TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM --- PHAN THỊ TRÀ MỸ NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC NHÓM NGÀNH BẤT ĐỘNG S
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM
-
PHAN THỊ TRÀ MỸ
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC NHÓM NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM
-
PHAN THỊ TRÀ MỸ
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC NHÓM NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số ngành : 60340301 HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHAN THỊ HẰNG NGA
TP H Ồ CHÍ MINH, Tháng 9 năm 2015
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS PHAN THỊ HẰNG NGA
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày … tháng … năm …
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV
Trang 4PHÒNG QLKH – ĐTSĐH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TP HCM, ngày … tháng… năm 2015
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên : Phan Thị Trà Mỹ Giới tính : Nữ
I- Tên đề tài: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo
cáo tài chính của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành bất động sản niêm yết trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
II- Nhiệm vụ và nội dung:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công bố thông tin
- Nghiên cứu thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp thuộc ngành bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam
- Đề ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết
III- Ngày giao nhiệm vụ: tháng 03 năm 2015
IV- Ngày ho àn thành nhiệm vụ: ngày 15 tháng 09 năm 2015
V- Cán bộ hướng dẫn: TS PHAN THỊ HẰNG NGA
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
TS Phan Thị Hằng Nga
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Phan Thị Trà Mỹ
Trang 6LỜI CÁM ƠN
Trong suốt thời gian theo học sau đại học chuyên ngành kế toán tại trường Đại Học Công Nghệ TP HCM Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho tôi trong quá trình học tập tại trường Đặc biệt, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô TS Phan Thị Hằng Nga, Cô đã tận tình hướng dẫn, định hướng và góp ý giúp cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cám ơn Khoa kế toán tài chính ngân hàng, phòng Quản lý khoa học – đào tạo sau đại học – Trường đại học Công Nghệ thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Phan Thị Trà Mỹ
Trang 7TÓM TẮT
Luận văn này nhằm kiểm định các yếu tố nào có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp thuộc ngành bất động sản niêm yết trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam Tôi sử dụng báo cáo tài chính của 62 doanh nghiệp niêm yết thuộc ngành bất động sản trên cả 2 thị trường chứng khoán TPHCM và Hà Nội trong năm 2013
Luận văn sử dụng kết hợp cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Với mô hình nghiên cứu gồm 1 biến phụ thuộc và 10 biến độc lập
Kết quả cho thấy có 6 yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin đó là: Khả năng sinh lời, hiệu suất sử dụng tài sản, tỷ lệ giám đốc độc lập, giám đốc điều hành, thời gian hoạt động, kiểm toán độc lập
Trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị để hoàn thiện hệ thống công bố thông tin của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành bất động sản nói riêng và các doanh nghiệp Việt Nam niêm yết nói chung
Trang 8ABSTRACT
The thesis is written to verify/to test which the factors affecting the level of publishing the information in the finance reports of allthe real estate enterprises listed on The VietnamStock Market The finance reports are originally use from sixty two enterprises listed on concerning the real estate of both stock markets: The
Ho Chi Minh City Stock Market and The Hanoi Stock Market in 2013
The combination oftwo methods about quantitative and qualitative analysis
is focused in my thesis The content of its research model consists of one dependent variable and ten independent variables
As the result of the research methods, there are six factors affecting the level
of publishing the information such as: profitability,assetusageefficiency, rate of independent director, rate of executive director, time and independent auditor
Relying on the result’s basis above, the necessary is having the useful petitions to improveperfectly the system of information disclosure of all the real estate enterprises sector in particular andalso all Vietnam Businesses Enterprises
listed on in general
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CÁC BẢNG x
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5.1 Về mặt định tính 3
1.5.2 Về mặt định lượng 3
1.6 Ý nghĩa của đề tài 3
1.7 Bố cục của luận văn 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN DOANH NGHIỆP 4
2.1 Các khái niệm chung về công bố thông tin của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán 4
2.1.1 Khái niệm về công bố thông tin 4
2.1.2 Vai trò của công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam 4
2.1.3 Phân loại công bố thông tin 6
2.1.3.1 Phân loại công bố thông tin theo sự tự nguyện hoặc không tự nguyên 6
Trang 102.1.3.2 Phân loại công bố thông tin theo phạm vi khái quát 6
2.1.3.3 Phân loại công bố thông tin theo thời điểm công bố: 7
2.1.3.4 Phân loại thông tin theo thời gian 7
2.1.3.5 Phân loại thông tin theo nguồn thông tin 7
2.1.3.6 Phân loại thông tin theo thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
7
2.1.4 Yêu cầu về công bố thông tin 8
2.1.4.1 Yêu cầu về công bố thông tin kế toán 8
2.1.4.2 Yêu cầu công bố thông tin trong báo cáo tài chính 9
2.1.4.3 Yêu cầu lập và trình bày báo cáo tài chính 10
2.1.4.4 Yêu cầu của công bố thông tin đối với các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán 10
2.1.5 Đo lường mức độ công bố thông tin 12
2.1.5.1 Đo lường không trọng số 12
2.1.5.2 Đo lường có trọng số 12
2.2 Các cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài 12
2.2.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory): 13
2.2.2 Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory) 14
2.2.3 Lý thuyết chi phí chính trị (Political costs theory) 15
2.2.4 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary costs theory) 16
2.2.5 Lý thuyết về chi phí vốn (Cost of capital theory) 16
2.2.6 Lý thuyết ngẫu nhiên (Contingency theory) 17
2.2.7 Lý thuyết về tính hợp pháp (Legitimacy theory) 17
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin doanh nghiệp 17
2.3.1 Quy mô doanh nghiệp 18
2.3.2 Khả năng sinh lời 19
2.3.3 Đòn bẩy tài chính 20
2.3.4 Khả năng thanh toán 20
2.3.5 Tài sản thế chấp 21
2.3.6 Hiệu suất sử dụng tài sản 21
2.3.7 Đặc điểm của tỷ lệ giám đốc độc lập và giám đốc điều hành 21
Trang 112.3.8 Thời gian hoạt động 22
2.3.9 Chủ thể kiểm toán độc lập 22
2.4 Những nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 25
3.1 Giới thiệu khái quát về thị trường chứng khoán Việt Nam và nghành bất động sản 25
3.1.1 Thị trường chứng khoán Việt Nam 25
3.1.2 Ngành bất động sản và đặc điểm về công bố thông tin của các doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán 30
3.1.5.1 30
3.1.5.2 30
3.1.2.1 Đặc điểm của ngành bất động sản năm 2013 30
3.1.2.2 Đặc điểm về công bố thông tin của các doanh nghiệp tham gia thi trường chứng khoán 31
3.2 Xây dựng giả thiết 32
3.2.1 Quy mô doanh nghiệp 33
3.2.2 Khả năng sinh lời 33
3.2.3 Đòn bẩy tài chính 34
3.2.4 Khả năng thanh toán 34
3.2.5 Tài sản thế chấp 35
3.2.6 Hiệu suất sử dụng tài sản 35
3.2.7 Tính độc lập của hội đồng quản trị 36
