1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo (pseudapocryptes elongatus) ở tỉnh bạc liêu

57 249 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuTRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN LƯ THANH NHÃ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NGUỒN LỢI VÀ KỸ THUẬT KHAI THÁC CÁ KÈO Pseudapocr

Trang 1

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

LƯ THANH NHÃ

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NGUỒN LỢI VÀ

KỸ THUẬT KHAI THÁC CÁ KÈO

(Pseudapocryptes elongatus)

Ở TỈNH BẠC LIÊU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

2006

Trang 2

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

TÓM TẮT

Cá kèo là một trong những loài thủy sản có giá trị kinh tế và đặc trưng của vùng nước lợ ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) Nghiên cứu về hiện trạng khai thác, nguồn lợi, mùa vụ giống cá kèo được thực hiện tại ba điểm: phường Nhà Mát, xã Hiệp Thành - thị xã Bạc Liêu và xã Vĩnh Hậu - huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2006 Hiện trạng khai thác cá kèo thương phẩm bằng ngư cụ đáy sông được khảo sát trên 30 hộ, lưới đăng (nò) được khảo sát trên 28 hộ và khai thác cá giống bằng ngư cụ lưới mùng được khảo sát trên 30 hộ

Kết quả nghiên cứu cho thấy mùa vụ khai thác cá kèo thương phẩm quanh năm, tập trung nhiều từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau và sản lượng khai thác trung bình là 30 kg/đáy/tháng và 11 kg/nò/tháng, cao nhất ở tháng 11 và 12

Cá kèo giống được khai thác từ tháng 5 đến tháng 10 với sản lượng trung bình

là 9.347 cá thể/con nước kém và 13.640 cá thể/con nước rong Kết quả cũng cho thấy số ngày khai thác cá thương phẩm và cá giống từ 5-7 ngày/con nước/hộ

Ngư cụ khai thác cá kèo thương phẩm chủ yếu là đáy sông Lưới có chiều dài 37,7±7,5 m, rộng 8,4±1,3 m, cao 4±0,7 m Số mắt lưới ở miệng trong khoảng

1000¸-1300¸ Ngoài ra, nò cũng được ngư dân Bạc Liêu khai thác cá kèo trong vuông

Đối với cá kèo giống, lưới mùng là ngư cụ khai thác của ngư dân ở vùng ven biển tỉnh Bạc Liêu Lưới có cấu tạo đơn giản hơn đáy sông với chiều dài 19,3

±3,5m, chiều rộng 8,7±1,0m, cao 3,1±0,5m Kích thước mắt lưới 2a=1,8±0,2

mm

Trang 3

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

MỤC LỤC

Lời cảm tạ i

Tóm tắt ii

Mục lục iii

Danh sách bảng v

Danh sách hình vi

Danh mục các chữ viết tắt vii

Chương 1: Giới thiệu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Nội dung nghiên cứu 2

Chương 2: Lược khảo tài liệu 3

2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên tỉnh Bạc Liêu 3

2.1.1 Vị trí địa lý 3

2.1.2 Nhiệt độ và độ mặn nước biển 5

2.1.3 Một số đặc trưng của khu vực bãi bùn vùng biển tỉnh Bạc Liêu 6

2.2 Một số ngư cụ khai thác cá kèo phổ biến hiện nay 7

2.2.1 Đáy sông 7

2.2.2 Nò 7

2.3 Đặc điểm hình thái, phân bố và tập tính sống, dinh dưỡng, sinh trưởng, mùa vụ sinh sản của cá kèo 8

2.3.1 Đặc điểm hình thái 8

2.3.2 Đặc điểm phân bố và tập tính sống 8

2.3.3 Đặc điểm dinh dưỡng 9

2.3.4 Đặc điểm sinh trưởng 9

2.3.5 Mùa vụ sinh sản 9

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 10

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 10

3.2 Phương pháp nghiên cứu 10

Trang 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

3.2.2 Hiện trạng nguồn lợi cá kèo 10

3.2.3 Kết cấu ngư cụ 11

3.2.4 Kỹ thuật khai thác 11

3.3 Phương pháp phân tích số liệu 11

Chương 4: Kết quả và thảo luận 12

4.1 Hiện trạng khai thác và nguồn lợi cá kèo 12

4.1.1 Mùa vụ khai thác 12

4.1.2 Sản lượng khai thác 14

4.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khai thác 15

4.2 Kết cấu ngư cụ khai thác cá kèo 17

4.2.1 Đáy sông 17

4.2.2 Lưới mùng 36

4.2.3 Nò 37

Chương 5: Kết luận và đề xuất 40

5.1 Kết luận 40

5.2 Đề xuất 40

Tài liệu tham khảo 41

Phụ lục 42

Trang 5

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 4.1: Số ngày và sản lượng khai thác cá kèo trung bình trong tháng bằng đáy

sông 15

Bảng 4.2: Sản lượng khai thác cá kèo giống 15

Bảng 4.3: Các trang thiết bị của đáy sông ở Bạc Liêu 21

Bảng 4.4: Các thông số kỹ thuật của lưới mẫu ở 2 khu vực nghiên cứu 28

Bảng 4.5: Các thông số của từng phần lưới trong lưới mẫu 1 30

Bảng 4.6: Các thông số của từng phần lưới trong lưới mẫu 2 31

Bảng 4.7: Chu kỳ ráp giữa các phần lưới 31

Bảng 4.8: Các thông số kỹ thuật của lưới mùng 36

Bảng 4.9: Các thông số kỹ thuật của ngư cụ nò 39

Trang 6

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1: Bản đồ tỉnh Bạc Liêu 4

Hình 2.2: Cá kèo (Pseudapocryptes elongatus) 8

Hình 3.1: Bản đồ khu vực nghiên cứu tỉnh Bạc Liêu 10

Hình 4.1: Thời gian ngư dân bắt đầu khai thác cá thương phẩm 12

Hình 4.2: Mùa vụ khai thác cá kèo thương phẩm 13

Hình 4.3: Thời gian bắt đầu khai thác cá kèo giống ở khu vực điều tra (30 hộ) 14

Hình 4.4: Mùa vụ khai thác cá kèo giống 14

Hình 4.5: Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng khai thác cá kèo thương phẩm 17

