Được hình thành từ những năm đầu của thập kỷ 60, ngành hóa chất cơ bản được đánh giá là một ngành có vai trò trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân, có nhiều đóng góp thiết thực cho đời số
Trang 1H A TH NG C NGA
TP H Chí Minh – N m 2000
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Từ sau Đại hội Đảng lần VI, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đó đến nay, nền kinh tế Việt Nam liên tục có tốc độ tăng trưởng khá, về cơ bản đã thoát khỏi tình trạng nghèo đói và tạo ra những tiền đề cần thiết cho thời kỳ phát triển tiếp theo Từ năm 1991, tổng sản phẩm quốc dân trong nước (GDP) tăng bình quân hàng năm 7,7%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 13,2%
Công nghiệp phát triển mạnh dẫn đến nhu cầu về hóa chất cơ bản dùng trong công nghiệp tăng cao về chủng loại và số lượng, nó đòi hỏi ngành sản xuất hóa chất trong nước phải trưởng thành và phát triển nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu đó Được hình thành từ những năm đầu của thập kỷ 60, ngành hóa chất
cơ bản được đánh giá là một ngành có vai trò trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân, có nhiều đóng góp thiết thực cho đời sống xã hội vì nó cung cấp sản phẩm cho hầu hết các ngành sản xuất công nghiệp Tuy nhiên hiện nay với yêu cầu của nền kinh tế, ngành sản xuất hóa chất cơ bản vẫn chưa phát huy được vai trò của mình, vẫn còn ở mức phát triển thấp so với trình độ của các nước trong khu vực và trên thế giới Giá cả và chất lượng của một số sản phẩm hóa chất sản xuất trong nước chưa đủ sức cạnh tranh với sản phẩm nhập ngoại, chủng loại chưa phong phú, đa đạng, nhiều hóa chất trong nước có nhu cầu lớn nhưng sản xuất chưa đáp ứng đủ, vẫn còn phải nhập khẩu
Để giảm bớt khoảng cách so với trình độ thế giới và góp phần vào việc đẩy mạnh tốc độ phát triển chung của nền kinh tế đồng thời tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới, ngành hóa chất cơ bản cần được quan tâm và đầu tư phát triển mạnh hơn nữa trong hiện tại và tương lai Trước tình hình trên, việc nghiên cứu phân tích đưa ra các định hướng phát triển ngành hóa chất cơ bản là rất cần thiết
Đó là lý do tôi chọn đề tài “Định hướng chiến lược phát triển ngành hóa chất
cơ bản Việt Nam đến năm 2010”
Trang 3• Phương pháp nghiên cứu: dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng đồng thời kết hợp với các phương pháp kỹ thuật nghiệp vụ như phân tích thống kê, tổng hợp so sánh, đánh giá để nghiên cứu đề tài
• Đối tượng nghiên cứu: tình hình sản xuất và kinh doanh hóa chất cơ bản ở Việt Nam
• Phạm vi nghiên cứu: các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hóa chất cơ bản thuộc Tổng công ty Hóa chất Việt Nam
• Mục đích nghiên cứu
- Phân tích môi trường, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành
- Đề xuất một số chiến lược và các giải pháp giúp các doanh nghiệp trong ngành tháo gỡ những khó khăn trở ngại, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Giới hạn đề tài: Vì chủng loại các hóa chất cơ bản ở nước ta hiện nay rất lớn, hơn 100 sản phẩm, nên đề tài chỉ tập trung phân tích trên các sản phẩm hóa chất vô cơ cơ bản chính là các loại axit sunfuric, axit clohydric, axit phốtphoric; xút; clo vì sản lượng của nhóm sản phẩm này chiếm tỷ trọng lớn trong ngành
• Kết cấu của luận án: gồm ba chương
Chương 1: Chiến lược và ý nghĩa của việc xây dựng chiến lược phát triển
ngành hóa chất cơ bản tại Việt Nam
Chương 2: Phân tích tình hình hoạt động của ngành hóa chất cơ bản Việt
Nam
Chương 3: Xây dựng chiến lược phát triển ngành hóa chất cơ bản Việt Nam
đến năm 2010
Trang 4CHƯƠNG 1 CHIẾN LƯỢC VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH HÓA CHẤT CƠ BẢN TẠI VIỆT
NAM
1.1 CHIẾN LƯỢC VÀ VAI TRÒ CỦA CHIẾN LƯỢC TRONG KINH DOANH
1.1.1 Khái niệm về chiến lược và chiến lược kinh doanh
Khái niệm “chiến lược “ đã xuất hiện từ khá lâu và có khá nhiều định nghĩa về
chiến lược Theo Fred R David, chiến lược là những phương tiện đạt đến mục
tiêu dài hạn; theo Alfred Chadler, Đại học Harvard thì chiến lược là sự xác
định các mục tiêu cơ bản và lâu dài của một doanh nghiệp và là sự vạch ra một quá trình hành động và phân phối các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu đó Những định nghĩa về chiến lược tuy khác nhau về cách diễn đạt do được rút
ra từ thực tiễn kinh tế xã hội khác nhau, nhưng vẫn bao hàm việc:
- Xác định các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của tổ chức
- Đưa ra và chọn lựa các phương án thực hiện
- Triển khai và phân bổ các nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó
1.1.2 Phân loại chiến lược kinh doanh
Nếu căn cứ vào phạm vi chiến lược, có thể chia chiến lược thành hai loại:
- Chiến lược tổng quát: là chiến lược thường đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất và có ý nghĩa lâu dài, quyết định đến những vấn đề sống còn của doanh nghiệp
- Chiến lược bộ phận: là các chiến lược cụ thể về sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị cho từng phân kỳ trung hạn, ngắn hạn của chiến lược tổng quát, nhằm tạo cơ sở, vạch ra con đường vận động thích ứng với từng thời kỳ và môi trường hoạt động để liên tục hóa sự phát triển của chiến lược chung
Trang 5Nếu căn cứ vào sự kết hợp giữa sản phẩm và thị trường, dựa vào lưới ô vuông để thay đổi chiến lược, có thể chia thành các loại chiến lược đặc thù sau:
Hình 1: Lưới ô vuông để thay đổi chiến lược
Sản phẩm Thị trường Ngành S.X Trình độ S.X Qui trình C.N Hiện tại/Mới Hiện tại/Mới Hiện tại/Mới Hiện tại/Mới Hiện tại/Mới
1.1.2.1 Nhóm chiến lược tăng trưởng tập trung
¬ Thâm nhập thị trường: nhằm tăng thị phần cho các sản phẩm, dịch vụ hiện
có trong các thị trường hiện có bằng các nỗ lực tiếp thị nhiều hơn Chỉ áp dụng khi thị trường hiện tại chưa bão hòa, có khả năng tăng trưởng hoặc khi thị phần của đối thủ giảm xuống
¬ Phát triển thị trường: đưa sản phẩm hiện có vào những thị trường mới
¬ Phát triển sản phẩm: cải tiến những sản phẩm hoặc dịch vụ hiện tại
1.1.2.2 Nhóm chiến lược tăng trưởng bằng con đường hội nhập
¬ Hội nhập về phía trước: nhằm tăng quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát đối
với các đơn vị phân phối hoặc tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của tổ chức
¬ Hội nhập về phía sau: nhằm tìm kiếm quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát
đối với các đơn vị cung cấp các yếu tố đầu vào cho tổ chức
¬ Hội nhập hàng ngang: sở hữu hay hợp nhất các đơn vị kinh doanh cùng
ngành bằng cách hợp nhất, mua lại hay chiếm lĩnh quyền kiểm soát giữa các đối thủ cạnh tranh
1.1.2.3 Nhóm chiến lược tăng trưởng bằng con đường đa dạng hóa
¬ Đa dạng hóa đồng tâm: hướng vào thị trường mới với sản phẩm mới, trong
ngành sản xuất hiện tại hoặc mới, với qui trình công nghệ hiện tại hoặc mới
¬ Đa dạng hóa hàng ngang: hướng vào sản phẩm mới với qui trình công
nghệ mới, trong ngành sản xuất hiện tại hoặc mới, nhưng vẫn ở thị trường hiện tại
Trang 6¬ Đa dạng hóa hỗn hợp: hướng vào sản phẩm mới ở thị trường mới và cũng
hoàn toàn mới trong một ngành kinh doanh mới
1.1.2.4 Nhóm các chiến lược suy giảm
¬ Liên doanh
¬ Thu hẹp bớt hoạt động
¬ Cắt bỏ bớt hoạt động
¬ Thanh lý
1.1.3 Quy trình hoạch định chiến lược
