Mục tiêu nghiên cứu:Đề tài tập trung nghiên cứu những kinh nghiệm của các nước về thực hiện lạm phát mục tiêu , những thành tích đạt được khi thực hiện lạm phát mục tiêu và công tác điều
Trang 1I Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu những kinh nghiệm của các nước về thực hiện lạm phát mục tiêu , những thành tích đạt được khi thực hiện lạm phát mục tiêu và công tác điều hành chính sách tiền
tệ của NHTW Ngoài ra, bài này còn nghiên cứu xem liệu các quốc gia theo đuổi lạm phát mục tiêu có khác biệt gì về cấu trúc so với các quốc gia không theo đuổi lạm phát mục tiêu, và nghiên cứu thực tế thành công của lạm phát mục tiêu Trên cơ sở đó, bài nghiên cứu kết thúc bằng cách tập trung nhấn mạnh những vấn đề còn tồn tại trong mô hình và quá trình thực hiện lạm phát mục tiêu cũng như mối quan hệ giữa chúng tới công tác điều hành chính sách tiền tệ - mở ra những vấn đề cần phải quan tâm về lạm phát mục tiêu trong thập niên tới
II Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp hồi quy định tính: Sử dụng mô hình probit đa biến, dựa trên những quan sát của các biến xác định (mục tiêu mở rộng tiền tệ (MT), mở cửa mậu dịch (Open), tỷ lệ thặng dự tài khóa so với GDP (Fiscal), biên độ tỷ giá hối đoái (BW), và tính độc lập trong công cụ điều hành chính sách tiền tệ(CBII) và tương quan nghịch nhưng không nhiều với lạm phát danh nghĩa (Inf), tính độc lập về hình thức của ngân hàng trung ương(CBFI) và độc lập mục tiêu của ngân hàng trung ương (CBGI)
Phương pháp phân tích thống kê: phân tích để tìm hiểu xem liệu các quốc gia theo đuổi lạm phát mục tiêu có khác biệt gì về cấu trúc so với các quốc gia không theo đuổi lạm phát mục tiêu, và nghiên cứu thực tế thành công của lạm phát mục tiêu
III Các công trình nghiên cứu trước đó
Bernanke, Laubach, Mishkin và Posen, 1999: Có 2 nhóm: một nhóm theo đuổi lạm phát mục
tiêu (kinh tế công nghiệp và mới nổi) và một nhóm không theo đuổi lạm phát mục tiêu (kinh tế công nghiệp)
Tuy nhiên có 2 quốc gia (Đức và Thụy Sĩ- kinh tế công nghiệp) có mục tiêu chính sách tiền tệ rõ ràng trong suốt thập niên 1990 nên được xem là theo đuổi lạm phát mục tiêu ẩn
(Bernanke và cộng sự 1999) Quyết định thời gian chính xác để ứng dụng lạm phát mục tiêu
cũng rất khó khăn Sau khi tham khảo ý kiến các viên chức tại nhiều ngân hàng trung ương thì nhận xét rằng họ đưa ra thời gian ứng dụng lạm phát mục tiêu
(Mishkin và Savastano, 2000): Ngân hàng Trung ương của Peru và Colombia thực hiện công
bố chỉ tiêu lạm phát mục tiêu, nhưng chính sách tiền tệ của họ không có những đặc tính của cơ chế lạm phát mục tiêu
(Bernanke và cộng sự năm 1999, Corbo và cộng sự năm 2000) cho rằng hầu hết các nước
mới nổi thông qua mục tiêu lạm phát như là một cách thức để kéo lạm phát xuống mức thấp
Trang 2Theo Almeida và Goodhart (1998) và ông Bernanke và cộng sự (1999), lạm phát mục tiêu đã
không kỳ vọng lạm phát giảm xuống nhanh chóng, chỉ dần dần theo thời gian
(Haldane và Salmon 1995, và Stevens và Debelle 1995) sự thành công trong lạm phát mục tiêu
có thể giảm đi độ bất ổn trong lạm phát kỳ vọng
Bruno và Easterly (1996):
Nghiên cứu mối tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng và chỉ ra rằng mối tương quan nghịch biến giữa lạm phát và tăng trưởng yếu khi tỷ lệ phát thấp
Martin Feldstein (1997) và William Poole (1999)
Martin Feldstein (1997) và William Poole (1999) ủng hộ cho lạm phát mục tiêu 0% Vì họ lo ngại rằng mục tiêu lạm phát lớn hơn 0% có thể dẫn đến sự suy giảm lòng tin vào ngân hàng TW