Hình 4.6: Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng khai thác cá kèo giống 17

Hình 4.7: Ngư cụ khai thác cá kèo thương phẩm (Đáy sông) 19

Hình 4.8: Bản vẽ tổng thể đáy sông 20

Hình 4.9: Bảng vẽ khai triển lưới mẫu 1 22

Hình 4.10: Bảng vẽ khai triển lưới mẫu 2 23

Hình 4.11: Cọc phụ và chốt cài 26

Hình 4.12: Cọc chính, cán nài và dây đỏi 27

Hình 4.13: Chênh lệch kích thước ngư cụ đáy sông giữa 2 khu vực nghiên cứu 28

Hình 4.14: Sự chênh lệch về độ thô chỉ lưới trên từng phần lưới giữa các điểm thu mẫu 29

Hình 4.15: Sự chênh lệch về kích thước mắt lưới trên từng phần lưới giữa các điểm thu mẫu 29

Hình 4.16: Lưới mùng khai thác cá kèo giống 37

Hình 4.17: Bản vẽ nò 39

Hình 4.18: Nò được đặt trong vuông 39

Trang 7

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Đồng bằng sông Cửu Long: ĐBSCL Thị xã Bạc Liêu: TXBL

Huyện: H

Trang 8

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU Đặt vấn đề

Cá kèo là một trong những đối tượng phân bố phổ biến trong các đầm nước lợ

và nước mặn, ruộng muối, rừng ngập mặn, khu bãi bồi nhưng cũng có thể sống ở nước ngọt Chúng làm hang ở các bãi bùn và có thể trườn lên các bãi này Loài này phân bố từ Ấn Độ, Thái Lan đến Malaysia, từ quần đảo Ấn Độ đến Châu Úc, Trung Quốc và khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long của Việt Nam (ĐBSCL)

Những năm nay thì ngày càng có nhiều quan tâm đến nguồn lợi cá kèo và tiến hành nhiều nghiên cứu xung quanh vấn đề đánh giá nguồn lợi, biến động quần thể, khai thác cá kèo giống, … Cá kèo là tên gọi chung của các loài thuộc họ Gobiidae (được trích dẫn bởi Võ Thành Toàn, 2005) Theo Trương Thủ Khoa

và Trần Thị Thu Hương (1993), ở ĐBSCL có hai loài, đó là loài

Pseudapocrytes elongatus và loài Parapocryptes serparaster Tuy có hai loài nhưng loài Pseudapocrytes elongatu hiện đang có sản lượng và giá trị kinh tế

cao hơn Chúng phân bố ở các tỉnh như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre…Trong nhiều năm qua cá kèo là đối tượng được khai thác tự nhiên ở các vùng nước lợ ven biển, đầm phá nước lợ, nhất là các đầm nuôi tôm quảng canh…

Hiện nay việc khai thác cá kèo ngày càng nhiều nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm, nuôi của người dân, vì thế nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi cá kèo tự nhiên ngày càng lớn Trong những năm gần đây, cá kèo thịt được khai thác ngoài tự nhiên đã giảm đi đáng kể do ngư dân tăng cường khai thác Lần thứ nhất là sau năm 1975, kéo dài đến hơn chục năm, với tinh thần “tất cả cho cây lúa”, đất vùng nhiễm mặn bị ngăn mặn để trồng lúa, cá không còn đất sống Đến thời

kỳ thứ hai là phong trào nuôi tôm Người ta cũng lấy nước mặn vào nhưng trước khi thả tôm các chủ vuông tôm đã xử lý các chất hóa học để tiêu diệt mầm bệnh và ấu trùng cá kèo cũng bị tiêu diệt theo Thế cho nên cá kèo tự nhiên đã không còn bao nhiêu, người Bạc Liêu đã phải xoay qua nuôi cá kèo kết hợp với nuôi tôm Năm 2004 toàn tỉnh có 200 ha nuôi cá kèo Lợi nhuận mỗi hécta cũng vài chục triệu đồng Vì thế kéo theo việc phát triển ngư cụ, kỹ thuật khai thác để đánh bắt một cách hiệu quả nhất nguồn lợi cá kèo (Phan Trung Nghĩa, 2005) Vì thời gian có hạn nên đề tài chỉ tiến hành đánh giá hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo phân bố ở tỉnh Bạc Liêu

Trang 9

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài

Đề tài thực hiện nhằm đánh giá được hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo phân bố ở tỉnh Bạc Liêu, qua đó để đề ra giải pháp quản lý nguồn

lợi cá kèo trong tương lai Nội dung nghiên cứu

i Đánh giá hiện trạng nguồn lợi cá kèo phân bố ở tỉnh Bạc Liêu;

ii Tìm hiểu về ngư cụ và kỹ thật khai thác cá kèo ở tỉnh Bạc Liêu

Trang 10

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên tỉnh Bạc Liêu

2.1.1 Vị trí địa lý

Tỉnh Bạc Liêu nằm về phía Nam và Đông Nam của đồng bằng Nam Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Hậu Giang, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sóc Trăng, phía Đông Nam giáp với biển Đông Bạc Liêu có diện tích tự nhiên 2.520,6 km² và dân số năm 2004 là ước tính khoảng 786.200 người với mật độ dân số 300,2 người/km²

Bạc Liêu là vùng đất trẻ, được hình thành chủ yếu do sự bồi lắng phù sa ở các cửa biển tạo nên Phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh là đất bằng nằm ở độ cao trên dưới 1,2 m so với mặt biển, còn lại là những giồng cát và một số khu vực trũng ngập nước quanh năm Địa hình có xu hướng thấp dần từ đông bắc xuống tây nam và khu vực nội đồng thấp hơn vùng gần bờ biển Trên địa bàn tỉnh có nhiều kênh rạch lớn như kênh Quản Lộ-Phụng Hiệp, kênh Cạnh Đền, kênh Phó Sinh, kênh Giá Rai Hệ thống sông ngòi, kênh rạch của Bạc Liêu nối với biển bằng cửa Giành Hào, cửa Nhà Mát và cửa Cái Cùng Ngoài phần đất liền còn có vùng biển rộng 40.000 km² Biển Bạc Liêu có tiềm năng hải sản tương đối lớn với 661 loài cá và 33 loài tôm, cho phép đánh bắt mỗi năm 24-

