảm, thường xảy ra các hư hỏng Máy Galaxy có nhược điểm thường phát ra tiếng ồn, nghe không rõ, bộ phận thu phát dễ bị hư Theo nhận định của ngư dân thì máy hiệu Onwa bắt sóng yếu, cầu chì dễ bị cháy do chập mạch
Bảng 4.2: Tỷ lệ phần trăm các hiệu máy được trang bị trên tàu
Loại máy Hiệu máy Tỷ lệ (%)
để nghe thông tin dự báo thời tiết, chất lượng âm thanh tốt, liên lạc từ tàu về đất liền dễ dàng, có thể kết nối để liên lạc với đất liền bằng điện thoại khi gọi các đài có tần số trực canh (thường gọi Cần Thơ Radio), máy sử dụng nguồn điện một chiều ổn định Tuy nhiên, giá thành của máy khá cao, ngư dân không biết sử dụng hết các chức năng của máy vì trình độ hiểu biết về khoa học công nghệ còn hạn chế Do đó số lượng tàu thuyền trang bị máy đàm thoại tầm xa rất ít (12%)
Về máy định vị, hiệu máy Furuno GP 30 chiếm tỷ lệ 25,8%, Furuno GP 31 chiếm 51,5%, Furuno GP 32 chiếm 20% và máy hiệu khác chiếm 3% tổng
số tàu được điều tra Đa số ngư dân chọn máy định vị hiệu Furuno GP 31 để trang bị cho tàu đánh cá vì máy có nhiều ưu điểm: độ chính xác cao, các thao tác sử dụng máy đơn giản, ngư dân quen sử dụng loại máy này, giá thành phù hợp với khả năng tài chính của người dân Ngoài ra, máy có trọng lượng nhẹ (khoảng 0,6 kg), dễ lắp đặt, máy sử dụng nguồn điện một chiều, công suất tiêu thụ điện năng thấp (khoảng 3 W), máy có bộ nhớ điểm lớn (950 điểm) Đặc biệt máy định vị này rất phù hợp với nghề lưới kéo,
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 29Tuy nhiên, máy định vị cũng có nhiều nhược điểm mà ngư dân chưa khắc phục được: cầu chì dễ bị rỉ, vỏ bọc cách điện nhanh bị hư hỏng
Riêng máy dò cá, hiệu máy Onwa 686 chiếm tỷ lệ 3%, hiệu máy Fuso chiếm 1,5% tổng số tàu điều tra Đây không phải là máy dò cá độc lập mà
là loại máy dò cá kết hợp định vị Ưu điểm của máy: tiện lợi, gọn nhẹ, có thể định vị độc lập, đo sâu độc lập hoặc kết hợp cả 2 chức năng cùng lúc Tuy nhiên giá thành của máy cao, kỹ thuật sử dụng phức tạp, đòi hỏi người vận hành máy phải có trình độ khoa học kỹ thuật nhất định nên không phù hợp với trình độ của ngư dân
Như vậy, đối với nghề lưới kéo ở Thị xã Hà Tiên có 100% ngư dân trang bị máy điện hàng hải trên tàu So với tỷ lệ trang bị máy điện hàng hải chung của cả nước năm 1997 là 63% (Thái Thanh Dương, 2004) thì tỷ lệ này cao hơn nhiều Điều này cho thấy rằng ngư dân ngày càng ý thức được tầm quan trọng của việc trang bị máy hàng hải trên tàu nhằm đảm bảo tính an toàn trên biển và đạt hiệu quả khai thác cao hơn Thế nhưng tỷ lệ tàu được trang bị máy đàm thoại tầm xa và máy dò cá thấp hơn so với các tàu lưới kéo xa bờ tỉnh Kiên Giang, tỷ lệ tàu có trang bị các loại máy này ở tàu lưới kéo xa bờ tỉnh Kiên Giang đạt 100% (Đỗ Đình Minh, 2003)
4.1.3 Những thông tin về vận hành và lắp đặt máy điện hàng hải Người sử dụng máy điện hàng hải
Theo kết quả điều tra được thể hiện ở Hình 4.3 cho thấy trình độ văn hoá của người vận hành máy điện hàng hải cấp 1 là 35%, trình độ văn hoá cấp 2
có 56%, trình độ văn hoá cấp 3 đạt tỷ lệ 9% Ta thấy trình độ văn hoá của ngư dân có sự chênh lệch lớn, hầu hết chỉ tập trung vào cấp 1 và cấp 2 (Hình 4.3)
Đa số ngư dân không quan tâm đến việc học tập, nâng cao trình độ văn hoá
vì suy nghĩ của họ còn hạn chế Hầu hết người dân chỉ quan tâm đến kinh nghiệm thực tế của bản thân, không biết ứng dụng các thành tựu khoa học
