quản trị chi phí là bộ phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM
NGUYỄN THỊ CA
XÂY DỰNG MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ CHO CÁC DOANH NGHIỆP SX, CHẾ BIẾN GỖ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : KẾ TOÁN
Mã số ngành: 60340301
TP H Ồ CHÍ MINH, tháng 8 năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM
NGUYỄN THỊ CA
XÂY DỰNG MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ CHO CÁC DOANH NGHIỆP SX, CHẾ BIẾN GỖ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC
Trang 3CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày … tháng … năm …
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
Trang 4NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: NGUYỄN THỊ CA Giới tính : Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 10/07/1983 Nơi sinh : Thái Bình
I- Tên đề tài: Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp SX, chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Phước
II- Nhiệm vụ và nội dung:
- Nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi
phí trong các DN chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Phước
- Xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến các nhân tố cấu thành nên KTQT chi phí
- Xây dựng mô hình, đề ra các phương thức áp dụng KTQT chi phí cho doanh nghiệp chế biến gỗ, giúp ích cho doanh nghiệp trước các rủi ro tiềm ẩn trong kinh doanh, nắm bắt thời cơ phát triển
III- Ngày giao nhiệm vụ : Ngày 01 tháng 09 năm 2014
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ : Ngày 20 tháng 6 năm 2015
V- Cán bộ hướng dẫn : TS.TRẦN ĐÌNH PHỤNG
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
TS.TRẦN ĐÌNH PHỤNG
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn thị Ca
Trang 6LỜI CÁM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Đình Phụng, người Thầy đã tận tình hướng dẫn, định hướng và góp ý giúp cho Tôi hoàn thành luận văn này
Xin cám ơn quý Thầy, Cô Trường Đại Học Công Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh, những người đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong thời gian Tôi theo học tại Trường
Xin chân thành cám ơn các anh, chị lãnh đạo, nhân viên trong doanh nghiệp chế biến gỗ tại Bình Phước đã tạo điều kiện và hỗ trợ cho tôi trong việc thu thập các số liệu có liên quan đến đề tài
Và cuối cùng, Tôi xin chân thành cám ơn tất cả những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tận tình hỗ trợ, góp ý và động viên Tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Học viên thực hiện Luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn thị Ca
Trang 7dù thị trường khá rộng nhưng mức độ cạnh tranh trong ngành càng tăng, nhất
là với các công ty chế biến gỗ Đài Loan Sự cạnh tranh giữa các công ty trong
nước và nước ngoài chủ yếu là cạnh tranh về giá cả Hơn nữa, ngành sản xuất
đồ gỗ xuất khẩu phụ thuộc rất lớn vào yếu tố mùa vụ nên ngoài mẫu mã, chất
lượng thì giá cả trở thành một yếu tố quan trọng trong việc mở rộng thị
trường kinh doanh Chính vì vậy, thông tin về chi phí trong các doanh nghiệp chế biến gỗ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp nhà quản trị kiểm soát chi phí và đưa ra các quyết định sách lược với các sản phẩm có giá cả cạnh tranh Từ đó, doanh nghiệp có thể có nhiều khách hàng, tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm tạo ra nhiều lợi nhuận
quản trị chi phí là bộ phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý Tổ chức mô hình kế toán quản trị chi phí cần tuỳ thuộc vào điều kiện thực tiễn cũng như đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của từng đơn vị để có thể phát huy tốt nhất vai trò của kế toán quản trị chi phí Thực tế áp dụng các mô hình kế toán quản trị chi phí tại các quốc gia trên thế giới rất phong phú Mặc dù các lý thuyết kế toán quản trị chi phí có sự phát triển từ các mô hình truyền thống tới các mô hình hiện đại, nhưng trên thực tế các mô hình kế toán quản trị chi phí truyền thống vẫn đang được áp dụng phổ biến ở nhiều nơi, nhất là tại các quốc gia đang phát triển
Trang 8Thực trạng kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp chế biến, sx gỗ tại Bình Phước cho thấy, các doanh nghiệp đang có nhu cầu cấp thiết phải xây dựng kế toán quản trị chi phí phù hợp với môi trường pháp luật, kinh tế và đặc thù hoạt động của doanh nghiệp này nhằm khai thác được những ứng dụng của kế toán quản trị chi phí nhằm giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có những thông tin kinh tế hữu ích, kịp thời để đưa ra quyết định trong bối cảnh kinh tế phát triển với tốc độ nhanh chóng.
Với mục đích nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất , chế biến gỗ của trong bối cảnh nền kinh tế đang phải cạnh tranh gay gắt với các doanh
Trang 9
Manufacturing industry and wood processing plays an important role in Vietnam's economy in general economic and Binh Phuoc province in particular According to statistics, there are currently more than 2,500 wood processing enterprises, of which 970 enterprises specialized in processing export furniture, more than 400 enterprises and foreign invested businesses have developed into sets large corporations Although the market is quite large, but the level of competition
in the sector is increasing, especially with the wood processing company in Taiwan The competition between companies in the country and abroad compete mainly on price Moreover, furniture manufacturing industry exports depend greatly on seasonal factors should external design, the quality, the price becomes a key factor
in expanding the business market Therefore, information on the cost of wood processing enterprises play a very important role in helping administrators to control costs and take decisions with strategy products at competitive prices Since then, the enterprise may have many customers, increase product sales generate more profits