3.2.8 Thời gian hoạt động 36
3.2.9 Chủ thể kiểm toán độc lập 37
3.3 Mô hình nghiên cứu 37
3.4 Phương pháp nghiên cứu 38
3.4.1 Phương pháp chọn mẫu 38
3.4.2 Thu thập và xử lý số liệu 43
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 45
Trang 12CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
4.1 Thống kê mô tả 46
4.2 Kết quả hồi quy mô hình 50
4.2.1 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 51
4.2.1.1 Các bước kiểm định các giả thuyết hồi quy 51
4.2.1.2 Kết quả kiểm định các giả thuyết hồi quy 52
4.2.2 Kết quả mô hình nghiên cứu (phương pháp OLS) 53
4.2.2.1 Quy mô doanh nghiệp 53
4.2.2.2 Khả năng sinh lời 54
4.2.2.3 Đòn bẩy tài chính 54
4.2.2.4 Khả năng thanh toán 55
4.2.2.5 Tài sản thế chấp 55
4.2.2.6 Hiệu suất sử dụng tài sản 55
4.2.2.7 Tính độc lập của hội đồng quản trị 56
4.2.2.8 Thời gian hoạt động 56
4.2.2.9 Kiểm toán độc lập 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 58
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
5.1 Kiến nghị 59
5.1.1 Đối với Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh và Hà Nội 59
5.1.1.1 Có những quy định đối với tính độc lập của Hội đồng quản trị của các doanh nghiệp niêm yết 59
5.1.1.2 Tăng cường giám sát để tránh tình trạng che giấu công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết 59
5.1.1.3 Xử lý nghiêm ngặt đối với những trường hợp vi phạm về công bố thông tin 60
5.1.1.4 Quá trình tiếp nhận xử lý các thông tin của doanh nghiệp niêm yết cung cấp cần được hoàn thiện hơn 60
5.1.1.5 Xây dựng hệ thống giám sát thông tin, phát triển hình thức và nội dung công bố thông tin 60
5.1.1.6 Nâng cao chất lượng kiểm toán 61
Trang 135.1.1.7 Bổ sung bảng báo cáo vốn cổ phần của các cổ đông 61
5.1.2 Đối với doanh nghiệp niêm yết 62
5.1.2.1 Cần gia tăng công bố các thông tin tự nguyện 62
5.1.2.2 Cần cải thiện khả năng sinh lời 62
5.1.2.3 Cần có sự độc lập giữa Hội đồng quản trị và giám đốc điều hành của doanh nghiệp 63
5.1.2.4 Khuyến khích các doanh nghiệp lâu năm gia tăng công bố thông tin 64
5.1.2.5 Chú trọng công tác kiểm toán độc lập 64
5.1.2.6 Hoàn thiện các nội dung thông tin công bố 64
5.1.2.7 Lập kế hoạch hoạt động tài chính cho tương lai 65
5.1.2.8 Nên công khai một số chỉ tiêu nhạy cảm trên thuyết minh báo cáo tài chính 65 5.2 Kết luận 65
5.2.1 Kết quả đạt được 65
5.2.2 Hạn chế của đề tài 67
KẾT LUẬN LUẬN VĂN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH 71
Trang 14DANH MỤC CÁC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 sau đây sẽ cho biết định nghĩa của các biến trong mô hình 38 Bảng 3.2: Mã chứng khoán của 62 doanh nghiệp niêm yết được chọn 39 Bảng 3.3: Danh mục các nhóm thông tin công bố 40 Bảng 3.4: Một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin từ một số nghiên cứu trước đây 42 Bảng 4.1 Thống kê mô tả biến phụ thuộc và các biến giải thích 46 Bảng 4.2 Ma trận tương quan giữa các biến nghiên cứu 48 Bảng 4.3 Danh sách 62 doanh nghiệp bất động sản có tổng tài sản từ cao đến thấp 49 Bảng 4.4 Kết quả hồi quy mô hình theo phương pháp OLS 50 Bảng 4.5 Bảng phân tích kết quả mô hình hồi quy 53 Bảng 4.6 Giả thiết và kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công
bố thông tin 57
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời Và để có thể diễn ra các hoạt động trên thì thông tin là một yếu tố rất quan trọng để các nhà đầu tư quyết định có nên đầu tư hay không Thông tin trên thị trường chứng khoán nói chung vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thị trường Ngày nay, với những chính sách, những quy định
về minh bạch thông tin do cơ quan có thẩm quyền yêu cầu thì mức độ công bố thông tin đã ngày càng được hoàn thiện, đảm bảo chính xác, công bằng và kịp thời Các thông tin trên thị trường chủ yếu dưới dạng báo các tài chính được xem là thông tin đáng tin cậy nhất mà thị trường xem xét đầu tư
Đặc biệt, với nhóm ngành bất động sản là một trong những hoạt động quan trọng của nền kinh tế thị trường vì nó liên quan trực tiếp tới một lượng tài sản lớn cả
về quy mô, tính chất cũng như giá trị trong nền kinh tế quốc dân
Thị trường bất động sản có rất nhiều vai trò như là một trong những thị trường quan trọng của nền kinh tế thị trường vì thị trường này liên quan trực tiếp tới một lượng tài sản cực lớn cả về quy mô, tính chất cũng như giá trị của các mặt trong nền kinh tế quốc dân, thị trường này phát triển thì một nguồn vốn lớn tại chỗ được huy động; phát triển và quản lý tốt thị trường bất động sản, đặc biệt là thị trường quyền
sử dụng đất là điều kiện quan trọng để sử dụng có hiệu quả tài sản quý giá thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, phát triển và quản lý tốt thị trường bất động sản sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển, tăng nguồn thu cho Ngân sách, phát triển và quản lý có hiệu quả thị trường bất động sản sẽ đáp ứng nhu cầu bức xúc ngày càng gia tăng về nhà ở cho nhân dân từ đô thị đến nông thôn Tuy nhiên, thi trường bất động sản đã bị đóng băng từ giai đoạn năm 2008 đến nay đã ảnh hưởng rất to lớn đến nền kinh tế nước ta về tất cả các lĩnh vực từ kinh tế,
xã hội, chính trị…Và một trong những nguyên nhân đó là việc công bố thông tin của các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán Có rất nhiều nghiên cứu về mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán, nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể nào về nhóm ngành bất động sản Vì thế nên tôi đã chọn đề tài
“Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo
Trang 16tài chính của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành bất động sản niêm yết trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp
1.2 Mục đích nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện việc
công bố thông tin các doanh nghiệp niêm yết
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Mức độ về chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành bất động sản niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?
- Cần hoàn thiện mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết như thế nào?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành bất động sản
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 17- Phạm vi không gian: các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam;
- Phạm vi thời gian: năm 2013
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Về mặt định tính
Phương pháp định tính: Nghiên cứu sử dụng chỉ số công bố thông tin (disclosure index) theo cách tiếp cận không trọng số để đo lường mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp bất động sản và sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh để xem xét đặc điểm, đánh giá mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp này Phương pháp thống kê mô tả và so sánh cũng được thực hiện để xem xét đặc điểm cũng như tương quan cặp giữa các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu
1.5.2 Về mặt định lượng
Phương pháp định lượng: Luận văn sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội (áp dụng phương pháp bình phương bé nhất - OLS regression model) với các biến độc lập là biến định lượng
1.6 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài nghiên cứu về nhóm ngành cụ thể để các cơ quan nhà nước quản lý nhà nước có các quy định chặt chẽ, chính sách, những yêu cầu phù hợp, phát huy vai trò của nhà nước và thúc đẩy thị trường chứng khoán ngày càng phát triển hơn
1.7 Bố cục của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 05 chương theo thứ tự sau:
- Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý luận về công bố thông tin và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin doanh nghiệp
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công
bố thông tin
- Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 18CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP 2.1 Các khái niệm chung về công bố thông tin của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán
2.1.1 Khái niệm về công bố thông tin
Công bố thông tin được hiểu theo sổ tay công bố thông tin là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời Các thông tin niêm yết được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng như sách, báo, đặc biệt là internet
Công bố thông tin đó là cách thức đưa toàn bộ thông tin của một doanh nghiệp trong quá khứ, những biến động xảy ra trong hiện tại và những dự toán cho tương lai
Công bố thông tin được thực hiện phục vụ cho nhiều đối tượng như: ủy ban chứng khoán, cơ quan thuế, nhà đầu tư, tổ chức tín dụng, ngân hàng, chủ nợ,… Thông tin công bố kịp thời và đáng tin cậy sẽ giúp những người sử dụng thông tin có thể đánh giá tổng quan về tình hình hoạt động của một doanh nghiệp và những tiềm năng của doanh nghiệp đó trong tương lai
Thông tin không trung thực, không minh bạch, không rõ ràng sẽ ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của thị trường chứng khoán, đến các đối tượng sử dụng thông tin, tăng chi phí vốn và kết quả là phân bố nguồn lực không hiệu quả
2.1.2 Vai trò c ủa công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Thị trường chứng khoán đang đóng một vai trò rất quan trọng đến sự phát triển của nền kinh tế Vì vậy những thông tin được công bố là một yếu tố quan trọng
có ảnh hưởng đến việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội và giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp
Trang 19Những thông tin được công bố sẽ giúp cho những cá nhân, tổ chức bên trong
và bên ngoài doanh nghiệp hiểu về những hoạt động, chính sách, sự tuân thủ các quy định do Nhà Nước yêu cầu và những mối quan hệ phát sinh với cộng đồng nơi doanh nghiệp đang hoạt động
Những hoạt động của việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán là một công cụ quan trọng tác động lên lợi ích của các doanh nghiệp niêm yết và bảo
vệ các nhà đầu tư tránh được những rủi ro
Nếu việc công bố thông tin có hiệu quả có thể thu hút vốn đầu tư, tạo dựng niềm tin và gia tăng lợi ích cho các doanh nghiệp niêm yết Ngược lại việc công bố thông tin không minh bạch, giấu giếm hay cố tình gian lận sẽ gia tăng hành vi kinh doanh mất đạo đức, tốn kém chi phí cho những ai quan tâm, gây mất lòng tin từ nhà đầu tư, phân bổ nguồn lực không hiệu quả, không những thiệt hại cho doanh nghiệp,
cổ đông, nhà đầu tư mà còn là cả nền kinh tế của một đất nước
Những thông tin thường xuyên được cập nhật sẽ thu hút được sự quan tâm của các cổ đông tiềm năng và cổ đông Nếu thông tin đáng tin cậy và có khả năng so sánh được thì sẽ giúp các cổ đông đưa ra những quyết định về quản lý như về định giá, quyền biểu quyết và quyền sở hữu, nhà đầu tư thì đưa ra những quyết định về đầu tư
Các cá nhân, tổ thức khi tham gia thị trường như các nhà đầu tư vốn, nhà xuất nhập khẩu, chủ sở hữu trái phiếu, các ngân hàng, doanh nghiệp,…tất cả đều cần cập nhật thông tin hằng ngày để có thể hoạt động, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Và nếu những thông tin cần thiết không chính xác hoặc không có sẵn, người tham gia thị trường sẽ tìm đến phương án đầu cơ, tin đồn, tìm những phương thức không trung thực để có được thông tin và thậm chí là tung ra những thông tin bất lợi nhằm “hạ gục” đối thủ Điều này giải thích vì sao người ta lại lập luận rằng một trong những bất ổn kinh tế của Việt Nam hiện nay có thể bắt nguồn từ việc thiếu dữ liệu kinh tế kịp thời, đáng tin cậy và sự yếu kém trong công tác truyền thông về các chính sách thay đổi đến thị trường
Vì vậy, với việc công bố thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác trên thị trường chứng khoán có vai trò quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp, công chúng đầu
tư mà còn giúp các cơ quan quản lý hiệu quả hơn Với doanh nghiệp đó là cơ hội
Trang 20tạo lập quan hệ, gắn kết với cổ đông, các bên có liên quan và thu được lợi ích từ các nhà đầu tư.Với các nhà đầu tư đó là cơ hội tiếp cận những thông tin phù hợp để đưa
ra các quyết định đầu tư Với cơ quan quản lý đó là những thông tin phục vụ công tác quản lý, giám sát và đưa ra những chính sách phù hợp nhằm phát triển thị trường “Công khai - Minh bạch – Công Bằng” là chủ trương của Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội cũng là chủ trương của Ủy Ban Chứng Khoán Việt Nam
2.1.3 Phân loại công bố thông tin
2.1.3.1 Phân lo ại công bố thông tin theo sự tự nguyện hoặc không tự nguyên
- Công bố thông tin bắt buộc: là những thông tin công bố được thực hiện theo những quy định của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ Những công bố này được trình bày theo những quy định của Luật Kinh Doanh, Ủy Ban Chứng Khoán, các cơ quan quản lý về kế toán, GAAP (Generally accepted accounting Principle) Các công
bố thông tin được thể hiện trong bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính theo Luật Kế Toán
- Công bố thông tin tự nguyện (hay thông tin không bắt buộc): là ngoài những thông tin bắt buộc ở trên phải công bố thì để thỏa mãn như cầu của người sử dụng thông tin ở ngoài doanh nghiệp thì các doanh nghiệp sẽ tùy theo ý thức và động cơ
để công bố thêm những thông tin tự nguyện Việc công bố càng nhiều thông tin tự nguyện sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín, đạt được nhiều lợi ích, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư Các thông tin tự nguyện đươc cung cấp thêm trong Thuyết minh báo cáo tài chính ngoài những thông tin bắt buộc phải thể hiện Theo xu hướng hiện nay thì công bố thông tin tự nguyện đang thu hút sự quan tâm rất lớn của người
sử dụng thông tin Và vì xu hướng đó nên các công ty đươc khuyên cáo sẽ thu được nhiều lợi ích hơn từ việc công bố những thông tin tự nguyện
2.1.3.2 Phân lo ại công bố thông tin theo phạm vi khái quát
- Thông tin riêng lẻ theo từng nhóm chứng khoán
- Thông tin ngành, nhóm ngành
- Thông tin của Sở Giao Dịch Chứng Khoán hay cả quốc gia
Trang 212.1.3.3 Phân lo ại công bố thông tin theo thời điểm công bố:
- Thông tin công bố định kỳ: các thông tin định kỳ thường là các báo cáo tài chinh thường niên, báo cáo tài chính năm, báo cáo tình hình quản trị công ty Việc lập báo cáo tài chính phải tuân thủ theo các quy định của Bộ Tài Chính về Chế độ
kế toán doanh nghiệp, Luật kế toán, các chuẩn mực kế toán…
- Thông tin công bố bất thường: các thông tin bất thường cần phải công bố như
tài khoản ngân hàng bị đóng băng hoặc hoạt động trở lại, tạm ngừng hoặc giải thể công ty
- Thông tin công bố theo yêu cầu: các thông tin được công bố theo yêu cầu của
Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước, Sở Giao Dịch Chứng Khoán Nội dung công bố thông tin phải nêu rõ sự kiện được Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước, Sở Giao Dịch Chứng Khoán yêu cầu công bố; nguyên nhân và đánh giá của công ty về tính xác thực của sự kiện đó, giải pháp khắc phục (nếu có)
(Theo Thông Tư số 52/2012/TT-BTC ngày 5/4/2012 hướng dẫn về việc công
bố thông tin trên thị trường chứng khoán)
2.1.3.4 Phân lo ại thông tin theo thời gian
- Thông tin quá khứ, thông tin hiện tại và thông tin dự báo cho tương lai
