Bất cứ một xã hội nào muốn phát triển phồn vinh thì cũng đều cần một cơ sở nền tảng cho sự phát triển đó, đó chính là nền tảng kinh tế của xã hội. Nhà nư¬ớc là thiết chế quản lí xã hội, muốn xã hội phát triển phồn vinh thì đòi hỏi nhà nư¬ớc phải có những chính sách, pháp luật để quản lí và khuyến khích tăng trư¬ởng và phát triển kinh tế. Một trong những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế đòi hỏi nhà nước phải có sự quản lí chặt chẽ đó là lĩnh v ực tiền tệ và l¬¬¬¬ưu thông tiền tệ. Tiền tệ là dấu hiệu, tín hiệu của thị tr¬¬ường là hàm độ biểu của nền kinh tế. Vì vậy việc pháp luật điều chỉnh các quan hệ lưu thông tiền tệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tiền tệ là linh vực hoạt động kinh doanh đặc biệt, do đó cần có sự quản lí, điều tiết chặt chẽ của nhà nư¬ớc. Việc cấp phép thành lập và cấp phép kinh doanh cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tín dụng - ngân hàng cũng rất quan trọng, đòi hỏi nhà nư¬ớc phải quản lí chặt chẽ đồng thời cũng phải có những biện pháp khuyến khích phát triển hợp lí để kích thích cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Tín dụng- Ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động lưu thông tiền tệ. Vậy quản lí nhà nư¬ớc trong lĩnh vực tín dụng - ngân hàng như¬ thế nào chúng ta hãy cùng tìm hiểu qua khía cạnh thành lập và đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này qua đề tài:"Những vấn đề pháp lý trong thành lập và đăng kí kinh doanh đối với doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực Tín dụng - Ngân hàng". Bài viết gồm có các phần sau: I. Vai trò và địa vị pháp lý của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tín dụng - ngân hàng. II. Chế độ pháp lý về thành lập và đăng kí kinh doanh đối với doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tín dụng - ngân hàng theo pháp luật Việt Nam. Tôi xin chân thành cảm ơn thấy giáo Phạm Văn Luyện đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này. Do còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn nên bài viết còn nhiều thiếu sót, tôi mong đư¬ợc sự chỉ bảo của thầy cô và bạn bè.
Trang 1Mở đầu
Bất cứ một xã hội nào muốn phát triển phồn vinh thì cũng đều cần một cơ sởnền tảng cho sự phát triển đó, đó chính là nền tảng kinh tế của xã hội Nhà nớc làthiết chế quản lí xã hội, muốn xã hội phát triển phồn vinh thì đòi hỏi nhà n ớc phải
có những chính sách, pháp luật để quản lí và khuyến khích tăng trởng và phát triểnkinh tế Một trong những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế đòi hỏi nhà n ớc phải
có sự quản lí chặt chẽ đó là lĩnh v ực tiền tệ và lu thông tiền tệ
Tiền tệ là dấu hiệu, tín hiệu của thị trờng là hàm độ biểu của nền kinh tế Vìvậy việc pháp luật điều chỉnh các quan hệ lu thông tiền tệ có ý nghĩa đặc biệt quantrọng Tiền tệ là linh vực hoạt động kinh doanh đặc biệt, do đó cần có sự quản lí,
điều tiết chặt chẽ của nhà nớc Việc cấp phép thành lập và cấp phép kinh doanhcho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tín dụng - ngân hàng cũng rất quantrọng, đòi hỏi nhà nớc phải quản lí chặt chẽ đồng thời cũng phải có những biệnpháp khuyến khích phát triển hợp lí để kích thích cho sự phát triển của nền kinh tếnói chung Tín dụng- Ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động luthông tiền tệ Vậy quản lí nhà nớc trong lĩnh vực tín dụng - ngân hàng nh thế nàochúng ta hãy cùng tìm hiểu qua khía cạnh thành lập và đăng kí kinh doanh của
doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này qua đề tài:"Những vấn đề
pháp lý trong thành lập và đăng kí kinh doanh đối với doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực Tín dụng - Ngân hàng" Bài viết gồm có các phần sau:
I Vai trò và địa vị pháp lý của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vựctín dụng - ngân hàng
II Chế độ pháp lý về thành lập và đăng kí kinh doanh đối với doanh nghiệp
kinh doanh trong lĩnh vực tín dụng - ngân hàng theo pháp luật Việt Nam
Tôi xin chân thành cảm ơn thấy giáo Phạm Văn Luyện đã tận tình hớng dẫn,giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này Do còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn nên bài viếtcòn nhiều thiếu sót, tôi mong đợc sự chỉ bảo của thầy cô và bạn bè
I Vai trò và địa vị pháp lý của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tín dụng - ngân hàng.