Với mục tiêu hoạch định định hướng chiến lược chung cho ngành, luận án chỉ tập trung đi sâu vào giai đoạn hình thành chiến lược, bao gồm ba bước cơ bản sau:
1.1.3.1 Nghiên cứu môi trường hoạt động của ngành
1 Phân tích môi trường bên ngoài
• Phân tích các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
Các yếu tố của môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố chính trị, kinh tế, luật pháp, văn hóa – xã hội, tự nhiên, công nghệ… Phân tích các yếu tố kể trên sẽ tạo nên một tầm nhìn tổng quát về môi trường vĩ mô làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược Vì mục đích của việc nghiên cứu môi trường vĩ mô là nhằm nhận định những cơ hội và nguy cơ có ảnh hưởng đến hoạt động của ngành nên chỉ phân tích các yếu tố có ảnh hưởng thực sự đến ngành
• Phân tích các yếu tố thuộc môi trường vi mô
Các yếu tố thuộc môi trường vi mô bao gồm các yếu tố ngoại cảnh nhưng có liên quan trực tiếp đến ngành Bao gồm các yếu tố sau:
- Khách hàng: phân nhóm khách hàng, đặc điểm nhu cầu của từng nhóm khách hàng hiện nay và dự báo xu thế thay đổi nhu cầu trong thời gian sắp tới, nếu có, để từ đó xác định ngành phải làm gì để tạo ra nhu cầu mới, đáp ứng nhu cầu và dùng phương tiện, công nghệ nào để đáp ứng nhu cầu tốt nhất
Trang 7- Đối thủ cạnh tranh: phân tích tình hình cạnh tranh ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành
- Nguồn cung cấp
- Các sản phẩm thay thế
- Các đơn vị sắp gia nhập hoặc rút lui khỏi ngành
2 Phân tích môi trường nội bộ ngành
Việc phân tích môi trường nội bộ của các doanh nghiệp trong ngành là khâu trọng tâm để xác định điểm mạnh, điểm yếu của bản thân các doanh nghiệp
1.1.3.2 Xác định mục tiêu phát triển của ngành
Xác định mục tiêu phát triển của ngành là tiền đề, cơ sở cho việc hình thành chiến lược Mục tiêu dùng để chỉ kết quả cụ thể mà ngành mong muốn trong một giai đoạn nhất định Mục tiêu đặt ra không quá thấp mà cũng không quá cao xa rời thực tế Các mục tiêu chỉ rõ điểm kết thúc của các nhiệm vụ chiến lược, là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên trong phân bổ các nguồn lực
1.1.3.3 Xây dựng chiến lược
Xây dựng chiến lược được thực hiện trên cơ sở phân tích và đánh giá môi trường kinh doanh, nhận biết những cơ hội và nguy cơ tác động đến sự tồn tại của doanh nghiệp Từ đó xác định các phương án chiến lược để đạt được mục tiêu đề ra Việc hình thành chiến lược phải tạo sự hài hòa và kết hợp cho được các yếu tố tác động đến chiến lược
Để thực hiện được điều này, có thể áp dụng rất nhiều phương pháp và công cụ hoạch định chiến lược Luận án này chỉ chọn lọc sử dụng một số công cụ được giới thiệu dưới đây
1 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài – EFE (External Factor Evaluation)
Công cụ ma trận EFE cho phép ta tóm tắt và đánh giá mức độ tác động của những cơ hội và nguy cơ cơ bản ảnh hưởng đến ngành Ma trận EFE được phát triển theo 5 bước sau:
Trang 8a) Liệt kê các yếu tố bên ngoài chủ yếu
b) Aán định mức độ quan trọng: cho điểm từ 0,0 (quan trọng ít nhất) đến 1,0
(quan trọng nhiều nhất) Tổng các mức độ quan trọng phải luôn bằng 1,0
Nếu ảnh hưởng đó là tích cực (cơ hội) thì đánh dấu (+), nếu là tiêu cực
(nguy cơ) thì đánh dấu (- ) vào cột “Tính chất tác động” để biết đó là cơ hội
hay nguy cơ
c) Phân loại yếu tố: cho điểm từ 1 (nguy cơ lớn nhất) , 2 (nguy cơ nhỏ nhất), 3
(cơ hội nhỏ nhất), 4 (cơ hội lớn nhất)
d) Nhân mỗi mức độ quan trọng của yếu tố với phân loại của nó để xác định
điểm số quan trọng cho mỗi yếu tố Xếp thứ tự theo điểm số của các yếu tố
tác động +,- vào cột “Xếp loại” Cột “Xếp loại” cho biết đâu là cơ hội,
nguy cơ cơ bản
e) Cộng tất cả điểm số quan trọng để biết tổng số điểm quan trọng của các
yếu tố này đối với ngành Số điểm trung bình là 2,5 Nếu tổng số điểm
quan trọng <2,5 cho thấy ngành có phản ứng yếu với môi trường bên ngoài,
còn nếu >2,5 thì có phản ứng cao
Hình 2: Mẫu ma trận EFE
Các yếu
tố
Tầm quan trọng
Phân loại Số điểm
quan trọng
Tính chất tác động
Xếp loại
……
2 Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong – IFE (Internal Factor
Evaluation)
Là công cụ cho phép tóm tắt và đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu quan
trọng của ngành Cách phát triển ma trận này tương tự như ma trận EFE
3 Ma trận đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ-SWOT
SWOT là viết tắt của 4 chữ : Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu),
Opportunities (cơ hội) và Threats (nguy cơ) Ma trận này giúp kết hợp các yếu
tố điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ đã được đánh giá từ các ma trận
EFE và IFE để từ đó thiết lập nên các chiến lược kết hợp
Trang 9Ma trận SWOT được phát triển theo các bước sau:
a) Từ ma trận IFE, liệt kê các điểm mạnh, điểm yếu chủ yếu vào ô S và W b) Từ ma trận EFE, liệt kê các cơ hội và nguy cơ cơ bản vào ô O và T
c) Lập các chiến lược kết hợp S/O, S/T, W/O, W/T
Ma trận SWOT là công cụ hoạch định chiến lược rất hữu hiệu, từ ma trận này, có thể lựa chọn các các chiến lược thích hợp nhằm đạt được mục tiêu của ngành
Hình 3: Mẫu ma trận SWOT
Các chiến lược S/O
Phát huy điểm mạnh để tận dụng cơ hội
Các chiến lược S/T
Phát huy điểm mạnh để vượt qua/ né tránh nguy
cơ
W – Những điểm yếu
1
2…
Các chiến lược W/O
Hạn chế điểm yếu để tận dụng cơ hội
Các chiến lược W/T
Hạn chế điểm yếu để né tránh nguy cơ
1.1.4 Vai trò của chiến lược trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Chiến lược kinh doanh có vai trò quan trọng đặc biệt trong sản xuất kinh doanh đối với tất cả mọi doanh nghiệp, mọi ngành nghề Thực tế cho thấy sự thành công của các doanh nghiệp, các ngành thường gắn liền với một chiến lược sản xuất kinh doanh đúng đắn Vai trò của chiến lược trong hoạt động sản xuất kinh doanh cấp ngành được thể hiện qua các điểm sau:
• Vai trò quản lý vĩ mô: chiến lược kinh doanh của ngành giúp tất cả các doanh nghiệp trong ngành xác định rõ hướng đi của ngành trong tương lai, từ đó đưa ra những quyết định thống nhất, tránh sự trùng lặp hoặc không
Trang 10hành vĩ mô này ở cấp ngành đóng vai trò quan trọng hơn ở cấp doanh nghiệp do các liên kết ngành có phạm vi lớn và mức độ phức tạp cao hơn
• Vai trò quản lý nguồn lực: chiến lược giúp ngành đề ra các hoạch định về nguồn lực, vật lực, tài nguyên một cách chủ động và hợp lý để đạt đến mục tiêu Vai trò này cũng thấy ở cấp cơ sở với mức độ chi tiết hơn
• Vai trò quản lý rủi ro: chiến lược giúp các nhà quản trị thấy được những cơ hội, những rủi ro sẽ xảy ra trong hiện tại hay trong tương lai, từ đó dựa trên tiềm lực của mình để dự trù một số biện pháp đối phó
• Vai trò quản lý mục tiêu: chiến lược giúp ngành xây dựng được mục tiêu của từng giai đoạn, liên tục đánh giá kết quả thực hiện để kịp thời có những điều chỉnh hoặc hành động thích hợp Quản lý theo mục tiêu sẽ đóng vai trò khuyến khích các doanh nghiệp, các thành viên chủ động xác định được mục tiêu của mình cùng hướng về mục tiêu chung của toàn ngành
1.2 Ý NGHĨA CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH HÓA CHẤT CƠ BẢN TẠI VIỆT NAM
1.2.1 Giới thiệu về sản phẩm hóa chất cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm
Hóa chất cơ bản là một lĩnh vực rất đa dạng và phong phú, theo khái niệm truyền thống trước đây, hóa chất cơ bản là những hóa chất làm nguyên liệu đầu dùng để sản xuất các hóa chất khác được sử dụng trực tiếp trong một số ngành công nghiệp, vì vậy chủng loại của nó còn bị hạn chế