30 vạn tấn cá và khoảng 1 vạn tấn tôm (vi.wikipedia.org/wiki/Bạc_Liêu)

Con kênh đào Cà Mau - Giá Rai quan trọng hơn cả, từ Cà Mau chảy suốt đến tận sông Vĩnh Lợi nối vào sông Cổ Cò, rồi chia làm hai nhánh, một nhánh rẽ lên Sóc Trăng, nhánh còn lại chảy ra cửa Mỹ Thanh Đây là con kinh huyết mạch chuyên chở lúa gạo và hải sản từ Bạc Liêu lên Sài Gòn

Đất đai Bạc Liêu màu mỡ, dân cư đông đúc, phần lớn sống bằng nghề trồng lúa, hoa mầu, cây ăn trái, đánh bắt hải sản và nghề làm muối Khí hậu Bạc Liêu có hai mùa: mùa khô từ tháng 11 đến tháng 9, nhưng các tháng 4 và 5 thường có mưa, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10

Vùng biển Bạc Liêu cùng nằm trong nội chí tuyến, bắc bán cầu Vì vậy, về cơ bản khí hậu của vùng biển này cũng tuân thủ chế độ khí hậu của biển Đông là khí hậu nhiệt đới gió mùa và hoạt động của bão Tây Thái Bình Dương hình thành từ phía Đông Philippin, hằng năm chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và Tây Nam nhưng do vị trí địa hình nằm ở phía cực Nam của đất nước nên ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc khi tới vùng biển này đã giảm nhiều, đồng thời gió mùa Tây Nam cũng được che chắn bởi lục địa nên cường độ

Trang 11

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

phía Tây bán đảo Cà Mau, lại là vùng biển cận xích đạo nên ít chịu ảnh hưởng của bão

Vùng biển Bạc Liêu là một phần của biển Đông Nam Bộ, có những điều kiện địa lý tự nhiên đặc trưng của nhóm đường bờ châu thổ Sông Cửu Long Đường bờ bằng phẳng chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, do tác động của thủy triều, sóng biển và hải lưu nên quá trình động lực nổi bật nhất là quá trình bồi tụ và xói lở Từ Gò Cát đến thị xã Bạc Liêu bờ biển được bồi đắp, từ Gò Cát đến Gành Hào bờ biển bị xói lở mạnh Bờ biển có các cửa sông chính là Gành Hào, Cái Cùng, Nhà Mát, Chùa Phật,… là nơi có khả năng phát triển các

cơ sở dịch vụ hậu cần cho nghề cá

Hình 2.1 Bản đồ tỉnh Bạc Liêu

Thềm lục địa rất rộng, đáy biển có độ dốc nhỏ, trong phạm vi độ sâu từ 4-30

m Địa hình đáy biển tương đối bằng phẳng, toàn bộ vùng rộng lớn ven bờ thì chất đáy chủ yếu là cát pha bùn, cát pha vỏ sò (trừ vùng ven bờ có các dãy bùn nhuyễn) là cơ sở tốt cho sự phát triển các loài sinh vật đáy, trong dây chuyền thức ăn của cá tầng đáy thuận lợi cho cả khai thác cá đáy và cá nổi

Trang 12

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.1.2 Nhiệt độ và độ mặn nước biển 2.1.2.1 Nhiệt độ nước biển

Vùng ven biển Bạc Liêu là một phần của vùng biển Đông Nam Bộ, do đó sự phân bố nhiệt độ nước phụ thuộc đồng thời vào chế độ gió mùa, hoàn lưu nước nam biển Đông và sự pha trộn của khối nước ven bờ với khối nước biển khơi, chênh lệch nhiệt độ nước biển giữa hai mùa khoảng 2,00C (kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Hải Sản Hải Phòng, 05/2003, được trích dẫn bởi Võ Thành Toàn, 2005)

Đặc điểm nổi bật của phân bố nhiệt độ tầng mặt là khu vực trung tâm, nhiệt độ thấp nhất trong mùa gió Đông Bắc và cao nhất vào mùa gió Tây Nam Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Hải Sản Hải Phòng (05/2003), vào thời điểm tháng 01/2001 nhiệt độ nước trung bình ở khu vực trung tâm khoảng 26,20C, trong khi ở vùng biển ngoài khơi nhiệt độ thường >26,40C và khu vực ven bờ gần cửa sông nhiệt độ nước >26,60C Trong tháng 08/2001, ở toàn bộ dải trung tâm nhiệt độ nước bề mặt >28,60C, trong khi khu vực ngoài khơi và ven bờ nhiệt độ xuống thấp (<28,20C) Như vậy, hoàn lưu nước Nam biển Đông là động lực cơ bản chi phối phân bố nhiệt độ nước vùng ven biển Bạc Liêu

Với tính chất là một vùng biển nông, các hoạt động xáo trộn luôn diễn ra mạnh

do đó sự chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa tầng mặt và tầng đáy thường không lớn trong cả hai mùa (khoảng 0,15-0,300C) Mặt khác, phạm vi biến động nhiệt độ giữa các khu vực trên toàn vùng biển Bạc Liêu cũng không lớn, mùa gió Tây Nam khoảng 1,2-1,80C và mùa gió Đông Bắc khoảng 1,0-1,30C

2.1.2.2 Độ mặn nước biển

Phân bố độ mặn nước vùng ven biển Đông Nam Bộ nói chung và vùng ven biển Bạc Liêu nói riêng có quá trình biến động theo mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa khô), biên độ dao động độ mặn nước biển trung bình ở tầng mặt trong nhiều năm lên đến 1,48%o Ngoài ra, sự phân tầng của độ mặn theo độ sâu xảy

ra đặc biệt lớn ở vùng ven bờ do ảnh hưởng của lũ, chênh lệch độ mặn giữa tầng mặt và tầng đáy từ 2-6%o (với độ sâu khoảng 10m)