Management Accounting costs are part of management accounting system to provide information on the costs to each organization performing administrative functions element of consumer resources for activities aimed at building plans Planning, control, performance evaluation and rational decisions Organization model of management accounting costs necessary depending on the practical conditions and characteristics of the organization of production and business operations of each unit in order to best promote the role of management accounting costs Actual application of the model of management accounting costs in the countries of the world are plentiful Although the theory of management accounting costs of the development from traditional models to modern models, but in fact the model of management accounting costs of traditional still apply common in many areas, especially in developing countries
Status of management accounting costs in the processing business, timber production in Binh Phuoc shows, businesses have an urgent need to establish cost accounting management consistent with environmental law, business and specific economic activities of enterprises to exploit the application of cost accounting
Trang 10management to help business executives with economic information useful and timely to make a decision in the face economic conditions develop at a rapid pace chong.Truoc that reality project "Building a model of international economic costs
to businesses processing and production of wood in the province of Binh Phuoc" was selected for study thesis
With the aim of enhancing the competitiveness of enterprises manufacturing, wood processing in the context of Binh Phuoc economies to stiff competition with foreign firms, research essays elucidate reality KTQT costs in business and thereby provide some solutions in the international economic modeling and processing enterprises, production of wood in the province of Binh Phuoc
Trang 11DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ABC :Activity Based Costing
BCĐKT :Bảng cân đối kế toán
BCKQKD :Báo cáo kết quả kinh doanh
BCLC :Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
BMI :Business Monitoánr International
CCDC :Công cụ dụng cụ
CNTT :Công nhân trực tiếp
CPSXC :Chi phí sản xuất chung
Trang 12TTSX :Trực tiếp sản xuất
KTQT : Kế toán quản trị
DNSX : Doanh nghiệp sản xuất
FDI : Foreign Direct Investment (vốn đầu tư nước ngoài)
FAO :(Food and Agriculture Organization) : tổ chức lương thực
và nông nghiệp
Trang 13DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2 1 Phân loại chi phí theo phương pháp chi phí toàn bộ và phương pháp chi
phí trực tiếp 34
Bảng 2 2 Phân tích điểm hoà vốn 45
Bảng 2 3 Mẫu báo cáo bộ phận 52
Bảng 4 1 Báo cáo phân loại chi phí theo mức độ hoạt động 86
Bảng 4 2 Định mức nguyên vật liệu trực tiếp 88
Bảng 4 3 Bảng định mức chi phí nhân công trực tiếp 88
Bảng 4 4 Bảng tổng hợp định mức chi phí sản xuất 89
Bảng 4 5 Dự toán chi phí tổ sản xuất……(tủ,bàn,ghế….) 91
Bảng 4 6 Bảng hệ số phân bổ chi phí Sxc theo hoạt động 94
Bảng 4 7 Bảng phân bổ chi phí SXC theo hoạt động 95
Bảng 4 8 Báo cáo tổng hợp chi phí 96
Bảng 4 9 Báo cáo nhân tố ảnh hưởng 96
Bảng 4 10 Biểu đánh giá chấp nhận hay từ chối đơn hàng 98
Bảng 4 11 Xác định giá bán sản phẩm 99
Trang 14DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2 1 Sơ đồ Các chức năng của quản trị (Nguồn: Bộ môn Quản trị nhân sự và Chiến lược Kinh doanh - Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh (2006), Quản trị
học) 13
Hình 2 2 Phân loại chi phí 18
Hình 2 3 Đồ thị phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động 21
Hình 2 4 Đồ thị ước tính chi phí theo phương pháp biểu đồ phân tán 22
Hình 2 5 Sơ đồ phương pháp chi phí thông thường 31
Hình 2 6 Sơ đồ phương pháp xác định chi phí theo công việc 36
Hình 2 7 Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất 38
Hình 2 8 Sơ dồ phương pháp xác định chi phí theo chu kỳ sống của sản phẩm 42
Hình 2 9 Bộ máy kế toán quản trị chi phí trong cơ cấu tổ chức doanh nghiệp 57
Hình 3 1 Sơ đồ mô hình KTQT chi phí hiệu chỉnh 69
Hình 4 1 Sơ đồ mô hình kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị 82
Trang 15MỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT iii
ABSTRACT v
DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH M ỤC CÁC HÌNH x
M ỤC LỤC xi
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Tính c ấp thiết của đề tài 2
1.3 M ỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 M ục tiêu của đề tài 2
1.3.2 Nội dung nghiên cứu 2
1.3.3 P hương pháp nghiên cứu 3
1.3 T ỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG QU ẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 6
2.1 B ẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 6
2.1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí 6
2.1.2 Sơ lược về sự ra đời và quá trình phát triển của kế toán quản trị chi phí 9
2.2 CH ỨC NĂNG, VAI TRÒ VÀ MÔ HÌNH LÝ THUYẾT CƠ BẢN CỦA KẾ TOÁN QU ẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 11
2.2.1 Ch ức năng của quản trị doanh nghiệp 11
2.2.2 Vai trò của KTQT chi phí trong doanh nghiệp 14
2.3 N ỘI DUNG VỀ KTQT CHI PHÍ 16
2.3.1 Khái ni ệm và phân loại chi phí 17
2.3.2 Dự toán chi phí sản xuất – kinh doanh 26
2.3.4 Phân tích chi phí để ra quyết định kinh doanh 44
2.3.5 Đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận 51
2.3.6 Tổ chức mô hình kế toán quản trị chi phí 53
Trang 16
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SX, CHẾ BIẾN GỖ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 59
3.1 GI ỚI THIỆU CHUNG VỀ TỈNH BÌNH PHƯỚC 59
3.2 KH ẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHI ỆP SX, CHẾ BIẾN GỖ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 60
3.2.1 Th ực trạng ngành gỗ ở Tỉnh Bình Phước 60
3.2.2 Kh ảo sát 61
3.2.3 K ết quả nghiên cứu quan sát 65
3.3 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ Ở CÁC DOANH NGHIỆP SX, CHẾ BI ẾN GỖ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 75
3.3.1 Th ực trạng tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí (Môi trường hoạt động) 75
3.3.2 Th ực trạng về nhu cầu của nhà quản lý đối với KTQT chi phí 76
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 3 78
CHƯƠNG 4: VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ VÀO CÁC DOANH NGHI ỆP SX, CHẾ BIẾN GỖ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 81
4.1 MỤC TIÊU VÀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ VÀO CÁC DOANH NGHI ỆP SX, CHẾ BIẾN GỖ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 81