Khi nền sản xuất hàng hoá hình thành, phát triển thì tiền tệ xuất hiện vànghề kinh doanh tiền tệ cũng ra đời Sự phát triển của nghề kinh doanh tiền tệ dẫn
đến sự xuất hiện những tổ chức chuyên thực hiện các hoạt động thu nhận cácnguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và sử dụng để cấp tín dụng, làm các dịch vụ tiền
Trang 2tệ khác, nguời ta gọi chúng các tổ chức tín dụng Ngày nay, các tổ chức tín dụng vớnhiều loại hình, tên gọi khác nhau, nghiệp vụ kinh doanh ngày càng đa dạng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang tính nghề nghiệp của tổ chức tíndụng Ngoài ra đối với tổ chức tín dụng kinh doanh đa năng tổng hợp ngoài cácnghiệp vụ truyền thống còn thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh không truyềnthống khác nh kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm ở nớc ta, tại điều 20 Luật các tổchức tín dụng đợc Quốc hội nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông quangày12/12/1997 có quy định: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp đợc thành lập theoquy định của luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp lụât để hoạt
động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sửdụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán
Xét về bản chất thì tổ chức tín dụng là doanh nghiệp Tuy vậy, tổ chức tíndụng có những đặc điểm riêng mà dựa vào đó có thể nhận biết, phân biệt chúng vớicác doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực, ngành nghề khác trong nền kinhtế
Các tổ chức tín dụng đợc thành lập và tồn tại theo các hinh thức pháp lý dopháp luật quy định Mỗi loại hình tổ chức tín dụng đợc tổ chức theo từng phơngthức có đặc trng riêng và thực hiên hoạt động kinh doanh theo phạm vi đợc phápluật quy định
1 Phân loại các tổ chức tín dụng
Căn cứ vào tính chất sở hữu vốn điều lệ, các tổ chức tín dụng ở Việt Nam đ
-ợc chia thành các loại sau:
Trang 3thành lập, cấp vốn điều lệ và bổ nhiệm ngời quản trị, điều hành Tổ chức tín dụngnhà nớc là một doanh nghiệp nhà nớc, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận hoặc nhằmthực hiện các chính sách về kinh tế - xã hội của nhà nớc.
c, Tổ chức tín dụng hợp tác.
Tổ chức tín dụng hợp tác là tổ chức tín dụng do các tổ chức, cá nhân,
hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng theo luật tổ chức tín dụng
và luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tơng trợ nhau phát triển sản xuất, kinhdoanh và đời sống
Tổ chức tín dụng hợp tác gồm: ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụng nhấndân, hợp tác xã tín dụng và các hình thức khác Tổ chức tín dụng hợp tác có đặc
điểm là quy mô nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp, nghiệp vụ kinh doanh đơn giản, mụctiêu hoạt động chính là tơng trợ, giúp đỡ các thành viên trong tổ chức mình Do đó
có những đặc điểm nêu trên nên pháp luật có những quy định áp dụng riêng choloại hình tổ chức tín dụng này nhng không bị cấm cho vay đối với những ngời lãnh
đạo của tổ chức hoặc những ngời thân thuộc của những ngời lãnh đạo…
d, Tổ chức tín dụng có vốn đầu t nớc ngoài
Tổ chức tín dụng có vốn đầu t nớc ngoài là tổ chức tín dụng có mộtphần vốn hoặc 100% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng nớc ngoài Thực hiện chínhsách thu hút đầu t nớc ngoài, Điều 11 luật tổ chức tín dụng quy định: nhà nớc cóchính sách mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, khuyến khích việchuy động các nguồn vốn tín dụng từ nớc ngoài đầu t vào công cuộc phát triển kinh
tế ở Việt Nam, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng tăng cờng hợp tác với nớc