Thời kỳ gió mùa Tây Nam phạm vi biến động độ mặn tầng đáy từ 34,2%o (chênh lệch khoảng 3,0%o) và ở tầng mặt phạm vi biến động lớn hơn (27,0-34,2%o (chênh lệch khoảng 7,0%o) Khu vực độ mặn thấp nhất là vùng ven bờ kéo dài xuống phía Nam, các khu vực còn lại độ mặn phân bố tương đối ổn định trong khoảng từ 31,0-34,0%o

Trang 13

31,6-Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.1.2.3 Chỉ số pH

Nước biển nói chung mang tính kiềm và kiềm yếu Phân bố chỉ số pH có xu hướng giảm chậm theo độ sâu, chênh lệch giá trị pH giữa tầng mặt và tầng đáy nhỏ, riêng vùng ven bờ khối nước cửa sông thường có pH thấp hơn khối nước biển

Kết quả nghiên cứu nhiều năm và qua 2 đợt khảo sát vùng ven biển Bạc Liêu của Viện Nghiên Cứu Hải Sản Hải Phòng, 05/2003) cho thấy do biến trình năm của nhiệt độ nước và dinh dưỡng tương đối ổn định nên chỉ số pH nước biển ít biến động Chỉ số pH trung bình thời điểm gió mùa Đông Bắc (tháng 1)

là 7,70-7,73 cao hơn thời điểm có gió mùa Tây Nam (tháng 8: 7,15-7,19) Tính kiềm của nước biển thường thể hiện rõ ở khu vực ngoài khơi (trạm 10: 7,82-7,93 và trạm 14: 7,67) Nước biển ở vùng ven bờ (khu vực cửa Gành Hào

- trạm 6) trong tháng 8 thể hiện tính acid (chỉ số pH = 6,1-6,2)

2.1.3 Một số đặc trưng của khu vực bãi bùn vùng biển tỉnh Bạc Liêu

Vùng biển Đông Nam Bộ nói chung và vùng biển thuộc tỉnh Bạc Liêu nói riêng cũng bị chi phối sâu sắc bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, hàng năm bị tác động luân phiên của 2 loại gió mùa Đông Bắc và Tây Nam Gió mùa Đông Bắc (mùa khô) từ tháng 12-4 và gió mùa Tây Nam (mùa mưa)

từ tháng 5-11 (Đào Văn Tự, 2003)

Chế độ khí áp: Vào thời điểm gió mùa Đông Bắc khối không khí cực đới hoạt động mạnh và khống chế trên toàn đại lục Châu Á, vị trí trung tâm ở vùng cao nguyên Mông Cổ - Nam Xibêri có trị số khí áp cao nhất, trung bình xấp xỉ 1.040 mb Mùa gió Tây Nam, áp cao mùa đông được thay thế bằng hệ thống

áp thấp Ấn Độ - Myanmar và có trị số thấp nhất vào tháng 7 Vùng biển Đông Nam Bộ cũng chịu ảnh hưởng của khối không khí này Kết quả thống kê chuỗi số liệu nhiều năm của đài khí tượng thủy văn Cà Mau cho thấy trị số khí áp trung bình có giá trị cực đại vào tháng 1, cực tiểu vào tháng

7

Biến thiên khí áp theo thời gian ở vùng ven biển Bạc Liêu rất nhỏ, biên độ dao động khí áp trung bình năm là 4-5 mb (thấp hơn nhiều so với các tỉnh phía Bắc) Biên độ dao động trung bình tháng là 1-2 mb và trung bình ngày là 4-5

mb Vào mùa mưa, khi có nhiễu động khí quyển (giông gió, áp thấp nhiệt đới,…) nên biên độ dao động khí áp ngày có thể tăng cao hơn

Nhìn chung, chế độ khí áp của vùng biển ven bờ Đông Nam Bộ thường có những thay đổi đáng kể tùy thuộc vào sự chi phối của hai hệ thống khí áp mùa

Trang 14

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Đông và mùa Hè luân phiên nhau kết hợp với dải hội tụ nhiệt đới đi qua vùng biển này

Chế độ gió: Theo Đào Văn Tự (2003) thì vùng ven biển Bạc Liêu có tốc độ

gió trung bình năm là 2,6-3,1 m/s và có những thay đổi khác biệt về hướng theo mùa

Chế độ sóng: Bị ảnh hưởng của chế độ gió và thuỷ triều nên chế độ sóng tại

vùng biển Bạc Liêu có sự biến động khác biệt về hướng và độ cao theo mùa

(Đào Văn Tự, 2003)

Mùa gió Đông Bắc: hướng sóng thịnh hành là hướng Đông Bắc và hướng

Đông Độ cao trung bình của sóng từ 0,8-0,9 m và cao nhất có thể lên đến 2,5-3,0 m Vào mùa này sóng thường xuất hiện với tần suất khá lớn theo hướng Đông và Đông Bắc

• Mùa gió Tây Nam: sóng thịnh hành theo hướng Tây đến Tây Nam với độ cao trung bình 0,9-1,1 m và cao nhất tới 2,5-3,5 m Chịu ảnh hưởng của đường bờ lục địa, vào mùa gió Tây Nam sóng thường xuất hiện với cường

độ yếu và tính ổn định kém hơn so với mùa gió Đông Bắc

2.2 Một số ngư cụ khai thác cá kèo phổ biến hiện nay

2.2.1 Đáy sông

Đáy sông là một loại ngư cụ cố định có quy mô lớn, đánh bắt được nhiều đối tượng khác nhau Đáy sông có dạng hình phễu, thuôn dần từ miệng tới đụt lưới Lưới có cấu tạo đơn giản bao gồm cánh lưới, thân lưới và đụt lưới Toàn

bộ áo lưới được liên kết với dây giềng Kỹ thuật khai thác đáy sông gồm có các bước: chuẩn bị, thả lưới, đổ đụt, thu lưới