4.1.1 Mục tiêu vận dụng kế toán quản trị chi phí 81
4.2 V ẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SX, CH Ế BIẾN GỖ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 82
4.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán tài chính và kế toán quản trị theo mô hình kết h ợp 82
4.2.2 Phân lo ại chi phí phục vụ cho kế toán quản trị 85
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 4 100
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
5.1 Về phía Nhà nước 103
Trang 175.2 Về phía các doanh nghiệp 105 TÀI LI ỆU THAM KHẢO 108
Trang 18CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
2013, giá trị kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ cả nước ước đạt 5,37 tỉ USD, tăng hơn 15% so với năm 2012 Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu của ngành chế biến đồ gỗ năm 2014 đạt khoảng 6,2 tỷ USD,
tăng trên 9% so với năm 2013 và dự kiến phấn đấu đến năm 2020 ngành gỗ Việt Nam sẽ đạt mốc 7 tỷ USD Xuất khẩu đồ gỗ, đặc biệt là đồ gỗ ngoài trời của Việt Nam trong thập niên vừa qua tăng rất mạnh, đã đưa Việt Nam vào nhóm 10 nước xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất trên thế giới (FAO) Thị trường chính của đồ gỗ Việt Nam là Hoa Kỳ (39%); EU (14%); Nhật Bản (14%); Trung Quốc (15%); các thị trường khác 13% và năm 2013 còn có thêm thị trường mới nổi là Hàn Quốc chiếm 5%
Mặc dù thị trường khá rộng nhưng mức độ cạnh tranh trong ngành càng
tăng, nhất là với các công ty chế biến gỗ Đài Loan Sự cạnh tranh giữa các công ty trong nước và nước ngoài chủ yếu là cạnh tranh về giá cả Hơn nữa, ngành sản xuất đồ gỗ xuất khẩu phụ thuộc rất lớn vào yếu tố mùa vụ nên ngoài mẫu mã, chất lượng thì giá cả trở thành một yếu tố quan trọng trong việc mở rộng thị trường kinh doanh Chính vì vậy, thông tin về chi phí trong các doanh nghiệp chế biến gỗ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp nhà quản trị kiểm soát chi phí và đưa ra các quyết định sách lược với các sản phẩm có giá cả cạnh tranh Từ đó, doanh nghiệp có thể có nhiều khách hàng,
tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm tạo ra nhiều lợi nhuận
Trang 191.2 Tính cấp thiết của đề tài
Đóng vai trò không thể thiếu trong việc cung cấp thông tin về chi phí là
hệ thống kế toán chi phí Kế toán chi phí tồn tại hầu hết trong các công ty, tuy nhiên chỉ mới tập trung vào công tác kế toán tài chính, chưa hướng vào việc cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát và đánh giá việc lập kế hoạch trong nội bộ công ty Kế toán quản trị chi phí của các công ty chủ yếu là công tác kế toán tài chính, phục vụ lập các báo cáo tài chính Hệ thống kế toán chi phí của các công ty chưa thực hiện phân loại chi phí theo mức độ hoạt động, chưa tính giá thành theo phương pháp trực tiếp, chưa lập
dự toán chi phí và phân tích biến động chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh Với hệ thống kế toán chi phí này, thông tin chi phí của các công
ty khó có thể phù hợp, kịp thời và tin cậy cho việc ra các quyết định kinh doanh của các nhà quản trị, làm giảm sức cạnh tranh của công ty
Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh, các doanh nghiệp sản xuất, chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Phước cần khẩn trương xây dựng hệ thống kế toán quản trị chi phí để phục vụ cho việc quản lý công ty Đó là lý do tôi chọn
đề tài luận văn nghiên cứu: “Xây dưng mô hình kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp sản xuất, chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Phước”
1.3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.3 1 Mục tiêu của đề tài
Cùng với việc hệ thống hóa lý thuyết về kế toán quản trị chi phí phục vụ cho quản trị nội bộ, luận văn phân tích thực trạng vận dụng kế toán quản trị tại các doanh nghiệp chế biến gỗ nhằm phục vụ cho quản trị chi phí tại doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh trong môi trường kinh doanh đầy cạnh tranh
1.3 2 Nội dung nghiên cứu
Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí
Nghiên cứu kế toán quản trị chi phí phục vụ cho quản trị nội bộ trong các doanh nghiệp chế biến gỗ
Trang 201.3.3 Phương pháp nghiên cứu
1.3.3.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài kết hợp định tính và định lượng
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận bằng phương pháp nghiên cứu định tính Thu thập thông tin qua các nguồn dữ liệu thứ cấp từ giáo trình, báo, tạp chí, luận văn, luận án, nghiên cứu khoa học, chế độ kế toán,… từ đó tổng hợp và phân tích nhằm hệ thống lý luận về các vấn đề liên quan đến KTQT chi phí
- Nghiên cứu các vấn đề thực tiễn thông quan phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Được thực hiện thông qua việc khảo sát phỏng vấn trực tiếp với các kế toán trưởng, nhân viên kế toán, giám đốc đang làm việc tại các DN sản xuất , chế biến gỗ thông qua bảng câu hỏi được thiết kế sẵn
Từ đó thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích, đánh giá những ưu điểm cũng như hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế này để có thể đưa
ra các giải pháp xây dựng mô hình KTQT phù hợp hơn cho các DN chế biến
gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Phước
Phương pháp nghiên cứu chung của luận văn là kết hợp giữa nghiên cứu
lý luận với tổng kết thực tiễn Trên cơ sở đó luận văn sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp các số liệu thực tế của doanh nghiệp để làm rõ vấn
đề cần nghiên cứu và đưa ra các giải pháp thực hiện Do vậy, các phân tích của luận văn sẽ dựa trên cơ sở các lý luận chung và so sánh với tình hình thực
tế của các doanh nghiệp
1 3 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
Đặc điểm ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam
CBG là quá trình chuyển hóa gỗ nguyên liệu dưới tác dụng của thiết bị, máy móc hoặc công cụ hóa chất để tạo thành các SP có hình dạng, kích thước, thành phần hóa học làm thay đổi hẳn so với nguyên liệu ban đầu Kỹ thuật chế biến theo phương pháp cơ giới chủ yếu là kỹ thuật xẻ gỗ, sấy gỗ và bảo quản gỗ Riêng công đoạn bảo quản gỗ là phần sử dụng nhiều chất hóa học để
Trang 21ngâm tẩm, xử lý và bảo quản gỗ Gỗ mới khai thác có độ ẩm cao, công đoạn sấy chỉ là bước làm khô, muốn giữ gỗ có độ bền và đảm bảo chất lượng cho vòng đời SP gỗ phải có công đoạn ngâm tẩm để bảo quản và gìn giữ chất