Từ thập kỷ 60 trở lại đây, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã đưa tiến bộ kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất, công nghiệp hóa chất, hóa dầu đã sản xuất ra nhiều loại hóa chất cơ bản mới làm cho số chủng loại hóa chất cơ bản tăng lên gấp bội (xem phụ lục 1)
Có thể định nghĩa hóa chất cơ bản như sau: Hóa chất cơ bản là một lớp các hợp
chất hóa học quan trọng tham gia vào nhiều quá trình sản xuất, chế biến và xử lý hóa học thuộc rất nhiều lĩnh vực khác nhau của việc nghiên cứu khoa học và sản xuất công nghiệp
Trang 11Tuy chủng loại hóa chất cơ bản rất nhiều song các hóa chất cơ bản do ngành công nghiệp hóa chất tạo ra có thể phân chia thành các nhóm chính sau:
- Nhóm các nguyên tố kim loại và á kim
- Các hydro kim loại và á kim
- Các loại cacbua hydro (bao gồm cả mạch thẳng, mạch nhánh và mạch vòng)
- Các loại ôxít peoxít vô cơ và hữu cơ
- Các loại hydro kim loại (basse)
- Các loại alcol
- Các loại alđehyt
- Các loại axit vô cơ và hữu cơ
- Các hợp chất hữu cơ chứa các nguyên tố kim loại và á kim ( như đồng, chì, thủy ngân, kẽm, mangan, silic, phốt pho, lưu huỳnh, nitơ, halogen…)
- Một số loại muối hoá chất cơ bản quan trọng
- Các loại este
- Các loại monome để sản xuất các loại vật liệu tổng hợp (nhựa, chất dẻo, cao su, tơ sợi tổng hợp )
1.2.1.2 Vai trò của hóa chất cơ bản trong nền kinh tế
Từ các loại hóa chất cơ bản, công nghiệp hóa chất thế giới đã sản xuất ra trên 100.000 chủng loại sản phẩm đã được thương mại hóa, đảm bảo sự phát triển hiệu quả toàn bộ của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, y tế, văn hóa xã hội, an ninh, quốc phòng Chính vì những lý do trên mà hóa chất cơ bản có thể coi là những tư liệu sản xuất làm cơ sở cho các ngành sản xuất công nghiệp, có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hầu hết các lĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội
Các sản phẩm hóa chất cơ bản chủ yếu ở nước ta hiện nay bao gồm xút (NaOH), axit các loại như axit sunfuric (H2SO4), axit clohydric (HCl), axit photphoric (H PO ), các sản phẩm gốc sunphát (SO ), gốc clo và một số sản
Trang 12phẩm hóa chất cơ bản khác dùng trong công nghiệp Hóa chất cơ bản và các sản phẩm của nó đã thâm nhập vào hầu hết các ngành sản xuất của nền kinh tế
̇ Đối với công nghiệp luyện kim: với việc cho thêm hoặc bớt đi các hóa chất khác nhau sẽ làm cho các sản phẩm kim loại có tính cơ lý và hóa học khác nhau, phục vụ cho các yêu cầu khác nhau
̇ Công nghiệp cơ khí chế tạo cần phải dùng các loại hóa chất như axit nitric (HNO3) Công nghiệp nhiệt điện phải dùng đến các loại muối gốc phốt phát như phốt phát natri (Na3PO4) để làm mềâm nước nồi hơi Công nghiệp sản xuất acquy phải dùng đến oxít chì (PbO) và axit sunfuric
̇ Công nghiệp thực phẩm cũng sử dụng đến nhiều hóa chất cơ bản như sản xuất bột ngọt phải dùng đến xút, axit clohydric,axit sunfuric; sản xuất đường phải dùng đến axit photphoric, lưu huỳnh; sản xuất nước giải khát có
ga cần đến cacbonic (CO2), sản xuất nước sinh hoạt phải dùng đến phèn nhôm, clo lỏng
̇ Công nghiệp giấy, dệt, thủy tinh không thể thiếu vai trò của xút, sôđa, phèn nhôm(Al2(SO4)3), hydroxyt nhôm (Al(OH)3 và các loại hóa chất nhuộm
̇ Hóa chất cơ bản cũng đóng một vai trò quan trọng đối với ngành nông nghiệp: axit sunfuric, axit phốtphoric được sử dụng để sản xuất phân lân, amoniac dùng để tổng hợp phân đạm
̇ Các hóa chất cơ bản còn tham gia vào thành phần thuốc trừ sâu, chất sinh trưởng cho cây trồng, các nguyên tố vi lượng để kích thích cây trồng Các hóa chất cơ bản góp phần thúc đẩy kỹ nghệ sinh hóa ngày càng phát triển cao để phục vụ nông nghiệp Ngoài ra hóa chất cơ bản còn góp phần phát triển lĩnh vực chăn nuôi: các muối phốt phát tham gia vào quá trình sản xuất thức ăn gia súc
̇ Ngoài ra, hóa chất cơ bản còn được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực y tế, mỹ phẩm, công nghiệp hóa dầu…
Trang 131.2.2 Ýù nghĩa của việc xây dựng chiến lược phát triển ngành hóa chất cơ
bản tại Việt Nam
Qua phân tích vai trò của các sản phẩm hóa chất cơ bản đối với các ngành sản xuất trong nền kinh tế, ta thấy việc phát triển ngành hóa chất cơ bản có ý nghĩa quan trọng như sau:
ư Đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các ngành sản xuất trong nước
Trong những năm gần đây, các khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung phát triển rất nhanh thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước với nhiều ngành sản xuất đa dạng Từ đó, dẫn đến nhu cầu về hóa chất cơ bản ngày càng gia tăng Vì vậy, phát triển ngành hóa chất cơ bản sẽ đáp ứng được nhu cầu về hóa chất cơ bản trong nước về số lượng lẫn chất lượng
Mặt khác, Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp phong phú và đa dạng Xu hướng sản xuất, chế biến và xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp ngày càng tăng về số lượng, chất lượng và chủng loại Một trong những trọng tâm của ngành hóa chất cơ bản là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về số lượng lẫn chất lượng các loại hóa chất phục vụ cho nông nghiệp, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
ư Sản xuất thay thế hàng nhập khẩu, góp phần khai thác lợi thế cạnh tranh của
đất nước
Hàng năm, nước ta phải nhập khẩu một lượng lớn sản phẩm hóa chất các loại từ nước ngoài để phục vụ cho nhu cầu sản xuất của các ngành công nghiệp trong nước Phát triển ngành hóa chất cơ bản, đáp ứng được nhu cầu trong nước sẽ góp phần thay thế hàng nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ cho đất nước Ngoài ra, còn góp phần khai thác sử dụng tốt và hiệu quả nguồn tài nguyên trong nước hiện có như muối, quặng kim loại các loại, dầu khí…Từ đó giúp tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, khai thác được lợi thế về nguồn nhân lực phong phú của đất nước
Trang 14Trong thời gian tới, quá trình hội nhập và phát triển kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới sẽ mở ra nhiều cơ hội và thách thức cho nền kinh tế nước ta Riêng đối với ngành hóa chất cơ bản sẽ gặp phải sự cạnh tranh gay gắt, phải đối mặt với nhiều thách thức ngay ở thị trường trong nước và khu vực Chính vì vậy, việc phát triển nhanh có tính đi tắt, đón đầu về khoa học công nghệ trong giai đoạn này là rất quan trọng, có ý nghĩa vô cùng to lớn cho sự tồn tại và phát triển của ngành kinh tế quan trọng này
Vì thế, từ những yếu tố trên cho thấy việc xây dựng chiến lược phát triển ngành
hóa chất cơ bản phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh mới và với khả năng các doanh nghiệp trong ngành là điều thực sự cần thiết Việc xây dựng chiến lược phát triển giúp cho các doanh nghiệp trong ngành xác định rõ hướng đi của mình trong tương lai, thấy được những cơ hội, những rủi ro của môi trường tác động đến để từ đó dựa trên tiềm lực của mình đề ra những biện pháp đối phó, đồng thời hoạch định nguồn lực một cách chủ động và hợp lý cho việc đầu tư phát triển nhằm đạt được mục tiêu đề ra, góp phần phát triển ngành hóa chất cơ bản ở Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH HÓA CHẤT
CƠ BẢN VIỆT NAM
2.1 SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH HÓA CHẤT CƠ BẢN VIỆT NAM