2.2.2 Nò

Lưới đăng (nò) là ngư cụ cố định thường thấy phổ biến ở những vùng đất thấp, ngập nước theo mùa, cũng như thường gặp dọc theo các sông rạch và vùng ven biển Lưới đăng thường khai thác mang tính mùa vụ hoặc theo con nước lớn ròng Nguyên lý đánh bắt lưới đăng được đặt cố định chặn ngang đường di chuyển của cá, cá trên đường đi không thể vượt qua được tường lưới nên phải men theo tường lưới và bị giữ lại ở chuồng lưới (lọp) Cấu tạo cơ bản của lưới đăng gồm ba bộ phận chính là: đăng lưới, chuồng và lợp (Một số nghề khai thác thuỷ sản ở Việt Nam – Trung tâm Khuyến ngư quốc gia)

Trang 15

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.3 Đặc điểm hình thái, phân bố và tập tính sống, dinh dưỡng, sinh trưởng, mùa vụ sinh sản của cá kèo

2.3.1 Đặc điểm hình thái

Theo Cuvier (1816) (được trích dẫn bởi Võ Thành Toàn, 2005 ) thì cá kèo thuộc họ Gobiidae và chúng được phân loại như sau:

Bộ: Perciformes Họ: Gobiidae Lớp: Actinopterygi Giống: Pseudapocryptes

Loài: Pseudapocryptes elongatus Hiện nay cá kèo đang được gọi phổ biến là Pseudapocryptes elongatus, Cuvier

1816

Trương Thủ Khoa & Trần Thị Thu Hương (1993) cho rằng cá kèo có đầu nhỏ, hình chóp, mõm tù hướng xuống, miệng trước hẹp, rạch miệng ngang, kéo dài đến đường thẳng đứng kẻ qua cạnh sau mắt Thân hình trụ, thon dài, hơi hẹp bên, phần sau xương chẩm có 2 đường sóng nổi có phủ vẩy Cuống đuôi ngắn, dài cuống đuôi nhỏ hơn cao cuống đuôi

Cá có màu xám ửng vàng, nửa trên của thân có khoảng 7-8 sọc đen hướng xéo

về phía trước, các sọc này rõ về phía đuôi Bụng có màu vàng nhạt Các vi ngực, vi bụng và vi hậu môn có màu vàng đậm, vi lưng và vi đuôi có màu vàng xám và có nhiều hàng chấm đen vát ngang các tia vi đuôi

Hình 2.2: Cá kèo (Pseudapocryptes elongatus)

2.3.2 Đặc điểm phân bố và tập tính sống

Theo Bloch & Schneider (1801) thì cá kèo phân b ố rộng từ Ấn Độ, Thái Lan đến Malaysia, quần đảo Ấn Độ và Việt Nam Ở Việt Nam, cá kèo phân bố chủ yếu ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (Rainboth, 1996 và Trương Thủ Khoa

& Trần Thị Thu Hương, 1993, được trích dẫn bởi Võ Thành Toàn, 2005)

Trang 16

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Cá kèo sống chủ yếu ở vùng nước lợ và nước mặn, nhưng cũng có thể sống ở nước ngọt Chúng làm hang ở các bãi bùn và có thể trườn lên trên các bãi này

để đi lại và tìm kiếm thức ăn (Bloch & Schneider, 1801)

2.3.3 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá kèo ăn thiên về thực vật do tỉ lệ giữa chiều dài ruột (Li) và chiều dài chuẩn (Lc) là 3,27 (Trần Đắc Định 2002), kết quả này phù hợp với đề nghị của Nikolskii (1963) Trần Đắc Định 2002 đã khảo sát trong ống tiêu hóa của cá kèo thì thấy tảo khuê, tảo lam và mùn bả hữu cơ là chủ yếu và từ kết quả nghiên cứu của tác giả này cho thấy tảo khuê chiếm tỷ lệ cao nhất trong chuỗi thức ăn của cá kèo (83,1%), kế đến là mùn bã hữu cơ có trong nền đáy (14,9%) và một số tảo lam (1,9%), một số ít động vật phù du gồm Copepoda (0,06%) và Cladocera (0,03%) Tác giả này cho thấy cá kèo sống trong môi trường rất giàu tảo khuê và mùn bả hữu cơ, nền đáy là bùn hay bùn cát, và khi triều xuống cá kèo có thể tìm thức ăn là mùn bã hữu cơ trên nền đáy

2.3.4 Đặc điểm sinh trưởng

Sự sinh trưởng của cá được thể hiện qua mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng.Tuy nhiên, sinh trưởng của cá cũng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố ngoại cảnh như mùa vụ, thức ăn, vị trí địa lý, nơi cá kèo sinh sống

Chiều dài cá kèo khai thác thường dao động trong khoảng 4,0 đến 20,9 cm, nhiều nhất trong nhóm là 8 đến 13,9 cm và có sự khác nhau lớn ở các tháng

Cá có đặc điểm tăng trưởng nhanh và gần gấp đôi về chiều dài thân sau một năm với L∝=23,3 cm, hệ số tăng trưởng k=0,96/năm và to=-0,65 (trích dẫn bởi

Võ Thành Toàn, 2005)

2.3.5 Mùa vụ sinh sản

Trần Đắc Định và ctv (2002) (trích dẫn bởi Võ Thành Toàn, 2005.) đã nghiên

cứu sự phát triển tuyến sinh dục của cá kèo dựa theo thang thành thục tuyến sinh dục của một số loài cá được nghiên cứu bởi Holden & Raitt (1974) (được trích dẫn bởi Trần Đắc Định, 2002) và thấy rằng tuyến sinh dục cá đạt cao nhất ở giai đoạn III từ tháng 12-2 Các tháng sau đó chỉ phát hiện đến giai đoạn II, cao nhất từ tháng 5-8 Tháng 3 và 4 không thấy loài này xuất hiện nên không phát hiện được giai đoạn phát triển tuyến sinh dục Lê Thị Xuân Thắm