lượng SP sau khi SX
Kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp đã được rất nhiều tác
giả nghiên cứu, cụ thể tiêu biểu là luận tiến sĩ chuyên ngành kế toán, tài vụ và phân tích hoạt động kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc Dân; tác giả Phạm Thị Thủy (2007) “Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam” Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận
kế toán quản trị chi phí, sử dụng phương pháp điều tra thống kê để nghiên cứu thực trạng kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam và xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam Mô hình này bao gồm: phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ với mức độ hoạt động, lập dự toán chi phí, xác định khối lượng sản xuất hợp lý cho từng lô, tính giá thành cho từng lô sản phẩm theo phương pháp chi phí thông thường, chi phí sản xuất chung được tách thành hai nhóm, theo cấp lô sản phẩm và theo cấp phân
xưởng, phân tích biến động chi phí, lập báo cáo kết quả kinh doanh theo sản phẩm, theo bộ phận sản xuất và xây dựng giá chuyển nhượng giữa bộ phận sản xuất và các chi nhánh tiêu thụ để tăng cường trách nhiệm của các chi nhánh tiêu thụ đối với hoạt động của toàn doanh nghiệp
Tuy nhiên, các nghiên cứu vẫn chưa có nghiên cứu về hệ thống kế toán quản trị chi phí áp dụng cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất các sản phẩm từ gỗ trong nước nói chung và tại tỉnh Bình Phước nói riêng Do đó, vấn đề luận văn nghiên cứu là “Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp sản xuất, chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Phước” Vì vậy, để đạt được mục tiêu trên, tác giả nghiên cứu cơ sở lý thuyết kế toán quản trị chi phí, tìm hiểu thực trạng kế toán quản trị chi phí tại các doanh
Trang 22nghiệp và vận dụng kế toán quản trị chi phí vào hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp sx, chế biến gỗ
Trang 23CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
CHI PHÍ TRONG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
2.1 BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
2.1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán, chính vì vậy, bản chất của kế toán quản trị chi phí trước hết thể hiện ở bản chất của kế toán Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu đời, có rất nhiều định nghĩa về
kế toán dưới các góc độ khác nhau, tuy nhiên trong phần này tác giả chỉ phân tích hai định nghĩa cơ bản dưới góc độ bản chất và nội dung của kế toán Thứ nhất, kế toán được định nghĩa là một bộ phận của hoạt động quản lý, với chức năng xử lý và cung cấp thông tin thực hiện về khách thể quản lý cho chủ thể quản lý Định nghĩa này hướng về bản chất của kế toán Quá trình sản xuất ra của cải vật chất là yêu cầu tất yếu khách quan cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Để quá trình sản xuất được thực hiện một cách có hiệu quả, nhất thiết phải có hoạt động quản lý, tức là hoạt động định hướng cho quá trình sản xuất và tổ chức thực hiện theo những hướng đã định Trong hoạt động quản lý này, kế toán đóng vai trò là cầu nối thông tin giữa khách thể quản lý (quá trình sản xuất) và chủ thể quản lý (các cơ quan quản lý) Thứ hai, kế toán được định nghĩa là một quá trình định dạng, đo lường, ghi chép và cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế của một tổ chức Định nghĩa này hướng về nội dung của kế toán Dưới góc độ này, kế toán cần áp dụng hệ thống các phương pháp đặc thù (chứng từ, đối ứng tài khoản, tính giá
và tổng hợp – cân đối) để cung cấp các thông tin phù hợp, tin cậy, nhất qu và
so sánh được nhằm giúp cho những người sử dụng thông tin đưa ra được các quyết định đúng đắn đối với tổ chức
Như vậy, xét một cách tổng quát, kế toán quản trị chi phí có bản chất là một bộ phận của hoạt động quản lý và nội dung của kế toán quản trị chi phí là quá trình định dạng, đo lường, ghi chép và cung cấp các thông tin của chi phí hoạt động kinh tế của một tổ chức
Trang 24Để cụ thể hoá nội dung và chức năng của kế toán quản trị chi phí chúng ta
sẽ phân tích đối tượng sử dụng thông tin kế toán
Có hai loại đối tượng sử dụng thông tin kế toán là bên ngoài tổ chức và nội
bộ tổ chức Đối tượng sử dụng thông tin kế toán bên ngoài tổ chức là các cổ đông, ngân hàng, nhà cung cấp, khách hàng, cơ quan thuế, … Đối tượng sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ tổ chức là các nhà quản lý các cấp (ban giám đốc và lãnh đạo các bộ phận) trong tổ chức Mặc dù cần đến thông tin về cùng một tổ chức, nhưng hai loại đối tượng này cần những thông tin với các tính chất khác nhau Bên ngoài tổ chức cần thông tin tổng quát về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh tế của tổ chức Các nhà quản lý trong nội bộ trong tổ chức cần thông tin chi tiết theo từng mặt hoạt động nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động và thiết lập kế hoạch trong tương lai cho tổ chức
Để cung cấp thông tin cho cả hai loại đối tượng này hệ thống kế toán trong
tổ chức được chia thành hai bộ phận: hệ thống kế toán tài chính và hệ thống
kế toán quản trị Kế toán tài chính chủ yếu cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý bên ngoài tổ chức, còn kế toán quản trị hướng tới mục tiêu cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý trong nội bộ tổ chức
Kế toán quản trị thường được định nghĩa là quá trình định dạng, đo lường, tích luỹ, phân tích, thiết lập, diễn giải và cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, đánh giá, kiểm soát tổ chức và bảo đảm cho việc sử dụng hợp lý các nguồn lực của tổ chức Khái niệm này tập trung vào việc xác định nội dung, mục đích của kế toán quản trị, phân định ranh giới giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính Mục đích chủ yếu của kế toán quản trị là cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong nội
bộ tổ chức để đánh giá, kiểm soát quá trình hoạt động trong khi mục đích chủ yếu của kế toán tài chính là cung cấp cơ sở thông tin cho các nhà đầu tư, các ngân hàng, các đối tác ký kết các hợp đồng kinh tế đối với tổ chức Với mục đích khác nhau nên nội dung của kế toán quản trị và kế toán tài chính cũng khác nhau Kế toán quản trị cung cấp thông tin hướng về tương lai của tổ