kỹ thuật vào hoạt động sản xuất So với trình độ văn hoá của lực lượng lao động thủy sản cả nước thì trình độ của ngư dân Thị xã Hà Tiên có tiến bộ hơn Trình độ văn hóa chung của ngư dân cả nước: 68% chưa tốt nghiệp tiểu học, hơn 20% tốt nghiệp tiểu học, gần 10% có trình độ trung học cơ sở (Vũ Đình Thắng và Nguyễn Viết Trung, 2005) Điều này phản ánh trình độ văn hoá của ngư dân ngày càng nâng cao
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 30Hình 4.3: Trình độ văn hoá của người sử dụng máy điện hàng hải
Nguyên nhân biết sử dụng máy điện hàng hải
Qua Hình 4.4 cho thấy rằng hầu hết người dân biết sử dụng máy điện hàng hải là do học hỏi được từ bạn bè, đồng nghiệp Tỷ lệ này đạt 100% Có 39% tổng số người được điều tra biết sử dụng MĐHH do người bán máy hướng dẫn Số người biết sử dụng máy do tự học các tài liệu hướng dẫn, catalogue kèm theo máy đạt tỷ lệ 62% Tỷ lệ người dân biết sử dụng máy nhờ tham
dự lớp tập huấn hướng dẫn sử dụng MĐHH là 0% Ta thấy ngư dân không
có điều kiện nâng cao tay nghề, kỹ thuật sử dụng các loại máy hàng hải vì
họ không được tham dự lớp tập huấn do các lớp tập huấn này rất ít được tổ chức, hoặc tổ chức không thích hợp với thời gian nhàn rỗi của người dân
Tự học tài liệu Người bán hướng
dẫn
Tỷ lệ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 31Nguồn gốc máy
Nguồn gốc các loại máy hàng hải được trang bị trên tàu đa số là do ngư dân mua mới từ các cửa hàng trong tỉnh, có 86% tổng số máy được mua mới trong tỉnh Số máy được mua mới ngoài tỉnh và mua máy cũ rất ít, chỉ có 5% tổng số máy có nguồn gốc mua từ các tỉnh ngoài và số máy được mua
Hình 4.6: Nguồn gốc từng loại máy hàng hải
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 32Kết quả phân tích được thể hiện ở Hình 4.6 cho thấy đối với máy đàm thoại tầm gần, có 86% tổng số máy được mua mới từ các cửa hàng trong tỉnh, 3% tổng số máy mua ngoài tỉnh và 11% tổng số máy mua từ máy cũ đã qua sử dụng Các loại máy đàm thoại ngư dân sử dụng chủ yếu do Nhật Bản và Đài Loan sản xuất Đối với máy định vị, có 83% tổng số máy được mua mới từ các cửa hàng trong tỉnh, 5% tổng số máy mua ngoài tỉnh và 12% tổng số máy mua từ máy cũ Máy đàm thoại tầm xa và máy dò cá tuy có tỷ lệ trang
bị ít (máy đàm thoại tầm xa 12%, máy dò cá 5%) nhưng tất cả các máy này đều được mua mới từ các cửa hàng bán thiết bị hàng hải trong tỉnh, không
có máy nào mua ngoài tỉnh hoặc mua lại máy cũ Sở dĩ như vậy là vì các loại máy này có giá thành cao, khó sử dụng, ngư dân mua trong tỉnh để thuận tiện cho việc lắp đặt và học hỏi kinh nghiệm sử dụng máy từ người bán hàng Ngoài ra, ngư dân cũng không mua máy cũ vì các máy này có giá thành cao, nếu đã trang bị thì cần phải mua mới để đảm bảo máy hoạt động tốt Tỷ lệ máy được mua mới ở các cửa hàng trong tỉnh nhiều nhất, máy mua mới từ cửa hàng ngoài tỉnh rất ít vì người dân ngại sẽ gặp nhiều vấn đề khó khăn về lắp đặt, sử dụng và sửa chữa máy Hơn nữa, giá cả của các máy cũng không có sự chênh lệch đáng kể Hầu hết các máy đàm thoại tầm
xa, máy định vị, máy dò cá ngư dân sử dụng đều do Nhật Bản sản xuất
Hình thức lắp đặt máy điện hàng hải
Hầu hết các loại máy điện hàng hải trên tàu đều được người dân tự lắp đặt,
tỷ lệ này chiếm 97% tổng số máy Chỉ có khoảng 3% tổng số máy được người bán lắp đặt (Hình 4.7)
Trang 33Thông thường, máy đàm thoại và máy định vị do người dân tự lắp đặt là chủ yếu vì các loại máy này không đòi hỏi trình độ khoa học kỹ thuật cao Đối với máy dò cá, khi người dân mua từ các cửa hàng sẽ có chuyên viên đến lắp đặt tận nơi vì kỹ thuật lắp đặt máy khá phức tạp