(2004) cho biết sự phát triển tuyến sinh dục của loài Pseudapocryptes elongatus ở Bạc Liêu trong tháng 12 và 1 đạt tỉ lệ cao nhất ở giai đoạn III, kế

đến là giai đoạn II và không phát hiện giai đoạn I

Trang 17

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.1.1 Địa điểm: Nghiên cứu này đã được tiến hành tại phường Nhà Mát - thị

xã Bạc Liêu và tại xã Vĩnh Hậu - huyện Hoà Bình

3.1.2 Thời gian: từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2006

Hình 3.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

Đối với từng loại ngư cụ khai thác cá kèo, chọn 30 hộ khai thác để phỏng vấn trực tiếp về hiện trạng nguồn lợi cá kèo, kết cấu ngư cụ và kỹ thuật khai

thác… Dựa theo các biểu mẫu phỏng vấn đã được chuẩn bị trước

3.2.2 Hiện trạng nguồn lợi cá kèo

Tiến hành phỏng vấn 88 ngư dân các thông tin về hiện trạng nguồn lợi cá kèo thương phẩm và cá giống ở 2 địa bàn nghiên cứu (thị xã Bạc Liêu và huyện Hoà Bình)

Khu vực nghiên cứu

Trang 18

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trong đó: cá giống (30 hộ), cá thương phẩm (58 hộ) Thu thập các thông tin về sản lượng khai thác, mùa vụ khai thác, phạm vi phân

bố các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng cá thương phẩm và cá giống,…

3.2.3 Kết cấu ngư cụ Đáy sông: Thu thập các thông số kỹ thuật của 30 hộ được phỏng vấn 2 địa bàn

nghiên cứu tỉnh Bạc Liêu Chọn 1 mẫu lưới ở Phường Nhà Mát (TXBL) và 1 mẫu lưới ở xã Vĩnh Hậu A (H Hoà Bình) để tiến hành đo đạc các thông số kỹ thuật

Nò và lưới mùng: Chọn ngẫu nhiên 1 hộ để đo đạc và thu thập các thông số

kỹ thuật

3.2.4 Kỹ thuật khai thác Đối với cá thương phẩm: Điều tra 58 hộ khai thác cá thương phẩm ở 2 địa

bàn nghiên cứu, đơn vị tính là kg /đáy/con nước

Đối với cá giống: Điều tra 30 hộ khai thác cá kèo giống trong khu vực nghiên

cứu, đơn vị tính là cá thể/hộ/con nước

3.3 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu được phân tích, xử lý, tính toán để vẽ biểu đồ, lập bảng, các bảng

vẽ khai triển các ngư cụ bằng việc sử dụng phần mềm Excel để tính toán Trình bày văn bản bằng phần mềm Word

Trang 19

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Hiện trạng khai thác và nguồn lợi cá kèo

4.1.1 Mùa vụ khai thác 4.1.1.1 Cá kèo thương phẩm Nghề đáy sông

Số lượng ngư dân khai thác cá kèo thương phẩm bằng nghề đáy sông bắt đầu nhiều nhất vào năm 2002 và sau đó giảm dần đến năm 2005 (Hình 4.1) Đối với nò, ngư dân bắt đầu khai thác nò trong các đầm nuôi tôm từ năm 2000, 47% ngư dân sử dụng nò để khai thác nhiều nhất là năm 2001 (Hình 4.1)

Trang 20

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Hình 4.2: Mùa vụ khai thác cá kèo thương phẩm

Qua kết quả điều tra các hộ khai thác cá kèo thương phẩm bằng nghề đáy sông

và nò ở khu vực ven biển tỉnh Bạc Liêu cho thấy ngư dân ở đây khai thác cá kèo quanh năm, chiếm 100% tổng số hộ được điều tra (Phụ lục C và D) Tuy nhiên, sản lượng khai thác được trong các tháng có sự khác biệt nhau, nguyên nhân chính của sự chênh lệch sản lượng khai thác này là do ảnh hưởng bởi mùa vụ xuất hiện của cá kèo Kết quả khảo sát cho thấy mùa vụ xuất hiện của

cá kèo thương phẩm tập trung vào hai đợt trong năm (Hình 4.2) Đợt 1 bắt đầu

từ tháng 1-4 và đợt 2 bắt đầu từ tháng 10-12 Qua hình 4.2 cho thấy cá kèo xuất hiện nhiều nhất tập trung vào các tháng 12, 1 và 2 hàng năm (chiếm 100% tổng số hộ điều tra)

4.1.1.2 Cá kèo giống

Đa phần ngư dân ở khu vực điều tra bắt đầu khai thác cá kèo giống nhiều nhất vào năm 2004 Tuy nhiên, cũng có một số ngư dân bắt đầu khai thác cá kèo giống từ năm 2001, 2002 và 2003 và số lượng ngư dân khai thác bắt đầu tăng lên trong 3 năm đó (Hình 4.3) Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng bởi sự xuất hiện của cá kèo giống ở các thời điểm nói trên Mặt khác, những năm đầu

2001, 2002 thì đối tượng này cũng chưa được người dân chú ý đến nhiều (chỉ chiếm 4 đến 5 hộ)

Kết quả khảo sát 30 hộ khai thác cá kèo giống ở khu vực ven biển phường Nhà Mát, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu cho thấy đa số ngư dân ở đây khai thác cá kèo giống quanh năm, tập trung nhiều là từ tháng 5-11, nhiều nhất là tháng 5

và 6, chiếm 97% tổng số hộ điều tra (Phụ lục G)

Trang 21

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 22

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Bảng 4.1: Số ngày và sản lượng khai thác trung bình trong tháng bằng đáy sông

Số ngày khai thác bình quân trong tháng (ngày)

Sản lượng khai thác bình quân

trong tháng (kg)