Trang 25chức, trong khi kế toán tài chính cung cấp thông tin về quá khứ của tổ chức
Kế toán quản trị không chỉ cung cấp thông tin tài chính mà còn cung cấp thông tin phi tài chính về các quá trình hoạt động trong nội bộ tổ chức cũng như môi trường bên ngoài tổ chức Hơn nữa, kế toán quản trị không phải tuân thủ theo các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán ban hành mà được thực hiện một cách linh hoạt nhằm đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu quản trị trong nội bộ tổ chức
Bên cạnh khái niệm kế toán tài chính và kế toán quản trị còn có khái niệm kế toán chi phí Theo Viện kế toán viên quản trị của Mỹ (IMA), kế toán chi phí được định nghĩa là “ kỹ thuật hay phương pháp để xác định chi phí cho một dự , một quá trình hoặc một sản phẩm… Chi phí này được xác định bằng việc đo lường trực tiếp, kết chuyển tuỳ ý, hoặc phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý.” Theo định nghĩa này, kế toán chi phí không phải là một bộ phận độc lập, một phân hệ thứ ba của hệ thống kế toán, mà kế toán chi phí vừa là một bộ phận của kế toán tài chính và vừa là một bộ phận của kế toán quản trị
Dưới góc độ kế toán tài chính, bộ phận kế toán chi phí có chức năng tính toán, đo lường chi phí phát sinh trong tổ chức theo đúng các nguyên tắc
kế toán để cung cấp thông tin về giá vốn hàng bán, các chi phí hoạt động trên báo cáo kết quả kinh doanh và giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán Dưới góc độ kế toán quản trị, bộ phận kế toán chi phí có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chi phí và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ, các hoạt động và các bộ phận của tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động kinh doanh
Bên cạnh quan điểm coi kế toán chi phí vừa là một bộ phận của kế toán tài chính và vừa là một bộ phận của kế toán quản trị còn có quan điểm đồng nhất kế toán chi phí với kế toán quản trị Quan điểm này xuất phát từ thực tế khách quan là thông tin chi phí cho các mục đích quản trị nội bộ ngày càng quan trọng đối với sự sống còn của tổ chức Các nhà quản trị của tổ chức
Trang 26không phải đơn thuần chỉ cần quyết định được chi phí giá vốn của hàng b hoặc dịch vụ cung cấp mà quan trọng hơn, họ cần phải có khả năng kiểm soát chi phí của các hoạt động và các quá trình trong ngắn hạn cũng như dài hạn Theo tác giả, quan điểm đồng nhất kế toán chi phí với kế toán quản trị sẽ dẫn đến sự “thiên vị” khi xây dựng hệ thống kế toán chi phí trong các tổ chức Hệ thống kế toán chi phí theo quan điểm này sẽ quá tập trung vào việc cung cấp thông tin cho quản trị nội bộ và sẽ sao nhãng việc cung cấp thông tin trung thực và khách quan cho việc lập các báo cáo tài chính
Theo tác giả, quan điểm kế toán chi phí vừa có trong hệ thống kế toán tài chính và vừa có trong hệ thống kế toán quản trị là hoàn toàn hợp lý, trong
đó bộ phận kế toán chi phí trong hệ thống kế toán quản trị được gọi là kế toán quản trị chi phí Quan điểm này thể hiện đúng bản chất, chức năng của kế toán chi phí và sẽ giúp ích trong việc xây dựng hệ thống kế toán chi phí hiệu quả trong các tổ chức, với việc kết hợp hài hoà các mục tiêu của hệ thống kế toán tài chính và hệ thống kế toán quản trị
Với các phân tích trên, tác giả cho rằng kế toán quản trị chi phí là một
bộ phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý Quan điểm này sẽ là cơ sở cho tất cả các phân tích khác được trình bày trong nội dung luận văn
2.1.2 Sơ lược về sự ra đời và quá trình phát triển của kế toán quản trị chi phí
Cùng với sự ra đời và phát triển của kế toán nói chung, kế toán quản trị chi phí cũng có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, từ những hình thức sơ khai trong quá khứ tới các phương pháp kỹ thuật hiện đại và phức tạp ngày nay
Kế toán ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của xã hội loài người Có những bằng chứng cho thấy ngay từ thời Cổ đại (trước thế kỷ
Trang 27VI) đã xuất hiện những hình thức sơ khai của kế toán Tuy nhiên, vai trò của
kế toán thời kỳ này chỉ đơn thuần là ghi nhận về kết quả lao động hoặc theo dõi về tài sản của các bậc vua chúa
Thời Trung cổ (thế kỷ VI – thế kỷ XV) những hình thức ban đầu của kế toán quản trị chi phí đã xuất hiện trong các phường hội Các nhà sản xuất (các phường hội) đã ghi chép các sổ sách về các chi phí vật liệu và nhân công và coi đó như là các bằng chứng về chất lượng của sản phẩm
Thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XV – thế kỷ XVI), cùng với sự phát triển của hệ thống kế toán nói chung (đánh dấu bằng sự xuất bản cuốn sách của Fra Lucas Pacioli ở Ý năm 1494, trong đó có viết về phương pháp “ghi sổ kép”- phương pháp kế toán cơ bản vẫn được sử dụng trong kế toán hiện đại ngày nay), những nguyên lý cơ bản của kế toán quản trị chi phí hiện đại đã bắt đầu xuất hiện, như các ý niệm về định mức nguyên vật liệu, năng suất của công nhân, các phiếu theo dõi chi phí của từng công việc, và các dự toán Kế toán quản trị chi phí thời kỳ này hướng vào việc trợ giúp cho các quyết định đầu tư tài sản cố định, quản lý chi phí và định giá sản phẩm
Cuộc cách mạng công nghiệp (cuối thế kỷ XVIII) làm thay đổi diện mạo kinh
tế thế giới Hình thức của các tổ chức kinh tế có sự đổi mới căn bản: chủ sở hữu tách biệt với nhà quản lý Đặc điểm của quá trình sản xuất cũng phát triển từ sản xuất theo kiểu thủ công, hộ gia đình sang sản xuất tại các nhà máy điện khí hoá và cơ khí hoá, với các sản phẩm được tiêu chuẩn hoá Môi trường sản xuất kinh doanh mới đã tạo ra cơ sở cho việc phân loại chi phí sản xuất một cách hợp lý Kế toán quản trị chi phí có những bước phát triển mới
và bắt đầu được chuẩn hoá với sự ra đời của cuốn sách Cost of Manufacturers
(Chi phí của các đơn vị sản xuất) của Henry Metcalf năm 1885
Cùng với sự đổi mới nền kinh tế sang cơ chế thị trường, khái niệm về
kế toán quản trị và kế toán quản trị chi phí xuất hiện tại Việt Nam từ đầu những năm 1990 Phương hướng ứng dụng kế toán quản trị vào thực tiễn các
Trang 28doanh nghiệp Việt Nam được bàn luận ngày càng nhiều, tuy nhiên thực tế áp dụng kế toán quản trị tại các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế
2.2 CHỨC NĂNG, VAI TRÒ VÀ MÔ HÌNH LÝ THUYẾT CƠ BẢN CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