Trang 4ngoài nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức này Đồng thời, để đảmbảo sự phát triển các tổ chức tín dụng có quy hoạch, phù hợp với sự phát triển củacác tổ chức tín dụng trong nớc, bảo vệ chủ quyền quốc gia, luật các tổ chức tíndụng quy định: Theo nhu cầu cần thiết cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất n-
ớc, nhà nớc cho phép thành lập tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng phingân hàng 100% vốn nớc ngoài hoạt động tại Việt Nam, cho phép mở tại Việt Namchi nhánh của ngân hàng nớc ngoài (khoản 2, điều 12)
Nh vậy theo quy định của pháp luật hiện hành thì tổ chức tín dụng cóvốn đầu t nớc ngoài gồm có các loại hình sau:
Tổ chức tín dụng liên doanh;
Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng 100% vốn nớc ngoài;
Bên nớc ngoài có vốn đầu t vào Việt Nam để hoạt động ngân hàng là các tổchức tín dụng nớc ngoài chứ không phải bất kỳ tổ chức, cá nhân nớc ngoài;
Cơ quan quản lý nhà nớc đối với các tổ chức tín dụng có vốn đầu t nớcngoài là Ngân hàng nhà nớc mà không phải là Bộ Kế Hoạch và Đầu t
2, Căn cứ vào phạm vi thực hiện nghiệp vụ kinh doanh, tổ chức tín dụng đợc phân chia thành hai loại: tồ chức tín dụng là ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
Trang 5a, Tổ chức tín dụng ngân hàng.
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng đợc thực hiện toàn bộ hoạt độngngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan (Điều 20 luật các tổchức tín dụng)
Nh vậy, đối với các tổ chức tín dụng là ngân hàng, pháp luật nớc takhông hạn chế phạm vi thực thiện các nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng Quy địnhcho phép các tổ chức tín dụng là ngân hàng có quyền rộng rãi trong việc thực hiệncác nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng của pháp luật nớc ta tơng đồng với quy địnhcủa pháp luật nhiều nớc Ví dụ: Điều 3 luật ngân hàng thơng mại năm 1995 củaTrung Quốc nêu các nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng và quy định rằng, một ngânhàng thơng mại có thể thực hiện một số hoặc tất cả các hoạt động kinh doanh ngânhàng khoản 1, Điều 11 luật ngân hàng Ba Lan năm 1989 cũng có quy định tơng tựluật của Việt Nam và luật của Trung Quốc
Hiện nay ở các nớc mô hình ngân hàng áp dụng phổ biến gồm cácloại: ngân hàng thơng mại, ngân hàng đầu t, ngân hàng tiết kiệm,ngân hàng địa ốc,ngân hàng hợp tác, ngân hàng chính sách ở Việt Nam, luật các tổ chức tín dụngquy định các loại hình ngân hàng gồm có:
ơng mại với t cách là tổ chức kinh tế kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các dịch vụngân hàng khác Với sự ra đời của Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và
Trang 6Công ty tài chính năm 1990, các loại hình ngân hàng thơng mại mới đợc thừanhận về mặt pháp lý.
Hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận là dấu hiệu cơ bản để phân biệt ngân hàngthơng mại với các loại ngân hàng khác Theo quy định của Nghị định của Chínhphủ số 49/2000 NĐ-CP ngày 12/09/2000 về tổ chức và hoạt động của các ngânhàng thơng mại, thì ngân hàng thơng mại đợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngânhàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, gópphần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nớc
Về bản chất, ngân hàng thơng mại là một loại doanh nghiệp đặc thù Tính
đặc thù của ngân hàng thơng mại thể hiện ở chỗ, đối tợng tác nghiệp là tiền tệ
Căn cứ vào phạm vi kinh doanh trong các lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật màngân hàng thơng mại hoạt động, có thể phân chia chúng làm hai loại: Ngân hàngchuyên doanh và ngân hàng kinh doanh đa năng, tổng hợp