2.1.1 Giai đoạn trước năm 1975
• Ở miền Bắc trước năm 1975
Ngành sản xuất hóa chất cơ bản ở Việt Nam bắt đầu hình thành từ những năm đầu thập niên 60, khi một số nhà máy hóa chất được Trung Quốc, Liên Xô (cũ) giúp đỡ xây dựng đưa vào hoạt động như nhà máy Hóa chất Việt Trì, nhà máy Supephốtphát Lâm Thao…
Nhà máy Hóa chất Việt Trì sản xuất xút lỏng, với sản lượng gần 4700 tấn (qui đổi thành NaOH 100%); axit clohydric với sản lượng 1500 tấn vào năm 1965 Sản phẩm chủ yếu cung cấp cho nhà máy giấy Cùng với các sản phẩm này còn có clo lỏng và các sản phẩm khác đi từ khí clo
Nhà máy Supephotphat Lâm Thao cung cấp axit sunfuric với sản lượng ban đầu là 40.000 tấn, chủ yếu cung cấp cho sản xuất phân bón và góp phần đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất acqui và các lĩnh vực sản xuất khác
Nhìn chung trong giai đoạn này, các nhà máy có qui mô nhỏ, trình độ kỹ thuật trung bình
• Ở miền Nam trước năm 1975
- Về xút, có Nhà máy Hóa chất Biên Hòa (VICACO) có công suất 2.000 tấn xút/năm và 4.000 tấn axit clohydric/năm cung cấp cho các nhà máy chế biến thực phẩm Ngoài ra còn có một số nhà máy giấy lắp đặt các thiết bị điện phân, tự cung cấp xút cho sản xuất Tổng công suất xút ở miền Nam khoảng 6.000 tấn/năm
Trang 16- Về axit sunfuric, có hai nhà máy sản xuất là nhà máy hóa chất Tân Bình (COPHATA) có công suất 6.000 tấn/năm và nhà máy hóa chất Thủ Đức (Bột giặt Thiên Nga) có công suất 7.000 tấn/năm Nguyên liệu sử dụng là lưu huỳnh nhập khẩu Sản phẩm sản xuất ra dùng để sản xuất phèn lọc nước, bình accquy và điều chế chất tạo bọt dùng trong bột giặt
2.1.2 Giai đoạn từ 1976 đến 1985
Trong thời gian này cũng như thời gian trước năm 1975ù, nền kinh tế nước ta hoạt động trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, việc sản xuất hóa chất
cơ bản được nhà nước đảm bảo cả đầu vào và đầu ra; được cung cấp nguồn nguyên liệu và được bao tiêu sản phẩm Các nhà máy chỉ có nhiệm vụ là sản xuất ra sản phẩm
Sản lượng các sản phẩm hóa chất cơ bản chính trong thời gian này không tăng nhiều so với trước năm 1975, tốc độ tăng trưởng nhu cầu của hai sản phẩm axit sunfuric và xút trong giai đoạn này chỉ đạt khoảng 5%
2.1.3 Giai đoạn từ 1986 đến nay
Từ năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới kinh tế do Đại hội VI của Đảng đề
ra, nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang
cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp nhà nước được quyền chủ động trong sản xuất, hạch toán kinh doanh độc lập
Trong thời gian đầu, các doanh nghiệp sản xuất hóa chất cơ bản gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu là do nguồn nguyên liệu không được ưu tiên cung cấp như trước đồng thời sản phẩm không đủ sức cạnh tranh với hàng nhập ngoại, tiêu thụ khó khăn, hàng hóa ứ đọng Nguyên nhân chính là cơ sở vật chất nhỏ bé, thiết bị, công nghệ lạc hậu , kết quả là nhịp độ sản xuất giảm sút
Từ năm 1991 trở đi, khi đất nước chuyển đổi toàn diện cơ chế quản lý, ngành hóa chất cơ bản mới thực sự khởi sắc Tình hình sản xuất kinh doanh đã từng bước ổn định và có tốc độ tăng trưởng khá
Trang 172.1.4 Giới thiệu các doanh nghiệp trong ngành
Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất hóa chất cơ bản ở Việt Nam hầu hết là
những doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam
Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam được thành lập và hoạt động theo quyết định số 835/TTg ngày 20/12/1995 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sáp nhập Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất cơ bản vớiø Tổng Công ty Hóa chất công nghiệp và Hoá chất tiêu dùng Đây là một Tổng Công ty lớn gồm hơn 40 doanh nghiệp nhà nước và 17 đơn vị liên doanh trong đó có 14 liên doanh với nước ngoài hoạt động trong nhiều phân ngành như hóa chất cơ bản, phân bón, thuốc trừ sâu, chất tẩy rửa, chất dẻo
Các công ty sản xuất hóa chất cơ bản chủ yếu bao gồm:
1 Công ty Hóa chất Cơ bản Miền Nam
Công ty Hóa chất cơ bản Miền Nam được thành lập từ năm 1976 trên cơ sở hợp nhất các nhà máy hóa chất được tiếp quản từ chế độ cũ, gồm: nhà máy Hóa chất Biên Hòa, nhà máy Hóa chất Tân Bình, nhà máy Hóa chất Đồng Nai, xưởng Nghiên cứu thực nghiệm và Mỏ khai thác Bôxít Bảo Lộc – Lâm Đồng
Sản phẩm chính của công ty là axit sunfuric, hydroxyt nhôm, phèn, xút, axit clohydric, clo lỏng và các hóa chất cơ bản khác đáp ứng nhu cầu về hóa chất
cơ bản cho các ngành công nghiệp các tỉnh phía Nam
2 Nhà máy Supe Phốt phát Long Thành
Nhà máy thuộc Công ty Phân bón Miền Nam, sản xuất axit sunfuric Lượng axit sunfuric sản xuất ra chủ yếu để phục vụ sản xuất phân lân của công ty, số còn lại cung cấp cho thị trường miền Nam
3 Công ty Hóa chất Việt Trì
Công ty được xây dựng từ năm 1959 dưới sự giúp đỡ của Trung Quốc Sản phẩm chính của công ty chủ yếu là xút, axit clohydric , clo lỏng, các sản phẩm gốc Clo và một số sản phẩm khác
Trang 184 Công ty Hóa chất Đức Giang
Sản phẩm chính của công ty là axit photphoric, Natritripoly phốt phát, Natri Silicat, phèn…
5 Công ty Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao
Được xây dựng từ năm 1959, đi vào hoạt động năm 1962 Công ty có 2 phân xưởng sản xuất axit sunfuric, chủ yếu được sử dụng làm nguyên liệu cho việc sản xuất phân lân, số còn lại cung cấp cho thị trường
Cùng với Công ty Hóa chất Việt Trì, Hóa chất Đức Giang, Công ty cung cấp các sản phẩm hóa chất cơ bản cho khu vực từ miền Trung trở ra Bắc
2.2 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG
2.2.1 Phân tích các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
2.2.1.1 Các yếu tố kinh tế
Ü Cơ hội
• Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, công nghiệp phát triển nhanh và ổn định, đặc biệt đạt mức tăng trưởng ở mức hai chỉ số liên tục trong gần 10 năm qua Sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp đã góp phần thúc đẩy ngành hóa chất cơ bản phát triển và là một thị
trường rộng lớn tiêu thụ hóa chất cơ bản
Bảng 2.1: Mức tăng trưởng của công nghiệp Việt Nam (1991-1999)
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
10,4 17,1 12,7 13,7 14,5 14,2 13,8 12,5 10,4
(Nguồn: Niên giám thống kê)
• Nhà nước quan tâm đến việc phát triển ngành hóa chất cơ bản thông qua chính sách ưu đãi đối với ngành như: thuế giá trị gia tăng đối với một số sản phẩm hóa chất cơ bản được điều chỉnh giảm 50%, đồng
thời có chính sách ưu đãi đầu tư trong nước đối với ngành
• Việt Nam tham gia khối ASEAN và gia nhập AFTA sẽ mở rộng thị
trường, mở ra triển vọng xuất khẩu các sản phẩm
Trang 19• Hệ thống ngân hàng thương mại phát triển mạnh với xu hướng lãi suất ngày càng giảm Đây là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vay vốn để đầu tư sản xuất kinh doanh
Ü Nguy cơ
• Tốc độ tăng trưởng GDP của hai năm 96,97 đã có dấu hiệu chậm lại và đặc biệt năm 98, 99 giảm mạnh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực
Bảng 2.2 : Mức độ tăng trưởng GDP của Việt Nam từ năm 1991 - 1999
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
(Nguồn: Niên Giám Thống kê)
• Tuy qui mô và tốc độ không lớn như các nước trong khu vực, đồng tiền trong nước cũng bị giảm giá liên tục Tỷ giá hối đoái từ 1 USD = 11.000 VND vào tháng 7/96 lên đến 14.078 VND như hiện nay đã gây nhiều khó khăn cho ngành hóa chất cơ bản vì phần lớn nguyên liệu của ngành phải nhập từ nước ngoài, đồng thời cũng ảnh hưởng đến việc trả nợ và lãi vay vốn đầu tư