- Thông tin theo thời gian (phút, ngày, …)
- Thông tin tổng hợp theo thời gian (tuần, tháng, quý, năm)
2.1.3.5 Phân lo ại thông tin theo nguồn thông tin
- Thông tin trong nước và quốc tế
- Thông tin của các tổ chức tham gia thị trường: Tổ chức niêm yết, công ty chứng khoán và Sở Giao Dịch Chứng Khoán
- Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng (báo, truyền hình, mạng Internet,…)
2.1.3.6 Phân lo ại thông tin theo thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
- Đối với thị trường sơ cấp: Thường là những thông tin của các tổ chức lần đầu phát hành chứng khoán lên thị trường chứng khoán Ủy Ban Chứng Khoán là nơi sẽ nhận hồ sơ phát hành theo luật và chịu trách nhiệm về hoạt động phát hành của tổ chức phát hành Hiện nay ở nước ta, Ủy Ban Chứng Khoán do Bộ Tài Chính quản lý,
Trang 22chịu trách nhiệm quản lý việc công bố thông tin công và chào bán chứng khoán trên thị trướng cấp thông qua báo cáo tài chính
- Đối với thị trường thứ cấp: Là những thông tin được công bố của các tổ chức niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán.Các tổ chức niêm yết có nhiệm vụ quan trọng là công bố thông tin kịp thời, chính xác vì những thông tin này có thể ảnh hưởng đến giá cả và khối lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường chứng khoán Trách nhiệm công bố thông tin là yêu cầu quan trọng và là điều kiện bắt buộc khi muốn tổ chức được niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán
2.1.4 Yêu cầu về công bố thông tin
2.1.4.1 Yêu c ầu về công bố thông tin kế toán
Chuẩn mực kế toán Việt Nam được trình bày theo VAS 01 – Chuẩn mực chung: thông tin kế toán cần phải trình bày đủ 6 yêu cầu như sau:
Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực
tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo
Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong báo cáo tài chính phải rõ ràng,
dễ hiểu đối với người sử dụng Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết
về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình Thông tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình trong phần thuyết minh
- Có thể so sánh
Trang 23Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một doanh nghiệp
và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất
quán Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch Các yêu cầu kế toán quy đinh trên đây phải được thực hiện đồng thời
Những yêu cầu trên thường được các nhà nghiên cứu đo lường gián tiếp thông qua việc đánh giá những ảnh hưởng của mức độ thông tin được công bố đến quyết định kinh doanh của cá nhân, tổ chức sử dụng thông tin
2.1.4.2 Yêu c ầu công bố thông tin trong báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là phương pháp tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh có hệ thống tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp, tình hình và kết quả hoạt động sản suất kinh doanh, tình hình lưu chuyển các dòng tiền và tình hình vận động sử dụng vốn của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Do đó, báo cáo tài chính vừa là phương pháp kế toán, vừa là hình thức thể hiện và chuyển tải thông tin kế toán tài chính đến những người sử dụng để ra các quyết định kinh tế Vì vậy, vấn đề trung thực của các thông tin được công bố trên báo cáo tài chính luôn là vấn đề trọng tâm khi đánh giá các thông tin trên báo cáo tài chính
Theo VAS 01: Chuẩn mực chung cũng quy định rõ các yếu tố cơ bản của báo cáo tài chính đó là báo cáo tài chính phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố của báo cáo tài chính Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính trong Bảng cân đối kế toàn là tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình hình kết quả kinh doanh trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là doanh thu, thu nhập khác, chi phí và kết quả kinh doanh
Theo VAS 21: Trình bày báo cáo tài chính quy định và hướng dẫn các yêu cầu
và nguyên tắc chung về việc lập báo cáo tài chính gồm: mục đích, yêu cầu, nguyên tắc lập báo cáo tài chính, kết cấu và nội dung chủ yếu của các báo cáo tài chính
Trang 242.1.4.3 Yêu c ầu lập và trình bày báo cáo tài chính
- Trung thực và hợp lý
- Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với quy định của cơ quan quản lý
- Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính :
- Hoạt đông liên tục
- Kết cấu và nội dung chủ yếu của báo cáo tài chính
- Những thông tin chung về doanh nghiệp phải được trình bày trong từng báo cáo tài chính như:
- Kỳ báo cáo
- Kết cấu và nội dung của bảng cân đối kế toán
- Kết cấu và nội dung của bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Kết cấu và nội dung của báo cáo kết quả lưu chuyển tiền tệ
- Kết cấu và nội dung của thuyết minh báo cáo tài chính
2.1.4.4 Yêu c ầu của công bố thông tin đối với các doanh nghiệp niêm
y ết trên Sở giao dịch chứng khoán
Do tầm quan trọng của việc công bố thông tin của các công ty niêm yết ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Vì vậy, Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước đã có rất nhiều quy định khá chặt chẽ về vấn đề này
Thông tư đầu tiên đólà thông tư số 57/2004/TT-BTC có hiệu lực ngày 17/6/2004 hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, tiếp theo
là thông tư số 38/2007/TT-BTC có hiệu lực ngày 18/4/2007 Và thông tư mới đây nhất là thông tư số 52/2012/TT-BTC, thông tư này có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng
6 năm 2012 và thay thế Thông tư số 09/2010/TT-BTC ngày 15/1/2010 của Bộ Tài chính về công bố thông tin trêndưng thị trường chứng khoán Những quy định về công bố thông tin tại các văn bản khác do Bộ Tài chính ban hành trái với quy định tại
Trang 25Thông tư này sẽ bị hủy bỏ và áp dụng theo quy định của Thông tư này Cụ thể một số quy định như sau:
Việc công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật
Việc công bố thông tin phải do người đại diện theo pháp luật của công ty hoặc người được uỷ quyền công bố thông tin thực hiện Người đại diện theo pháp luật của công ty phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do người được uỷ quyền công bố thông tin công bố
Trường hợp có bất kỳ thông tin nào làm ảnh hưởng đến giá chứng khoán thì người đại diện theo pháp luật của công ty hoặc người được uỷ quyền công bố thông tin phải xác nhận hoặc đính chính thông tin đó trong thời hạn hai mươi bốn (24) giờ, kể
từ khi nhận được thông tin đó hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý
Việc công bố thông tin phải được thực hiện đồng thời với việc báo cáo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Sở Giao Dịch Chứng Khoán về nội dung thông tin công bố, cụ thể như sau:
Công ty đại chúng, tổ chức phát hành thực hiện chào bán trái phiếu ra công chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ khi thực hiện công bố thông tin phải đồng thời báo cáo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước;
Tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch, công ty chứng khoán thành viên, công
ty đầu tư chứng khoán đại chúng; công ty quản lý quỹ có quản lý quỹ đại chúng/công ty đầu tư chứng khoán đại chúng khi thực hiện công bố thông tin phải đồng thời báo cáo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao Dịch Chứng Khoán;
Ngày nộp báo cáo công bố thông tin là ngày gửi tính theo dấu của bưu điện, ngày gửi fax, gửi Email, ngày công khai trên Website hoặc là ngày ghi trên giấy biên nhận nộp báo cáo công bố thông tin