và sự bất ổn về kỳ vọng lạm phát, điều này dẫn đến làm tăng sự sợ hãi lạm phát
Bernanke và các cộng sự (1999)
Bernanke và các cộng sự (1999) cho rằng duy trì một mục tiêu lạm phát trên 0% nhưng không quá cao ( dưới 3%), trong khoảng thời gian dài không dẫn đến sự bất ổn trong kỳ vọng lạm phát của công chúng hoặc làm giảm sự tín nhiệm của NHTW
Akerlof, Dickens và Perry (1996): ủng hộ lạm phát mục tiêu dài hạn trên 0%
Akerlof, Dickens và Perry (1996) cho rằng thiết lập tỷ lệ lạm phát ở mức quá thấp là không hiệu quả và kết quả là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cao hơn Họ cho rằng việc giảm một cách cứng nhắc của lương danh nghĩa, cho thấy rằng việc giảm mức lương thực có thể xảy ra không chỉ trong thời kỳ lạm phát Hệ quả là một tỷ lệ lạm phát rất thấp có thể ngăn chặn việc điều chỉnh giảm tiền lương thực trong việc đối phó với việc nhu cầu lao động giảm trong các ngành công nghiệp hoặc lĩnh vực nhất định, do đó dẫn đến gia tăng thất nghiệp và cản trở việc phân phối lại lao động từ các lĩnh vực suy giảm sang các lĩnh vực mở rộng
Carruth và Oswald (1989), Ingrams (1991), Maclaughlin (1994) và Yates (1995): nghiên cứu
tác động của lạm phát lên thất nghiệp và phân phối nguồn nhân lực
Carruth và Oswald (1989), Ingrams (1991), Maclaughlin (1994) và Yates (1995) tìm thấy một ít bằng chứng trong việc cắt giảm cứng nhắc tiền lương danh nghĩa ở Mỹ và Anh Groshen và Schweitzer(1996, 1999) cũng chỉ ra rằng, lạm phát không chỉ có thể tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường lao động và cho phép tiền lương thực giảm xuống đáp ứng việc cắt giảm nhu cầu theo như Akerlof-Dickens-Perry (1996), mà còn có thể gây khó khăn bởi việc gia tăng độ nhiễu liên quan tới tiền lương thực Độ nhiễu này là giảm lượng thông tin về tiền lương danh nghĩa và do
đó làm giảm hiệu quả của tiến trình phân phối lao động trên mọi nghề nghiệp và lĩnh vực
Trang 3Mishkin( 1991, 1997),
Cho rằng lạm phát mục tiêu dài hạn cao hơn 0% làm cho nền kinh tế ít có khả năng trải qua giai đoạn giảm phát Một nhân tố chính được nhận thấy để thúc đẩy giai đoạn bất ổn tài chính là giảm phát (Mishkin, 1991, 1997) Bởi vì các hợp đồng nợ trong các nước công nghiệp hóa thường có
kỳ hạn dài, một sự giảm phát dẫn đến sự gia tăng số tiền nợ thực của các công ty và hộ gia đình, điều này dẫn đến sự giảm sút giá trị ròng và sự giảm giá trị trong bảng cân đối kế toán Irving Fisher (1933) gọi hiện tượng này là “ giảm phát nợ” (nhưng điều này cũng có thể được đề cập đến một cách chính xác hơn là “ lạm phát nợ trong giá tiền thực thông qua giảm phát”) và thấy rằng nó là nhân tố chính làm kinh tế suy thoái trong suốt thời kỳ “ Đại suy thoái” Với tài sản ròng ít hơn, vấn đề lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức gia tăng đối với người cho vay và vì vậy họ phải giảm cho vay Sự sụt giảm giá trị ròng làm giảm giá trị tài sản thế chấp mà người cho vay
có thể nắm được nếu việc đầu tư của những người đi vay trở nên tồi tệ và sự giảm sút tài sản thế chấp bởi vậy gia tăng hậu quả lựa chọn nghịch bởi vì trường hợp tổn thất vỡ nợ của các khoản vay này có thể xấu hơn Ngoài ra giá trị ròng giảm làm gia tăng động cơ rủi ro đạo đức đối với những người đi vay khi nhận quá nhiều rủi ro bởi vì bây giờ họ có ít hơn để mất nếu việc đầu tư của họ trở nên xấu đi Lập luận này ngụ ý rằng giảm phát thức đẩy bất ổn tài chính tại các nước công nghiệp hóa thông qua cơ chế “giảm phát nợ” , một ví dụ mới đây là những gì đã xảy ra tại Nhật Bản trong những thập niên cuối (Mishkin 1998 và Bernanke 1999)