• Hiệp định về mậu dịch chung của các nước ASEAN (CEPT) đang đi dần vào hoạt động, với mục tiêu đến năm 2003 giảm thuế nhập khẩu cân bằng với các nước trong khu vực theo khung thuế suất quy định chung Ngành hóa chất cơ bản nằm trong danh mục giảm thuế xuất nhập khẩu nhanh, do đó chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh với các sản phẩm ngoại nhập
• Môi trường đầu tư ở Việt Nam đã không còn sức thu hút mạnh như những năm trước đây, đầu tư nước ngoài đã có xu hướng giảm rõ rệt
Tỉ lệ vốn đầu tư nước ngoài trong GDP từ mức 15% trong năm 1995 đã giảm xuống còn 2,5% trong năm 1998 và ước đoán khoảng 2,2% trong năm 1999
Trang 202.2.1.2 Các yếu tố luật pháp, chính phủ và chính trị
Ü Cơ hội:
• Sự ổn định về chính trị trong nước, trong khu vực là một ưu thế, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư mạnh dạn xây dựng và triển khai các chiến lược kinh doanh dài hạn cho doanh nghiệp của mình; ảnh hưởng rất lớn quá trình phát triển nền kinh tế
• Luật đầu tư trong nước và luật đầu tư nước ngoài đang từng bước được điều chỉnh để tạo điều kiện thuận lợi và kích thích các doanh nghiệp yên tâm đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam Ngoài ra, luật doanh nghiệp vừa được ban hành cùng với việc bãi bỏ các giấy phép con trong sản xuất kinh doanh đã tạo ra một hành lang pháp lý thông thoáng giúp các doanh nghiệp hoạt động thuận lợi hơn
Ü Nguy cơ:
• Hệ thống luật pháp chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện và thiếu đồng bộ Ngoài ra, bộ máy quản lý cồng kềnh với các thủ tục hành chính phức tạp, quan liêu gây không ít khó khăn cho các hoạt động kinh tế
2.2.1.3 Các yếu tố xã hội
Ü Cơ hội:
• Việt Nam có nền nông nghiệp đang phát triển phong phú, đa dạng về cây lương thực, cây công nghiệp và cây ăn quả; do đó nhu cầu sử
dụng các loại hóa chất phục vụ nông nghiệp ngày một tăng
• Các khu công nghiệp, khu đô thị mới , các khu vui chơi giải trí phát triển mạnh trong những năm gần đây cũng làm tăng nhu cầu sử dụng hóa chất cơ bản, như nhu cầu sử dụng các hóa chất lọc, khử trùng
nước
Ü Nguy cơ
• Các doanh nghiệp sản xuất vẫn thường có tư tưởng chuộng hàng nhập khẩu từ nước ngoài
Trang 21• Hiện nay, vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các quốc gia Aùp lực xã hội đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường Hóa chất cơ bản là một ngành có khả năng gây ô nhiễm môi trường cao nên đây cũng là một yếu tố có nhiều ảnh hưởng trong việc phát triển ngành
2.2.1.4 Các yếu tố tự nhiên
- Mỏ Bôxit Lâm đồng với trữ lượng lớn là nguồn cung cấp nguyên liệu cho sản xuất hydroxyt nhôm và các sản phẩm gốc nhôm
Các nguồn nguyên liệu tự nhiên trên là một yếu tố đảm bảo cho ngành phát triển ổn định
Ü Nguy cơ:
• Do địa hình đất nước dàn trãi; năng lực sản xuất phân bố không đều, chỉ tập trung ở hai khu vực chính công nghiệp chính ở miền Bắc và miền Nam; nguồn nguyên liệu lại ở xa các nhà máy sản xuất nên chi phí vận chuyển nguyên liệu, hàng hóa cũng tăng lên
2.2.1.5 Các yếu tố công nghệ kỹ thuật
Ü Cơ hội:
• Từ kinh nghiệm của các nước trong khu vực, Việt Nam đã chú trọng và khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng các công nghệ tiên tiến thay cho công nghệ cũ, lạc hậu nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng cao
Trang 22Ü Nguy cơ:
• Mặc dù một số nhà máy đã được đầu tư đổi mới công nghệ nên đã sản xuất được những sản phẩm có chất lượng cao, nhưng vẫn còn nhiều công nghệ sản xuất lạc hậu so với các nước trong khu vực
2.2.2 Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường vi mô
2.2.2.1 Tình hình cạnh tranh
Cạnh tranh là yếu tố không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường Đối với ngành hóa chất cơ bản, cạnh tranh chỉ thực sự bắt đầu diễn ra vào những năm
1989 – 1990 khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường
• Cạnh tranh giữa các đơn vị sản xuất trong nước:
Hiện nay, tình hình cạnh tranh giữa các đơn vị sản xuất trong nước tuy có diễn ra nhưng không gay gắt lắm vì số lượng các doanh nghiệp trong ngành
ít và đã có sự phân chia thị trường rõ rệt
+ Thị trường miền Bắc:
Bao gồm các đơn vị chủ yếu:
- Công ty Hóa chất Việt Trì
- Công ty Hóa chất Đức Giang
- Công ty Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao
+ Thị trường miền Nam:
- Công ty Hóa chất cơ bản Miền Nam
- Nhà máy Hóa chất Long Thành
+ Tình hình thị phần của các doanh nghiệp:
Có thể phân chia thị phần của các doanh nghiệp trong ngành theo nhóm các sản phẩm chính như sau:
- Đối với sản phẩm axit sunfuric:
Công ty Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao tuy dẫn đầu về sản lượng nhưng phần lớn được sử dụng để sản xuất phân bón cho chính
Trang 23công ty, số lượng bán ra thị trường không nhiều Nếu chỉ tính số lượng thương phẩm – lượng bán ra thị trường – của các doanh nghiệp, thì công
ty Hóa chất cơ bản Miền Nam chiếm tỷ trọng cao nhất :58%, kế đến là công ty Hóa chất Lâm Thao 25%, nhà máy Supe Phốt phát Long Thành 17%
Biểu đồ 1: Tình hình thị phần của sản phẩm axit sunfuric
H.C.C.B Miền Nam 58%
Lâm Thao 25%
Long Thành 17%
- Đối với sản phẩm xút:
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm xút ở thị trường miền Bắc không cao
do công nghệ sản xuất chưa được đổi mới, chất lượng sản phẩm còn thấp Đặc biệt nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm gốc clo chưa cao (sản phẩm đồng hành của xút) nên giá thành của xút còn cao
Trong khi đó, ở thị trường miền Nam, sản phẩm xút đã có sức cạnh tranh cao hơn do đã được đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất dẫn đến giá thành hạ, đồng thời nhu cầu sử dụng các sản phẩm gốc clo cũng nhiều nhiều hơn
Biểu đồ 2: Tình hình thị phần của sản phẩm xút
H.C.C.B Miền Nam 62%
Việt Trì 38%
Trang 24+ Cạnh tranh với các sản phẩm nhập ngoại:
Hiện nay, đối thủ cạnh tranh chủ yếu của các doanh nghiệp là các sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài
Ngành hóa chất cơ bản của các nước trên thế giới và trong khu vực đều đã có bước tiến khá xa so với nước ta, công nghệ sản xuất, máy móc thiết bị đã được đổi mới, chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ Ngành hóa chất khu vực lân cận như các nước ASEAN và Trung Quốc đã đầu
tư phát triển từ những năm 70 và 80, các nước Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia và Philipine đã đầu tư hoặc liên doanh với các nước Aâu Mỹ để sản xuất tại chổ Đến nay, ở hầu hết các nước trên, các nhà máy hóa chất cơ bản đều có công suất lớn và có sản phẩm xuất khẩu Do đó, ưu thế cạnh tranh của các sản phẩm nhập ngoại là chất lượng tốt, giá cả rẻ hơn
Trong thời gian qua, nhà nước đã có chính sách bảo hộ một số mặt hàng hóa chất cơ bản trong nước thông qua việc hạn chế nhập khẩu, quy định thuế suất nhập khẩu cao Tuy nhiên, trong thời gian tới, khi hàng rào thuế quan được dỡ bỏ thì chắc chắn đây sẽ là đối thủ cạnh tranh rất lớn cho các nhà sản xuất trong nước
Theo dõi số lượng xút nhập khẩu trong những năm qua, ta thấy số lượng xút nhập khẩu chiếm hơn 50% thị phần trong nước
Bảng 2.3: Tình hình nhập khẩu xút qua các năm
(Đvt: nghìn tấn)
(Nguồn: Niên giám thống kê)