Trường hợp có sự thay đổi nội dung thông tin đã công bố, các đối tượng công bố thông tin theo quy định tại khoản 1 Mục I Thông tư này phải đồng thời báo cáo và có văn bản giải trình cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước
Sở Giao Dịch Chứng Khoán định kỳ hàng quý phải lập báo cáo tổng hợp về việc chấp hành các quy định pháp luật về công bố thông tin của tổ chức niêm yết,
Trang 26đăng ký giao dịch và công ty chứng khoán thành viên gửi Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước
Sở Giao Dịch Chứng Khoán cung cấp thông tin về tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch cho các công ty chứng khoán thành viên Các công ty chứng khoán thành viên có trách nhiệm cung cấp ngay các thông tin trên một cách đầy đủ cho nhà đầu
tư
Trải qua nhiều lần thay đổi, mức độ công bố thông tin ngày càng được Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước quy định chặt chẽ hơn để đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế thị trường và hội nhập
2.1.5 Đo lường mức độ công bố thông tin
Để đo lường mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính, các nghiên cứu
đã được thực hiện qua hai bước như sau:
Xây dựng một thang đo chuẩn được thực hiện trong các nghiên cứu đi trước khác nhau phụ thuộc vào yêu cầu công bố của mỗi quốc gia
Dùng thang chuẩn đã được xây dựng để mã hóa từng chỉ mục thông tin trong từng quan sát Có rất nhiều cách để đo lường hay mã hóa dự liệu đã xây dựng nhưng thường các nghiên cứu trước sử dụng 2 cách đo như sau:
2.1.5.1 Đo lường không trọng số
Theo thang chuẩn đã được xây dựng, các yếu tố thông tin trong báo cáo tài chính được nghiên cứu sẽ được gắn giá trị 1 và bằng 0 nếu yếu tố thông tin không được công bố, không gán giá trị nếu tại doanh nghiệp nghiệp vụ về yếu tố thông tin không tồn tại Các yếu tố thông tin có vai trò ngang nhau trong đánh giá và được theo dõi ở giác độ có được trình bày hay không
2.2 Các cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài
Lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin theo các nghiên cứu trước bao gồm 7 lý thuyết đó là: lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết
Trang 27chi phí chính trị, lý thuyết chi phí sở hữu, lý thuyết về chi phí vốn, lý thuyết ngẫu nhiên, lý thuyết tính hợp pháp Cụ thể như sau:
2.2.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory):
Năm 1970 lý thuyết đại diện lần đầu tiên xuất hiện cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của nền kinh tế trên thế giới, loại hình doanh nghiệp thì ngày càng đa dạng với quy mô ngày càng lớn, một người chủ không thể quản lý hết cả một doanh nghiệp to lớn được mà họ cần thuê người quản lý để thay họ điều hành doanh nghiệp, sự thiếu hụt về các lý thuyết nền tảng về quyền sở hữu doanh nghiệp và mối quan hệ giữa người chủ và người quản lý thông qua hợp đồng đại diện vì vậy mà để đáp ứng nhu cầu đó các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu ra lý thuyết đại diện
Lý thuyết đại diện cho rằng, một doanh nghiệp không phải là một thực thể thống nhất và duy nhất, nó chỉ ra mối quan hệ của cổ đông, người quản lý và các chủ
nợ và họ đều có mục đích chung là lợi ích Để tối đa hóa lợi ích của mình, cả cổ đông
và những người quản lý đều hành động vì lợi ích tốt nhất của mình Người quản lý sẽ luôn không hành động vì lợi ích tốt nhất của người chủ mà sẽ có xu hướng hành động
vì lợi ích của cá nhân nhiều hơn Vì vậy, những cổ đông phải thường kiểm tra, giám sát hoạt động của người quản lý để đảm bảo rằng nhà quản lý sẽ hoạt động theo mong muốn của mình
Laohapolwatana W.T., Smith M and Howieson B (2005) lý thuyết đại diện nghiên cứu về mối quan hệ hợp đồng giữa các cổ đông (những người chủ) và người quản lý (người đại diện) thực hiện các quyết định của doanh nghiệp Những người chủ sẽ bổ nhiệm, chỉ định người quản lý đại diện mình để điều hành công ty Nhiệm
vụ của người quản lý là tối đa hóa giá trị tài sản của công ty, tối đa hóa lợi nhuận, gia tăng cổ tức, nâng cao thị giá của cổ phiếu trên thị trường
Theo Wallace (1995) và Owusu – Ansah (1998) và Thân Thị Thu Thủy, Lê Văn Lâm & Nguyễn Trung Thông (2014) thì các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin liên quan đến lý thuyết này như quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời Và nghiên cứu của Rodriguez Pere (2004) cho rằng chi phí đại diện
sẽ phụ thuộc vào kích cỡ doanh nghiệp
Theo Urquiza, F.B., Navarro, M.C.A., Trombetta (2010) chi phí đại diện giảm bởi vì các doanh nghiệp lớn thường công bố rất nhiều thông tin
Trang 28Theo Gacia-Meca, E., Parra,I., Larran, M., & Martinez, I (2005), Ang, JS., R.A Cole & J Wuh Lin (2000) đòn bẩy tài chính tương quan âm với chi phí đại diện, chi phí đại diện cũng sẽ lớn hơn ở những doanh nghiệp có tỷ lệ nợ cao Để làm hài lòng nhu cầu thông tin của các chủ nợ thì các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao
sẽ công bố thông tin nhiều hơn những doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính thấp Thông tin càng được công bố nhiều sẽ giúp các chủ nợ sẽ nắm bắt được tình hình doanh nghiệp để đưa ra quyết định của mình
Theo Oyeler, P., Laswad, F., Fisher, R (2003) khả năng sinh lời cao cũng là một nguyên dẫn đến việc công bố thông tin tốt hơn bởi vì họ muốn chứng minh với
cổ đông thành quả kinh doanh của họ đã được ký trong hợp đồng Và công bố thông tin nhiều với những doanh nghiệp có lợi nhuận cao cũng giúp nâng cao danh tiếng của nhà quản lý nhằm duy trì vị trí công việc và mức thu nhập của họ
Theo lý thuyết này cho rằng khi thông tin không đầy đủ và không đối xứng giữa người chủ và người quản lý thì dẫn đến các xung đột sẽ tăng lên Và vấn đề này có thể được giải quyết bằng việc người quản lý doanh nghiệp gia tăng mức độ công bố thông tin, thông tin được công bố càng nhiều càng giảm sự xung đột và nhằm thuyết phục cổ đông rằng người quản lý doanh nghiệp đang quản lý doanh nghiệp nhằm đạt mức tối ưu Để giảm chi phí đại diện và giảm bớt xung đột về lợi ích thì giải pháp được đưa ra đó là gia tăng mức độ công bố thông tin
Lý thuyết đại diện cũng là cơ sở để xây dựng các báo cáo nội bộ trong doanh nghiệp, các báo cáo đánh giá trách nhiệm cho phù hợp với hệ thống phân quyền trong các doanh nghiệp Việt Nam
2.2.2 Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory)
Theo Arrow, K J (1972) và Spence, A M (1973), hai nhà nghiên cứu đầu tiên đặt nền tảng cho lý thuyết tín hiệu
Lý thuyết tín hiệu cho rằng thông tin không cân xứng dẫn đến giá trị đầu tư sẽ thấp hơn nếu đầy dủ thông tin
Theo Ross (1979) thì các nhà quản lý sẽ truyền đi các dấu hiệu thông tin về quyết định tài chính để các nhà đầu tư xem xét và phản hồi và dấu hiệu này là nền tảng của các chính sách tài chính Lý thuyết tín hiệu giả định rằng các công ty có kết
Trang 29quả hoạt động thường sử dụng thông tin tài chính như một công cụ truyền tín hiệu đến thị trường
Theo Dye, R (1985) và Verrecchia, R.E., (1983) nghiên cứu về công bố thông tin trên thị trường tài chính nhận ra rằng thông qua các tín hiệu từ việc công bố thông tin các doanh nghiệp có lợi nhuận cao sẽ đạt được lợi thế cạnh tranh cao hơn những doanh nghiệp khác Kết quả này phù hợp với kết quả thực nghiệm của Lang, M H & Lundholm, R J (1993) và Singhvi, S S and Desai, H B., (1971) đó là việc công bố thông tin nhiều nhằm tạo niềm tin và thu hút nhà đầu tư Nhưng nghiên cứu của McNally, G M., Eng,L H and Hasseldine, C R (1982) thì không tìm thấy có mối quan hệ nào giữa mức độ công bố thông tin và lợi nhuận doanh nghiệp Và nghiên cứu của Skinner, A M (1973) thì lại cho rằng mối quan hệ đó là ngược chiều