2.2.1 Chức năng của quản trị doanh nghiệp
Như phần trên đã trình bày, kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của
hệ thống kế toán nhằm cung cấp cho các nhà quản lý thông tin về chi phí để giúp họ thực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra - đánh giá việc thực hiện kế hoạch và ra quyết định Hoạt động quản lý là một quá trình khép kín từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, đến kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch Ra quyết định không phải là một chức năng độc lập của quản lý mà nó là một phần không thể tách rời của các chức năng lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra - đánh giá việc thực hiện kế hoạch, trong mỗi chức năng đó đều đòi hỏi nhà quản lý phải đưa ra các quyết định
Chức năng hoạch định: Hoạch định là quá trình xác định các mục tiêu
của doanh nghiệp và đề ra các giải pháp để thực hiện các mục tiêu đó Hoạch định được thể hiện ra thành kế hoạch Kế hoạch gắn liền với việc lựa chọn và tiến hành các chương trình hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp Kế hoạch cũng lựa chọn phương pháp tiếp cận hợp lý các mục tiêu định trước, vì thế có thể nói kế hoạch là việc xác định mục tiêu và cách thức để đạt được mục tiêu như là bắc một nhịp cầu từ trạng thái hiện tại của doanh nghiệp tới chỗ mà doanh nghiệp muốn có trong tương lai
Chức năng tổ chức thực hiện: Tổ chức có nghĩa là quá trình sắp xếp
và bố trí các công việc, giao quyền hạn và phân phối các nguồn lực của doanh nghiệp sao cho chúng đóng góp một cách tích cực và có hiệu quả vào mục tiêu chung của doanh nghiệp Đây là chức năng liên kết giữa con người với con người trong doanh nghiệp, mối quan hệ giữa con người và nguồn lực để
Trang 29thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp với hiệu quả cao nhất Chức năng này được hoạch định cụ thể bằng việc bố trí những công việc của thành viên, quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên
Trong việc điều hành, nhà quản trị giám sát hoạt động hàng ngày và giữ cho doanh nghiệp hoạt động liên tục Đây chính là giám sát công việc của từng thành viên, giải quyết những mâu thuẫn phát sinh trong sự liên kết các thành viên theo quyền hạn và trách nhiệm Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là quá trình so sánh giữa mục tiêu của kế hoạch với kết quả thực tế đã đạt được trong từng khoảng thời gian bảo đảm cho họat động thực tế phù hợp với kế hoạch đã đề ra hoặc tìm ra các giải pháp thay thế điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp trong trường hợp hoạt động thực tế xa rời kế hoạch Đây là hoạt động đảm bảo cho doanh nghiệp đi đúng mục tiêu, biểu hiện của chức năng này là việc nghiên cứu báo cáo kế toán, các báo cáo khác,so sánh báo cáo về hoạt động thực tế với kế hoạch để kịp thời điều chỉnh Trong quá trình thực hiện chức năng kiểm tra, nhà quản trị luôn tiếp xúc và ghi nhận luồng thông tin phản hồi từ thực tiễn và kịp thời chuyển hoá chúng thành thông tin kế hoạch, tương lai
Chức năng ra quyết định: Đây là chức năng lựa chọn những giải
pháp, phương tối ưu Ra quyết định không phải là một chức năng độc lập mà
nó luôn gắn liền với các chức năng khác, trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều hành hoặc kiểm tra luôn tồn tại chức năng ra quyết định
Trang 30Hình 2 1 Sơ đồ Các chức năng của quản trị (Nguồn: Bộ môn Quản trị nhân sự và Chiến lược Kinh doanh - Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh (2006), Quản trị học)
Chức năng ra quyết định : yêu cầu các nhà quản lý cần lựa chọn một
giải pháp hợp lý nhất trong số các phương đưa ra Với chức năng lập kế hoạch các nhà quản lý cần xây dựng các mục tiêu chiến lược cho doanh nghiệp và vạch ra các bước cụ thể để thực hiện các mục tiêu đó Với chức năng tổ chức, điều hành nhà quản lý cần quyết định cách sử dụng hợp lý nhất các nguồn lực của doanh nghiệp, với chức năng kiểm tra và đánh giá, các nhà quản lý cần so sánh báo cáo thực hiện với các số liệu kế hoạch để bảo đảm cho các bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện đúng các mục tiêu đã định hay đánh giá tình hình để hỗ trợ chức năng ra quyết định Để thực hiện tốt các chức năng quản trị doanh nghiệp, nhà quản trị cần nhiều thông tin khác nhau
kể cả thông tin trong doanh nghiệp cũng như thông tin ngoài doanh nghiệp, trong đó thông tin của kế toán về tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, có vai trò đặc biệt quan trọng Kế toán quản trị chi phí cung cấp cho nhà quản trị các thông tin kinh tế mang tính lượng hóa về tình hình hoạt động, thông tin về định mức và dự toán chi phí, thông tin về chi phí thực hiện, phân
LẬP KẾ HOẠCH
TỔ CHỨC THỰC HIỆN KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
RA QUYẾT ĐỊNH
Trang 31tích chi phí để ra quyết định của doanh nghiệp với thông tin về quá khứ, hiện tại cũng như những dự toán trong tương lai và được phân tích chuyên sâu theo nhu cầu của nhà quản trị Vì thế, thông tin kế toán quản trị cung cấp, đặc biệt
là thông tin về chi phí luôn cần thiết và hữu ích cho nhà quản trị với tất cả các chức năng từ lập kế hoạch, quyết định, tổ chức thực hiện, kiểm tra
2.2 2 Vai trò của KTQT chi phí trong doanh nghiệp
Kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc thực hiện các chức năng quản lý Để thực hiện vai trò của
mình, kế toán quản trị chi phí tiến hành lập dự toán chi phí để trợ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng lập kế hoạch; phản ánh thông
tin thực hiện để trợ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng
tổ chức thực hiện kế hoạch và xử lý thông tin thực hiện để từ đó các nhà quản
trị doanh nghiệp thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch Như vậy, kế toán quản trị chi phí đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho quản lý cả trước, trong và sau quá trình kinh doanh
Hoạch định: với các thông tin dự toán, kế toán quản trị chi phí giúp
các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng hoạch định Kế toán quản trị chi phí tiến hành cụ thể hoá các kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp thành các dự toán kinh doanh, cung cấp thông tin ước tính về chi phí cho các hàng hoá, dịch vụ hoặc các đối tượng chi phí khác theo yêu cầu của nhà quản