Hiện nay, một số sản phẩm do đã được đầu tư đổi mới công nghệ như xút, axit clohydric, và những sản phẩm do có lợi thế từ việc sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước như phèn nhôm, hydroxyt nhôm… là có khả năng cạnh tranh được với hàng nhập ngoại về chất lượng cũng như
Trang 25giá cả Còn các nhóm các sản phẩm khác phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ các sản phẩm nhập khẩu
Tóm lại, ngành hóa chất cơ bản phải nổ lực nhiều trong việc chạy đua giành thị phần với các sản phẩm nhập ngoại, nếu không, khi gia nhập thị trường AFTA sẽ bị đánh bại ngay trên sân nhà Bên cạnh những nổ lực của các doanh nghiệp, cần có thêm các chính sách hợp lý của chính phủ trong việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm trong nước
2.2.2.2 Khách hàng
Khách hàng là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự thành công của các doanh nghiệp, của ngành Hiện nay khách hàng của ngành chủ yếu là khách hàng trong nước, khách hàng nước ngoài, tức thị trường xuất khẩu tuy có nhưng chưa đáng kể vì sản phẩm của ta chưa đủ sức cạnh tranh với sản phẩm của các nước trong khu vực
♦ Thị trường trong nước:
Do đặc thù của ngành hóa chất cơ bản là sản xuất tư liệu sản xuất nên khách hàng chủ yếu là những nhà sản xuất sử dụng hóa chất cơ bản trong quá trình sản xuất của họ, trong đó tập trung vào một số ngành chủ yếu sau:
1 Nhóm ngành công nghiệp hóa chất: sản xuất phân bón, chất tẩy rửa, sản xuất bình accquy
2 Ngành công nghiệp sản xuất giấy
3 Ngành công nghiệp dệt
4 Nhóm ngành công nghiệp chế biến thực phẩm (mía đường bột ngọt, nước chấm )
5 Ngành cung cấp nước sạch…
Nhu cầu sử dụng hóa chất cơ bản của các ngành này là thường xuyên và luôn có một định mức nhất định Do đó, các doanh nghiệp đều có những nhóm khách hàng truyền thống, ổn định, tập trung mua với số lượng lớn, có quan hệ lâu năm
Trang 26Tuy nhiên, đối với nhóm khách hàng mua với số lượng lớn hoặc sản phẩm hóa chất cơ bản là nguyên liệu đầu vào chính của ngành sản xuất đó, thì áp lực từ các nhóm khách hàng này rất lớn:
̇ Họ thường gây sức ép về giá: luôn có sự so sánh giá cả với các hóa chất nhập ngoại, nếu hóa chất nhập ngoại rẽ hơn thì họ dễ dàng chuyển sang nguồn cung cấp có lợi hơn cho họ
̇ Sự đe dọa sẽ liên kết nội bộ tức tự sản xuất để thỏa mãn nhu cầu của họ Như nhóm khách hàng ngành sản xuất chất tẩy rửa có thể liên kết với nhau để sản xuất các loại hóa chất làm nguyên liệu chính cho ngành
Vì thế, để đạt hiệu quả cao trong kinh doanh, các doanh nghiệp cần chọn khách hàng phù hợp cho mình theo nguyên lý cơ bản là tìm ra và cố gắng giữ vững khách hàng có lợi nhất hiện có bằng các chính sách ưu đãi thích hợp
♦ Thị trường xuất khẩu:
Hiện nay, thị trường xuất khẩu của ngành chủ yếu là thị trường Lào và Campuchia Các sản phẩm xuất khẩu tập trung vào các sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao như phèn, hydroxyt nhôm, axit clohydric ,clo lỏng
2.2.2.3 Nhà cung cấp
Hai nguồn cung cấp nguyên liệu chính cho ngành là nguồn nguyên liệu trong nước và nguồn nguyên liệu nhập khẩu
• Nguồn cung cấp trong nước:
Nguồn nguyên liệu cung cấp trong nước chủ yếu là các nguồn nguyên liệu
tư nhiên như muối, các quặng mỏ bôxít, nguồn đá vôi, dầu khí…
- Nguồn muối công nghiệp cung cấp cho sản xuất xút sử dụng chủ yếu từ nguồn muối Cà Ná, Vĩnh Hảo ở Ninh Thuận, Bình Thuận Thời gian gần đây giá muối công nghiệp có chiều hướng giảm và đáp ứng đủ về số lượng, tuy nhiên chất lượng chưa cao, còn nhiều tạp chất, ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm Ngoài ra, có những năm do ảnh hưởng của thời tiết
Trang 27nên giá muối tăng đột biến, làm ảnh hưởng rất nhiều đến việc sản xuất, tăng giá thành sản phẩm
- Việc sản xuất xút dựa trên công nghệ điện phân nên nguồn điện dùng cho sản xuất của ngành cũng rất lớn Tổng điện năng sản xuất ở nước ta năm 1995 khoảng 15-16 tỷ kwh và năm 1999 khoảng 24 tỷ kwh Hiện có các nhà máy thủy điện Hòa Bình, Thác Mơ, Yaly và một số các nhà máy nhiệt điện, kết hợp với đường dây 500kV nên việc cung cấp điện có nhiều thuận lợi hơn so với trước
• Nguồn nguyên liệu nhập khẩu
Ngành hóa chất cơ bản cũng sử dụng nhiều nguyên liệu nhập khẩu Việc nhập khẩu nguyên liệu thường bị ảnh hưởng bởi thời hạn mua hàng dài, biến động kinh tế ở nước cung cấp, biến động tỷ giá ở nước ta…
2.2.2.4 Các sản phẩm thay thế
Hiện nay, ngành hóa chất cơ bản có lợi thế là những sản phẩm của ngành không thể thiếu trong quá trình sản xuất của hầu hết các ngành công nghiệp Tuy nhiên, do ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất của các ngành luôn được cải tiến, sự thay đổi công nghệ trong các ngành có liên quan có thể sẽ ảnh hưởng đến việc sử dụng hóa chất trong quá trình sản xuất : định mức sử dụng sẽ thay đổi hoặc có thể sẽ thay thế hóa chất này bởi hóa chất khác
Vì thế việc quan tâm nghiên cứu công nghệ sản xuất, nhu cầu sử dụng hóa chất cơ bản trong quá trình sản xuất của một số ngành có liên quan để định hướng sản xuất cho ngành là rất cần thiết
2.2.2.5 Nguy cơ nhập cuộc
Do đặc điểm của ngành là vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm nên rào cản gia nhập ngành cao hơn các ngành khác Vì thế trong thời gian qua các công ty hóa chất lớn của nước ngoài chưa quan tâm đến thị trường Việt Nam Tuy rào cản gia nhập ngành cao, hạn chế nguy cơ nhập cuộc từ các đối thủ tiềm ẩn, nhưng đây lại là một thiệt thòi cho ngành vì không thu hút được đầu tư
Trang 28nước ngoài, trong khi tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp trong nước không mạnh nên đã hạn chế việc đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị của ngành trong thời gian qua
2.2.2.6 Vấn đề môi trường
Mối liên hệ giữa phát triển và ô nhiễm môi trường là vấn đề hiện đang được quan tâm hàng đầu trên thế giới Cùng với việc phát triển ngành thì việc bảo vệ môi trường cần được quan tâm nhiều hơn vì ngành công nghiệp hóa chất được coi là một trong những ngành có tiềm ẩn nhiều khả năng gây ra ô nhiễm môi trường cao, ô nhiễm nguồn khí và nguồn nước, ảnh hưởng đến sức khỏe của công nhân trực tiếp sản xuất, người dân sống trong vùng lân cận
Một thực tế không thể phủ nhận là do phần lớn trang thiết bị công nghệ hiện tại đều cũ và qua nhiều năm hoạt động, hiệu suất thấp, tiêu hao vật chất cho một đơn vị sản phẩm cao, tương ứng là một lượng chất thải từ các nguồn tiêu hao đó thải ra môi trường càng lớn, đây cũng chính là nét đặc trưng cơ bản của công nghệ sản xuất hiện nay khi nói đến vấn đề quản lý và kiểm soát ô nhiễm Những vấn đề phát sinh về môi trường trong ngành chủ yếu là vấn đề xử lý các loại hóa chất độc hại có trong nước thải, chất thải rắn và khí thải tại các nhà máy hóa chất
+ Về nước thải: công nghệ chủ yếu được sử dụng trong quá trình sản xuất là các phương pháp điện phân, tổng hợp Nước được coi là một yếu tố quan trọng ở hầu hết các khâu trong quy trình sản xuất, do vậy nguồn nước thải này chứa các chất độc hại bao gồm các sản phẩm thừa, hóa chất thất thoát… gây ô nhiễm các nguồn nước tiếp nhận chúng
+ Về khí thải: có nhiều loại hơi khí độc hại như SO2, SO3, Clo trong khí thải ở các nhà máy hóa chất
Vì thế, khi đề cập đến vấn đề phát triển ngành thì cũng phải có biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường
Trang 292.2.3 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài – EFE
Dựa vào các kết quả đã phân tích ở phần trên đồng thời để phục vụ cho bước định hướng phát triển và hoạch định chiến lược ở phần sau, việc thiết lập ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài là rất cần thiết
Bảng 2.4: Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài – EFE
quan trọng
Phân loại
Số điểm quan trọng
Tính chất tác động
Xếp hạng
1 Công nghiệp phát triển với mức cao
2 Chính sách ưu đãi của nhà nước:
giảm thuế, ưu đãi đầu tư
0,093 4 0,372 + 3
3 Hệ thống chính trị ổn định, hệ thống
luật đang được củng cố và hoàn
thiện
0,080 3 0,240 + 6
4 Hệ thống ngân hàng thương mại
phát triển, lãi suất thấp
0,085 2 0,170 + 5
5 Có nguồn tài nguyên thiên nhiên
dồi dào
0,090 3 0,270 + 4
6 Nhu cầu sử dụng hóa chất cơ bản
thường xuyên, khó có khả năng thay
thế
0,097 4 0,388 + 2
7 Tốc độ phát triển của nền kinh tế
đang chậm lại
0,092 2 0,184 - (3)
8 Các chính sách, qui định của nhà
nước hay thay đổi
0,078 2 0,156 (5)
9 Địa hình khá dàn trãi, chi phí vận
10 Mối quan tâm của xã hội đối với
11 Sự cạnh tranh gay gắt với các sản
phẩm nhập ngoại khi tham gia lộ
trình giảm thuế AFTA
0,103 1 0,103 - (1)
Trang 30Tổng số điểm quan trọng là 2,552 ≈ 2,5 cho thấy ngành hóa chất cơ bản Việt Nam chỉ ở xấp xỉ mức trung bình trong việc nổ lực tận dụng các cơ hội và né tránh các mối đe dọa từ bên ngoài
2.3 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG NỘI BỘ NGÀNH
2.3.1 Tình hình sản xuất
1 Cơ cấu sản phẩm và khả năng tiêu thụ
Do chủng loại sản phẩm hóa chất cơ bản rất phong phú, đa dạng, nên một doanh nghiệp không sản xuất hết tất cả các loại sản phẩm mà chỉ tập trung vào một số loại sản phẩm theo định hướng đầu tư ban đầu của doanh nghiệp
Các sản phẩm hóa chất cơ bản có tính chiến lược:
♦ Axit sunfuric (H 2SO4):
Đây là mặt hàng mũi nhọn của ngành, được sử dụng nguyên liệu chính để sản xuất axit sunfuric là lưu huỳnh, hiện đang nhập ngoại Do có nhu cầu lớn nên sản lượng sản xuất của nó lớn nhất trong tất cả các loại hóa chất khác 90% sản lượng axit sunfuric dùng để sản xuất phân lân, 10% còn lại cung cấp cho các ngành khác
Năng lực sản xuất axit sunfuric hiện nay là 270.000 tấn/năm, đáp ứng đủ cho nhu cầu sử dụng trong nước
Bảng 2.5: Sản lượng axit sunfuric các năm 1995-1999
Trang 31nhu cầu còn lại được đáp ứng bởi xút rắn nhập khẩu Xút được sử dụng nhiều trong các ngành giấy, dệt, sản xuất bột ngọt…
Bảng 2.6: Sản lượng xút qua các năm 1995-1999
(Đvt: tấn)
Tổng số sản xuất 9.769 10.608 9.820 12.484 15.100
(Nguồn: Tổng Công Ty Hóa Chất Việt Nam)
Biểu đồ 3: Mức tiêu thụ axit sunfuric và xút thương phẩm (1995 –1999)
0 5000 10000 15000 20000 25000 30000
Trong vòng 4 năm từ 1995 đến 1999, mức tiêu thụ axit sunfuric thương phẩm tăng từ 9.855 tấn lên 27.050 tấn – mức tăng trưởng gần 200%, trung bình 50%/năm Tương tự mức tiêu thụ xút cũng tăng từ 7.307 tấn lên 13.000 tấn- mức tăng trưởng gần 80%, trung bình 20%/năm
♦ Nhóm các sản phẩm khác:
Ngoài hai sản phẩm chính trên, các nhóm sản phẩm gốc clo như axit clohydric, clo lỏng, phèn các loại cũng có mức sản xuất ngày một tăng Đồng thời một số các sản phẩm gốc clo có giá trị kinh tế cao cũng được nghiên cứu đưa vào sản xuất, đáp ứng nhu cầu trong nước như clorua canxi (CaCl2), clorua kẽm (ZnCl2), clorua sắt (FeCl3) Đặc biệt các sản phẩm mới đầu tư đưa vào sản xuất trong những năm gần đây như axit phốtphoric, natri
Trang 32tripolyphốtphát … cũng có mức tăng trưởng đáng kể, đã góp phần nâng cao mức tăng trưởng của ngành (Bảng 2.7)
Bảng 2.7: Tình hình tiêu thụ một số sản phẩm mới
Axit phốtphoric Natri tripolyphốtphát
Tuy nhiên, ngoài các sản phẩm kể trên và các loại sản phẩm khác được sản xuất trong nước, vẫn còn nhiều chủng loại sản phẩm hóa chất trong nước cần đến nhưng ngành hóa chất cơ bản Việt Nam chưa sản xuất được, hàng năm phải nhập khẩu với số lượng lớn, như sôđa (Na2CO3) dùng trong công nghiệp thủy tinh, gốm sứ, sản xuất chất tẩy rửa…mỗi năm nhập khoảng 50.000 tấn Ngoài ra, một số sản phẩm hóa chất sử dụng trong các ngành công nghiệp khác cũng chưa đáp ứng được Đây cũng là một điểm yếu của ngành - chủng loại sản phẩm chưa đa dạng, chưa đáp ứng được hết nhu cầu của các ngành sản xuất trong nước Trong tương lai, ngành cần có sự đầu tư nhiều hơn nữa vào chiến lược đa dạng hóa sản phẩm
Trang 33♦
2 Về công suất sản xuất :
Công suất thiết kế
Công suất thiết kế của các đơn vị trong ngành nhìn chung là nhỏ, chỉ đạt vài ngàn đến vài chục ngàn tấn một năm
Bảng 2.8: Công suất thiết kế sản xuất của các sản phẩm chủ yếu
(Đvt: tấn)
♦
♦
Công suất sản xuất
Trong những năm gần đây, do nhu cầu càng lúc càng gia tăng nên công suất sản xuất của các đơn vị gần như đạt mức 100%, đôi khi sản xuất vượt công suất thiết kế Điều này chứng tỏ nhu cầu sử dụng ngày càng tăng trong khi khả năng sản xuất chưa đáp ứng kịp, trong thời gian tới cần có chiến lược đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực sản xuất hoặc phải đầu tư mới cho các sản phẩm có nhu cầu lớn
2.3.2 Trình độ công nghệ và đầu tư đổi mới công nghệ
Trình độ công nghệ
Hầu hết các nhà máy sản xuất hóa chất cơ bản trong ngành đều được xây dựng đã lâu - trên 30 năm - nên công nghệ sản xuất đều quá lạc hậu so với các nước trên thế giới và trong khu vực Trong thời kỳ trước đổi mới, có một vài nhà máy được cải tạo, nâng công suất nhưng hầu như không đáng kể
Trong thời gian qua, để có thể cạnh tranh với các sản phẩm nhập ngoại, bản thân các doanh nghiệp trong ngành đã có nhiều nổ lực trong công các
Trang 34♦
đầu tư, đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh Ngoài ra, việc đổi mới công nghệ cũng góp phần giải quyết tốt vấn đề môi trường, lượng chất thải giảm đi rõ rệt
Cụ thể, đối với một số các sản phẩm thuộc nhóm xút-clo như sản phẩm xút, axit clohydric, clo ở công ty Hóa chất cơ bản Miền Nam sau khi được đổi mới công nghệ đã có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm nhập ngoại do chất lượng được nâng cao, giá thành hạ; thị trường tiêu thụ được mở rộng sang các lĩnh vực mới yêu cầu sản phẩm có độ tinh khiết cao Đồng thời, định mức tiêu hao nguyên liệu giảm đáng kể nên giá thành sản phẩm giảm 20% so với công nghệ sản xuất cũ (Xem phụ lục 3)
Các sản phẩm mới được đầu tư sản xuất cũng có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu thị trường như các axít phốtphoric, các sản phẩm làm nguyên liệu cho chất giặt rửa…
Tuy nhiên việc đổi mới công nghệ trong thời gian qua chỉ mới ở bước đầu, trong tương lai, các doanh nghiệp cần phải tập trung nội lực nhiều hơn nữa cho việc đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị
Vốn đầu tư đổi mới công nghệ
Do đặc điểm của các dự án đầu tư cho các sản phẩm chính của các doanh nghiệp trong ngành đòi hỏi vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài, lại không thu hút đầu tư nước ngoài nên việc đầu tư phải dựa vào bản thân các doanh nghiệp trong ngành là chính
̇ Do nguồn vốn còn hạn hẹp nên các doanh nghiệp hiện nay chỉ tập trung vào những dự án nhỏ như đầu tư chiều sâu để nâng cao năng suất, hoặc đầu tư vào các dây chuyền sản xuất sản phẩm mới nhưng với công suất nhỏ, khoảng vài ngàn tấn/ năm