Sự bất đối xứng thông tin ở những doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ lớn hơn nên các doanh nghiệp này sẽ công bố thông tin nhiều hơn để giảm sẽ bất đối xứng thông tin, việc công bố thông tin nhiều sẽ là một tín hiệu để các nhà đầu tư quan tâm đến doanh nghiệp
2.2.3 Lý thuyết chi phí chính trị (Political costs theory)
Chi phí chính trị - là chi phí mà các đối tượng bên ngoài công ty có thể có thể áp đặt cho công ty như là một kết quả của các hành động chính trị
Lần đầu tiên lý thuyết chi phí chính trị được Watts, Zimmerman (1978) giới thiệu cho kết quả đó là doanh nghiệp lớn có chi phí chính trị cao hơn doanh nghiệp nhỏ, các công ty sẽ công bố thông tin nhiều hơn để giảm các chi phí chính trị này Nghiên cứu trên lập luận rằng tầm quan trọng của chi phí chính trị phụ thuộc nhiều vào quy mô doanh nghiệp Quy mô doanh nghiệp là một biến đại diện cho sự chú ý chính trị
Lý thuyết này cho rằng các nhà quản lý nhà nước có thể ra các quyết định ảnh hưởng liên quan đến lợi ích công ty ví dụ như chính sách thuế, hạn chế độc quyền,…dựa trên các thông tin đã được doanh nghiệp công bố
Theo Lang và Lundholm (1993) một mức độ công bố thông tin cao hơn mong đợi sẽ ủng hộ cho một mức lợi nhuận lớn hơn co công ty vì vậy tránh đi trách nhiệm pháp lý và cũng như một sự biện minh cho mức độ lợi nhuận của công ty Giner, B., (1997)
Trang 30Chi phí chính trị và môi trường cạnh tranh cũng ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
Mối quan hệ giữa chi phí chính trị và công bố thông tin cũng được kiểm nghiệm thực nghiệm thông qua các nghiên cứu của Cooke, T.E., (1989), Dumontier, P., và B Raffournier (1998), Inchausti, B G (1997)
2.2.4 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary costs theory)
Dye, R (1985) và Verrecchia, R.E., (1983) đã phát triển chi phí sở hữu đối với việc công bố thông tin Lý thuyết này chú ý đến chi phí công bố thông tin cũng như những lợi ích mà nó mang lại Chi phí này được xem xét như một hạn chế quan trọng của việc công bố thông tin Khi chi phí lớn hơn lợi ích thì các quản lý phải xem xét lại các chi phí công bố thông tin hay không công bố thông tin Chi phí này bao gồm những chi phí lập, công bố các thông tin và chí phí để có được thông tin của các đối thủ cạnh tranh Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng bởi vì công ty phải chịu một số chi phí nên các nhà quản lý sẽ có thể giữ lại một số thông tin mà không công bố ra ngoài
Theo Cormier, D & Magnan, M (1999) cho rằng các đối thủ cạnh tranh, các nhà cung cấp, các khách hàng, các cơ quan quản lý…có thể dựa trên các thông tin được công bố mà gây bất lợi, tác động tiêu cực đến doanh nghiệp Họ sẽ sử dụng các thông tin trên để đánh giá lại lần lượt tình hình doanh nghiệp, các mối quan hệ của họ với công ty từ đó có thể làm giảm dòng tiền của doanh nghiệp
Theo Lang và Lundholm (1993) cho rằng kích cỡ công ty đóng vai trò quan trọng để hạn chế tối thiểu những chi phí này và nó giảm đi đối với những công ty lớn hơn
2.2.5 Lý thuyết về chi phí vốn (Cost of capital theory)
Lý thuyết về chi phí vốn có nền tảng từ các nhà nghiên cứu Cooke (1989), Raffournier (1995) và Cooke (1993) thì đưa ra kết quả của lý thuyết trên dựa trên kinh nghiệm
Lý thuyết này cho rằng các nhà quản lý có biện pháp khuyến khích để cung cấp thông tin tự nguyện giảm các vấn đề về bất đối xứng thông tin và do đó làm giảm chi phí vốn của công ty
Trang 31Có một số nghiên cứu về chi phí sử dụng vốn của một số tác giả: Cooke (1989), Gray, Meek and Roberts (1995)
2.2.6 Lý thuyết ngẫu nhiên (Contingency theory)
Cách tiếp cận này khác với những lý thuyết đã nêu ở trên, lý thuyết này lập luận rằng có những yếu tố ở ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin Cung cấp thông tin được quyết định bởi các yếu tố văn hóa và môi trường hoạt động của doanh nghiệp
Hầu hết các nghiên cứu ảnh hưởng về văn hóa dựa vào khuôn khổ của Hofstede
Theo Nobes (1998) nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
có tầm quan trọng ảnh hưởng đến số lượng thông tin được công bố
Theo Roberts và Salter (1999) nghiên cứu cơ sở cho việc xây dựng các chỉ số công bố thông tin đó là yếu tố văn hóa và vốn chủ sở hữu
2.2.7 Lý thuyết về tính hợp pháp (Legitimacy theory)
Theo Islam, M., Azizul and Deegan, Craig (2008) Lý thuyết hợp pháp là các tổ chức hoạt động trong khuôn khổ xã hội, nó là sự kỳ vọng của xã hội và là trách nhiệm
và đạo đức của doanh nghiệp Sự kỳ vọng của xã hội nếu được doanh nghiệp đáp ứng thì được xem là hợp pháp nếu không thì ngược lại Vì vậy, để duy trì tính hợp pháp của xã hội các tổ chức phải đáp ứng những kỳ vọng của xã hội Với lý thuyết này, để truyền đạt được những thông tin về hoạt động và sự kiện diễn ra tại doanh nghiệp thì doanh nghiệp có thể sử dụng truyền thông để truyền đạt thông tin của mình nhằm đáp ứng những kỳ vọng của xã hội
Theo Oliver (1991) cho rằng sự phù hợp với các giá trị cộng đồng và các cơ quan quản lý chuyên môn đó là sự kết hợp giữa báo báo và công bố thông tin thực tiễn
Lý thuyết tính hợp pháp có thể hỗ trợ cho giả thuyết về mối quan hệ giữa ngành công nghiệp và công bố thông tin bởi vì một số ngành công nghiệp có áp lực thể chế cao hơn so với các ngành khác
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin doanh nghiệp
Trên thế giới và trong nước có rất nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin nói chung và mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài
Trang 32chính nói riêng Dựa vào các lý thuyết đã nêu ở trên, các nghiên cứu trước đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết như: Quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, khả năng thanh toán, tài sản thế chấp, hiệu suất sử dụng tài sản, tỷ lệ giám dốc độc lập, giám dốc điều hành, thời gian hoạt động, các doanh nghiệp kiểm toán độc lập
Các nhân tố trên được trình bày cụ thể dưới đây:
2.3.1 Quy mô doanh nghiệp
Các lý thuyết đã nêu ở trên như lý thuyết chí phí đại diện, lý thuyết chi phí chính trị, chi phí dấu hiệu,…và những nghiên cứu thực nghiệm của Li Huiyun, Zhao Peng (2010), Verrecchia, R.E., (1983) và Watts, R., and Zimmerman, J., (1978),…
đã đưa ra những ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp với mức độ công bố thông tin như sau:
Thứ nhất, các doanh nghiệp có quy mô lớn thì chi phí đại diện thường cao hơn những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bởi vì các doanh nghiệp lớn thường ký kết nhiều hợp đồng quan trọng và giá trị cao do đó họ cần nhiều người quản lý hơn các doanh nghiệp nhỏ nên các doanh nghiệp càng có quy mô lớn càng công bố nhiều thông tin hơn để giảm chi phí đại diện
Thứ hai, các doanh nghiệp có quy mô lớn thì sẽ thu hút được nhiều sự chú ý của các nhà đầu tư, nếu thông tin công bố càng nhiều thì càng có nhận được sự quan tâm của các nhà đầu tư Vì vậy, các doanh nghiệp có quy mô lớn thường có xu hướng
sẽ công bố nhiều thông tin tự nguyện hơn để thu hút đầu tư
Thứ ba, theo Watts, R., and Zimmerman, J., (1978) đã nghiên cứu rằng chi phí chính trị sẽ cao hơn những doanh nghiệp có quy mô lớn Do vậy các doanh nghiệp này sẽ công bố thông tin nhiều hơn để giảm chi phí chính trị
Thứ tư, các doanh nghiệp có quy mô lớn thì sự bất đối xứng thông tin lớn hơn
so với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ theo lý thuyết tín hiệu, vì vậy các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ công bố nhiều thông tin hơn những doanh nghiệp có quy mô nhỏ