lý nhằm giúp họ ra các quyết định quan trọng về hàng hoá lựa chọn, cơ cấu mặt hàng hay phân bổ hợp lý các nguồn lực trung tâm chi phí của doanh nghiệp Có thể kể đến các dự toán chi phí điển hình mà kế toán quản trị cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp như dự toán về chi phí nguyên vật liệu,
cụ thể về chi phí tiền lương nhân viên trực tiếp sx, chi phí may đồng phục, chi phí bao gói sản phẩm, chi phí thuê cửa hàng, chi phí quảng cáo, hay chi phí giá vốn hàng bán cụ thể về số lượng, đơn giá, thành tiền của từng mặt hàng, từng nhóm hàng, Tổ chức thực hiện: Với các thông tin kế toán quản trị chi phí cung cấp ở dạng thông tin dự toán, thông tin thực hiện, thông tin đã phân
Trang 32tích, , nhà quản trị dễ dàng tổ chức thực hiện việc sắp xếp, bố trí các công việc, giao quyền hạn và phân phối nguồn lực để đạt hiệu quả cao nhất
Kiểm tra, đánh giá: Cùng với thông tin về dự toán, kế toán quản trị chi
phí còn cung cấp thông tin thực hiện nhằm giúp các nhà quản trị doanh nghiệp kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch và so sánh việc thực hiện với mục tiêu, với các công việc khác,…Các thông tin về quá khứ của kế toán quản trị không chỉ là cơ sở để lập dự toán chi phí mà còn là số liệu gốc quan trọng giúp ích cho các nhà quản lý phân tích, so sánh, đánh giá chi phí nhằm
kiểm soát chi phí để nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp Thông tin thực hiện kế toán quản trị chi phí cung cấp ở cả dạng thông tin tức thời và thông tin thống kê Ngoài ra, các báo cáo chi phí định kỳ của
kế toán quản trị còn giúp so sánh kết quả thực tế với mục tiêu dự kiến về chi phí, doanh thu và - lợi nhuận của doanh nghiệp, đây là cơ sở cho việc đánh giá hoạt động quản lý của từng trung tâm trách nhiệm trong doanh nghiệp
Ra quyết định: Các nhà quản trị doanh nghiệp luôn phải đối mặt với
những biến động của thị trường cũng như trong nội bộ doanh nghiệp Để ra quyết định đối phó với sự thay đổi nhà quản trị cần nhiều thông tin khác nhau, tuy nhiên hiện tượng “nhiễu” thông tin luôn xẩy ra và nhà quản trị phải nhận diện được thông tin phù hợp với việc ra quyết định của mình Trong các thông tin phù hợp đó, thông tin kế toán quản trị đóng vai trò nền tảng.Với mỗi quyết định nhà quản trị cần các thông tin kế toán quản trị ở một dạng khác nhau, vì thế kế toán phải phân tích thông tin theo từng yêu cầu của nhà quản trị, đặc biệt là các thông tin về chi phí Có thể kể đến những ứng dụng trong phân tích thông tin của kế toán quản trị chi phí như định giá bán sản phẩm, quyết định chấp nhận hay từ chối đơn hàng, xây dựng chiến lược, Định giá bán sản phẩm: Giá bán sản phẩm lệ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: đối thủ cạnh tranh, nhu cầu thị trường, giá nhập,…vì thế để định giá bán sản phẩm nhà quản trị cần nhiều thông tin về các yếu tố này một cách cập nhật, phù hợp,…Kế toán quản trị chi phí không chỉ cung cấp thông tin kịp thời và phù
Trang 33hợp mà còn có thể xử lý các thông tin này giúp các nhà quản lý doanh nghiệp
có những thông tin đã sàng lọc, đã xử lý để định giá bán sản phẩm
Quyết định chấp nhận hay từ chối đơn hàng: Đây là các quyết định
trong kinh doanh mà các doanh nghiệp phải lựa chọn trong việc kinh doanh hàng ngày Việc quyết định chấp nhận hay từ chối một đơn hàng thường phải dựa trên nhiều thông tin khác nhau nhưng thông tin về chi phí mà kế toán cung cấp có vai trò toán lớn, đặc biệt khi chúng được thể hiện dưới dạng có thể so sánh và đánh giá các phương khác nhau
Xây dựng chiến lược: Kế toán quản trị chi phí còn cung cấp các thông
tin thích hợp cho các nhà quản lý nhằm xây dựng các chiến lược cạnh tranh bằng cách thiết lập các báo cáo định kỳ và báo cáo đặc biệt Thông tin của kế toán quản trị về khả năng sinh lời của các bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp, các thông tin để phân bổ các nguồn lực của doanh nghiệp cũng như quyết định cơ cấu sản phẩm sản xuất và tiêu thụ, hay quyết định ngừng sản xuất hợp lý giúp cho các nhà quản lý đưa ra các quyết định chiến lược, như phát triển các sản phẩm và dịch vụ mới, đầu tư các thiết bị, nhà xưởng mới, đàm phán các hợp đồng dài hạn với các nhà cung cấp và các khách hàng
Đánh giá hiệu quả các bộ phận: Kế toán quản trị chi phí xây dựng các báo
cáo nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận bán hàng, bộ phận quản lý, các cửa hàng, các nhóm hàng, mặt hàng, nhằm tìm ra các giải pháp cải thiện tình hình yếu kém hay phát huy các lợi thế của các bộ phận
2.3 NỘI DUNG KTQT CHI PHÍ
Mô hình kế toán quản trị chi phí bao gồm những nội dung của kế toán quản trị chi phí và cách thức tổ chức thực hiện những nội dung đó Nội dung
cơ bản của kế toán quản trị chi phí bao gồm việc phân loại chi phí, lập dự toán chi phí, xác định giá phí của các sản phẩm sản xuất, phân tích chi phí để ra quyết định kinh doanh và đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận Trong phần này luận sẽ trình bày những nội dung cơ bản của kế toán quản trị chi
Trang 34phí theo các mô hình truyền thống và mô hình hiện đại cũng như các cách thức tổ chức thực hiện những nội dung này
2.3.1 Khái niệm và phân loại chi phí
Kế toán định nghĩa chi phí là các hy sinh về lợi ích kinh tế , hay nói một cách cụ thể hơn, chi phí phản ánh các nguồn lực mà tổ chức sử dụng để cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ Đứng trên góc độ bên ngoài doanh nghiệp (đối tượng sử dụng thông tin của kế toán tài chính), chi phí là các lợi ích kinh tế bị giảm sút trong kỳ kế toán dưới dạng các luồng ra hoặc tổn thất các tài sản hoặc gánh chịu các khoản nợ và làm giảm vốn chủ sở hữu mà không liên quan đến việc phân phối cho các chủ sở hữu Theo định nghĩa này, chi phí được xem xét dưới góc độ một khoản mục trên báo cáo tài chính,
nó được ghi nhận tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán và phải liên quan tới một kỳ kế toán nhất định Trên góc độ quản trị doanh nghiệp (đối tượng sử dụng thông tin của kế toán quản trị chi phí), phạm vi của của khái niệm chi phí rộng hơn rất nhiều so với quan điểm của kế toán tài chính và không thể có một định nghĩa đơn lẻ nào có thể giải thích đầy đủ cho khái niệm chi phí Chi phí phát sinh để sử dụng cho các mục đích khác nhau và cách thức sử dụng chi phí sẽ quyết định cách thức kế toán quản trị chi phí
