1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu kiến thức phòng chống suy dinh dưỡng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện phú hòa – 2008

22 462 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 233 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đánh giá đúng kiến thức về phòng chống SDDTE của các bà mẹ cócon dưới năm tuổi, từ đó có tác động thích hợp, đó là lý do để chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu này.. Đề tài được nghiên c

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Phú Hòa là huyện đồng bằng của tỉnh Phú Yên với diện tích 23km2, cáchtrung tâm TP Tuy Hòa 8km và có 9 xã/thị trấn, trong đó có 01 xã miền núi (xãHòa Hội) có 83 hộ đồng bào dân tộc Chăm Hrol với 290 nhân khẩu sinh sống.Dân số của toàn huyện là 105.206 người với 23.981 hộ gia đình, trong đó: sốphụ nữ có con dưới 5 tuổi là 8.879 người (số liệu năm 2007) Phía Đông giápvới TP Tuy Hòa, phía Tây giáp huyện Sơn Hòa, Phía Bắc giáp huyện Tuy An,Phía Nam chạy dọc theo dòng sông Ba Phú Hòa là huyện có nhiều trạm y tếđạt chuẩn quốc gia (5/9 trạm y tế), 100% thôn đều có bán bộ y tế Phú Hòa làhuyện đã phủ 100% sóng phát thanh và truyền hình, hệ thống loa truyền thanhđều có ở 100% xã, thị trấn

Trong nhiều năm qua công tác tuyên truyền phòng chống suy dinh dưỡng(PC SDD) đã được thực hiện với nhiều hình thức, qua nhiều kênh truyên truyềnkhác nhau góp phần làm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng đáng kể Tỷ lệ SDD củahuyện Phú Hòa năm 2007 là 19,79% thấp hơn nhiều so với tỷ lệ chung của tỉnh(22,5%)

Để đánh giá đúng kiến thức về phòng chống SDDTE của các bà mẹ cócon dưới năm tuổi, từ đó có tác động thích hợp, đó là lý do để chúng tôi chọn

đề tài nghiên cứu này

Đề tài được nghiên cứu với mục đích:

- Xác định tỷ lệ các bà mẹ có con dưới năm tuổi hiểu biết về PC SDDTE

- Tìm hiểu nguồn thông tin liên quan đến kiến thức về PC SDD của các bà mẹ

có con dưới năm tuổi của huyện Phú Hòa

Trang 2

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 Tầm quan trọng của suy dinh dưỡng:

Suy dinh dưỡng do thiếu protein- nǎng lượng (thường gọi là suy dinhdưỡng) là tình trạng thiếu dinh dưỡng quan trọng và phổ biến ở trẻ em nước

ta Biểu hiện của suy dinh dưỡng là trẻ chậm lớn và thường hay mắc bệnhnhiễm khuẩn như tiêu chảy và viêm đường hơ hấp, trẻ bị giảm khả nǎng họctập, nǎng suất lao động kém khi trưởng thành

Nǎm 2000 ở nước ta cĩ 2,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng,chủ yếu là suy dinh dưỡng thể nhẹ và vừa Tuy vậy, các thể suy dinh dưỡngnày cũng cĩ ý nghĩa quan trọng vì đứa trẻ dễ mắc bệnh, tǎng nguy cơ tử vong

và thường kèm theo thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng Đáng chú ý là trẻ bị suydinh dưỡng thể nhẹ và vừa ít được người mẹ, các thành viên khác trong giađình chú ý tới vì trẻ vẫn bình thường ở một cộng đồng (xĩm, làng, xã) cĩnhiều trẻ suy dinh dưỡng, ta càng khĩ nhận biết được vì chúng đều "nhỏ bé"như nhau Do đĩ, suy dinh dưỡng trẻ em cần được sự quan tâm của mọingười

2 Phương pháp đánh gíá trẻ bị suy dinh dưỡng.

Có nhiều phương pháp để đánh gía trẻ bị suy dinh dưỡng, phương pháp phổ biến nhất là theo dõi cân nặng theo tuoiỏi.