Thứ năm, những doanh nghiệp nhỏ sẽ bất lợi hơn trong việc cạnh tranh về công
bố thông tin so với những doanh nghiệp lớn hơn theo Verecchia (1983)
Trang 33Các nghiên cứu trước đã đưa ra kết luận về sự ảnh hưởng của nhân tố quy mô doanh nghiệp đến mức độ công bố thông tin như sau:
Patricia Teixeire Lopes (2007), Nguyễn Công Phương và các cộng sự (2012), Trương Bá Thành và các cộng sự (2013) và Phan Tôn Nữ Nguyên Hồng (2014) đã kết luận mối quan hệ này là thuận chiều
Nhưng nghiên cứu của Lê Trường Vinh và Hoàng Trọng (2008), Đoàn Nguyễn Phương Trang (2010), Lê Thị Trúc Loan (2012), Nguyễn Thị Thủy Hưởng (2014) thì lại không tìm thấy mối quan hệ nào
2.3.2 Khả năng sinh lời
Theo lý thuyết đại diện với nghiên cứu của Oyeler, P., Laswad, F., Fisher, R (2003) khả năng sinh lời cao cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc công bố thông tin tốt hơn bởi vì họ muốn chứng minh với cổ đông thành quả kinh doanh của họ đã được ký trong hợp đồng
Và công bố thông tin nhiều với những doanh nghiệp có lợi nhuận cao cũng giúp nâng cao danh tiếng của nhà quản lý nhằm duy trì vị trí công việc và mức thu nhập của họ
Theo lý thuyết tín hiệu với nghiên cứu của Inchausti (1997) thì với những doanh nghiệp có lợi nhuận cao họ sẽ công bố nhiều thông tin hơn ra thị trương bởi vì họ muốn thị giá cổ phiếu trên thị trường được đánh giá cao hơn và sẽ huy động được vốn đầu tư cao nhất nhưng với chi phí thấp nhất Nhưng nghiên cứu của Skinner (1994) lại cho kết quả ngược lại là đối với những doanh nghiệp có lợi nhuận thấp họ vẫn có
xu hướng công bố nhiều thông tin hơn để giải thích nguyên nhân vì sao lợi nhuận của
họ thấp nhằm để các nhà đầu tư hiểu về tình hình họat động của doanh nghiệp, giảm bớt sự mất lòng tin từ nhà đầu tư và việc cổ phiếu sẽ bị đánh giá thấp
Mối quan hệ thuận chiều của khả năng sinh lời và mức độ công bố thông tin thể hiện trong nghiên cứu của Singhvi và Desai (1971), Lê Thị Trúc Loan (2012), Trương Bá Thanh và các cộng sự (2013), Phạm Thị Thu Đông (2013)
Mối quan hệ nghịch chiều của khả năng sinh lời và mức độ công bố thông tin thê hiện trong nghiên cứu của Skinner (1994), Nguyễn Công Phương và các cộng sự (2012)
Trang 34Không có mối quan hệ nào giữa khả năng sinh lời và mức độ công bố thông tin được thể hiện qua nghiên cứu của Phan Tôn Nữ Nguyên Hồng (2014)
2.3.3 Đòn bẩy tài chính
Theo lý thuyết đại diện cho rằng, các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính càng cao thì mức độ công bố thông tin càng nhiều nhằm giảm chi phí đại diện vì doanh nghiệp nợ càng nhiều thì chi phí đại diện càng lớn do đó phải công bố thông tin càng nhiều Ngoài ra, người quản lý là do cổ đông lựa chọn và ký kết hợp đồng do đó họ phải thể hiện mình quản lý doanh nghiệp đạt mức tối ưu thì mới có được sự tín nhiệm của cổ đông Do đó họ phải công bố thông tin thật nhiều để lấy lòng cổ đông và giảm
Tổng hợp từ nhiều nghiên cứu cả trong nước lẫn ngoài nước như sau:
Garcia-Meca, E., Parra, I., Larran, M., & Martinez, I (2005), Bradbury (1990), Naser (1998) kết quả nghiên cứu đã tìm ra mối quan hệ thuận chiều giữa đòn bẩy tài chính và mức độ công bố thông tin
Gray, Meek và Roberts (1995), Carson và Simnett (1997) kết quả nghiên cứu đã tìm ra mối quan hệ nghịch chiều giữa hai yếu tố này
Archambault (2003), Trương Bá Thanh và các cộng sự (2013), Đoàn Nguyễn Phương Trang (2010) cho ra kết quả là đòn bẩy tài chính không ảnh hưởng đến mức
độ công bố thông tin
2.3.4 Khả năng thanh toán
Theo lý thuyết hiện đại thì những công ty có khả năng thanh toán cao sẽ công
bố thật nhiều thông tin để thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư và tạo tâm lý an tâm cho các chủ nợ và tạo sự khác biệt với những công ty có khả năng thanh toán thấp Nhưng theo nghiên cứu của Cooke (1989) thì những doanh nghiệp có khả năng thanh toán thấp cũng có xu hướng công bố thật nhiều thông tin để giải thích những
Trang 35khoản nợ nhằm đáp ứng yêu cầu của các chủ nợ và nhà đầu tư, nhằm giảm bớt sự lo lắng của các chủ nợ
Nghiên cứu của Cerf (1961), Singhvi và Desai (1971), Belkaoui và Kahl (1978), Nguyễn Thị Thủy Hưởng (2014), Phan Tôn Nữ Nguyên Hồng (2014) cho kết quả rằng các doanh nghiệp khả năng thanh toán càng cao thì mức độ công bố thông tin càng nhiều Còn nghiên cứu của Barako DG, Hancock P, Izan HY (2006), Wallace, Naser, Mora (1994) thì cho kết quả nghiên cứu ngược lại
Đoàn Nguyễn Phương Trang (2010), Phạm Thị Thu Đông (2013) thì cho kết quả nghiên cứu hai yếu tố trên không ảnh hưởng đến nhau
2.3.5 Tài sản thế chấp
Đối với các doanh nghiệp có tài sản cố định cao thì mức độ công bố thông tin càng nhiều để tạo niềm tin từ các nhà đầu tư nhằm thu hút đầu tư Điều này có nghĩa
là tài sản thế chấp và mức độ công bố thông tin có mối quan hệ thuận chiều
Theo nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976) thì cho rằng tài sản thế chấp cao sẽ giảm xung đột đại diện bởi vì các doanh nghiệp có tài sản thế chấp cao sẽ giúp người cho vay nắm được tài sản đảm bảo vì vậy nếu doanh nghiệp bị phá sản thì người cho vay cũng không bị thiệt Vì vậy việc giảm xung đột đại diện cũng làm giảm mức độ công bố thông tin
Phan Tôn Nữ Nguyên Hồng (2014) lại không tìm thấy mối liên hệ nào giữa tài sản thế chấp và mức độ công bố thông tin
2.3.6 Hiệu suất sử dụng tài sản
Theo Lê Trường Vinh và các cộng sự (2008) thì cho ra kết quả nghiên cứu như sau các công ty có hiệu suất sử dụng tài sản cao sẽ công bố nhiều thông tin hơn so với các doanh nghiệp có mức độ sử dụng tài sản thấp bởi vì các nhà đầu tư và các nhà phân tích sẽ bị thu hút bởi mức độ sử dụng tài sản cao
2.3.7 Đặc điểm của tỷ lệ giám đốc độc lập và giám đốc điều hành
Tính độc lập của hội đồng quản trị được đo lường bằng tỷ lệ giám đốc độc lập
và giám đốc điều hành Và nếu giám đốc điều hành cũng là chủ tịch hội đồng quản trị thì tính độc lập sẽ như thế nào ? từ đó ảnh hưởng đến mức độ công bô thông tin như thế nào? Các doanh nghiệp có quy mô hội đồng quản trị càng lớn thì sẻ ảnh hưởng
Trang 36tiêu cực đến hoạt động và nâng cao chất lượng của quản trị doanh nghiệp vì người quản lý sẽ luôn đặt lợi ích của cá nhân lên trên lợi ích của cổ đông
Theo shi Jianlianh (2010) thì kết quả nghiên cứu đạt được đó là tỷ lệ giám đốc độc lập có mối quan hệ thuận với mức độ công bố tự nguyện, trong khi đó giám đốc điều hành kiêm chủ tịch hội đồng quản trị lại có mối quan hệ nghịch với mức độ công
bố thông tin
2.3.8 Thời gian hoạt động
Theo nhiều tài liệu đã nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp hoạt động lâu năm thì sẽ có nhiều thông tin để công bố hơn các doanh nghiệp trẻ Công bố ít có khả năng tổn hại đến vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trẻ theo Owusu-Ansah (1998) và Al Shamari et (2007) cũng cho kết quả tương tự
Các doanh nghiệp lâu năm thì việc trình bày, công bố thông tin sẽ được hoàn thiện hơn vì nó đã được cải thiện theo thời gian
2.3.9 Chủ thể kiểm toán độc lập
Tất cả các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đều được kiểm toán trước khi lên sàn chứng khoán Hiện nay có bốn công ty kiểm toán lớn hoạt động trên toàn thế giới đó chính là big 4 bao gồm: Pricewaterhouse Coopers (PwC), Ernst & Young (EY), Deloitte, and KPMG Các doanh nghiệp được kiểm toán bởi các công ty này thì mức độ tin cậy về thông tin được công bố sẽ được dánh giá cao hơn, thông tin công
bố của doanh nghiệp sẽ minh bạch và chính xác hơn
Các nghiên cứu của Hossain và cộng sự (1994), Ahmed và cộng sự (1994), Dummontier và Raffournier (1998), Owusu-Ansah và Yeoh (2005), Đoàn Nguyễn Phương Trang (2010), các doanh nghiệp được kiểm toán bởi các công ty lớn có mức