Theo Hình 4.8, có 98% tổng số máy đàm thoại tầm gần do ngư dân tự lắp đặt, 2% tổng số máy do người bán lắp Máy đàm thoại tầm xa có 9% do ngư dân tự lắp đặt, 3% do người bán lắp Đối với máy định vị, có 97% tổng
số máy do ngư dân tự lắp đặt, 3% tổng số máy do người bán lắp Tất cả các máy dò cá đều do người bán lắp đặt Khi ngư dân mua các máy hàng hải: máy đàm thoại, máy định vị, máy dò cá cùng một lúc để trang bị cho tàu thì
sẽ có chuyên viên đến tận nơi lắp đặt Ngược lại, nếu chỉ mua máy đàm thoại hoặc máy định vị thì ngư dân tự lắp đặt máy
Hình 4.8: Cách lắp đặt các loại máy điện hàng hải
Thời gian lắp đặt máy điện hàng hải (trước 1997, 1997 – 1999, 2000 –
2002, 2003 – 2005)
Các máy hàng hải được trang bị trên tàu có thời gian lắp đặt khác nhau Khoảng thời gian trước năm 1997 có 5% tổng số máy của khối tàu điều tra lắp đặt máy hàng hải, từ năm 1997 – 1999 có 26% tổng số tàu điều tra lắp đặt máy, từ năm 2000 – 2002 có 44% tổng số tàu điều tra lắp đặt máy, từ năm 2003 – 2005 có 30% tổng số tàu lắp máy (Hình 4.9)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 342000-Từ 2005
2003-Thời điểm mua MĐHH
Tỷ l ệ
Hình 4.9: Thời gian lắp đặt máy điện hàng hải
Sau cơn bão Linda năm 1997 gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của, ý thức của ngư dân về việc trang bị máy điện hàng hải trên tàu nhằm đảm bảo tính an toàn trong quá trình hoạt động khai thác thủy sản ngày càng tiến bộ hơn Máy hàng hải được trang bị trên tàu gia tăng hơn trước Tuy nhiên, hậu quả do cơn bão để lại quá nặng nề, nguồn vốn khó khăn nên đến khoảng thời gian từ năm 2000 – 2002 số tàu được đóng mới và trang bị máy điện hàng hải mới có xu hướng gia tăng đáng kể Bên cạnh đó, Luật Thủy sản số 17/2003/QH11 ngày 26/11/2003 có quy định: ”Tổ chức cá nhân khai thác thủy sản xa bờ phải có trang thiết bị bảo đảm thông tin liên lạc, phương tiện cứu sinh trên tàu cá; tuân theo các quy định của pháp luật về hàng hải.” (Trích Khoản 3 Điều 12 Chương 3, Luật Thủy sản, 2005) Chính
vì vậy, số lượng tàu hoạt động khai thác thủy sản có trang bị hệ thống máy điện hàng hải ngày càng nhiều
Giá thành từng loại máy
Theo Bảng 4.3 thể hiện kết quả điều tra phỏng vấn cho thấy giá thành trung bình các loại máy hàng hải dao động từ 3,51 – 19 triệu đồng/máy Đối với máy đàm thoại tầm gần, giá thành trung bình của máy là 3,51 triệu đồng/máy (1,5 – 5,5) Giá thành trung bình của máy đàm thoại tầm xa là 14,13 triệu đồng/máy (12,5 – 16) Máy định vị có giá thành trung bình là 4,52 triệu đồng/máy (2 – 17) Loại máy dò cá kết hợp định vị có giá thành trung bình 19 triệu đồng/máy (15 – 25) Giá thành các loại máy điện hàng hải có sự chênh lệch lớn Sự chênh lệch giữa máy đàm thoại tầm gần và
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 35kể Do đó ngư dân chỉ trang bị máy đàm thoại tầm gần và máy định vị trên tàu hoạt động khai thác thủy sản nói chung và tàu lưới kéo nói riêng
Bảng 4.3: Giá thành các loại máy điện hàng hải
Giá thành máy (triệu) Loại máy
Đàm thoại tầm gần 3,51 1,5 5,5 Đàm thoại tầm xa 14,13 12,5 16,0
Dò cá kết hợp định vị 19,00 15,0 25,0
Như vậy số tàu khai thác có trang bị máy điện hàng hải trên tàu lưới kéo ở Thị xã Hà Tiên đạt tỷ lệ 100% Đa số các tàu chỉ trang bị máy đàm thoại tầm gần và máy định vị, rất ít tàu trang bị loại máy đàm thoại tầm xa và máy dò cá Ngư dân sử dụng máy mang lại hiệu quả trong sản lượng, hành trình và liên lạc nhưng kết quả đạt được không cao Các loại máy hàng hải