Theo dõi cân nặng hàng tháng là cách tốt nhất để nhận ra đứa trẻ bị suydinh dưỡng hay khơng Trẻ bị suy dinh dưỡng khi khơng tǎng cân, nhẹ cânhơn đứa trẻ bình thường cùng tuổi [2]

3 Nguyên nhân trẻ bị suy dinh dưỡng.

Thiếu ǎn, bữa ǎn thiếu số lượng, thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết đểphát triển:

Trẻ dưới 5 tuổi cĩ nhu cầu dinh dưỡng cao để phát triển cơ thể Để đáp ứngnhu cầu đĩ, cần cho trẻ ǎn uống đầy đủ theo lứa tuổi Trẻ dưới 6 tháng tuổicần được bú mẹ hồn tồn Sữa mẹ là thức ǎn lý tưởng của trẻ nhỏ Từ tháng

Trang 3

Người mẹ bị suy dinh dưỡng: Người mẹ trước và trong khi mang thai

ǎn uống khơng đầy đủ dẫn đến bị suy dinh dưỡng và cĩ thể sinh con nhẹ cân,cịi cọc Đứa trẻ bị suy dinh dưỡng từ trong bào thai sẽ dễ bị suy dinh dưỡngsau này Người mẹ bị suy dinh dưỡng, ǎn uống kém trong những tháng đầusau đẻ dễ bị thiếu sữa hoặc mất sữa, do đĩ đứa con dễ bị suy dinh dưỡng

Các bệnh nhiễm khuẩn như viêm đường hơ hấp, tiêu chảy, các bệnh kýsinh trùng: Đây là tình trạng hay gặp ở nước ta Chế độ nuơi dưỡng khơng hợp

lý khi trẻ bệnh là một nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng sau mắc bệnh ởtrẻ dưới 5 tuổi

Thiếu chǎm sĩc hay đứa trẻ bị "bỏ rơi": Ngồi chǎm sĩc về ǎn uống,đứa trẻ cần chǎm sĩc về sức khoẻ (tiêm chủng, phịng chống nhiễm khuẩn),chǎm sĩc về tâm lý, tình cảm và chǎm sĩc về vệ sinh Mơi trường sống ở giađình bị ơ nhiễm, sử dụng nguồn nước khơng sạch để nấu ǎn, tắm giặt cho trẻ,

sử lý nước thải, phân, rác khơng đảm bảo là những yếu tố dẫn đến suy dinhdưỡng.[2]

4 Lứa tuổi trẻ có nguy cơ cao bị suy dinh dưỡng.

Trẻ từ 6-24 tháng: thời kỳ cĩ nhu cầu dinh dưỡng cao, thời kỳ thích ứngvới mơi trường, thời kỳ nhạy cảm với bệnh tật.[1],[2]

Trẻ khơng được bú sữa mẹ hoặc khơng đủ sữa

Trẻ đẻ nhẹ cân (<2500g), trẻ để sinh đơi, sinh ba

Trẻ ở gia đình đơng con, điều kiện vệ sinh kém, gia đình khơng hồthuận

Trẻ hiện đang mắc các bệnh nhiễm khuẩn như: bệnh sởi, tiêu chảy hayviêm đường hơ hấp

5 Phương pháp phịng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại mỗi gia đình?

Muốn phịng chống suy dinh dưỡng trẻ em, cần cĩ sự hiểu biết, chủđộng và thay đổi thực hành của mỗi gia đình Do đĩ, chương trình phịngchống suy dinh dưỡng lấy gia đình là đối tượng thực hiện cơng tác chǎm sĩcdinh dưỡng cho trẻ em Mọi gia đình đều hưởng ứng và thực hiện 8 nội dung

cụ thể sau đây:

Trang 4

1. Chǎm sóc ǎn uống của phụ nữ có thai để đạt mức tǎng cân 10-12 cântrong thời gian có thai Khám thai ít nhất 3 lần, tiêm đủ 2 mũi phònguốn ván [1],[2],[4],[5]