độ công bố thông tin cao hơn so với các công ty nhỏ Nhưng Singhvi (1968), Phạm Thị Thu Đông (2013), Nguyễn Thị Thủy Hưởng (2014), lại không tìm thấy bất cứ mối quan hệ nào giữa hai yếu tố này
2.4 Nh ững nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài
Cooke, T.E., (1993) nghiên cứu về mức độ công bố thông tin bắt buộc và tự nguyện trên báo cáo tài chính ở Nhật Kết quả cho thấy rằng kích thước, ngành công nghiệp… có ảnh hưởng đáng kể
Ahmed, K and Nicholls, D (1994) tác giả sử dụng nhiều mô hình hồi quy
Trang 37tuyến tính gồm 188 mẫu doanh nghiệp trong năm 2003 để đo lường mức độ công bố thông tin với các chuẩn mực kế toán quốc tế IAS Nghiên cứu đã đưa ra kết luận: quy
mô doanh nghiệp, lợi nhuận, loại chứng khoán bảo mật… có ý nghĩa
Phạm Thị Thu Đông (2013) nghiên cứu về mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính năm 2013 sàn chứng khoán thành phố Hà Nội tác giả sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bộ để đo lường công bố thông tin Nghiên cứu đã đưa ra kết luận: quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, đòn bẩy nợ, khả năng thanh toán, chủ thể kiểm toán, thời gian hoạt động, tài sản cố định có ảnh hưởng thuận chiều đến mức độ công bố thông tin
Nguyễn Thị Thủy Hưởng (2014) tác giả sử dụng hồi quy bội 35 doanh nghiệp
để đo lường mức dộ công bố thông tin của các doanh ngiệp thuộc nhóm ngành lương thực thực phẩm Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các biến: khả năng thanh toán có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
Phan Tôn Nữ Nguyên Hồng (2014) cũng nghiên cứu tương tự nhưng 80 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành giao thông vận tải, tác giả tiến hành hồi quy 3 mô hình thì kết quả nghiên cứu như sau: quy mô doanh nghiệp, khả năng thanh toán, chủ thể kiểm toán có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong chương 2, luận văn đã trình bày cơ sở lý luận về các khái niệm, phân loại, vai trò liên quan đến công bố thông tin, các lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin thông qua các nghiên cứu trước ở trong và ngoài nước để cũng cố thêm cơ sỏ lý thuyết nêu ra trong chương 2
Có 7 lý thuyết nền để sử dụng trong nghiên cứu đề tài này đó là: lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu,lý thuyết chi phí chính trị, lý thuyết chi phí sở hữu, lý thuyết
về chi phí vốn, lý thuyết ngẫu nhiên, lý thuyết về tính hợp pháp
Dựa trên các lý thuyết đó luận văn cũng nêu ra chi tiết ảnh hưởng của 10 yếu tố đến quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, đòn bẩy tài chính, hiệu suất sử dụng tài sản, tỷ lệ giám đốc độc lập, giám đốc điều hành, thời gian hoạt động và chủ thể kiểm toán
Từ những tiền đề của chương 2 tác giả sẽ làm rõ những nhân tố nào thực sự ảnh hưởng đến mức độ công bố thông và sẽ đưa ra những kết luận thực nghiệm được thể hiện trong chương 3
Trang 39CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 3.1 Giới thiệu khái quát về thị trường chứng khoán Việt Nam và nghành bất động sản
3.1.1 Thị trường chứng khoán Việt Nam
Trong năm 2013, mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa cao và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (DN) còn khó khăn nhưng kinh tế vĩ mô đã có những bước ổn định, các giải pháp vĩ mô đã dần phát huy tác dụng Lạm phát được kiềm chế; Chỉ số sản xuất công nghiệp đã tăng 5,6% so với cùng kỳ năm ngoái; Cán cân thanh toán được cải thiện; Mặt bằng lãi suất có chiều hướng giảm dần; Thị trường ngoại hối trong xu thế ổn định, dự trữ ngoại tệ tăng; Vốn FDI tăng 54,2% so với cùng kỳ năm ngoái
Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán Việt Nam mặc dù được dự báo sẽ phải chứng kiến sự thoái lui của nhà đầu tư nước ngoài, nhưng trên thực tế, tổng dòng vốn nước ngoài luân chuyển trong năm 2013 vẫn tăng 54% và giá trị danh mục tăng khoảng 3,8 tỷ USD so với cuối năm 2012 Số lượng tài khoản nhà đầu tư đạt khoảng 1,27 triệu tài khoản, trong đó số lượng tài khoản nhà đầu tư nước ngoài tăng 55%
Do vậy, Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2013 đã có những diễn biến
và kết quả khả quan Chỉ số VN-Index tăng gần 23%; HN-Index tăng trên 13% so với cuối năm 2012 Thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh giá là 1 trong những nước có mức độ phục hồi mạnh nhất trên thế giới Mức vốn hóa vào khoảng 964.000 tỷ đồng (tăng 199.000 tỷ đồng so với cuối năm 2012), tương đương 31% GDP
Trong năm qua, tổng giá trị vốn huy động qua thị trường chứng khoán ước đạt
222.000 tỉ đồng, tăng 25% so với năm 2012 Trong đó vốn huy động qua cổ phiếu là 20.500 tỉ đồng, tăng 22% và vốn huy động qua trái phiếu Chính phủ đạt 177.500 tỉ đồng, tăng 24% Hiện có gần 1,4 triệu tài khoản nhà đầu tư trên thị trường với bình quân gần 1400 tỷ đồng được rót vào thị trường mỗi phiên Diễn biến giao dịch 12 tháng qua cho thấy sự sôi động chỉ dồn vào đầu và cuối năm, còn quý II và quý III giao dịch lại có phần trầm lắng Theo thống kê, phiên giao dịch ngày 02/08 là phiên
Trang 40có khối lượng giao dịch thấp nhất trong năm, chỉ có 36,2 triệu đơn vị chuyển nhượng tương đương 571 tỷ đồng VN-Index trượt khỏi mốc 500 điểm trong một thời gian dài Hiệu quả tích cực từ các thông tin kinh tế vĩ mô như dự thảo nới room cho khối ngoại, gói hỗ trợ bất động sản 30.000 tỷ đồng, VAMC được chính thức thành lập và đi vào hoạt động đã hỗ trợ đáng kể cho thị trường Ngày 21/11/2013 được coi là ngày giao dịch khủng với 274 triệu đơn vị đã được chuyển nhượng, tương đương 3181,5 tỷ đồng
Tiến trình tái cấu trúc năm 2013 được đánh giá trên một số tiêu chí sau:
Một là, tái cấu trúc cơ sở hàng hóa trên Thị trường chứng khoán Nhằm
tạo thuận lợi cho quá trình tái cấu trúc các công ty niêm yết qua quá trình hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp, năm 2013, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 73/2013/TT-BTC hướng dẫn về việc niêm yết của công ty cổ phần hình thành sau quá trình hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp
Hai là, tái cấu trúc thị trường trái phiếu Lộ trình phát triển thị trường trái
phiếu đến năm 2020 đã được Bộ Tài chính ban hành tại Quyết định số 261/ BTC ngày 01/02/2013, trong đó qui định chi tiết các giải pháp và kế hoạch triển khai cụ thể nhằm thúc đẩy thị trường trái phiếu, bao gồm việc tiêp tục đẩy mạnh và
QĐ-đa dạng hóa Trái Phiếu Chính Phủ có kỳ hạn từ 10 năm trở lên; củng cố hệ thống nhà đầu tư; hoàn thiện cơ chế và hệ thống giao dịch Trái Phiếu Chính Phủ và xây dựng và phát triển hệ thống các nhà tạo lập thị trường
Ba là, tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư Số lượng tài khoản nhà đầu tư đến nay
đạt trên 1,2 triệu, trong đó số lượng nhà đầu tư nước ngoài tăng 10%; đặc biệt là nhà đầu tư tổ chức nước ngoài tăng 55% so với cuối năm 2012 Để phát triển cơ sở các nhà đầu tư, trong thời gian qua đã triển khai đồng loạt các giải pháp: Xây dựng khung pháp lý cho việc ra đời các loại hình quỹ mới như quỹ mở, quỹ đầu tư bất động sản, ETF, công ty đầu tư chứng khoán đã được ban hành
Hiện nay đã có 08 quỹ mở được Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước cấp phép chào bán, thành lập.Dự kiến sẽ có trên 05 quỹ mở mới trong thời gian tới Đây là tín hiệu thu hút vốn trong và ngoài nước nhằm tăng sức cầu của thị trường Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước đang triển khai xây dựng hệ thống giao dịch các sản phẩm mới như quỹ ETF quỹ mở để đưa vào vận hành