Ngân hàng thơng mại chuyên doanh là ngân hàng thơng mại chỉ kinh doanhngân hàng trong từng lĩnh vực, từng loại đối tợng khách hàng cụ thể Ví dụ: Ngânhàng chuyên phục vụ xuất nhập khẩu (Ngân hàng xuất nhập khẩu), Ngân hàngchuyên kinh doanh bất động sản (Ngân hàng bất động sản, Ngân hàng địa ốc)…
Ngân hàng thơng mại kinh doanh tổng hợp là Ngân hàng thơng mại thựchiện hoạt động kinh doanh Ngân hàng không bị giới hạn bởi lĩnh vực kinh tế - kỹthuật và loại khách hàng
Ngân hàng thơng mại kinh doanh tổng hợp và ngoài lĩnh vực kinh doanhNgân hàng còn đợc trực tiếp kinh doanh trong các lĩnh vực khác gọi là Ngân hàng
đa năng Mô hình Ngân hàng Ngân hàng thơng mại đa năng đợc áp dụng ở nhiềunớc Châu Âu Ví dụ: ở Cộng hoà Liên bang Đức, các Ngân hàng thơng mại có thểtrực tiếp kinh doanh chứng khoán mà không phải thành lập Công ty trực thuộc đểkinh doanh
ở Việt Nam hiện nay, thuộc loại hình Ngân hàng thơng mại có các dạng sau:Ngân hàng thơng mại nhà nớc là Ngân hàng thơng mại do nhà nớc thànhlập, thuộc sở hữu nhà nớc Hoạt động của Ngân hàng thơng mại nhà nớc là vì mục
Trang 7tiêu lợi nhuận Tuy nhiên, do các Ngân hàng thơng mại nhà nớc đóng vai trò chủ
đạo trong hệ thống Ngân hàng nên còn đợc nhà nớc giao cho nhiệm vụ góp phầnthực hiện các chính sách kinh tế của nhà nớc Sự lồng ghép mục tiêu lợi nhuận vàthực hiện các chính sách kinh tế của nhà nớc đối với hoạt động của ngân hàng th-
ơng mại nhà nớc thể hiện rõ mối quan hệ giữa chủ sở hữu (Nhà nớc) với loại hìnhNgân hàng thơng mại này Việc Nhà nớc giao cho các Ngân hàng thơng mại Nhànớc nhiệm vụ góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nớc xuất phát từquyền chủ sở hữu của Nhà nớc mà không phải từ cơ sở quyền lực của Nhà nớc
Ngân hàng thơng mại cổ phần là Ngân hàng thơng mại đợc thành lập dớihình thức Công ty cổ phần
Theo quy định của pháp luật ở nhiều nớc, để thành lập ngân hàng thơng mại
cổ phần, tổ chức, cá nhân tham gia thành lập ngân hàng cổ phần (sáng lập viên)phải thoả mãn các điều kiện về năng lực chuyên môn, năng lực tài chính….màpháp luật không có quy định cụ thể cơ cấu thành phần sáng lập viên
ở Nớc ta, Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chínhnăm 1990 quy định: Ngân hàng thơng mại cổ phần là Ngân hàng thơng mại đợcthành lập dới hình thức Công ty cổ phần, trong đó một cá nhân hoặc một tổ chứckhông đợc sở hữu số cổ phần của Ngân hàng quá tỷ lệ do Ngân hàng Nhà nớc quy
định
Theo quy định trên đây của Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng vàCông ty tài chính năm 1990 thì Nhà nớc chỉ hạn chế mức góp vốn của một tổ chứchoặc một cá nhân vào ngân hàng thơng mại cổ phần mà không giới hạn loại hình tổchức, cá nhân nào có thể tham gia thành lập ngân hàng thơng mại cổ phần
Trên cơ sở quy định của Điều 12 luật các tổ chức tín dụng năm 1997, Điều
37 Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 của Chính phủ quy định: Ngânhàng thơng mại cổ phần của Nhà nớc và nhân dân (gọi tắt là ngân hàng thơng mại
cổ phần) là ngân hàng thơng mại đợc thành lập dới hình thức Công ty cổ phần,trong đó doanh nghiệp Nhà nớc, tổ chức tín dụng nhà nớc và tổ chức khác, cá nhâncùng góp vốn theo quy định của ngân hàng nhà nớc Với quy định này, pháp luậthiện hành của Việt nam đặt ra điều kiện bắt buộc là đối tợng đối với ngân hàng th-
ơng mại cổ phần phải có vốn góp của nhà nớc
Trang 8Ngân hàng thơng mại cổ phần là một dạng công ty cổ phần nên về nguyêntắc chung, pháp luật áp dụng đối với tổ chức và hoạt động của ngân hàng thơngmại cổ phần là pháp luật về công ty cổ phần và các quy định của pháp luật ngânhàng Trong đó, các quy định của pháp luật ngân hàng đóng vai trò là pháp luậtchuyên ngành và đợc u tiên áp dụng.
Ngân hàng liên doanh là ngân hàng đợc thành lập trên cơ sở hợp đồng liêndoanh, bằng vốn góp của bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân hàng ViệtNam) và bên nớc ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nớc ngoài)
Ngân hàng liên doanh là một pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại ViệtNam, hoạt động theo giấy phép thành lập và hoạt động do ngân hàng nhà nớc cấp
và theo các quy định của pháp luật Việt Nam
Ngân hàng liên doanh thuộc loại hình doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoàitại Việt Nam Vốn góp để thành lập ngân hàng liên doanh do các bên thoả thuậnnhng phần vốn góp của bên nớc ngoài không quá 50% vốn điều lệ của ngân hàngliên doanh
Thời hạn hoạt động tại Việt Nam của ngân hàng liên doanh đợc ghi tronggiấy phép nhng tối đa không quá 30 năm
Chi nhánh ngân hàng thơng mại nớc ngoài là đơn vị phụ thuộc của ngânhàng nớc ngoài, hoạt động theo giấy phép mở chi nhánh và pháp luật Việt Nam, đ-
ợc ngân hàng mở chi nhánh bảo đảm chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ vàcam kết của chi nhánh tại Việt nam
Khi thực hiện các giao dịch tại Việt nam chi nhánh ngân hàng nớc ngoàikhông có t cách của một chủ thể độc lập mà theo chế độ uỷ quyền của ngân hàngnớc ngoài (chủ yếu thực hiện theo chế độ uỷ quyền thờng xuyên) Trong trờng hợpmột ngân hàng nớc ngoài mở nhiều chi nhánh tại Việt nam thì các chi nhánh này lànhững đơn vị đợc tổ chức độc lập với nhau, phụ thuộc ngân hàng nớc ngoài và đợcngân hàng nớc ngoài cấp vốn hoạt động
Theo quy định của nghị định số 13/1999/NĐ - CP của chính phù thìthời hạn hoạt động của chi nhánh ngân hàng nớc ngoài đợc ghi trong giấy phép nh-
Trang 9ng tối đa không quá 20 năm.
*Ngân hàng đầu t là ngân hàng thơng mại nhng chuyên thực hiện các nghiệp
vụ tín dụng trung và dài hạn Nguồn vốn cho vay của ngân hàng đầu t là vốn tự có,các quỹ dự trữ, các khoản tiền giửi dài hạn hoặc vốn huy động bằng phát hành tráiphiếu Ngân hàng đầu t không đợc nhận các loại tiền gửi ngắn hạn Ngoài ra, ngânhàng đầu t còn thực hiện các nghiệp vụ tài chính, dịch vụ có liên quan đến đầu t
nh tham gia mua cổ phiếu của các công ty hoặc thành phần các công ty cổ phần,sau đó bán lại cổ phiếu hoặc góp vốn vào các doanh nghiệp
Ngân hàng đầu t là loại hình ngân hàng lần đầu tiên ở nớc ta đợc quy địnhtrong luật các tổ chức tín dụng năm 1997 Đến nay trong các văn bản pháp luật cha
có quy định cụ thể về mô hình ngân hàng này
Phổ biến ở các nớc, mô hình ngân hàng đầu t có chức năng huy động vốn dàihạn để cho vay dài hạn và đầu t vào thị trờng chứng khoán, góp vốn thành lập công
ty cổ phần và bán lại cổ phần cho các tổ chức và cá nhân
* Ngân hàng phát triển
Ngân hàng phát triển là loại hình ngân hàng có chức năng cung ứng vốn tíndụng cho các dự án đầu t Loại hình ngân hàng này lần đầu tiên đợc quy định trongluật các tổ chức tín dụng ở nớc ta Hiện nay, các văn bản pháp luật cha có các quy
định cụ thể về mô hình ngân hàng phát triển
*Ngân hàng chính sách
Ngân hàng chính sách là ngân hàng thuộc sở hữu nhà nớc, đợc nhà nớcthành lập để thực hiện các chính sách xã hội liên quan đến hoạt động ngân hàng
nh chính sách nhà ở, chính sách xoá đói giảm nghèo v.v…
Hoạt động của ngân hàng chính sách không vì mục tiêu lợi nhuận và đợcngân sách nhà nớc hỗ trợ kinh phí để duy trì các hoạt động
* Ngân hàng hợp tác
Ngân hàng hợp tác xã là ngân hàng do các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tự
Trang 10nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng nhằm mục tiêu chủ yếu là tơng trợ nhauphát triển sản xuất kinh doanh và đời sống, lợi nhuận không phải là mục tiêuchính Do đó, ngân hàng hợp tác cho vay chủ yếu là các thành viên trong tổ chứcmình, việc cho ngời không phải là thành viên vay là rất hạn chế
Xét về bản chất, ngân hàng hợp tác thuộc loại hình kinh tế tập thể Tuy vậy,ngân hàng hợp tác khác với hợp tác xã tín dụng ở chỗ, ngân hàng hợp tác không bịhạn chế thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng
và thực hiện các dịch vụ thanh toán, còn tổ chức tín dụng phi ngân hàng không đợcthực hiện các hoạt động này
Theo quy định của pháp luật hiện hành, tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm Công
ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàngkhác
* Công ty tài chính
Công ty tài chính là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, thực hiện hoạt độngkinh doanh ngân hàng theo giấy phép nhng không đợc làm dịch vụ thanh toán,không đợc nhận tiền gửi dới một năm
Về phạm vi thực hiện nghiệp vụ kinh doanh , công ty tài chính đợc thực hiệnnhiều nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng nh huy động vốn, cho vay, chiết khấu và táichiết khấu giấy tờ có giá.v.v…Tuy vậy, do thuộc loại hình tổ chức tín dụng phingân hàng nên công ty tài chính không đợc cung ứng dịch vụ thanh toán và huy
Trang 11động tiền gửi dới một năm.
Công ty tài chính đợc thành lập và hoạt động tại Việt nam dới các hình thứcsau:
- Công ty tài chính nhà nớc: là công ty tài chính do nhà nớc đầu t vốn, thànhlập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh
- Công ty tài chính cổ phần: là công ty tài chính do các tổ chức và cá nhâncùng góp vốn theo quy định của pháp luật, đợc thành lập dới hình thức công ty tổchức
- Công ty tài chính trực thuộc của tổ chức tín dụng: là công ty tài chính domột tổ chức tín dụng thành lập bằng vốn tự có của mình và làm chủ sở hữu theoquy định của pháp luật, hạch toán độc lập và có t cách pháp nhân
- Công ty tài chính liên doanh: là công ty tài chính đợc thành lập bằng vốngóp giữa bên Việt Nam gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp ViệtNam và bên nớc ngoài gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nớc ngoài, trên cơ sởhợp đồng liên doanh
- Công ty tài chính 100% vốn nớc ngoài Là công ty tài chính đợc thành lập bằngvốn của một hoặc của nhiều tổ chức tín dụng nớc ngoài theo quy định của phápluật Việt nam
* Công ty cho thuê tài chính
Công ty cho thuê tài chính là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, thựchiện hoạt động cho thuê máy móc, thiét bị phơng tiện vận chuyển và các động sảnkhác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê
Đặc trng của Công ty cho thuê tài chính so với các tổ chức khác kinh doanhcho thuê tài sản ở hai dấu hiệu cơ bản sau:
Thứ nhất, hợp đồng cho thuê mà Công ty cho thuê tài chính ký với kháchhàng là hợp đồng không thể huy ngang Mặc dù đối tợng chuyển giao trong hợp
đồng cho thuê tài chính có thể có đặc tính kỹ thuật nh trong các hợp đồng cho thuê
Trang 12tài sản khác nhng tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuêtài chính ít nhất phải tơng đơng với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.
Thứ hai, Công ty cho thuê tài chính là doanh nghiệp đợc thành lập trên cơ sởgiấy phép do Ngân hàng Nhà nớc cấp và chịu sự quản lý Nhà nớc của Ngân hàngNhà nớc Hoạt động cho thuê của Công ty cho thuê tài chính thuộc phạm vi điềuchỉnh của pháp luật ngân hàng
II Chế độ pháp lý về thành lập và đăng kí kinh doanh đối với doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tín dụng - ngân hàng theo pháp luật Việt Nam.
Trớc khi luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành (1/10/1998) thìquy định thành lập một tổ chức tín dụng ở nớc ta có sự tách biệt giữa hai khâu: cấpgiấy phép thành lập và cấp giấy phép hoạt động Với t cách là tổ chức kinh doanhtiền tệ, các tổ chức tín dụng phải thực hiện các quy định về thành lập nh các doanhnghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác đợc quy định trong trong luật doanhnghiệp Với t cách là tổ chức kinh doanh tiền tệ, các tổ chức tín dụng phải thựchiện các quy định về cấp giấy phép hoạt động đợc quy định trong pháp lệnh ngânhàng, hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính (1990) và cơ quan cấp giấy phép làNgân hàng nhà nơc Việt Nam
Việc xin cấp giấy phép hoạt động đối với tổ chức tín dụng khi thành lập làmột thủ tục pháp lý bắt buộc Giấy phép hoạt động là chứng chỉ hành nghề của tổchức tín dụng Một tổ chức khi đã đợc cơ quan nhà nớc có thẩm quyền cấp giấyphép thành lập hoặc ra quyết định thành lập chỉ đợc gọi tên là tổ chức tín dụng khi
đã đợc ngân hàng nhà nớc cấp giấy phép hoạt động Nh vậy, điều kiện để đợc cấpgiấy phép hoạt động có tính quyết định đối với hoạt động thực tế của tổ chức xinthành lập tổ chức tín dụng Do đó, để đơn giản hoá các thủ tục hành chính, tránh sựchồng chéo, phiền hà trong việc cấp giấy phép thành lập, giấy phép hoạt động chocác tổ chức tín dụng, Điều 21 Luật các tổ chức tín dụng quy định: "Ngân hàng nhànớc là cơ quan nhà nớc có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt động chocác tổ chức tín dụng và cấp giấy phép hoạt động ngân hàng cho các tổ chức kháctheo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật"
Trang 13Trong nền kinh tế hiện nay, có nhiều tổ chức không phải là tổ chức tín dụng
có thực hiện một số hoạt động ngân hàng mang tính thờng xuyên nhng không phải
là hoạt động kinh doanh chính Hoạt động ngân hàng của những tổ chức này ngoàimặt tích cực còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây thiệt hại đến lợi ích của xã hội, gâymất an toàn đối với hệ thống các tổ chức tín dụng và có ảnh hởng nhất định đếnviệc thực hiện chính sách tiền tệ của quốc gia Do đó, để đảm bảo thực hiện thốngnhất quản lý nhà nớc và áp dụng thống nhất pháp luật, điều 13 luật các tổ chức tíndụng quy định: tổ chức không phải là tổ chức tín dụng có thể đợc ngân hàng nhà n-
ớc cho phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng khi đáp ứng đầy đủ các quy
định của pháp luật
1 Đối với tổ chức tín dụng trong nớc
1.a, Điều kiện và thủ tục thành lập
1.a.1Thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt động thuộc về ngân hàngnhà nớc( Theo điều 5d của Luật ngân hàng nhà nớc)
1.a.2Điều kiện để đợc cấp giấy phép thành lập và hoạt động đối với tổ chứctín dụng và các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng muốn đợc cấp giấy phéphoạt động ngân hàng
* Đối với tổ chức tín dụng
Theo quy định của điều 14 Luật các tổ chức tín dụng, mọi tổ chức có đủ
điều kiện theo quy định của pháp luật, đợc ngân hàng nhà nớc cấp giấy phép hoạt
động thì đợc thực hiện một phần hoặc toàn bộ hoạt động ngân hàng tại Việt Nam
Do tính phức tạp của nghiệp vụ kinh doanh của tổ chức tín dụng và sự cầnthiết phải đảm bảo an toàn cho hệ thống tín dụng nên ở các nớc, các quy định củapháp luật về điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động áp dụng đối với các tổchức tín dụng chặt chẽ hơn so với các quy định áp dụng đối với các loại doanhnghiệp khác ở nớc ta luật các tổ chức tín dụng quy định các điều kiện cấp giấyphép thành lập và hoạt động đối với tổ chức tín dụng gồm có:
Thứ nhất, tại địa bàn mà tổ chức xin hoạt động có nhu cầu hoạt động ngânhàng Đây là một điều kiện quan trọng, bởi vì, sự thoả mãn điều kiện này sẽ đảm