2. Cho trẻ bú sớm trong nửa giờ đầu sau khi sinh, bú hoàn toàn sữa mẹtrong 6 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến 18-24 tháng.[1],[2]

3 Cho trẻ ǎn bổ sung (ǎn sam, dặm) khi trẻ đủ 6 tháng tuổi Tô màu đĩabột, tǎng thêm chất béo (dầu, mỡ, lạc, vừng) ǎn nhiều bữa

4. Thực hiện phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng: Phụ nữ có thai uốngviên sắt/ acid folic hàng ngày Trẻ em 6-36 tháng uống vitamin A liềucao 2 lần một nǎm Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn (tiêu chảy,viêm đường hô hấp) Thực hiện tiêm phòng đầy đủ Chǎm sóc và nuôidưỡng hợp lý trẻ bị bệnh[1],[2],[4],[5]

5 Phát triển ô dinh dưỡng trong hệ sinh thái VAC (vườn, ao, chuồng) để

có thêm thực phẩm cải thiện bữa ǎn gia đình Chú ý nuôi gà, vịt đểtrứng, trồng rau ngót, đu đủ, gấc

6 Phấn đấu bữa ǎn nào cũng có đủ 4 món cân đối Ngoài cơm (cung cấpnǎng lượng), cần có đủ 3 món nữa là: rau quả (cung cấp vitamin, chấtkhoáng và chất xơ); đậu phụ, vừng lạc, cá, thịt, trứng (cung cấp chấtđạm, béo) và canh cung cấp nước và các chất dinh dưỡng bổ sung giúp

ǎn ngon miệng

7 Thực hiện vệ sinh môi trường, dùng nguồn nước sạch, tẩy giun theođịnh kỳ, rửa tay trước khi ǎn và sau khi đi đại tiểu tiện Đảm bảo vệsinh thực phẩm, thức ǎn không là nguồn gây bệnh

8 Thực hiện gia đình hạnh phúc, có nếp sống vǎn hoá, nǎng động, lànhmạnh Có biểu đồ tǎng trưởng để theo dõi sức khoẻ của trẻ Không cótrẻ suy dinh dưỡng, không sinh con thứ ba

Trang 5

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các bà mẹ có con dưới năm tuổi của huyện PhúHòa Tại thời điểm nghiên cứu

2 Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu theo phương pháp mổ tả cắt ngang

2.3 Phương pháp thu thập số số liệu:

Dựa vào danh sách các bà mẹ có con dưới 5 tuổi, chọn số lẽ để phỏngvấn đến đủ số lượng

Trang 6

- Sử dụng phiếu phỏng vấn để phỏng vấn

- Cách thu thập số liệu như sau: Điều tra viên sử dụng “ Phiếu phỏng vấn

“ để hỏi và ghi lại câu trả lời một cách trung thực va không giải thích gì thêm

+ Đối với câu hỏi 1: Có thể không cần ghi họ tên ( nếu đối tượng khôngmuốn trả lời)

+ Đối với câu hỏi 5: Nếu người được phỏng vấn trả lời đủ 3 ý đầu lợiích của sữa mẹ đối với con và 3 ý đầu trong lợi ích của sũa mẹ đối với

mẹ là ghi nhận người đó biết lợi ích của sữa mẹ

+ Đối với câu hỏi 6: Nếu họ trả lời được 4 trong 6 ý thì ghi biết đầy đủ,nếu biết ít hơn 4 ý ghi nhân là biết không đầy đủ

2.4 Xử lý số liệu:

Sau khi thu thập đủ số liệu qua điều tra, dùng các phép toán thống kê

thông thường để sử lý số liệu

Trang 8

Biểu đồ 1: Mô tả kiến thức của bà mẹ về tình trạng dinh dưỡng của con

Biều đồ các bà mẹ biết được tình trạng DD của trẻ

Biết tình trạng dinh dưỡng của trẻ 86%

dưỡng của trẻ Không biết

4 Tỷ lệ bà mẹ có khám thai trong lần mang thai gần nhất

Trang 9

0 10 20 30 40 50

Khám thai 1 lần

Khám thai 2 lần

Khám thai 3 lần

Khám thai 3 lần trở lên Biểu đồ số lần khám thai/thai kỳ

5 Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

Biểu đồ 3: Mô tả tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

Biểu đồ tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

22%

78%

Trẻ bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu

Ăn dặm sớm trước 6 tháng

Trang 10

6. Th i gian cho tr búời gian cho trẻ bú ẻ bú

Nhận xét : số bà mẹ biết được lợi ích khi cho con bú bằng sữa mẹ chỉ có 2,8%;