Con nước rằm Con nước 30 Con nước rằm Con nước 30 6,87 ± 1,89 7,03 ± 1,96 11,93 ± 7,50 17,93 ± 11,76 Sản lượng khai thác cá kèo bằng nghề lưới đáy ở khu vực ven biển tỉnh Bạc Liêu trong những năm gần đây giảm nhiều (theo Võ Thành Toàn (2005), sản lượng khai thác là 23-30 kg/đáy/con nước) Nguyên nhân chính là do ngư trường bị khai thác nhiều với các hình thức khác nhau Ngoài phương pháp đánh bắt truyền thống là đáy sông, cá kèo cũng được ngư dân ở đây khai thác bằng các hình thức như xổ lú từ các vuông nuôi tôm hay đăng mé dọc theo các kênh xáng

Số ngày khai thác cá kèo thương phẩm trong hai con nước của các tháng có sự biến động nhưng không lớn Vào các con nước kém ngư dân thường duy trì số ngày khai thác trung bình là 6 ngày, trong khi đó ở các con nước rong thì số ngày khai thác thường không ổn định (dao động trung bình từ 5-6 ngày) Sự khác biệt về số ngày khai thác giữa hai con nước trong các tháng liên quan đến sản lượng khai thác cá kèo ở khu vực nghiên cứu Sản lượng khai thác được ở các con nước kém thường cao hơn so với con nước rong cho thấy số ngày khai thác của ngư dân ở đây kéo dài đến 10 ngày và tập trung nhiều vào con nước kém

Đối với cá giống trung bình hơn 7500 cá thể/ngày đối với tháng khai thác nhiều nhất (Tháng 5,6 âm lịch) và gần 1000 cá thể/ngày ở tháng ít nhất

Bảng 4.2: Sản lượng khai thác cá kèo giống

Sản lượng những tháng khai thác nhiều nhất (cá thể/ngày)

Trang 23

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

4.1.3.2 Mùa vụ

Trong chu kỳ một năm thì sản lượng khai thác không như nhau theo từng tháng Đó chính là yếu tố mùa vụ tác động lên sản lượng khai thác Cá kèo thương phẩm xuất hiện nhiều nhất vào những tháng 11, 12, 1 Đối với lưới đáy thì đặc điểm của ngư cụ này là có thể khai thác quanh năm, nhưng vào những tháng sản lượng cao thì thời gian và số lần khai thác được tăng lên so với những tháng khác

4.1.3.4 Dòng chảy

Dòng chảy ảnh hưởng nhiều đến quá trình khai thác Nhân tố này quy định thời điểm bắt đầu khai thác và thời gian khai thác vì chỉ khi có dòng chảy thì ngư cụ mới hoạt động được, nhưng nếu dòng chảy quá mạnh thì việc khai thác

sẽ gặp nhiều khó khăn Vào con nước rong vận tốc dòng nước thường nhỏ hơn con nước kém nên dòng chảy thường ổn định hơn nhưng thời gian khai thác lại ít hơn Nước chảy mạnh quá hay yếu quá đều không có lợi cho quá trình khai thác Nếu mạnh quá thì dễ gây hư hỏng lưới do tác động của lực cản ở đụt lưới Vì lưới đáy là loại ngư cụ thụ động, được đặt cố định ở một vị trí trên sông, trong quá trình khai thác, dòng chảy mang theo tôm cá vào đụt lưới, đồng thời cũng mang theo nhiều rác thải sinh hoạt, rác thải tự nhiên vào đụt lưới Hơn nữa, khi tốc độ nước quá lớn ngư dân rất khó khăn trong việc thu hoạch sản phẩm để khai thác tiếp Khi tốc độ dòng chảy nhỏ thì có thể không khai thác được hoặc nếu khai thác thì sản lượng không cao.Khi đặt đáy thì phải tìm hiểu kỹ dòng chảy trước khi đặt Không nên đặt đáy ở những nơi có dòng xoáy hoặc dòng chảy phức tạp như ở các vịnh, nơi giao nhau của các con sông,…

Trang 24

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Hình 4.5: Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng khai thác cá kèo thương phẩm

Hình 4.6: Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng khai thác cá kèo giống

4.2 Kết cấu ngư cụ khai thác cá kèo

4.2.1 Đáy sông 4.2.1.1 Cấu tạo

Đáy sông là một loại ngư cụ cố định có quy mô lớn, đánh bắt được nhiều đối tượng khác nhau Đáy sông có dạng hình phễu, thuôn dần từ miệng tới đụt lưới Lưới có cấu tạo đơn giản bao gồm cánh lưới, thân lưới và đụt lưới Toàn

bộ lưới được liên kết với dây giềng

Trang 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Đáy sông đánh bắt theo nguyên lý lọc nước lấy cá nhưng nó đánh bắt thụ động, lượng cá tôm khai thác được là nhờ dòng chảy đẩy vào miệng lưới mà được giữ lại ở đụt lưới Chính vì vậy mà đáy sông chỉ làm việc ở những nơi có dòng chảy khá mạnh và có hướng ổn định

Để cố định vàng lưới ngư dân thường sử dụng cọc dài Vị trí đặt lưới gọi là hàng đáy Một hàng đáy có thể có nhiều miệng đáy nhưng cũng có thể có một miệng đáy tùy thuộc vào chiều rộng của sông rạch Đáy được đặt vuông góc với dòng chảy

Nhược điểm quan trọng nhất của đáy sông là nguyên lý đánh bắt của nó Đáy sông đánh bắt thụ động và sản lượng khai thác được là do nước cuốn vào miệng lưới Nó đánh bắt cố định ở một vị trí, không tìm kiếm đối tượng để đánh bắt

Ưu điểm của đáy sông là làm việc ổn định, ảnh hưởng của thời tiết và khí hậu không đáng kể, sóng to gió lớn không ảnh hưởng mạnh đến quá trình khai thác Kỹ thuật khai thác đơn giản Đáy sông không cần tàu máy công suất lớn

để đánh bắt, chỉ cần một chiếc xuồng có trọng tải từ một đến hai tấn là có thể đánh bắt được

Quá trình lắp ráp một vàng lưới tương đối đơn giản, không đòi hỏi kỹ thuật cao Các trang thiết bị chế tạo đơn giản, dễ tìm, một số thiết bị có thể tự tạo Với ưu điểm trên giải thích tại sao đến ngày nay nghề đáy vẫn còn tồn tại và phát triển