Meltzer (1995) và Mishkin (1996b)
Chứng minh rằng chính sách tiền tệ vẫn có hiệu quả khi lạm phát mục tiêu 0% Chính sách tiền
tệ hoạt động thông qua nhiều loại tài sản khác nhau cùng với các chứng khoán nợ ngắn hạn, và vì vậy thậm chí khi lãi suất ngắn hạn xuống 0%, chính sách tiền tệ vẫn còn hiệu quả,
Ficher (1986), Feldstein (1997) và Feldstein (1999)
Nhận thấy rằng việc làm giảm tỷ lệ lạm phát đến 0% trong các nước công nghiệp so với mức lạm phát hiện nay làm giảm sự bóp méo bởi tác động của lạm phát lên hệ thống thuế, và điều này có thể làm mức phúc lợi xã hội thực tăng, khoảng 1% so với GDP Tuy nhiên sự bóp méo này có thể bị loại trừ bởi sự thay đổi mã thuế và vì vậy nó không rõ ràng họ đã mang lại một sự diều chỉnh vì chọn mục tiêu lạm phát dài hạn 0%
Fischer (1994),
Lập luận rằng mức giá mục tiêu tạo ra nhiều sự biến động đầu ra hơn so với lạm phát mục tiêu bởi vì những cú sốc bất ngờ đến mức giá không được xem như là chuyện đã qua và phải được bù đắp Mức giá mục tiêu yêu cầu mục tiêu quá mức hoặc dưới mức phải được đảo ngược và điều
Trang 4này có thể ảnh hưởng đáng kể hơn đến tính không ổn định của chính sách tiền tệ, đến giá cố đinh, đến nền kinh tế thực tế trong ngắn hạn
Black, Macklem, and Rose 1997, King 1999, và Battini và Yates 1999
Mục tiêu lạm phát có thể được thông báo cùng với sự cố gắng khắc phục một số lỗi trong đó sẽ được bù đắp mở rộng trong tương lai Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng một mục tiêu lạm phát với số lượng nhỏ việc sửa lỗi có thể giảm sự không chắc chắn về mức giá trong dài hạn, nhưng nó vẫn tạo ra một ít giai đoạn giảm phát
Bernanke và Mishkin (1997), Mishkin (1999b), Bernanke et al (1999),
Sự thành công trong chính sách lạm phát mục tiêu cung cấp phương tiện cho việc giao tiếp hiệu quả ra công chúng Công chúng sẽ không hiểu rõ biệt ngữ chuyên môn của những mô hình sửa lỗi Tuy nhiên đặc điểm sửa lỗi trong mục tiêu lạm phát có thể dễ dàng giao tiếp bởi không chỉ là mục tiêu lạm phát trung hạn mà còn chỉ ra rằng có ty lệ lạm phát trung bình cho thời kỳ dài, 5 năm
IV Nội dung nghiên cứu
1 Tóm lược
Tính cấp thiết của lạm phát mục tiêu trong suốt mười năm qua đã ngày càng nhấn mạnh vai trò quan trọng của ngân hàng trung ương trong công tác điều hành chính sách tiền tệ Sau lần đầu tiên được áp dụng tại New Zealand vào năm 1990, lạm phát mục tiêu trở thành lựa chọn hàng đầu của ngày càng nhiều ngân hàng trung ương thuộc các nền kinh tế công nghiệp và kinh tế mới nổi, nhiều quốc gia khác cũng đang trong quá trình xem xét áp dụng công cụ tiền tệ mới này Thập niên của lạm phát mục tiêu trên thế giới đã để lại những bài học về mô hình và tiến trình thực hiện lạm phát mục tiêu, quản lý chính sách tiền tệ, cùng những thành tích đạt được khi thực hiện lạm phát mục tiêu Bài nghiên cứu nhận xét ngắn gọn những đặc tính quan trọng về mô hình của 18 trải nghiệm lạm phát mục tiêu, phân tích thông kê để tìm hiểu xem liệu các quốc gia theo đuổi lạm phát mục tiêu có khác biệt gì về cấu trúc so với các quốc gia không theo đuổi lạm phát mục tiêu, và nghiên cứu thực tế thành công của lạm phát mục tiêu Mối tương tác giữa các đặc tính về mô hình lạm phát mục tiêu và kiểm soát chính sách tiền tệ hướng đến kiềm chế lạm phát Bài nghiên cứu kết thúc bằng cách tập trung nhấn mạnh những vấn đề còn tồn tại trong mô hình