số biết không đầy đủ 74,8%; số hoàn toàn không biết 22,4%

Biểu đồ 4: Tỷ lệ bà mẹ biết được lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ

Trang 11

Biểu đồ biết lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ

3%

75%

22%

Biết đầy đủ Biết không đầy đủ không biết

8 Bi t đ c tác d ng c a Vitamin Aết được những lợi ích khi cho con bú bằng sữa mẹ ược những lợi ích khi cho con bú bằng sữa mẹ ụng của Vitamin A ủa Vitamin A

Nhận xét : Số bà mẹ biết lợi ích của Vitamin A chỉ có 13,1%; số biết không đầy

đủ 52,3%; số hoàn toàn không biết 34,6%

9 S bà m đ a tr đi u ng vitamin Aố bà mẹ biết được những lợi ích khi cho con bú bằng sữa mẹ ẹ biết được những lợi ích khi cho con bú bằng sữa mẹ ư ẻ bú ố bà mẹ biết được những lợi ích khi cho con bú bằng sữa mẹ

Tuổi

Vitamin A

19-24 25-29 30-34 35-39 > 40 N Tỷ lệCho con uống

Nhận xét : số bà mẹ đưa trẻ đi uống Vitamin A cao chiếm tỷ lệ 93,5%

Biểu đồ 5: Tỷ lệ bà mẹ hiểu được lợi ích khi cho trẻ uống Vitamin A

Trang 12

Biều đồ các bà mẹ biết được lợi ích khi cho trẻ uống vitamin A

Biết đầy đủ 13%

Biết không đầy đủ 52%

Nhận xét : Số bà mẹ cho con từ 3-5 lần trong ngày chiếm tỷ lệ 47,7%

11 Kể được 4 nhóm thực phẩm cần cho con ăn uồng hằng ngày

Trang 13

12 Ki n th c c a bà m có đ c qua các ngu n thông tin ết được những lợi ích khi cho con bú bằng sữa mẹ ức của bà mẹ có được qua các nguồn thông tin ủa Vitamin A ẹ biết được những lợi ích khi cho con bú bằng sữa mẹ ược những lợi ích khi cho con bú bằng sữa mẹ ồn thông tin

Trang 14

Biểu đồ kiến thức PC SDD của bà mẹ qua các kênh

Trang 15

1 Phân bố theo tuổi, dân tộc :

Trong 107 bà mẹ được phỏng vấn 100% là người kinh, không có ngườinào là dân tộc thiểu số, điều này cũng phù hợp vì huyện Phú Hòa là huyện đồngbằng, trong 9 xã, thị trấn chỉ có 1 vài thôn có người dân tộc thiểu số sinh sống

Số bà mẹ đang có con dưới 5 tuổi nhiều nhất là lứa tuổi 25-29 ( có 40/107), tiếptheo là lứa tuổi 35-39 và 30-34, tuổi trên 40 chỉ có 7/107 người đang nuôi condưới 5 tuổi

2.Phân bố theo số con.

Trong tổng số 107 bà mẹ được nghiên cứu: có 34 bà mẹ có 1 con chiếm

tỷ lệ 31,8%; 52 người có 2 con chiếm tỷ lệ 48,8%; có 3 con có 15 người chiếm

tỷ lệ 14% và 4 con có 6 người, chiếm tỷ lệ 5,6% Như vậy trong tổng số 107 bà

mẹ có con dưới 5 tuổi trong nghiên cứu này có đến 21 người có từ 3 con trở lên(chiếm tỷ lệ 20%) điều này cũng ảnh hưởng đến quá trình nuôi con, nhất là ởvùng nông thôn, kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp như huyện Phúhòa Điều này cũng phù hợp với một số nghiên cứu của một số tác giả cho rằng,

tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em tỷ lệ thuận với số con của người mẹ