có nhiều chức năng rất thích hợp với nghề lưới kéo nhưng chưa được người dân tìm tòi, sử dụng và ứng dụng vào thực tế sản xuất do trình độ sử dụng, vận hành máy còn hạn chế Hầu hết các loại máy điện hàng hải đều do người dân tự lắp đặt, kinh nghiệm sử dụng máy chủ yếu là do học hỏi từ bạn bè, đồng nghiệp Ngư dân chưa sử dụng hết các chức năng sẵn có của máy hàng hải
4.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng máy điện hàng hải 4.2.1 Hiệu quả sử dụng máy điện hàng hải
Mức độ cần thiết trang bị MĐHH
Theo kết quả điều tra phỏng vấn được thể hiện ở Bảng 4.4 cho thấy rằng, đối với loại máy đàm thoại tỷ lệ người dân rất cần thiết trang bị máy là 56,1%, tỷ lệ cần thiết trang bị là 43,9% Loại máy định vị có 62,1% tổng số người điều tra rất cần thiết trang bị máy trên tàu, số người cần thiết trang bị chiếm tỷ lệ 37,9% Đối với máy dò cá chỉ có 3% tổng số ngư dân cho rằng cần thiết trang bị máy trên tàu lưới kéo, 97% không cần thiết vì hầu hết ngư dân khai thác thủy sản dựa vào kinh nghiệm của bản thân là chủ yếu Đặc biệt, không người nào có ý kiến cần thiết trang bị ra đa và các loại máy khác, tỷ lệ người dân không cần thiết trang bị các loại máy này chiếm 100% Sỡ dĩ như vậy là vì kỹ thuật sử dụng ra đa rất phức tạp, đòi hỏi người
sử dụng phải có trình độ khoa học kỹ thuật, không phù hợp với trình độ của ngư dân khai thác thủy sản nghề lưới kéo ở Thị xã Hà Tiên Trong khi đó,
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 36máy đàm thoại và máy định vị rất cần thiết trang bị trên tàu đi biển nói chung và tàu lưới kéo nói riêng Nó được xem như người bạn đồng hành của người đi biển bởi vì nhu cầu liên lạc, xác định vị trí trên biển là cực kỳ quan trọng
Bảng 4.4: Mức độ cần thiết trang bị các loại máy hàng hải
Loại máy Rất cần thiết (%) Cần thiết (%) Không cần thiết (%)
Theo kết quả phân tích ở Hình 4.10 và Hình 4.11 cho thấy tàu có công suất
từ 90 CV trở lên trang bị hệ thống máy hàng hải đầy đủ hơn các tàu có công suất dưới 90 CV Tàu có công suất từ 90 CV trở lên có 100% tàu trang bị máy đàm thoại tầm gần và máy định vị, 24% trang bị máy đàm thoại tầm xa
và 9% trang bị máy dò cá trên tàu Đối với các tàu công suất dưới 90 CV thì chỉ trang bị máy đàm thoại tầm gần và máy định vị trên tàu, tỷ lệ này đạt 100% Nguyên nhân các tàu công suất lớn (từ 90 CV trở lên) trang bị hệ thống máy hàng hải đầy đủ hơn so với các tàu có công suất nhỏ (dưới 90 CV) là vì ngư trường khai thác của các tàu lớn xa hơn và mở rộng hơn so với tàu nhỏ Ngoài ra, thời gian đi một chuyến biển của các tàu lớn cũng dài ngày hơn so với tàu nhỏ Thông thường, thời gian đi biển của các tàu có công suất trên 90 CV từ 12 – 23 ngày/tháng/chuyến Trong khi đó tàu có công suất dưới 20 CV chỉ đi biển khoảng từ 7 – 10 ngày/ tháng/chuyến; tàu
có công suất từ 20 – 50 CV đi biển khoảng 10 – 20 ngày/tháng/chuyến; tàu
có công suất từ 50 – 90 CV đi biển khoảng 12 – 21 ngày/tháng/chuyến Bên cạnh đó, đối với các tàu lớn khai thác xa bờ, Luật Thủy sản số 17/2003/QH11 ngày 26/11/2003 có quy định: ”Tổ chức cá nhân khai thác thủy sản xa bờ phải có trang thiết bị bảo đảm thông tin liên lạc, phương tiện cứu sinh trên tàu cá; tuân theo các quy định của pháp luật về hàng hải.” (Trích Khoản 3 Điều 12 Chương 3, Luật Thủy sản, 2005) Bởi vậy, các tàu lớn trang bị máy hàng hải đầy đủ hơn so với tàu nhỏ là hoàn toàn hợp lý
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 37Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu