1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh bến tre

78 376 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 543,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THỊ TRÚC KHANH KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG MÁY ĐIỆN HÀNG HẢI TRONG NGHỀ LƯỚI KÉO VÀ LƯỚI VÂY Ở TỈNH BẾN TRE LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NG

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THỊ TRÚC KHANH

KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG MÁY ĐIỆN HÀNG HẢI TRONG NGHỀ LƯỚI KÉO

VÀ LƯỚI VÂY Ở TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KHAI THÁC THỦY SẢN

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 2

TÓM TẮT

Đề tài“Khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh Bến Tre” đã được thực hiện từ tháng 2/2006 đến tháng 7/2006 nhằm mục tiêu nắm bắt được hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh Bến Tre để tìm ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả khai thác Qua 72 bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp ngư dân tham gia khai thác thuỷ sản ở 2 loại nghề lưới kéo và lưới vây cùng với những thông tin thứ cấp được thu thập từ các cơ quan có liên quan ở tỉnh Bến Tre cho thấy: Đối với tàu lưới kéo thì có 100% tàu trang bị máy đàm thoại tầm gần, chủ yếu

là hiệu Super và Galaxy do Nhật sản xuất Có 60,5% trang bị máy đàm thoại tầm xa chủ yếu là hiệu Icom 718 và Icom 707 Còn máy định vị thì các tàu lưới kéo trang bị khá đầy đủ (86,8%), chủ yếu là hiệu Furuno GP30 và GP31 Tàu lưới kéo không có trang bị máy đo sâu dò cá, nhưng có một số tàu trang bị máy dò cá kết nối định vị, chiếm tỉ lệ rất thấp (13,2%) với 2 hiệu JMC và Suzuki Ở tàu lưới kéo thì 100% máy đàm thoại tầm gần và tầm xa mang lại hiệu quả trong liên lạc, và cũng mang lại hiệu quả trong hành trình như đàm thoại tầm gần (78,9%), đàm thoại tầm xa (73,9%) Phần lớn các máy định vị được trang bị đều mang lại hiệu quả trong hành trình (96,9%) Còn máy dò cá kết nối định vị cũng mang lại hiệu quả trong hành trình, liên lạc và tìm cá Đối với tàu lưới vây thì có sự trang bị các loại điện hàng hải tương đối đầy đủ hơn

so với tàu lưới kéo như đàm thoại tầm gần (100%), tầm xa (100%), định vị (76,5%), đo sâu dò cá (55,9%) và dò cá kết nối định vị (23,5%) Máy đàm thoại tầm gần chủ yếu là hiệu Super và tầm xa có 2 hiệu Icom 707 và Icom

718 Máy định vị với hiệu Furuno GP30 chiếm tỉ lệ cao (41,2%) Còn máy đo sâu dò cá thì chủ yếu trang bị hiệu Furuno FCV667 (35,3%) Và máy dò cá kết nối định vị thì chỉ trang bị hiệu JMC (23,5%).Về hiệu quả sử dụng thì ở tàu lưới vây, máy đàm thoại tầm gần, tầm xa đều có mang lại hiệu quả trong hành trình, liên lạc và sản lượng Máy định vị cũng mang lại hiệu quả trong hành trình và sản lượng Riêng máy dò cá và chức năng dò cá của máy kết nối định

vị thì có mang lại hiệu quả trong tìm cá

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm tạ i

Tóm tắt ii

Mục lục iii

Danh sách bảng vi

Danh sách hình viii

Danh mục chữ viết tắt ix

Phần 1: Đặt vấn đề 1

1.1 Giới thiệu 1

1.2 Mục tiêu đề tài 1

1.3 Nội dung đề tài 2

1.4 Thời gian thực hiện 2

Phần 2: Tổng quan tài liệu 3

2.1 Tình hình khai thác thủy sản 3

2.1.1 Khai thác thủy sản trên thế giới 3

2.1.2 Khai thác thủy sản ở Việt Nam 3

2.1.3 Nghề khai thác ở ĐBSCL 4

2.2 Hiện trạng nghề khai thác thủy sản ở tỉnh Bến Tre 4

2.2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội 4

2.2.2 Ngư trường và nguồn lợi 7

2.2.2.1 Ngư trường 7

2.2.2.2 Nguồn lợi 8

2.2.3 Cơ cấu ngành nghề khai thác thủy sản 10

2.2.4 Sản lượng khai thác 11

2.2.5 Cơ cấu tàu thuyền nghề lưới kéo và lưới vây cỡ công suất từ 90CV trở lên 13

2.3 Tính năng các loại máy điện hàng hải 14

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 4

2.3.4 Máy đo sâu dò cá kết nối định vị 18

2.3.5 Máy Ra đa (Radio detection and Ranging) 18

Phần 3 : Phương pháp nghiên cứu 20

3.1 Địa điểm nghiên cứu 20

3.2 Phương pháp nghiên cứu 20

3.2.1 Thông tin thứ cấp 20

3.2.2 Thông tin s ơ cấp 21

3.2.2.1 Nội dung 21

3.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 21

3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 22

Phần 4 : Kết quả và thảo luận 23

4.1 Hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh Bến Tre 23

4.1.1 Tỷ lệ phần trăm số tàu có sử dụng máy điện hàng hải 23

4.1.2 Các loại máy điện hàng hải đang được trang bị trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh Bến Tre 23

4.1.3 Những thông tin về vận hành và lắp đặt máy điện hàng hải 29

4.1.3.1 Thông tin v ề vận hành 29

4.1.3.2 Thông tin v ề lắp đặt các loại máy điện hàng hải 29

4.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng máy điện hàng hải 35

4.2.1 Hiệu quả sử dụng máy điện hàng hải 35

4.2.1.1 Hiệu quả sử dụng các loại máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo 35

4.2.1.2 Hiệu quả sử dụng các loại máy điện hàng hải trong nghề lưới vây 38

4.2.1.3 Hiệu quả sử dụng giữa các loại máy điện hàng hải 40

4.2.2 Những thuận lợi và khó khăn trong sử dụng máy điện hàng hải 41

4.3 Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng máy điện hàng hải 43

Phần 5: Kết luận và đề xuất 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Đề xuất 45

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 5

Tài liệu tham khảo 47

Phụ lục 48

Phụ lục A 48

Phụ lục B 54

Phụ lục C 56

Phụ lục D 58

Phụ lục E 61

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 6

DANH SÁCH BẢNG

Trang Bảng 2.1 Trữ lượng và khả năng khai thác ở vùng biển Trung Bộ và Đông Nam Bộ 8

Bảng 2.2 Mùa vụ và đối tượng khai thác chủ yếu của nghề khai thác thuỷ hải sản của tỉnh Bến Tre 9

Bảng 2.3 Thống kê tàu thuyền và lao động nghề cá Tỉnh Bến Tre đến tháng 10

năm 2005 10

Bảng 4.1 Các loại nghề khai thác thuỷ sản chính của huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre năm 2000 23

Bảng 4.2 Các loại máy điện hàng hải đang được trang bị trên tàu lưới kéo và lưới vây ở tỉnh Bến Tre 25

Bảng 4.3 Số lượng máy điện hàng hải trang bị trên tàu lưới kéo 27

Bảng 4.4 Máy điện hàng hải trang bị trên tàu lưới vây 28

Bảng 4.5 Trình độ văn hoá của người vận hành máy điện hàng hải 29

Bảng 4.6 Thời gian hành nghề của người vận hành 30

Bảng 4.7 Mục đích sử dụng của máy đàm thoại 30

Bảng 4.8 Chế độ sử dụng của máy đàm thoại 31

Bảng 4.9 Mục đích thường sử dụng của máy định vị và máy định vị - dò cá 31

Bảng 4.10 Mục đích thường sử dụng của máy đo sâu dò cá và chức năng dò cá của máy dò cá kết nối định vị 32

Bảng 4.11 Nguồn gốc của các loại máy điện hàng hải 32

Bảng 4.12 Hình thức lắp đặt các loại máy điện hàng hải 33

Bảng 4.13 Thông tin về giá thành và tuổi thọ của các loại máy 33

Bảng 4.14 Thông tin về tuổi thọ của các loại máy 34

Bảng 4.15 Thời gian lắp đặt của các loại máy 35

Bảng 4.16 Hiệu quả sử dụng của máy đàm thoại trong nghề lưới kéo 36

Bảng 4.17 Hiệu quả sử dụng của máy định vị và chức năng định vị của máy dò cá kết nối định vị trong nghề lưới kéo 36

Bảng 4.18 Hiệu quả sử dụng của máy dò cá kết nối định vị 37

Bảng 4.19 Mức độ cần thiết trang bị các loại máy điện hàng hải 37

Bảng 4.20 Hiệu quả sử dụng của máy đàm thoại trong nghề lưới vây 38

Bảng 4.21 Hiệu quả sử dụng của máy định vị, đo sâu dò cá và máy dò cá kết nối định vị (máy kết hợp) trong nghề lưới vây 38

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 7

Bảng 4.22 Sự thay đổi về sản lượng, chi phí và thời gian khi trang bị máy dò

cá hay máy dò cá kết nối định vị 39 Bảng 4.23 Mức độ cần thiết trang bị các loại máy điện hàng hải 40 Bảng 4.24 Hiệu quả sử dụng giữa các loại máy điện hàng hải của tàu lưới kéo 40 Bảng 4.25 Hiệu quả sử dụng giữa các loại máy điện hàng hải của tàu lưới vây 41 Bảng 4.26 Những khó khăn, trở ngại khi sử dụng máy điện hàng hải 41 Bảng 4.27 Lý do không hài lòng các hi ệu máy đang sử dụng 42

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 8

DANH SÁCH HÌNH Trang

Hình 2.1 Bản đồ Tỉnh Bến Tre 5

Hình 2.2 Năng suất khai thác thuỷ sản tại các năm mốc của tỉnh Bến Tre 12

Hình 2.3 Sản lượng của nghề lưới vây từ năm 2003-2005 13

Hình 2.4 Phân loại tàu lưới kéo và lưới vây theo công suất 13

Hình 2.5 Đồ thị phân loại tàu lưới kéo và lưới vây theo địa phương 14

Hình 2.6 Máy đàm thoại tầm xa Icom 718 15

Hình 2.7 Máy định vị Furuno GP 32 16

Hình 2.8 Máy đo sâu dò cá Furuno FCV-667 17

Hình 2.9 Máy Ra đa Koden MD-3420/3441 18

Hình 3.1 Bản đồ các huyện được điều tra của tỉnh Bến Tre 20

Hình 4.1 Tỉ lệ (%) các loại máy điện được trang bị trên tàu lưới kéo và lưới

vây 24

Hình 4.2 Tỉ lệ các hiệu máy đàm thoại được trang bị trên tàu lưới kéo và lưới vây 25

Hình 4.3 Tỷ lệ (%) các hiệu máy định vị, dò cá và dò cá kết nối định vị được trang bị trên tàu lưới kéo và lưới vây 26

Hình 4.4 Các hình thức học tập sử dụng máy điện hàng hải… 29

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BVNLTS Bảo vệ nguồn lợi thủy sản ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long HTX Hợp tác xã

ĐT Đàm thoại ASC Co., Ltd Công ty TNHH Tư vấn - Dịch vụ và Thương mại

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 10

Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu

Trong những năm gần đây với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật và công nghệ kéo theo các ngành nghề từ công nghiệp, nông nghiệp đến dịch vụ cũng không ngừng phát triển Bên cạnh đó, dân số ngày càng tăng làm cho nhu cầu về lương thực thực phẩm cũng tăng theo Trong xu thế đó thì nghề cá thế giới cũng như trong nước ngày càng mở rộng qui mô khai thác, nuôi trồng cũng như chất lượng sản phẩm thủy sản chế biến cũng đảm bảo hơn trước

Ở nước ta, ĐBSCL là một trong những khu vực mà nghề cá rất được quan tâm đầu tư và phát triển Vịnh Thái Lan, Đông và Tây Nam Bộ là những ngư trường tập trung nhiều tàu thuyền khai thác Mặt khác, Bến Tre là một trong những tỉnh

có tiềm năng thủy sản rất dồi dào, tạo điều kiện cho nghề khai thác phát triển với

7 họ nghề chính: Lưới kéo, lưới vây, lưới rê, nghề câu, nghề cố định, nghề sông

và nghề khác Trong đó, có sản lượng cao chủ yếu là các nghề lưới kéo, lưới vây

và lưới rê với số lượng tàu thuyền khoảng 2000 chiếc (Chi cục BVNLTS Bến Tre, 2005) Tổng sản lượng khai thác thủy sản tăng liên tục hàng năm, đạt 39.212 tấn/năm (1990) và 62.442 tấn/năm (2000) (Sở Thủy sản Bến Tre, 2002) nhưng năng suất lao động và năng suất bình quân theo mã lực có xu hướng giảm dần từ 6,5 tấn/người (1990) xuống 5,2 tấn/người (2000), và 1,8 tấn/CV (1990) xuống 0,4 tấn/CV (2000) (Sở Thủy sản Bến Tre, 2002) Trong đó, việc một số lượng lớn tàu thuyền tập trung đánh bắt ở khu vực gần bờ chiếm 80% (Sở Thủy sản Bến Tre, 2002) là một trong những nguyên nhân làm cho năng suất đánh bắt giảm Do vậy, để khai thác xa bờ có hiệu quả, nâng cao năng suất đánh bắt thì việc trang bị những máy điện hàng hải phù hợp với mỗi ngành nghề, nâng cấp tàu thuyền cũng như đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn là không

thể thiếu Với ý nghĩa đó, việc thực hiện đề tài “Khảo sát hiện trạng sử dụng

máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh Bến Tre” là rất cần

thiết, nhằm khảo sát và điều tra hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải ở 2 trong 3 loại nghề khai thác chính của tỉnh - lưới kéo và lưới vây, từ đó có những giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng, góp phần làm tăng sản lượng đánh bắt, cải thiện đời sống ngư dân trong tỉnh

1.2 Mục tiêu của đề tài

Đề tài thực hiện nhằm mục tiêu nắm bắt được hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh Bến Tre để tìm ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả khai thác

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 11

1.3 Nội dung đề tài

Để thực hiện đề tài “Khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh Bến Tre”, các nội dung nghiên cứu chủ yếu bao gồm: (i) Khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải;

(ii) Đánh giá hiệu quả sử dụng máy điện hàng hải;

(iii) Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng máy điện hàng hải

1.4 Thời gian thực hiện

Đề tài được thực hiện trong thời gian từ tháng 1/2006 đến tháng 7/2006

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình khai thác thủy sản

2.1.1 Khai thác thủy sản trên thế giới

Trên thế giới, khu vực Đông Nam Á và Nam Á là một trong những khu vực có nghề thủy sản lớn nhất thế giới Ở khu vực này có khoảng 10 triệu người tham gia làm nghề cá và mức tiêu thụ cá trên đầu người khá cao Bốn nước có sản lượng thủy sản lớn nhất khu vực là Indonexia, Thái Lan, Philippin và Việt Nam (Vũ Đình Thắng, 2005)

Theo Huỳnh Vương Hải (2004), tình hình đánh bắt thủy sản tự nhiên trên thế giới

đã phát triển mạnh, số đội tàu tăng, nhiều công nghệ đánh bắt tiên tiến được áp dụng và đầu tư ngày một nhiều hơn trong lĩnh vực này Sản lượng thủy sản đánh bắt đã đạt tới con số 65 triệu tấn Nhưng theo đó, hệ sinh thái biển ở nhiều khu vực đã và đang bị hư hại nặng nề Người ta đã ước tính rằng hoạt động đánh bắt làm lãng phí tới 20 triệu tấn sản phẩm phụ mỗi năm (gần bằng 25% tổng sản lượng thủy sản toàn thế giới) Hơn nữa, do các hoạt động khai thác chỉ chọn đánh bắt một số loài với số lượng lớn, nên đã làm thay đổi chuổi thức ăn trong hệ sinh thái biển Thậm chí, các hoạt động khai thác trái phép vẫn còn diễn ra nhiều nơi, như kéo lưới đáy, dùng thuốc nổ hoặc hoá chất độc hại làm chết cả những rạn san

hô và cỏ biển rộng lớn- nơi các loài thủy sản sinh cư, làm tổ đẻ trứng

2.1.2 Khai thác thủy sản ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia ven biển ở Đông Nam Á, có 3260 km bờ biển từ Móng Cái đến Hà Tiên, trải qua 13 vĩ độ, từ 8o23’ Bắc đến 21o39’ Bắc Diện tích vùng nội thuỷ và lãnh hải của Việt Nam rộng 226.000 km2 và vùng biển đặc quyền kinh tế trên 1 triệu km2, rộng gấp 3 lần diện tích đất liền

Theo Bộ thủy sản, nghề cá Việt Nam đang đối mặt với những thách thức nghiêm trọng nảy sinh từ chính sự phát triển nhanh chóng mặt của mình Ðến năm 1997, toàn ngành thuỷ sản có 423.583 lao động đánh bắt hải sản, trong đó hoạt động gần bờ 309.171 người, chiếm tỷ trọng 73%, hoạt động xa bờ 114.412 người, chiếm tỷ trọng 72% (Thái Thanh Dương, 2004) Với hơn 84% số lượng tàu cá được trang bị máy có công suất nhỏ hơn 90 CV, các hoạt động đánh bắt tập trung chủ yếu ở vùng nước ven bờ, gây ra áp lực quá lớn đối với nguồn lợi hải sản ở vùng biển này Thống kê cho thấy, trong 10 năm từ 1994 - 2004, tổng công suất máy tàu tăng từ 1.443.950 CV lên 4.723.264 CV (3,27 lần) trong khi sản lượng khai thác chỉ tăng từ 878.474 tấn lên 1.724.200 tấn (1,96 lần) Từ đó cho thấy sản lượng khai thác của một mã lực máy tàu bị giảm liên tục từ 0,61 tấn xuống còn

có 0,36 tấn/CV/năm (Đức Nguyễn, 2005) Riêng nghề lưới kéo thì theo thống kê

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 13

đến hết tháng 6 năm 2000, sản lượng hải sản khai thác được khoảng 43% tổng sản lượng hải sản khai thác được hàng năm của cả nước (Cẩm Vân, 2001)

Theo Thái Thanh Dương (2004) thì trong đội tàu khai thác của cả nước, loại từ

90 CV trở lên hiện có khoảng 6.000 chiếc, đây được xem là đội tàu khai thác hải sản xa bờ Loại tàu có công suất từ 45 CV trở xuống chiếm khoảng 85% số lượng Trong số tàu có công suất từ 45 CV trở lên chỉ có khoảng 33% có máy định vị, 21% có máy dò cá, 63% có máy bộ đàm, 12,5% có máy thông tin liên lạc tầm xa Phần lớn tàu thuyền thiếu phương tiện thông tin liên lạc, phao cứu sinh

và phương tiện an toàn hàng hải nên chỉ có khả năng đánh bắt vùng gần bờ

Một thực trạng cần quan tâm nữa là vấn đề Hợp tác xã, theo Bộ Thuỷ sản, đến cuối năm 2004, toàn ngành có khoảng 637 HTX, với tổng số lao động gần 26.000 người Trong đó, số HTX hoạt động yếu kém chiếm 59%, chủ yếu trong lĩnh vực khai thác hải sản; trung bình chiếm 30% và khá 11% Khoảng 40% HTX sản xuất - kinh doanh có hiệu quả nhưng tỷ lệ trả nợ Nhà nước đạt thấp, không đạt kế hoạch trả nợ Một số địa phương HTX yếu kém lâm vào tình trạng giải thể, phá sản nhiều như Cà Mau, Quảng Ninh (Hà Yên, 2005)

2.1.3 Nghề khai thác ở ĐBSCL

Theo Bùi Quang Huy (2004) thì Đồng bằng sông Cửu Long gồm 13 tỉnh, thành phố, dân số gần 17 triệu người, có nhiều sông rạch, nằm cuối nguồn sông Cửu Long, tiếp giáp biển Đông và biển Tây Với 4 triệu ha đất tự nhiên, trong đó có 3,81 triệu ha đất nông nghiệp Năm 2003, Đồng bằng sông Cửu Long đã sản xuất trên 17,47 triệu tấn lương thực, bằng 53,3% tổng sản lượng lương thực cả nước, riêng diện tích có khả năng nuôi trồng thủy sản trên 1 triệu ha Diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế rộng khoảng 360.000 km2 với 750 km chiều dài bờ biển Toàn vùng có 65.589 tàu thuyền đánh cá, tổng công suất trên 1,7 triệu mã lực; có

119 doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản với tổng công suất chế biến 3.200 tấn/ngày Rõ ràng, tiềm năng nuôi trồng, đánh bắt và chế biến xuất khẩu thủy sản

ở Đồng bằng sông Cửu Long là rất lớn Năm 2003 toàn vùng đã khai thác, đánh bắt thủy sản đạt sản lượng trên 629 ngàn tấn, bằng 107% kế hoạch năm, chiếm 43% sản lượng khai thác cả nước Nuôi trồng thủy sản đạt trên 740.000 tấn, bằng 67% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản của cả nước Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 1.280 triệu USD, bằng 57% giá trị xuất khẩu thủy sản cả nước

2.2 Hiện trạng nghề khai thác thủy sản ở tỉnh Bến Tre 2.2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 14

Vị trí địa lí

Tỉnh Bến Tre thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), diện tích tự nhiên 2315,02 km2 Có vị trí địa lí 9o48’ đến 11o20’ vĩ độ Bắc và 105o57’ đến

106o48’ kinh độ Đông

Phía Bắc: giáp tỉnh Tiền Giang

Phía Tây và Tây Nam: giáp tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh

Phía Đông và Đông Nam: giáp biển Đông

Vùng hơi thấp có độ cao dưới 1m, bị ngập nước khi có triều lên, bao gồm một số đất ruộng có lòng chảo ra sông và các bãi bồi ven sông, khu vực rừng ngập mặn

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 15

Vùng địa hình trung bình có độ cao 1 m đến 2 m, chiếm trên 90% diện tích toàn tỉnh, chỉ bị ngập khi triều cường vào tháng 9 đến tháng 12

Vùng có địa hình cao 2 m đến 5 m là các giồng cát Đây là khu vực tập trung dân

cư ven biển làm nghề nông và nghề biển

Khí hậu

Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa cận xích đạo Có 2 mùa mưa nắng khá rõ: mùa mưa từ cuối tháng 4 đến hết tháng 10 hàng năm (có gió mùa Tây Nam), chiếm khoảng 84% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô (gió Đông Bắc) từ tháng

11 đến tháng 4 năm sau, chiếm 16% tổng lượng mưa trong năm Tổng lượng mưa trung bình năm là 3.398 mm

Thủy văn

Bến Tre có 4 nhánh sông chính của hệ thống sông Cửu Long:

- Sông Tiền (sông Mỹ Tho) dài 90 km, lưu lượng mùa mưa 6.480 m3/s, mùa khô 1.598 m3/s, trong đó nhánh cửa Đại có lưu lượng mùa mưa 1.929

25 phút có hai lần nước lên và 2 lần nước xuống Hàng tháng có hai lần triều cường (03 và 17 âm lịch) và hai lần triều kém (10 và 25 âm lịch)

Tài nguyên sinh vật

Thích nghi với môi trường sông biển với những tính chất mang tính chất nhịp điệu mùa, phân hoá theo không gian thành 3 vùng sinh thái mặn, lợ, ngọt nên tương đối đa dạng và phong phú về thành phần và chủng loài Thảm thực vật tự nhiên: có 25 loài thuộc 9 họ chủ yếu là loài mắm trắng, bần đắng, đước, dừa nước,…Có 278 loài thực vật phù du, 36 loài động vật phù du, 120 loài cá thuộc

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 16

Cơ cấu hành chính

Năm 2000 Bến Tre có 1 thị xã Bến Tre, 7 huyện: Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú Có 143 xã, 16 phường và thị trấn Dân số 1.316.354 người, lao động trong độ tuổi 801.037 người, tỷ lệ sinh (1,511%) cao hơn tỷ lệ chết (0,324%), tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,187% Diện tích tự nhiên 2.315 km2, 3 huyện ven biển có diện tích lớn theo thứ tự: Thạnh Phú (412 km2), Bình Đại (401 km2), Ba Tri(355 km2), thị xã có diện tích nhỏ nhất 76 km2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là chủ yếu: Nông lâm- Ngư- Dịch vụ- Công nghiệp và xây dựng

2.2.2 Ngư trường và nguồn lợi

Theo Báo cáo của Sở Thuỷ sản Bến Tre (2002) thì:

2.2.2.1 Ngư trường Đặc điểm ngư trường Đông và Tây Nam Bộ

Diện tích biển Đông Nam Bộ xấp xỉ 297.000 km2, giới hạn từ 11o20’ – 8o30’ vĩ

độ Bắc, cách bờ 200 hải lý Thuận lợi cho cả khai thác cá đáy và cá nổi

Biển Đông có độ sâu và độ dốc đáy biển không lớn lắm Độ dốc đáy biển chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Đường đẳng sâu 1m chạy rất xa bờ Phía Tây, địa hình ít lồi lõm, có nhiều đảo Vùng biển Tây Nam Bộ có độ sâu thấp, đáy hình lòng chảo, nơi sâu nhất ở giữa vịnh Thái Lan không quá 80m Tóm lại, địa hình đáy biển Nam Bộ khá bằng phẳng, độ sâu biến đổi chậm, ít đảo và chướng ngại vật Một số nơi nhất là vùng biển Tây Nam Bộ có tàu đắm và nhiều hải miên hình ly gây cản trở cho nghề lưới kéo đáy

Chất đáy ở ven bờ phần lớn chất đáy là bùn pha cát, trừ phía Bắc từ vĩ độ 10o30’

N trở lên và vùng biển Kiên Giang có chất đáy là bùn cát hoặc cát xen lẫn vỏ sò Ngoài khơi cửa sông Cửu Long tồn tại vùng lớn có chất đáy toàn cát và xa hơn

có xen lẫn vỏ sò Phía Nam mũi Cà Mau chất đáy là cát bùn Ngoài khơi Tây Nam Cà Mau chất đáy đơn thuần là bùn Tóm lại, vùng biển Đông và Tây Nam

Bộ chất đáy chủ yếu là bùn, cát hoặc bùn pha cát, thỉnh thoảng có xen lẫn vỏ sò Nền đáy tương đối bằng phẳng, ít chướng ngại vật và thuận tiện cho đánh bắt sản, nhất là nghề lưới kéo (cào), vây, câu mồi, câu mực,…Là vùng biển có khả năng khai thác hải sản quanh năm Là một trong những ngư trường trọng điểm nhất của Việt Nam

Ngư trường Đông và Tây Nam Bộ có 3 loại nền đáy chủ yếu:

- Nền đáy bùn chiếm 50% diện tích, chạy dọc ven biển trùng với vùng nước sâu 0-30 m; nhưng phía Bắc vùng biển nền đáy bùn lan ra vùng nước sâu tới 200m

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17

- Nền đáy cát chiếm khoảng 25%, chia thành 2 dải: một trùng với vùng nước sâu 30-50 m, ôm trọn quần đảo Côn Sơn và kéo dài ra cả hai phía Bắc và Nam quần đảo Dải thứ hai trùng với một phần vùng nước sâu 100-

200 m

- Nền đáy vỏ sò chiếm phần lớn diện tích còn lại và chia thành hai phần chính: một ở vùng nước sâu 30-100 m gần quần đảo Côn Sơn; phần thứ hai ở ngoài vùng nước sâu 200 m

Ngư trường khai thác

Nhóm ngư trường thuộc tỉnh (Vùng ven bờ cửa sông Bến Tre) và nhóm ngư trường ngoài tỉnh (Tây và Nam Trường Sa, Đông và Đông Nam Côn đảo…)

2.2.2.2 Nguồn lợi Nguồn lợi vùng nước ven bờ

Nguồn lợi cá, tôm, mực, cua, ghẹ ven bờ: Ở vùng nước ven bờ thuộc phụ cận Bến Tre có độ sâu từ 30 – 35 m nước trở vào

Trữ lượng cá 14.668 – 18.482 tấn (10 – 12 kg/ha) So với giai đoạn 1978 – 1980 mật độ cá giảm 4,1 lần, mật độ tôm, cua, ghẹ giảm 5,3 lần.Vấn đề đặt ra là hiện tại đã khai thác quá mức tới 2 – 3 lần mức khả năng cho phép khai thác Hậu quả tất yếu là nguồn lợi suy giảm và cạn kiệt Tỷ trọng các loài cá nhỏ, ít kinh tế, chiếm tỉ trọng sản lượng lớn (các loại cá: nóc, liệt, chai, mó, lẹp,…)

Nguồn lợi vùng nước xa bờ

Vùng biển xa bờ thuộc tỉnh Bến Tre không thể tính toán được một cách riêng lẻ Quá trình phân tích và đánh giá phải gắn với vùng xa bờ của khu vực biển Đông thuộc Bến Tre và phụ cận

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 18

Bảng 2.1 Trữ lượng và khả năng khai thác ở vùng biển Trung Bộ và Đông Nam

Bộ

(đơn vị: 1.000 tấn)

Tổng trữ lượng hải sản xa bờ (không kể Trường Sa) là 1.065.000 - 1.195.000 t ấn, khả năng khai thác là 543.000 - 631.000 tấn/năm; trong đó ngư trường miền Trung (không kể cá nổi vùng khơi) là trên 180.000 tấn, khả năng khai thác trên 71.000 tấn/năm; ngư trường Đông Nam bộ (không kể cá nổi vùng khơi) là 710.000 - 840.000 tấn, khả năng khai thác là 412.000 - 500.000 tấn/năm Trữ lượng cá nổi vùng khơi Trung bộ và Đông Nam bộ trên 175.000 tấn, khả năng

cư thẳng đứng theo

độ sâu

Chúng có thể đánh bắt bằng lưới giả và lưới vây

5 Trữ lượng cá nổi vùng khơi 175

6 Khả năng khai thác cá nổi vùng khơi

60

Diện tích ước tính trữ lượng cá thay đổi với từng loài

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 19

Bảng 2.2 Mùa vụ và đối tượng khai thác chủ yếu của nghề khai thác thuỷ hải sản của tỉnh Bến Tre

TT Danh mục C.suất

tàu (cv)

Mùa chính (tháng)

Mùa phụ (tháng)

Đối tượng khai thác chủ yếu

b Vây ngày

2.2.3 Cơ cấu ngành nghề khai thác thủy sản

Theo Báo cáo của Sở Thuỷ sản Bến Tre (2002) thì:

Cơ cấu nghề nghiệp khai thác

- Nghề nghiệp khai thác thuỷ sản của tỉnh Bến Tre được xếp thành 7 họ nghề chính, tính đến 3/2001 cho thấy: Họ nghề lưới kéo 40,45%, họ lưới vây 4,1%, họ lưới rê 18,6%, họ nghề câu 14,6%, nghề cố định 4,05%, nghề sông rạch 5,6%, nghề khác 12,9%

- Phân tích tỉ trọng đóng góp sản lượng khai thác của các họ nghề bình quân trong thời kì nghiên cứu cho thấy: Họ lưới kéo chiếm tỉ trọng lớn nhất 49,7%, của họ lưới vây, họ lưới rê 25,9%, của nghề câu 6,3%, nghề cố định 0,3%, nghề khai thác trong sông rạch 0,2%

Lao động

Lao động chuyên nghiệp tham gia khai thác thuỷ sản từ 6.036 người/năm 1990 tăng lên 12.047 người/năm 2000, tăng 6.011 người gấp gần 2 lần trong 10 năm Chất lượng lao động không ngừng được tăng lên

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 20

Bảng 2.3 Thống kê tàu thuyền và lao động nghề cá Tỉnh Bến Tre đến tháng 10 năm 2005

Tổ chức khai thác

Đa số hình thức tổ chức khai thác dưới dạng tư nhân Tại tỉnh Bến Tre chỉ có một

đội tàu khai thác xa bờ thuộc Công ty Lâm sản tỉnh Bến Tre

2.2.4 Sản lượng khai thác

Tổng sản lượng khai thác thuỷ sản ở tỉnh Bến Tre liên tục tăng hàng năm, từ 39.212 tấn/năm (1990) lên 62.442 tấn/năm (2000), tăng 23.341 tấn trong 10 năm, gấp 1,59 lần

Năng suất lao động và năng suất bình quân theo mã lực có xu hướng giảm dần, ngược lại năng suất bình quân của 1 tàu khai thác có xu thế tăng

Loại tàu <90CV Loại tàu ≥90CV Loại nghề Tổng

số tàu (chiếc)

Tổng số lao động (người) Số tàu

(chiếc)

Số lao động (người)

Số tàu (chiếc)

Số lao động (người) Câu kiều 3 28 3 28 - - Câu mồi 10 27 10 27 - - Câu mực 225 2527 195 2199 30 328 Cào đôi_Cái 171 1524 5 36 166 1488 Cào đôi_Đực 121 556 16 79 105 477 Cào đơn 1371 5348 916 2841 455 2507 Lưới quàng 3 41 1 12 2 29 Lứơi rê cố định 23 73 23 73 - - Lưới rê trôi 339 1245 335 1210 4 35 Lưới sĩ 27 316 26 304 1 12 Nghề đăng 2 4 2 4 - - Nghề đáy 72 220 72 220 - - Vây ánh sáng 98 1734 5 159 93 1675 Nghề khác 14 74 13 54 1 20 Hậu cần

thủysản

8 28 8 28 - -

Chuyển tải thủysản

204 522 179 435 25 87

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 21

Hình 2.2 Năng suất khai thác thuỷ sản tại các năm mốc của tỉnh Bến Tre Qua Hình 2.2 cho thấy, năng suất theo lao động (tấn/người) từ 6,5 tấn/người (1990) giảm xuống 4,1 tấn/người (1996) và có xu hướng tăng trở lại, năm 2000 sản lượng đạt 5,2 tấn/người Đồng thời năng suất bình quân của một mã lực tham gia khai thác từ 1,8 tấn/CV năm 1990 giảm xuống còn 0,4 tấn/CV năm 2000 Trong khi đó, năng suất bình quân của một đơn vị tàu thuyền tham gia khai thác

từ 29,3 tấn/tàu năm 1990 tăng lên 32,3 tấn/tàu năm 2000 Điều này cho thấy ngư dân ngày càng tăng cường độ khai thác để đạt sản lượng cao trong khi hiệu quả khai thác trên một mã lực giảm

Sản lượng đội tàu lưới vây của tỉnh từ năm 2003 đến năm 2005

Dựa theo số liệu của Sở Thủy sản và Chi cục BVNLTS Bến Tre thì tổng sản lượng của đội tàu lưới vây được thể hiện trong Hình 2.3 như sau:

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 22

16.930

15.612

0 5.000 10.000 15.000 20.000 25.000

2.2.5 Cơ cấu tàu thuyền nghề lưới kéo và lưới vây cỡ công suất từ 90CV trở lên

Theo số liệu của Chi cục BVNLTS Bến Tre thì số lượng tàu lưới kéo và lưới vây

cỡ công suất từ 90CV trở lên tính đến cuối năm 2005 có tổng cộng 578 chiếc tàu lưới kéo và 93 chiếc tàu lưới vây, được phân loại theo công suất và địa phương như Hình 2.4

38,8

45,8

15,4 28

61,3

10,7

0 10 20 30 40 50 60 70

Tàu lưới kéo Tàu lưới vây

Hình 2.4 Phân loại tàu lưới kéo và lưới vây theo công suất

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 23

Qua Hình 2.4 thể hiện nhóm tàu lưới kéo và lưới vây theo công suất thì ta thấy chủ yếu tàu lưới vây được trang bị có công suất dưới 400 CV chiếm đa số, đặc biệt là nhóm tàu có công suất từ 300-400 CV; còn tàu có công suất lớn hơn 400

CV vẫn còn chiếm tỉ lệ nhỏ

Nếu phân loại tàu theo cấp huyện thì số lượng tàu lưới kéo chỉ tập trung nhiều ở huyện Ba Tri và Châu Thành lần lượt là 51,7% và 48,3%; trong khi đó số lượng tàu lưới vây thì chiếm tỉ lệ cao ở 2 huyện Ba Tri và Bình Đại (71,0% và 24,7% (Hình 2.5)

10 20 30 40 50 60 70 80

Ba Tri Bình Đại Châu Thành Thạnh Phú

Tàu lưới kéo Tàu lưới vây

Hình 2.5 Đồ thị phân loại tàu lưới kéo và lưới vây theo địa phương

2.3 Tính năng các loại máy điện hàng hải 2.3.1 Máy đàm thoại

Trên tàu đánh cá ở Việt Nam hiện nay, các loại máy đàm thoại đang dùng được chia làm 2 loại chính: Máy tầm gần, công suất nhỏ, tần số dải CB (25 Mhz đến

30 Mhz) và máy tầm xa, công suất lớn, dải tần MF và HF (1,6 Mhz đến 30 Mhz) (Trần Tiến Phức, 2004)

Trang 24

- Kiểm tra nguôn điện (chuẩn là 13,8 vôn) hay 1 bình acquy 12 vôn đã nạp

đủ điện Kiểm tra các điểm tiếp xúc của cáp nguồn và cầu chì trên đó Kiểm tra cần anten, cáp anten

- Bật công tắt cấp điện vào máy

- Chỉnh âm lượng ra loa đủ nghe

- Chỉnh nút khuếch đại tín hiệu thu (RF GAIN) lên trên 2/3 cung có thể

- Xoay nút hạn chế tiếng ồn (SQL) ngược chiều kim đồng hồ cho đến khi nghe nhiễu xuất hiện trong loa và trả ngược lại ở vị trí nhiễu vừa mất

- Chỉnh nút tần số thu (FINE) và tần số phát (COARSE) ở giữa

- Chọn băng và kênh tần số cần liên lạc

- Chỉnh các chế độ chống nhiễu để thu được tín hiệu có chất lượng tốt nhất

- Khi muốn phát tín hiệu trả lời cần chỉnh công suất phát phù hợp với cự ly liên lạc, chỉnh MIC GAIN tuỳ theo vị trí micro và bấm công tắc tổ hợp Chế độ thu được thiết kế liên tục, chế độ phát được thiết kế gián đoạn - đàm thoại từng câu

- Nếu tín hiệu chưa thật tốt thì tiếp tục điều chỉnh các chức năng khác

- Lưu ý dùng công suất phát phù hợp để tăng tuổi thọ cho máy và tiết kiệm điện cho bình acquy

Đánh giá ưu nhược điểm của máy đàm thoại

Hiện nay trên thị trường có nhiều loại máy đàm thoại tầm gần và tầm xa nhưng các hiệu như Super, Galaxy (tầm gần) và Icom (tầm xa) thì có nhiều ưu điểm hơn như giá thành tương đối rẻ (3 đến 4 triệu), phù hợp với khả năng tài chánh của ngư dân và việc lắp đặt (máy và anten) cũng khá đơn giản Đồng thời thao tác vận hành máy không phức tạp lắm và tuổi thọ của máy cũng cao

Tuy nhiên máy vẫn tồn tại những khuyết điểm như khi thời tiết xấu thì nghe không rõ Trong trường hợp thời tiết quá xấu như cơn bão số 1(tháng 5 năm 2006) thì chất lượng tín hiệu của máy đàm thoại tầm xa (Icom) sẽ không rõ lắm

Có những lúc mưa to thì chỉ cách đài phát 1km đã không nghe được hoặc nghe lạo xạo (Đoàn Ngọc Hiên, 2006)

Hình 2.6 Máy đàm thoại tầm xa Icom 718 (nguồn: Trần Tiến Phức)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 25

2.3.2 Máy định vị Chức năng sử dụng

Xác định vị trí tàu, xác định tốc độ, thời gian tới điểm đích, lưu vết, lưu điểm, đo khoảng cách, báo động, lập trình đường đi cho tàu

Những điều cần lưu ý khi sử dụng máy định vị

Theo Trần Tiến Phức (2004) thì để đảm bảo máy hoạt động tốt, tăng tuổi thọ của máy và phục vụ tốt cho việc đánh bắt cần lưu ý một số điểm sau:

- Sử dụng nguồn điện 1 chiều ổn định và không được sử dụng máy khi bình đang sạc

- Khi nối nguồn vào máy phải kiểm tra và biết chắc chắn nguồn được dùng

là nguồn 1 chiều, xác định chính xác dây nguồn nối cực âm và dây nguồn nối cực dương

- Đảm bảo không bị mất điện đột ngột khi đang sử dụng máy

- Anten của máy định vị, vị trí lắp đặt phải cách xa anten của máy đàm thoại 3-4 mét và phải nằm ngoài góc quét của Radar gắn trên tàu

- Lắp đặt máy ở vị trí khô ráo, thoáng mát, ở nơi thuyền trưởng dễ thao tác, không để ánh sáng chiếu trực tiếp vào máy, không gần nơi có từ tính Giữ máy luôn sạch sẽ, không dùng khăn ẩm lau mặt máy

- Khi máy hư hỏng không được tự ý mở máy ra sửa chữa

Đánh giá ưu nhược điểm của máy định vị

Phần lớn những máy định vị hiệu Furuno GP30, GP 31, GP 32 do Nhật sản xuất

có nhiều ưu điểm như: Giá thành phù hợp, các chức năng của máy thao tác dễ dàng, máy gọn nhẹ, lắp đặt đơn giản không yêu cầu kỹ thuật cao, bộ nhớ điểm lớn (GP31 có 950 điểm), công suất tiêu thụ điện ít, trọng lượng anten nhẹ, có màn hình xa lộ giúp lái tàu dễ dàng, độ bền cao

Tuy nhiên máy vẫn có một số nhược điểm: Cầu chì nhanh bị rỉ, dây anten thường

bị hỏng vỏ nhựa bọc cách điện

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 26

2.3.3 Máy đo sâu dò cá Chức năng sử dụng

Máy có những chức năng chủ yếu như: đo sâu dò cá, phóng đại vùng nước đã chọn, phóng đại khu vực sát đáy, báo động cạn, báo động sâu

Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng máy đo sâu dò cá

Nguyên tắc chung khi vận hành máy:

- Sử dụng nguồn điện 1 chiều ổn định, có điện áp phù hợp

- Xác định chính xác dây nguồn nối cực âm, dây nguồn nối cực dương

- Máy đo sâu dò cá nên dùng 1 bình acquy riêng

- Đảm bảo không bị mất điện đột ngột khi đang sử dụng máy

- Khi cầu chì đứt phải tìm nguyên nhân trước khi thay cầu chì mới, cầu chì được thay phải có đặc tính kỹ thuật tương đương với cầu chì của máy, không dùng cầu chì có trị số ampe lớn hơn

- Vị trí lắp đặt đầu dò thường trong phạm vi 1/3 đến 2/3 chiều dài thân tàu tính từ mũi tàu và cách ky tàu khoảng 0,3 đến 0,5 mét Bề mặt đầu dò phải vuông góc với đáy biển

Đánh giá ưu nhược điểm của máy đo sâu dò cá

Những máy đo sâu dò cá hiệu Furuno FVC 667, Fuso do Nhật sản xuất thì phần lớn những máy này có ưu điểm là có độ chính xác cao, bộ nhớ điểm lớn (Fuso 10.000 điểm), biên độ nhiệt chịu đựng rộng, giá thành của máy hiệu Furuno tương đối rẻ, phù hợp với khả năng tài chính của ngư dân, độ bền của máy cao Tuy nhiên máy có những nhược điểm như máy Furuno không kết hợp chức năng định vị như Fuso 660, vì thế hiệu máy này ít được sử dụng trên tàu lưới kéo Còn loại máy Fuso thì giá thành cao hơn nhiều lần so với Furuno, lắp đặt phức tạp hơn

Hình 2.8 Máy đo sâu dò cá Furuno FCV-667 (nguồn: ASC Co., Ltd)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 27

2.3.4 Máy đo sâu dò cá kết nối định vị Chức năng sử dụng

Máy được dùng chủ yếu vào việc xác định vị trí tàu, tốc độ, hướng đi của tàu, cài đặt các thộng tin về ngư trường, xác định khoảng cách…Nói chung máy có tương đối đầy đủ những chức năng của 1 máy định vị Ngoài chức năng định vị máy có những chức năng của máy đo sâu dò cá, được sử dụng vào việc dò cá, xác định

độ sâu ngư trường, chất đáy

Những điểm cần lưu ý khi sử dụng máy đo sâu dò cá kết nối định vị

Cũng giống như những máy đo sâu sâu dò cá, khi sử dụng cần lưu ý vị trí lắp đặt máy, kiểm tra nguồn điện trước khi dùng, đảm bảo cung cấp nguồn điện ổn định, không để ánh sáng chiếu trực tiếp vào máy, không để máy ở gần nơi có từ tính…

Những ưu nhược điểm của máy

Máy có ưu điểm lớn nhất đó là có thể sử dụng đồng thời 2 chức năng đo sâu dò

cá và chức năng định vị trên cùng 1 màn hình hoặc có thể sử dụng độc lập chức năng định vị hay đo sâu dò cá tuỳ thuộc vào các thời điểm khác nhau và mục đích sử dụng, độ bền cao Nhưng máy có giá thành khá cao (20 -25 triệu) và việc lắp đặt máy cũng như thao tác phức tạp hơn các loại máy dò cá thông thường, chủ yếu là các hiệu như JMC, Suzuki 633 do Nhật sản xuất

2.3.5 Máy Ra đa (Radio detection and Ranging)

Ra đa là thiết bị dùng sóng vô tuyến để phát hiện và quan sát mục tiêu ở khoảng cách xa hơn so với mắt thường khi tầm nhìn bị hạn chế như mưa, sương mù, đêm tối… Đồng thời, nó xác định được khoảng cách góc mạn, vận tốc và hướng chuyển động của mục tiêu Từ đó, Ra đa giúp cho tàu hành trình trên biển có thể xác định được vị trí của tàu mình so với các mục tiêu khác, quan sát và phòng tránh các nguy cơ va chạm có thể xảy ra Trong khai thác thủy sản (mà đặc biệt là nghề lưới rê và câu khơi) ra đa giúp thuyền trưởng kiểm soát được ngư cụ của mình nhờ phao tiêu gắn trên đó (Trần Tiến Phức, 2004)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 28

Trên đây là một số máy điện hàng hải với những chức năng, ưu nhược điểm và những điểm cần lưu ý khi sử dụng Mỗi loại máy đều có những chức năng riêng, như đàm thoại thì có đàm thoại tầm gần và đàm thoại tầm xa, được sử dụng để liên lạc giữa tàu với tàu hay tàu về đất liền, việc lắp đặt và thao tác sử dụng cũng không phức tạp lắm, đồng thời giá thành cũng phù hợp với khả năng tài chính của ngư dân (tầm gần: 3-4 triệu) Phổ biến có các nhãn hiệu như Super, Galaxy, Icom Tuy nhiên phần lớn những máy đàm thoại đều nghe không rõ trong điều kiện thời tiết xấu

Về máy định vị thì cũng có nhiều chức năng như xác định vị trí, tốc độ, lưu vết tàu chạy, lưu điểm, lập trình đường đi…Hiệu máy Furuno do Nhật sản xuất có được nhiều ưu điểm hơn các hiệu khác như độ chính xác cao (30-50 m), công suất tiêu thụ nhỏ (2-3 W), thao tác các điểm cần nhớ đơn giản…đồng thời giá thành cũng không cao lắm (5-6 triệu)

Riêng máy dò cá thì có 2 loại, một loại chỉ dùng để đo sâu dò cá và một loại có thể vừa đo sâu dò cá vừa có kết nối định vị rất thuận tiện cho người sử dụng Nhưng giá thành cao, và thao tác cũng phức tạp hơn

Tuỳ theo nhu cầu cần thiết của mỗi loại nghề cũng như khả năng tài chính mà ngư dân trang bị những loại máy cho phù hợp để nâng cao hiệu quả khai thác và đảm bảo an toàn hàng hải

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 29

Phần 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tại các huyện Ba Tri, Bình Đại và Châu Thành của tỉnh Bến Tre

Hình 3.1 Bản đồ các huyện được điều tra của tỉnh Bến Tre (nguồn: google.com)

3.2 Phương pháp nghiên cứu 3.2.1 Thông tin thứ cấp Các nội dung thông tin thứ cấp cần thu thập

- Điều kiện tự nhiên

- Đặc điểm kinh tế xã hội

- Tình hình phát triển khai thác thủy sản

- Hiện trạng trang bị máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo, lưới vây

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 30

3.2.2 Thông tin sơ cấp 3.2.2.1 Nội dung Thông tin chung

Thông tin về các loại trang thiết bị điện hàng hải trên tàu

- Thông tin về người sử dụng máy

- Thông tin về các loại máy

Thông tin về từng loại máy

3.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

Thông tin sơ cấp được phỏng vấn trực tiếp người sử dụng máy điện hàng hải theo bảng câu hỏi soạn sẵn (Phụ lục A)

Số mẫu phỏng vấn

Do điều kiện về nhân lực, thời gian và kinh phí nên đề tài chỉ được tiến hành khảo sát khoảng 72 mẫu, các mẫu này đã được chọn 1 cách ngẫu nhiên cho 2 loại nghề dựa theo danh sách do Chi cục BVNLTS Bến Tre cung cấp

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 31

- Số mẫu loại nghề lưới kéo xa bờ (≥90CV) là 38 mẫu

- Số mẫu loại nghề lưới vây xa bờ (≥90CV) là 34 mẫu

3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Các số liệu sẽ được tính toán theo tầng suất xuất hiện, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn Các phần mềm Excel và SPSS được sử dụng để phân tích số liệu

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 32

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh Bến Tre

4.1.1 Tỷ lệ phần trăm số tàu có sử dụng máy điện hàng hải

Theo “Qui hoạch tổng thể khai thác và dịch vụ hậu cần thuỷ sản tỉnh Bến Tre đến năm 2010 và tầm nhìn 2020” của Sở thuỷ sản Bến Tre năm 2002 thì chỉ thống kê được số lượng máy điện hàng hải đến năm 2000 của huyện Châu Thành, còn lại các huyện như Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú mặc dù số lượng tàu thuyền đánh cá chiếm số lượng khá lớn nhưng chưa thể thống kê được một cách cụ thể số lượng máy điện hàng hải được trang bị trên tàu

Theo thống kê của Sở thuỷ sản Bến Tre thì đến năm 2000 cơ cấu nghề nghiệp và

số lượng máy điện hàng hải toàn huyện Châu Thành được thống kê như sau Bảng 4.1 Các loại nghề khai thác thuỷ sản chính của huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre năm 2000

Loại nghề chính

Lưới kéo Lưới vây Lưới rê Nghề câu Tổng cộng

(chiếc)

Số lượng (chiếc)

26 6 79 2 113

Nhìn chung với số lượng tàu thuyền khoảng 113 tàu cho các loại nghề chính như lưới kéo, lưới vây, lưới rê và nghề câu nhưng toàn huyện chỉ trang bị được 7 máy điện cho mỗi loại máy như: 7 máy đàm thoại tầm gần, 7 máy đàm thoại tầm xa, 7 máy định vị và 7 máy đo sâu dò cá Do đó, toàn huyện Châu Thành chỉ có 7 tàu trang bị đủ 4 loại máy như đàm thoại tầm gần, tầm xa, máy định vị và dò cá

Đến thời điểm hiện nay (năm 2006), Sở Thuỷ sản và Chi cục BVNLTS Bến Tre vẫn chưa thể thống kê được số lượng máy điện hàng hải cụ thể cho từng loại máy đang được trang bị trên tàu cá cũng như chưa có số liệu thống kê số tàu trang bị máy điện hàng hải Và đây cũng chính là một thiếu sót trong công tác quản lý và đăng kiểm tàu cá của tỉnh cần phải được khắc phục

4.1.2 Các loại máy điện hàng hải đang được trang bị trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh Bến Tre

Qua điều tra 72 tàu, trong đó có 34 tàu lưới vây và 38 tàu lưới kéo kể cả kéo đơn

và kéo đôi có công suất từ 90CV trở lên thì các loại máy điện hàng hải đang được trang bị trên tàu có các loại máy như đàm thoại tầm gần, tầm xa, máy định vị,

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 33

máy đo sâu dò cá và máy đo sâu dò cá có kết nối định vị Tỉ lệ % các loại máy điện hàng hải được trang bị trên các tàu đã qua điều tra được thể hiện trong Hình 4.1

100

79,2 81,9

26,4

18,1

0 20 40 60 80 100 120

Đàm thoại tầm gần

Đàm thoại tầm xa

Máy định vị Máy đo sâu

dò cá

Máy đo sâu

dò cá kết nối định vị

vị chiếm 81,9% và máy đàm thoại tầm xa cũng được trang bị nhiều (79,2%) Tỉ

lệ trang bị còn thấp đối với máy đo sâu dò cá (26,4%) và máy dò cá kết nối định

vị (18,1%)

Trong 72 tàu điều tra thì hiệu máy đàm thoại tầm gần chủ yếu là Super, Galaxy

và máy tầm xa chủ yếu là hiệu Icom 707, Icom 718, Icom 77 đều do Nhật sản xuất, riêng Super thì có 1 số máy do Malayxia sản xuất Máy định vị là được trang bị chủ yếu là hiệu Furuno (GP30, GP31, GP32) do Nhật sản xuất và 1 vài hiệu khác như FX, Gacmin Còn loại máy đo sâu dò cá thì số tàu trang bị máy đo sâu dò cá là 19 tàu, chiếm 26,4% tập trung ở các hiệu máy do Nhật sản xuất như Furuno 667, Fuso Riêng loại máy đo sâu dò cá có kết nối định vị thì trong tổng

số 72 tàu lưới kéo và lưới vây được điều tra chỉ có 13 tàu có trang bị loại máy này chiếm 18,1%, chủ yếu là hiệu máy Suzuki và JMC đều do Nhật sản xuất (Bảng 4.2)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 34

Bảng 4.2 Các loại máy điện hàng hải đang được trang bị trên tàu lưới kéo và lưới vây ở tỉnh Bến Tre

Tỉ lệ (%) Stt Tên máy Nhản hiệu Số

lượng (máy)

Loại máy

Hiệu máy

Nước sản xuất

1 Đàm thoại tầm gần

Super 42 100 58,3 Nhật,

Malayxia Galaxy 26 36,1 Nhật Iland 3 4,2 Nhật Argo 1 1,4 Nhật

2 Đàm thoại tầm xa Icom 707 25 79,2 34,7 Nhật

Icom 718 23 31,9 Nhật Icom 77 9 12,6 Nhật

3 Máy định vị Furuno GP30 26 81,9 36,1 Nhật

Furuno GP31 20 27,8 Nhật Furuno GP32 8 11,1 Nhật Hiệu khác

10203040506070

707

Icom718

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 35

riêng hiệu Iland và Argo thì có rất ít tàu trang bị Đối với máy đàm thoại tầm xa thì chủ yếu trang bị hiệu Icom như Icom 707 chiếm 34,7%, Icom 718 chiếm 31,9% và Icom 77 chiếm 12,6% Theo nhận xét của ngư dân thì lý do mà họ trang bị máy hiệu Super, Galaxy và Icom là vì các hiệu máy này có nhiều ưu điểm như giá thành tương đối rẻ (tầm gần: 3 đến 4 triệu), phù hợp với khả năng tài chính, đồng thời tuổi thọ của máy cũng khá cao, trung bình khoảng 9 năm, thao tác vận hành máy cũng không quá phức tạp nên được ngư dân rất ưa chuộng

Furuno GP30

Furuno GP31

Furuno GP32

Hiệu khác

Furuno FCV 667

Hình 4.3 Tỷ lệ (%) các hiệu máy định vị, dò cá và dò cá kết nối định vị được

trang bị trên tàu lưới kéo và lưới vây

Qua Hình 4.3 cho thấy, về máy định vị thì các tàu trang bị chủ yếu là hiệu Furuno do Nhật sản xuất như Furuno GP30 chiếm 36,1%, GP31 chiếm 27,8%, GP32 chiếm 11,1%, và còn có một số hiệu máy khác nhưng những loại này chỉ chiếm số lượng rất ít như FX, Gacmin chiếm 6,9% (5 máy)

Đối với máy đo sâu dò cá thì có những hiệu máy được trang bị như Furuno FCV

667 chiếm 16,7%, Fuso chiếm 9,7% Ngoài ra, loại máy đo sâu dò có kết nối định vị cũng được một số tàu trang bị như hiệu JMC (V2600P, P608V) và hiệu

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 36

của ngư dân, cũng như thao tác vận hành không phức tạp lắm và hiệu máy này còn có ưu điểm nữa là độ bền cũng như độ chính xác cao Đối với máy dò cá có kết nối định vị tuy nó sử dụng tiện lợi hơn vì có thể hiển thị đồng thời cả 2 màn hình vừa dò cá vừa định vị nhưng giá thành quá cao như JMC khoảng 30 triệu và Suzuki khoảng 26 triệu, ngoài ra thao tác vận hành cũng phức tạp hơn so với máy hiệu Furuno cho nên rất ít tàu trang bị loại máy này

Qua 72 tàu lưới kéo và lưới vây được điều tra thì có 100% tàu là trang bị mỗi tàu

1 máy đàm thoại tầm gần, có 79,2% tàu trang bị mỗi tàu 1 máy đàm thoại tầm xa, chủ yếu là hiệu Super, Galaxy và Icom Máy định vị thì có 81,9% tổng số tàu điều tra là có trang bị mỗi tàu 1 máy định vị, chủ yếu là hiệu Furuno do Nhật sản xuất Đối với máy đo sâu dò cá thì có 19 tàu lưới vây trang bị mỗi tàu 1 máy đo sâu dò cá chiếm 26,4%, phổ biến có các hiệu máy như Furuno FCV667 và Fuso Riêng loại máy đo sâu dò cá kết hợp định vị thì cả tàu lưới kéo và lưới vây đều

có trang bị nhưng số lượng không nhiều, chỉ chiếm 18,1% tổng số tàu điều tra, có các hiệu máy như JMC, Suzuki

Để đảm bảo an toàn, thông tin liên lạc dễ dàng, nâng cao năng suất đánh bắt, đồng thời tuỳ theo khả năng tài chính cũng như yêu cầu của từng loại nghề mà ngư dân có sự lựa chọn những loại máy và hiệu máy cho phù hợp

Máy điện hàng hải trang bị trong nghề lưới kéo

Trong 38 tàu lưới kéo (≥90 CV) đã qua điều tra phỏng vấn, số lượng máy hàng hải được trang bị trên mỗi tàu không giống nhau Các tàu lưới kéo có trang bị 3 loại máy như đàm thoại tầm gần, tầm xa và máy định vị thì chiếm tỉ lệ cao (47,4%) Kế đến là những tàu có trang bị 2 loại máy đàm thoại tầm gần và máy định vị (36,8%) Đối với tàu có trang bị máy đàm thoại tầm gần, tầm xa và dò cá kết nối định vị thì chiếm số lượng không nhiều (10,5%) Cá biệt có 1 tàu đực của tàu lưới kéo đôi chỉ trang bị 1 máy đàm thoại tầm gần và 1 tàu lưới kéo đơn trang

bị cả 4 loại máy gồm đàm thoại tầm gần, tầm xa, định vị và dò cá kết nối định vị (Bảng 4.3)

Bảng 4.3 Số lượng máy điện hàng hải trang bị trên tàu lưới kéo

Loại máy hàng hải Số tàu

(chiếc)

Tỉ lệ (%)

Trang 37

Đối với tàu lưới kéo xa bờ (≥90CV) ở tỉnh Bến Tre chủ yếu tập trung trang bị máy đàm thoại tầm gần (100%), máy định vị (86,8%) và máy đàm thoại tầm xa (60,5%); còn những máy điện hàng hải khác chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ Các loại máy điện hàng hải có nhiều hiệu khác nhau, như Galaxy, Super (ĐT tầm gần); Icom (ĐT tầm xa); Furuno GP30, GP31, GP32 (Định vị); Furuno FCV 667, Fuso (Đo sâu dò cá); JMC, Suzuki 633( Dò cá kết nối định vị)…(Phụ lục D.1)