3 Hiểu biết của người mẹ về trình trạng dinh dưỡng của con.

Trong 107 bà mẹ được hỏi câu “Chị có biết con chị có bị suy dinh dưỡnghay không bị suy dinh dưỡng”, trong đó có 92/107 bà mẹ biết được tình trạngdinh dưỡng của con mình, chiếm tỷ lệ 85,9%; 15/107 bà mẹ không biết tìnhtrạng dinh dưỡng của con mình, chiếm tỷ lệ 14,1% Tỷ lệ này cũng phù hợp vớimột số nghiên cứu khác

4 Số lần khám thai trong lần mang thai gần nhất của mẹ.

Trong số 107 bà mẹ được nghiên cứu có 4 người chỉ đi khám 1 lần chiếm

tỷ lệ 3,7%; 11 người khám 2 lần tỷ lệ 10,3%; 49 người khám thai 3 lần chiếm tỷ

lệ 45,8%; có 43 người chiếm tỷ lệ 40,2 % khám thai trên 3 lần Như vậy có đến86% các bà mẹ khám thai từ 3 lần trở lên Đây là tỷ lệ khá cao, với tỷ lệ nàychứng tỏ nhận thức của bà mẹ về tầm quan trọng của khám thai định kỳ làtương đối tốt, kết qủa này cũng phù hợp với sô liệu tổng kết của Trung tâmchăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh (tỷ lệ khám thai từ 3 lần trở lên 85% )

5 Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

Trong số 107 bà mẹ được nghiên cứu chỉ có 24 bà mẹ cho con bú mẹhoàn toàn trong 6 tháng đầu chiếm tỷ lệ 22,4%, 83 bà mẹ cho trẻ ăn dặm trước

6 tháng chiếm tỷ lệ 77,6% Như vậy tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong

6 tháng đầu rất thấp, điều này cho thấy kiến thức của bà mẹ về nuôi con bằng

Trang 16

sữa mẹ và tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ còn rấtthấp Vì vậy trong công tác truyền thông cần chú trọng tuyên truyền cho các bà

mẹ về nuôi con bằng sữa mẹ

Một số nguyên nhân bà mẹ cho trẻ ăn dặm sớm như: mẹ không đủ sữanhưng không có nguồn sữa thay thế khác, phải đi làm sớm nên ít cho trẻ bú,thấy trẻ ăn được nên cho ăn Qua kết quả này các nhà làm công tác tuyên truyềncần chú ý hướng dẫn cho các bà mẹ cách khắc phục để bà mẹ có thể cho trẻ bú

mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

6 Thời gian bắt đầu cai sữa cho trẻ

Trong số 107 bà mẹ được nghiên cứu thì chỉ có 8 bà mẹ cho trẻ bú từ

6-12 tháng chiếm tỷ lệ 7,5; 49 bà mẹ cho trẻ bú từ 13 – 18 tháng chiếm tỷ lệ45,8%, 50 bà mẹ cho trẻ bú từ 19 – 24 tháng chiếm tỷ lệ 46,7% Như vậy tỷ lệ

bà mẹ bú đến 12 tháng chiếm tỷ lệ thấp và nằm trong nhóm bà mẹ trẻ tuổi (từ19-34) Có thể nhóm bà mẹ trẻ này kiến thức vẫn còn hạn chế, chưa có kinhnghiệm nuôi trẻ hoặc có tâm lý sợ trẻ bú kéo dài ảnh hưởng đến sắc đẹp củangười mẹ đây là điều mà những người làm công tác truyền thông cần phải lưuý