Khi lắp ráp một miệng đáy ngư dân thường tiến hành thăm dò và tìm hiểu về điều kiện ngư trường có ảnh hưởng gì đến quá trình vận hành của miệng đáy như tốc độ và hướng dòng chảy Khảo sát chiều rộng và độ sâu của dòng sông

mà quy định kích thước của vàng đáy, sau đó chọn kích thước mắt lưới của các phần trong vàng lưới cho phù hợp Thường thì kích thước mắt lưới ở phần đụt được chọn làm điều kiện chuẩn để tiến hành thiết kế một vàng lưới, rồi tăng dần đến phần miệng và cánh lưới

Ngư dân Bạc Liêu đang sử dụng loại lưới có chiều dài giềng miệng trong khoảng 27,6±4,3m (tuỳ vào kích cở của dòng sông và mức độ của dòng chảy) Kích thước mắt lưới 2a ở đụt đa số các lưới đều chọn 2a=14,5m Chiều dài toàn bộ vàng lưới (kéo căng) từ 37,7±7,5m, số mắt lưới ở miệng trong

khoảng 1000◊ – 1300◊ Đây là hai thông số cơ bản để nói lên độ lớn của vàng lưới

Trang 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Hình 4.7: Ngư cụ khai thác cá kèo thương phẩm (đáy sông)

Chiều dài

Chiều dài lưới cũng là một trong những chỉ tiêu trong chế tạo lưới bởi hoạt động của đáy sông phụ thuộc vào tốc độ dòng chảy ở khu vực đặt đáy Khi thiết kế lưới người ta phải dự đoán chiều dài sao cho dưới tác động của dòng chảy, chiều dài lưới phải đủ để cá tôm đã vào lưới thì không có khả năng thoát ngược ra khỏi miệng lưới Lưới ở Bạc Liêu có chiều dài dao động trong khoảng 37,7±7,5 m

Trang 27

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 28

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Bảng 4.3: Các trang thiết bị của đáy sông ở Bạc Liêu

Tên gọi Số lượng Vật liệu Đường kính

(mm)

Chiều dài (m)

Ngày đăng: 10/12/2015, 15:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngày phỏng vấn Khác
2. Họ tên người được phỏng vấn Khác
3. Địa chỉ Khác
5. Năm bắt đầu khai thác Khác
6. Trọng lượng trung bình của cá: Cá kèo thương phẩm: ................................... g/con7. Tên ngư cụ khai thác: Lưới đáy Khác Khác
14. Số ngày khai thác trong tháng (bao nhiêu ngày) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Bản đồ tỉnh Bạc Liêu - đánh giá hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo (pseudapocryptes elongatus) ở tỉnh bạc liêu
Hình 2.1 Bản đồ tỉnh Bạc Liêu (Trang 11)
Hình 4.2: Mùa vụ khai thác cá kèo thương phẩm - đánh giá hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo (pseudapocryptes elongatus) ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.2 Mùa vụ khai thác cá kèo thương phẩm (Trang 20)
Hình 4.5: Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng khai thác cá kèo thương phẩm - đánh giá hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo (pseudapocryptes elongatus) ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng khai thác cá kèo thương phẩm (Trang 24)
Hình 4.6: Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng khai thác cá kèo giống - đánh giá hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo (pseudapocryptes elongatus) ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng khai thác cá kèo giống (Trang 24)
Hình 4.7: Ngư cụ khai thác cá kèo thương phẩm (đáy sông) - đánh giá hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo (pseudapocryptes elongatus) ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.7 Ngư cụ khai thác cá kèo thương phẩm (đáy sông) (Trang 26)
Hình 4.8: Bản vẽ tổng thể đáy sông - đánh giá hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo (pseudapocryptes elongatus) ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.8 Bản vẽ tổng thể đáy sông (Trang 27)
Bảng 4.3: Các trang thiết bị của đáy sông ở Bạc Liêu - đánh giá hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo (pseudapocryptes elongatus) ở tỉnh bạc liêu
Bảng 4.3 Các trang thiết bị của đáy sông ở Bạc Liêu (Trang 28)
Hình 4.10: Bảng vẽ khai triển lưới mẫu 2 - đánh giá hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo (pseudapocryptes elongatus) ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.10 Bảng vẽ khai triển lưới mẫu 2 (Trang 30)
Hình 4.11: Cọc phụ và chốt cài - đánh giá hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo (pseudapocryptes elongatus) ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.11 Cọc phụ và chốt cài (Trang 33)
Hình 4.12: Cọc chính, cán nài và dây đỏi - đánh giá hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo (pseudapocryptes elongatus) ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.12 Cọc chính, cán nài và dây đỏi (Trang 34)
Hình 4.14:  Sự chênh lệch về độ thô chỉ lưới trên từng phần lưới giữa 2 khu vực - đánh giá hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo (pseudapocryptes elongatus) ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.14 Sự chênh lệch về độ thô chỉ lưới trên từng phần lưới giữa 2 khu vực (Trang 36)
Hình 4.15:  Sự chênh lệch về kích thước mắt lưới trên từng phần lưới giữa 2 khu vực - đánh giá hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo (pseudapocryptes elongatus) ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.15 Sự chênh lệch về kích thước mắt lưới trên từng phần lưới giữa 2 khu vực (Trang 36)
Hình 4.16: Lưới mùng khai thác cá kèo giống - đánh giá hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo (pseudapocryptes elongatus) ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.16 Lưới mùng khai thác cá kèo giống (Trang 44)
Hình 4.17: Bản vẽ nò - đánh giá hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo (pseudapocryptes elongatus) ở tỉnh bạc liêu
Hình 4.17 Bản vẽ nò (Trang 46)
Bảng 4.9: Các thông số kỹ thuật của ngư cụ nò - đánh giá hiện trạng nguồn lợi và kỹ thuật khai thác cá kèo (pseudapocryptes elongatus) ở tỉnh bạc liêu
Bảng 4.9 Các thông số kỹ thuật của ngư cụ nò (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w