Như vậy việc trang bị máy điện hàng hải của tàu phụ thuộc vào nhu cầu phục vụ khai thác của tàu Tàu khai thác xa bờ, ngư trường lạ thì cần máy đàm thoại tầm

xa để liên lạc với đất liền và máy định vị để dẫn dắt tàu cũng như xác định ngư trường Tuy nhiên, máy đo sâu – dò cá rất cần thiết cho nghề lưới kéo để xác định ngư trường nâng cao hiệu quả khai thác thì lại không được trang bị Điều này có thể giải thích theo hai hướng: một là, ngư dân ở tỉnh Bến Tre đã thuộc ngư trường Nếu như vậy thì ngư dân lệ thuộc rất nhiều vào ngư trường cũ và bị động trong việc tìm ngư trường mới Hai là, việc sử dụng máy đo sâu dò cá quá phức tạp, ngư dân chỉ biết sử dụng nó trong việc đo sâu còn chức năng dò cá thì chưa biết sử dụng, nên ngư dân không trang bị

Máy điện hàng hải trang bị trên tàu lưới vây

Đối với tàu lưới vây thì trang bị đủ các loại máy điện hàng hải gồm máy đàm thoại tầm gần, tầm xa, định vị, đo sâu dò cá và máy dò cá kết nối định vị

Bảng 4.4 Máy điện hàng hải trang bị trên tàu lưới vây

Loại máy hàng hải Số tàu

(chiếc)

Tỉ lệ (%)

ĐT tầm gần, tầm xa và định vị 7 20,6

ĐT tầm gần, tầm xa, định vị và đo sâu dò cá 19 55,9

ĐT tầm gần, tầm xa và dò cá kết nối định vị 8 23,5 Phần lớn các tàu trang bị đầy đủ 4 loại máy gồm đàm thoại tầm gần, tầm xa, định

vị và đo sâu dò cá có tỉ lệ cao, chiếm 55,9% Kế đến, số tàu lưới vây có trang bị 3 loại máy gồm đàm thoại tầm gần, tầm xa và do cá kết nối định vị, chiếm 23,5% (Bảng 4.4)

Nếu xét theo loại máy thì có 100% tàu trang bị máy đàm thoại tầm gần (Super Galaxy) và 100% trang bị máy đàm thoại tầm xa (Icom 707, Icom 718) Có 76,5% trang bị máy định vị (Furuno GP30, Furuno GP31) và có 55,9% đượctrang bị máy đo sâu dò cá (Furuno FCV667, Fuso) Riêng máy dò cá kết nối định

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 38

4.1.3 Những thông tin về vận hành và lắp đặt máy điện hàng hải 4.1.3.1 Thông tin về vận hành

Trình độ của người sử dụng máy điện hàng hải từ 72 mẫu điều tra được thể hiện

91,7

73,6

65,3

1,4 0

10 20 30 40 50 60 70 80 90 100

Tài liệu kèm theo

Đồng nghiệp hướng dẫn

Người bán hướng dẫn

Tham gia lớp tập huấn

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 39

Trong mối liên hệ về người vận hành, thời gian hành nghề cũng là một yếu tố có liên quan tới khả năng sử dụng máy Thời gian hành nghề của người sử dụng máy được trình bày ở Bảng 4.6

Bảng 4.6 Thời gian hành nghề của người vận hành Thời gian hành nghề Số lượng (người) Tỉ lệ (%)

5 năm - 10 năm 18 25,0

11 năm - 20 năm 38 52,8

> 20 năm 16 22,2 Qua Bảng 4.6 cho thấy, thời gian hành nghề của người sử dụng máy khá cao, phần lớn là trên 10 năm, chiếm hơn 50% Điều đó nói lên kinh nghiệm đi biển cũng có ảnh hưởng đến trình độ sử dụng máy của ngư dân Đồng thời, thời gian

đi biển càng lâu thì việc học hỏi qua đồng nghiệp về cách thức sử dụng máy là càng nhiều, càng thuận tiện Điều này cũng là lý do trình độ học vấn của ngư dân chỉ đến cấp 2, chiếm hơn 70% tổng số phiếu điều tra Ngoài ra, phần lớn ngư dân

là những người đi biển lâu năm, trên 40 tuổi chiếm hơn 30% Vì lẽ đó mà việc tham gia lớp tập huấn cũng gặp một số trở ngại do tuổi tác cũng như trình độ học vấn

Tóm lại, những thông tin về người vận hành như thời gian hành nghề, trình độ học vấn và những lý do biết sử dụng máy đã được thống kê, thể hiện trình độ học vấn của ngư dân phần lớn chỉ dừng lại ở cấp 2, có nhiều kinh nghiệm đi biển và biết sử dụng máy chủ yếu qua tài liệu kèm theo và học hỏi qua đồng nghiệp

Mục đích và chế độ thường sử dụng của các loại máy

Đối với mỗi loại máy điện hàng hải có những chế độ cũng như mục đích sử dụng khác nhau Qua 72 tàu được điều tra, những chế độ và mục đích sử dụng cụ thể của từng loại máy được thể hiện như sau:

Bảng 4.7 Mục đích sử dụng của máy đàm thoại

Mục đích Thứ tự ưu

tiên

Số lượng (mẫu)

Tỉ lệ (%)

Liên lạc với tàu khác 1 54 75 Liên lạc với đất liền 2 39 54,2 Trang bị theo qui định của pháp luật 3 9 12,5 Đối với máy đàm thoại thì mục đích thường sử dụng nhất là liên lạc với tàu khác

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày đăng: 10/12/2015, 15:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Bản đồ Tỉnh Bến Tre ( nguồn:google.com ) - khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh bến tre
Hình 2.1 Bản đồ Tỉnh Bến Tre ( nguồn:google.com ) (Trang 14)
Bảng 2.3 Thống kê tàu thuyền và lao  động  nghề cá Tỉnh Bến Tre đến tháng 10       năm 2005 - khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh bến tre
Bảng 2.3 Thống kê tàu thuyền và lao động nghề cá Tỉnh Bến Tre đến tháng 10 năm 2005 (Trang 20)
Hình 2.2 Năng suất khai thác thuỷ sản tại các năm mốc của tỉnh Bến Tre - khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh bến tre
Hình 2.2 Năng suất khai thác thuỷ sản tại các năm mốc của tỉnh Bến Tre (Trang 21)
Hình 2.4 Phân loại tàu lưới kéo và lưới vây theo công suất - khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh bến tre
Hình 2.4 Phân loại tàu lưới kéo và lưới vây theo công suất (Trang 22)
Hình 2.3 Sản lượng của nghề lưới vây từ năm 2003-2005 - khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh bến tre
Hình 2.3 Sản lượng của nghề lưới vây từ năm 2003-2005 (Trang 22)
Hình 3.1 Bản đồ các huyện được điều tra của tỉnh Bến Tre  (nguồn: google.com) - khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh bến tre
Hình 3.1 Bản đồ các huyện được điều tra của tỉnh Bến Tre (nguồn: google.com) (Trang 29)
Hình 4.1 Tỉ lệ (%) các loại máy điện được trang bị trên tàu lưới kéo và lưới vây - khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh bến tre
Hình 4.1 Tỉ lệ (%) các loại máy điện được trang bị trên tàu lưới kéo và lưới vây (Trang 33)
Bảng 4.3 Số lượng máy điện hàng hải trang bị trên tàu lưới kéo - khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh bến tre
Bảng 4.3 Số lượng máy điện hàng hải trang bị trên tàu lưới kéo (Trang 36)
Hình 4.4 Các hình thức học tập sử dụng máy điện hàng hải - khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh bến tre
Hình 4.4 Các hình thức học tập sử dụng máy điện hàng hải (Trang 38)
Bảng 4.7  Mục đích sử dụng của máy đàm thoại - khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh bến tre
Bảng 4.7 Mục đích sử dụng của máy đàm thoại (Trang 39)
Bảng 4.15 Thời gian lắp đặt của các loại máy - khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh bến tre
Bảng 4.15 Thời gian lắp đặt của các loại máy (Trang 44)
Bảng 4.23 Mức độ cần thiết trang bị các loại máy điện hàng hải - khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh bến tre
Bảng 4.23 Mức độ cần thiết trang bị các loại máy điện hàng hải (Trang 49)
Bảng 4.24 Hiệu quả sử dụng giữa các loại máy điện hàng hải của tàu lưới kéo - khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh bến tre
Bảng 4.24 Hiệu quả sử dụng giữa các loại máy điện hàng hải của tàu lưới kéo (Trang 49)
Bảng 4.25 Hiệu quả sử dụng giữa các loại máy điện hàng hải của tàu lưới vây - khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh bến tre
Bảng 4.25 Hiệu quả sử dụng giữa các loại máy điện hàng hải của tàu lưới vây (Trang 50)
Phụ lục D.3  Đồ thị tỉ lệ (%) các hiệu máy đàm thoại trên tàu lưới kéo - khảo sát hiện trạng sử dụng máy điện hàng hải trong nghề lưới kéo và lưới vây ở tỉnh bến tre
h ụ lục D.3 Đồ thị tỉ lệ (%) các hiệu máy đàm thoại trên tàu lưới kéo (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w