7 Biết được lợi ích khi cho trẻ bú sữa mẹ.

Số bà mẹ biết đầy đủ lợi ích khi cho bú sữa mẹ chỉ có 3/107 bà mẹ đượcnghiên cứu chiếm tỷ lệ rất thấp 2,8%; Số bà mẹ biết không đầy đủ 80/107chiếm tỷ lệ 74,8%; số bà mẹ hoàn toàn không biết 24/107 chiếm tỷ lệ 22,4%.Nếu tính chung cả số không biết và biết không đầy đủ là 97,2%, đây quả là một

tỷ lệ rất cao Như vậy có thể cho thấy trong hoạt động truyền thông chúng tachưa chú trọng nhiều đến tuyên truyền về lợi ích của khi nuôi con bằng sữa mẹ

tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ thấp Vì vậy trong công tác truyền thôngnhững năm tới cần chú trọng nội dung tuyên truyền về lợi ích của nuôi conbằng sữa mẹ

8 Biết được tác dụng của Vitamin A

Biểu đồ 5 cho thấy trong số 107 bà mẹ được nghiên cứu chỉ có 14 bà mẹbiết được lợi ích của vitamin A chiếm tỷ lệ 13,1%; 56 bà mẹ biết không đầy đủ

Trang 17

thôn những người làm công tác truyền thông cần chú ý khi lựa chọn nội dungtuyên truyền

9 Đưa trẻ đi uống vitamin A tại các điểm do trạm y tế tổ chức.

Trong số 107 bà mẹ được nghiên cứu có 100 bà mẹ đưa trẻ uống vitamin

A tại các điểm do trạm y tế tổ chức, chỉ có 7 bà mẹ không đưa trẻ đi uốngvitamin A chiếm tỷ lệ rất thấp 6,5% Điều đó cho thấy các bà mẹ rất quan tâmđến việc phòng bệnh cho trẻ Điều này cho thấy các trạm y tế xã là điểm cungcấp vitamin A đáng tin cậy cho các bà mẹ

10 Các thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày của trẻ

Các bà mẹ liệt kê các nhóm thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày của trẻ:nhóm Glucide có 80/107 chiếm tỷ lệ 74,8%, nhóm Protide có 100/107 chiếm tỷ

lệ 93,, nhóm Lipide 41/107 chiếm tỷ lệ 38,3%, nhóm vitamin 76/107 chiếm tỷ

lệ 71% Số bà mẹ kể được 3 nhóm thực phẩm Glucide, Protide, Vitamin chiếm

tỷ khá cao từ 71% trở lên, riêng nhóm Lipide chỉ có 38,3%, tỷ lệ thấp hơn nhiều

so với 3 nhóm kia có thể thấy việc bổ sung thêm dầu ăn trong bữa ăn hàng ngàycủa trẻ ít được các bà mẹ chú ý

11 Biết được kiến thức phòng chống suy dinh dưỡng qua các nguồn thông tin.

Qua biểu 6 cho thấy các bà mẹ biết được những kiến thức phòng chốngsuy dinh dưỡng qua cán bộ y tế, Tivi chiếm tỷ lệ cao (50.5% và 42,1%), tiếpđến các sinh hoạt đoàn thể tại địa phương (30,8%), các kênh đài phát thanh,báo, tạp chí, các bà mẹ trong xóm, bạn bè người thân chiếm tỷ lệ từ 10-20%,riêng tờ rơi, áp phích chiếm tỷ lệ tương đối thấp (1,9%) Trên thực tế TV làkênh thông tin hấp dẫn nên tỷ lệ người xem cao Cũng như cán bộ y tế thườngxuyên tiếp xúc và tuyên truyền hướng dẫn trực tiếp cho các bà mẹ nên kiếnthức phòng chống suy dinh dưỡng của các bà mẹ qua 2 kênh này rất nhiều Tỷ

lệ bà mẹ biết được kiến thức phòng chống suy dinh dưỡng thông qua tờ rơi, ápphích thấp có thể số lượng tờ rơi, áp phích ít chưa phân phát đến tận hộ giađình

Với kết quả này trong tuyên truyền phòng chống suy dinh dưỡng cần đẩymạnh trên phương tiện thông tin đại chúng như Tivi…,qua cán bộ y tế và sinhhoạt đoàn thể ( truyền thông nhóm)

Ngày đăng: 10/12/2015, 05:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w