và quá trình thực hiện lạm phát mục tiêu cũng như mối quan hệ giữa chúng tới công tác điều hành chính sách tiền tệ - mở ra những vấn đề cần phải quan tâm trong thập niên lạm phát mục tiêu tới
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Mẫu nghiên cứu
Trang 5Chúng tôi xin giới thiệu 2 nhóm quốc gia thuộc phân tích kinh nghiệm của chúng tôi trong thập niên 1990 (bảng 1) – một nhóm theo đuổi lạm phát mục tiêu và một nhóm không theo đuổi lạm phát mục tiêu Nhóm thứ nhất theo đuổi lạm phát mục tiêu (gọi là nhóm lạm phát mục tiêu) bao gồm 18 nền kinh tế công nghiệp và mới nổi.: Úc, Brazin, Canada, Chile, Colombia, Cộng Hòa Czech, Phần Lan, Israel, Hàn Quốc, Mexico, Thụy Điển, Peru, Ba lan, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Thái Lan, và Anh (Phần Lan và Tây Ban Nha rút khỏi nhóm này khi từ bỏ chính sách tiền tệ dựa trên đồng Euro vào năm 1999)
Nhóm thứ hai gồm 9 nền kinh tế công nghiệp không theo đuổi lạm phát mục tiêu suốt thập niên 1990: Đan Mạch, Pháp Đức, Ý, Nhật, Nauy, Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ và Mỹ) Trong số các quốc gia này, có 2 quốc gia (Đức và Thụy Sĩ) có mục tiêu chính sách tiền tệ rõ ràng trong suốt thập niên 1990 nên được xem là theo đuổi lạm phát mục tiêu ẩn (theo như tranh luận của Bernanke, Laubach, Mishkin và Posen, 1999), 2 quốc gia không có mục tiêu rõ ràng (Nhật Bản và Mỹ) và 5 quốc gia châu Âu còn lại thực hiện mục tiêu cố định tỷ giá hối đoái theo đồng Mác Đức trước khi đồng Euro ra đời năm 1999)
Trang 62.2 Đặc tính thiết kế và thực thi lạm phát mục tiêu
(i) Lạm phát mục tiêu dựa trên 5 yếu tố : neo danh nghĩa, nỗ lực ổn định giá cả, chính sách tài khóa, tính độc lập trong chính sách, tính minh bạch rõ ràng trong chính sách.
Các nhân tố từ thứ 2 đến thứ 5 giúp công cuộc điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả hơn dưới bất kỳ cơ chế nào, là những điều kiện tiên quyết của một chính sách lạm phát mục tiêu hiệu quả Nguyên nhân là lạm phát mục tiêu có thành công hay không phụ thuộc mạnh mẽ vào niềm tin của người dân đối với chính sách của ngân hàng trung ương nhằm đạt được mục tiêu đề ra Niềm tin được tạo ra từ 5 nhân tố trên
(ii) Vận dụng từ cải thiện lạm phát sang những thay đổi to lớn
Nhiều quốc gia đã ứng dụng lạm phát mục tiêu mà không đáp ứng một hoặc nhiều hơn một điều kiện được đề cập ở trên Chilê và Israel theo đuổi tỷ giá hối đoái mục tiêu trong suốt thập niên 1990 (ngày nay Israel vẫn còn theo đuổi) Ngân hàng Anh áp dụng tốt lạm phát mục tiêu trước khi đạt được tính độc lập trong công cụ quản lý Hầu hết các quốc gia đều áp dụng lạm phát mục tiêu tốt trước khi đạt được tính minh bạch cao trong chính sách ( bao gồm việc xuất bản các báo cáo lạm phát, dự đoán lạm phát, biên bản hội nghị về chính sách tiền tệ) và giải trình đầy đủ Một số quốc gia – bao gồm Colombia, Israel, Hàn Quốc, Mêxicô, Pêru và Nam Phi – vẫn chưa xuất bản những dự báo về lạm phát Một ví dụ khác là Brazil, thực hiện lạm phát mục tiêu ở mức cao nhất ngay thời điểm khởi đầu
Trải nghiệm chỉ ra rằng ứng dụng lạm phát mục tiêu trong suốt thập niên 1990 tương đương với tiến trình tìm hiểu về chính sách tiền tệ Hiện nay đã có sự nhất trí các điều để kết quả thực hiện lạm phát mục tiêu đạt được hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, những dự đoán này ít rõ ràng trong nửa đầu thập niên 1990, khi các chỉ tiêu lạm phát giúp hoàn thiện cơ cấu quốc gia hơn bằng cách rút kinh nghiệm từ chính bản thân quốc gia mình cũng như kinh nghiệm tích lũy từ các quốc gia khác
(iii) Lạm phát từ mức cao giảm xuống mức rất thấp khi ứng dụng lạm phát mục tiêu
Một số quốc gia ứng dụng lạm phát mục tiêu khi tỷ lệ lạm phát cao hơn điểm cân bằng, sử dụng lạm phát mục tiêu như là công cụ chính để xây dựng lòng tin, giảm lạm phát kỳ vọng Đây là trường hợp lạm phát mục tiêu của một số nước mới nổi bắt đầu ở mức 15-45% và các nước mới nổi khác với mức lạm phát mục tiêu ban đầu 7-20% (Cộng Hòa Séc, Colombia, Mexico, BaLan) Các chỉ tiêu này trái ngược lại với các nước công nghiệp và một số nước mới nổi khác áp dụng mức lạm phát mục tiêu ban đầu gần sát với mức lạm phát thấp ổn định Các bước chuyển đổi qua nhiều năm áp dụng lạm phát mục tiêu nhằm hướng đến ổn định lạm phát gặp rất nhiều thách thức và khó khăn, bao gồm việc thông báo các chỉ tiêu lạm phát hàng năm (cực kỳ khó để tính được) trong điều kiện lạm phát kỳ vọng cao và độ tin cậy vào
Trang 7chính sách còn thấp Chúng tôi sẽ tiếp tục thảo luận các vấn đề liên quan đến quá trình chuyển đổi để hướng đến lạm phát thấp này vào phần 3 bên dưới
(iv) Các chỉ tiêu lạm phát mục tiêu khác nhau về cách thức thực thi lạm phát mục tiêu, gồm có chỉ số giá mục tiêu, bề rộng mục tiêu, phạm vi mục tiêu, điều khoản miễn thực trách, giải trình những mục tiêu không đạt được, tính độc lập của mục tiêu, tính minh bạch và giải trình rõ ràng dựa trên công cuộc điều hành chính sách kiểm soát lạm phát mục tiêu
Một số trong những khác khác biệt này là do những khác biệt về thể chế và lịch sử, số còn lại khác phản ảnh sự khác nhau giữa lạm phát mục tiêu trong thời kỳ chuyển đổi hướng đến lạm phát thấp ( như được thảo luận dưới đây) Hơn nữa, một số khác biệt về mô hình lạm phát mục tiêu cũng phản ánh các quan điểm khác nhau giữa các nhà hoạch định chính sách và giới học thuật trong công cuộc điều hành chính sách tiền tệ khi áp dụng lạm phát mục tiêu
Trang 92.3 Mô hình hồi quy định tính
Bảng 3 thể hiện số liệu thống kê và mối tương quan giữa lạm phát mục tiêu với các biến liên quan giữa các quốc gia Số liệu thể hiện sự khác biệt giữa các nước trong mẫu gồm 27 nước Các
Trang 10quốc gia thường có tương quan đơn khác với tương quan chéo Đây là kết quả công bố dữ liệu hàng năm của các quốc gia – do đó chúng tôi tập trung vào mối tương quan chéo giữa các quốc gia
Theo đuổi lạm phát mục tiêu không tương quan với các biến riêng lẽ, nhưng tương quan nghịch với mục tiêu mở rộng tiền tệ (MT) Lạm phát mục tiêu tương quan thuận nhưng không nhiều tới
mở cửa mậu dịch (Open), tỷ lệ thặng dự tài khóa so với GDP (Fiscal), biên độ tỷ giá hối đoái (BW), và tính độc lập trong công cụ điều hành chính sách tiền tệ(CBII) và tương quan nghịch nhưng không nhiều với lạm phát danh nghĩa (Inf), tính độc lập về hình thức của ngân hàng trung ương(CBFI) và độc lập mục tiêu của ngân hàng trung ương (CBGI)
Mô hình lạm phát mục tiêu định tính
Pr (IT\ .) = f (Inf, Open, Fiscal, BW, MT, CBFI, CBGI, CBII)
• Mục tiêu mở rộng tiền tệ (MT)
• Lạm phát mục tiêu tương quan thuận nhưng không nhiều tới mở cửa mậu dịch (Open)
• Tỷ lệ thặng dự tài khóa so với GDP (Fiscal)
• Biên độ tỷ giá hối đoái (BW)
• Tính độc lập trong công cụ điều hành chính sách tiền tệ(CBII)
• Tương quan nghịch nhưng không nhiều với lạm phát danh nghĩa (Inf)
• Tính độc lập về hình thức của ngân hàng trung ương(CBFI)
• Tính độc lập trong mục tiêu của ngân hàng trung ương (CBGI).