̇ Đối với các dự án đầu tư lớn thì phải tiến hành từng bước và kéo dài trong nhiều năm Như dự án đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ điện phân xút- clo có công suất 10.000 tấn/năm ở công ty Hóa chất Cơ bản Miền Nam có tổng số vốn đầu tư là 43 tỷ đồng – khoảng 3 triệu USD,
Trang 35tiến hành thực hiện từ năm 1994 đến đầu năm 1997 mới đưa vào sản xuất
Nguồn vốn đầu tư cho ngành trong thời gian qua chủ yếu từ các nguồn:
- Vay tín dụng ưu đãi
- Vay thương mại
- Nguồn vốn tự bổ sung
- Nguồn khấu hao cơ bản
- Nguồn khác
Trong đó, nguồn vốn chính là vay tín dụng ưu đãi và nguồn vốn tự bổ sung của doanh nghiệp
2.3.3 Hoạt động marketing
Hoạt động marketing của ngành hóa chất cơ bản trong các năm qua chưa được chú trọng, thể hiện qua các điểm sau:
- Hầu hết các doanh nghiệp đều chưa có bộ phận marketing,
- Hoạt động marketing chủ yếu của doanh nghiệp trong ngành là quảng cáo trên các báo chí, chủ yếu là trên các tạp chí chuyên ngành như tạp chí Công nghiệp, tạp chí Công nghiệp Hóa chất, tạp chí Thương mại…
- Công tác nghiên cứu thị trường cũng chưa được thực hiện một cách triệt để, chưa đi sâu nghiên cứu nhu cầu và tốc độ phát triển của các ngành có liên quan để xác định nhu cầu thị trường
- Đa số các sản phẩm đều được bán trực tiếp cho các nhà sản xuất ở các ngành có liên quan với số lượng lớn Việc bán lẻ các sản phẩm ra thị trường đều thực hiện thông qua các cửa hàng kinh doanh hóa chất một cách tự phát chứ không xuất phát từ chính sách, chủ trương của các doanh nghiệp
Trong thời gian tới, để phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm, các doanh nghiệp trong ngành cần phải hết sức quan tâm, đầu tư thỏa đáng cho công tác marketing
Trang 36♦
♦
2.3.4 Tình hình tài chính
Về vốn kinh doanh
Các doanh nghiệp trong ngành hóa chất cơ bản hầu hết có tiềm lực về vốn không mạnh, mặt khác lại phải tập trung nguồn lực cho đầu tư phát triển, đổi mới công nghệ do đó thường xảy ra việc thiếu vốn sản xuất kinh doanh và đầu tư xây dựng
Về hiệu quả sản xuất kinh doanh
Lợi nhuận của ngành hiện nay còn thấp so với một số ngành sản xuất khác
do những nguyên nhân sau: phải cạnh tranh với sản phẩm nhập ngoại; các sản phẩm mới được đổi mới công nghệ phải chịu chi phí khấu hao, chi phí lãi vay cao…Tuy nhiên, trong những năm qua, các doanh nghiệp trong ngành đều hoạt động có lãi, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính với nhà nước Các công ty vay vốn để đầu tư đổi mới công nghệ đều trả nợ và lãi vay đúng hạn
2.3.5 Hoạt động nghiên cứu phát triển
Hoạt động nghiên cứu phát triển trong ngành có được quan tâm thực sự nhưng chưa được hiệu quả Hầu hết các doanh nghiệp đều có phòng thí nghiệm hay xưởng nghiên cứu thực nghiệm để tiến hành nghiên cứu, sản xuất thử các sản phẩm mới Tuy nhiên, công tác nghiên cứu các sản phẩm mới thường chỉ dừng lại ở mức sản xuất thử, hoặc sản xuất với số lượng nhỏ, còn đưa vào sản xuất đại trà với công suất lớn thì chưa làm được do khả năng thiết kế còn yếu, nhiều thiết bị tự chế tạo và lắp đặt không đồng bộ, gây ách tắc từng công đoạn và cuối cùng cả dây chuyền không hoạt động được hoặc hoạt động không hiệu quả
2.3.6 Hoạt động phát triển nguồn nhân lựcï
Nguồn nhân lực của ngành hiện nay còn nhiều hạn chế Theo số liệu tổng hợp từ các doanh nghiệp tỉ lệ cán bộ trong ngành như sau:
- Trình độ sau đại học : 0,02%
- Trình độ đại học : 7,79%
Trang 37- Công nhân kỹ thuật : 72,15%
- Lao động khác : 20,04%
Qua số liệu thống kê trên, ta thấy tỷ lệ cán bộ có trình độ cao hiện nay còn quá thấp so với yêu cầu phát triển ngành Hiện tại các đơn vị còn thiếu những kỹ sư giỏi trong công tác nghiên cứu, điều hành sản xuất Trình độ công nhân kỹ thuật cũng có nhiều hạn chế, nhất là trong công tác tiếp cận với công nghệ sản xuất mới Còn thiếu nhiều cán bộ quản lý giỏi có tầm nhìn chiến lược, có khả năng nhanh nhạy, nắm bắt thị trường
Trong thời gian tới, ngành cần có kế hoạch phát triển nguồn nhân lực về số lượng lẫn chất lượng cho việc thực hiện chiến lược phát triển ngành
2.3.7 Phân tích hệ thống thông tin
Thông tin trong quản lý có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả quản lý và sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành Đối với ngành, mặc dù Tổng công ty hóa chất đã có một số nổ lực trong việc xây dựng hệ thống thông tin như thành lập Trung tâm Thông tin Khoa học – Kỹ thuật Hóa chất có chức năng xây dựng hệ thống thông tin như cơ sở dữ liệu về sản xuất, đầu tư, xuất bản các sách về chuyên ngành và quản lý kinh tế, nhưng nhìn chung còn chưa phong phú Ngoài ra, hệ thống thông tin giữa Tổng công ty và các đơn vị trực thuộc vẫn chưa hoàn thiện, thông tin báo cáo từ đơn vị về Tổng công ty còn chậm, mạng lưới thống kê còn phân tán và chưa được quan tâm triệt để
2.3.8 Ma trận đánh giá nội bộ
Từ phân tích trên, để phục vụ cho việc thiết lập ma trận SWOT – làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược phát triển – bước tiếp theo là xây dựng ma trận đánh giá nội bộ bằng việc tóm tắt các đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu của ngành
Trang 38Bảng 2.9: Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong – IFE
quan trọng
Phân loại
Số điểm quan trọng
Tính chất tác động
Xếp hạng
2 Thiết bị công nghệ lạc hậu, đầu tư
không đồng bộ
0,115 1 0,115 - (2)
4 Chưa đẩy mạnh việc nghiên cứu nhu
cầu thị trường
0,097 2 0,194 - (3)
5 Tình hình tài chính lành mạnh, có
khả năng vay vốn đầu tư phát triển
0,105 3 0,315 + 3
7 Cạnh trạnh trong nước không gay
gắt
0,092 3 0,276 + 4
8 Chủng loại sản phẩm chưa đầy đủ,
còn thiếu một số loại sản phẩm
quan trọng
0,094 2 0,188 - (4)
9 Một số sản phẩm có chất lượng cao
do đã đầu tư đổi mới công nghệ
Trang 39CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH HÓA CHẤT CƠ
BẢN TẠI VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2010
3.1 ĐỊNH HƯỚNG MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN NGÀNH HÓA CHẤT CƠ BẢN ĐẾN NĂM 2010
3.1.1 Quan điểm phát triển ngành
3.1.1.1 Quan điểm phát triển ngành công nghiệp hóa chất nói chung
Bước vào thế kỷ mới, tiếp tục quán triệt Nghị quyết của Đại hội Đảng lần VIII với mục tiêu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vào năm 2020 nên ngành công nghiệp được ưu tiên chú trọng Quan điểm phát triển ngành công nghiệp hóa chất như sau:
- Phục vụ tốt yêu cầu phát triển nền kinh tế quốc dân, trước hết là phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hóa nông thôn, tiến dần tới mục tiêu hóa học nông nghiệp; đồng thời tác động thúc đẩy các ngành công nghiệp khác phát triển và nâng cao đời sống của nhân dân
- Phát triển có chọn lọc và song song cả hai lĩnh vực tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng trên cơ sở đi thẳng và công nghệ hiện đại, tiết kiệm nguyên vật liệu, bảo vệ tốt môi trường theo phương châm đi tắt, đón đầu
- Huy động tổng hợp và sử dụng có hiệu quả những lợi thế của các nguồn lực trong nước và tranh thủ mọi nguồn lực ngoài nước để phát triển ngành, tập trung vào những sản phẩm trọng điểm của nền kinh tế và hướng ra xuất khẩu, như các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất cơ bản, sản phẩm chế biến từ cao su chất dẻo…
- Ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực hóa chất cơ bản, hóa dầu, phân đạm, bột màu Tự đầu tư dưới nhiều hình thức như liên doanh trong nước, nhập thiết bị, nhập kỹ thuật vào các lĩnh vực khác