Trong phần này luận văn sẽ khái quát chi phí theo các tiêu thức phân loại cơ bản sau: (1) cách sắp xếp chi phí trên các báo cáo tài chính, (2) khả năng qui nạp chi phí vào các đối tượng chịu phí, (3) mối quan hệ của chi phí với mức độ hoạt động, (4) ảnh hưởng tới việc lựa chọn các phương án và (5) thẩm quyền ra quyết định Các cách phân loại này được khái quát trên hình 2
Trang 35Hình 2 2 Phân loại chi phí
2.3.1.1 Phân loại chi phí theo cách sắp xếp trên các báo cáo tài chính
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ
Chi phí sản phẩm là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản
xuất sản phẩm Chi phí sản phẩm bao gồm các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là các chi phí về nguyên vật liệu cấu thành thực thể của sản phẩm và có thể xác định trực tiếp cho từng sản phẩm Chi phí nhân công trực tiếp là các khoản thù lao cho công nhân trực tiếp sản xuất và các khoản thù
KHẢ NĂNG QUI NẠP CHI
PHÍ VÀO CÁC ĐỐI TƯỢNG
CHỊU PHÍ
• Chi phí trực tiếp
• Chi phí gián tiếp
MỐI QUAN HỆ CỦA CHI PHÍ
Trang 36lao này có thể xác định trực tiếp cho từng sản phẩm Chi phí sản xuất chung là những chi phí sản xuất gián tiếp, chưa được tính vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp
Các chi phí sản phẩm được tính vào giá thành sản xuất sản phẩm và sẽ được chuyển thành giá vốn hàng bán (chi phí thời kỳ) trên Báo cáo kết quả kinh doanh khi các sản phẩm được tiêu thụ Nếu các sản phẩm vẫn đang làm
dở hoặc sản phẩm hoàn thành nhưng chưa được tiêu thụ thì các chi phí này sẽ được xem là tài sản của doanh nghiệp và được phản ánh dưới khoản mục hàng tồn kho của Bảng cân đối kế toán
Chi phí thời kỳ là những khoản chi phí phát sinh ngoài quá trình sản
xuất sản phẩm, bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Chi phí thời kỳ trực tiếp làm giảm lợi nhuận trong kỳ mà nó phát sinh, nói cách khác là chi phí thời kỳ được chuyển thẳng vào các chỉ tiêu chi phí trên Báo cáo kết quả kinh doanh của kỳ phát sinh
2.3.1.2 Phân loại chi phí theo khả năng qui nạp chi phí vào các đối tượng chịu phí
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
Chi phí trực tiếp là các chi phí chỉ liên quan trực tiếp tới việc sản xuất
một loại sản phẩm, thực hiện một dịch vụ hoặc một hoạt động, một địa điểm nhất định và có thể hạch toán trực tiếp cho các đối tượng đó
Chi phí gián tiếp là các chi phí có liên quan đến nhiều sản phẩm, dịch
vụ hoặc nhiều hoạt động, địa điểm khác nhau mà không thể hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng đó Chi phí gián tiếp chỉ có thể xác định cho từng đối tượng thông qua phương pháp phân bổ gián tiếp
Cách phân loại này có ý nghĩa về mặt kỹ thuật hạch toán Khi phát sinh các khoản chi phí gián tiếp cần phải áp dụng phương pháp phân bổ, kế toán cần lựa chọn tiêu thức phân bổ hợp lý để cung cấp các thông tin đáng tin cậy
về chi phí của từng loại sản phẩm, dịch vụ hay từng loại hoạt động trong
Trang 37doanh nghiệp Ngoài ra, do các chi phí trực tiếp thường mang tính chất có thể tránh được còn các chi phí giá tiếp lại mang tính không thể tránh được khi xem xét sự tồn tại hay không tồn tại của các hoạt động mà chúng phục vụ nên cách phân loại này rất có ích cho các nhà quản lý khi cân nhắc tiếp tục duy trì
hay loại bỏ các hoạt động, bộ phận kinh doanh
2.3.1.3.Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động
Theo cách phân loại này chi phí được chia thành hai loại cơ bản là chi phí biến đổi và chi phí cố định
Chi phí biến đổi là những chi phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ theo mức độ
hoạt động của doanh nghiệp nhưng không thay đổi khi tính trên một đơn vị của mức độ hoạt động Ví dụ về chi phí biến đổi là chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp, hoa hồng bán hàng… Khái niệm về chi phí biến đổi rất quan trọng đối với mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp, kiểm soát tốt chi phí biến đổi sẽ làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Chi phí cố định là những chi phí không thay đổi về tổng số trong một
phạm vi phù hợp các mức độ hoạt động của doanh nghiệp nhưng lại biến động
ngược chiều với mức độ hoạt động khi tính bình quân cho một đơn vị mức độ hoạt động Ví dụ về chi phí cố định bao gồm chi phí khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng, lương của nhân viên quản lý doanh nghiệp… Phạm vi phù hợp để xem xét tính cố định hay biến đổi của chi phí ở đây là giới hạn năng lực sản xuất tối thiểu và tối đa trong ngắn hạn của doanh nghiệp Trong phạm vi phù hợp này, mối quan hệ giữa chi phí và mức độ hoạt động là mối quan hệ tuyến tính và được biểu thị là một đường thẳng và phù
hợp theo quan điểm của kinh tế học (đồ thị hình 3)
Chi phí biến đổi và chi phí cố định còn có dạng đặc biệt là những chi phí biến đổi hay cố định theo từng “bậc” Chi phí biến đổi cấp bậc (biến phí cấp bậc) là những chi phí có các bậc thay đổi nhỏ còn chi phí cố định cấp bậc
(định phí cấp bậc) là những chi phí có bậc biến đổi lớn
Trang 38Cách phân loại chi phí này có tác dụng rất lớn trong việc phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận, xây dựng các mô hình kế toán chi phí và giúp nhà quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí
Hình 2 3 Đồ thị phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động
Chi phí hỗn hợp là những chi phí có cả yếu tố cố định và yếu tố biến
đổi Trong thực tế có rất nhiều chi phí phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không thuần tuý là chi phí biến đổi hay thuần tuý là chi phí
cố định mà là chi phí hỗn hợp Hiểu biết rõ về các thành phần biến đổi và cố định trong chi phí hỗn hợp sẽ giúp ích cho doanh nghiệp trong việc dự toán chi phí
Các phương pháp phân tích chi phí hỗn hợp:
Ước tính chi phí là quá trình xem xét một khoản chi phí cụ thể sẽ như thế nào dựa trên mối quan hệ giữa chi phí và mức độ hoạt động của doanh nghiệp Có nhiều phương pháp để ước tính chi phí, và mức độ chính xác của kết quả ước tính theo các phương pháp này cũng khác nhau
Phương pháp biểu đồ phân tán
Phạm vi phù hợp (theo kinh tế học) Tổng chi phí
T ổng chi phí (theo kế toán)
Chi phí cố định (theo kế toán)
Mức độ hoạt động Chi phí
Trang 39Khi một khoản chi phí được xếp loại là chi phí hỗn hợp hoặc khi nhà phân tích không có ý kiến rõ ràng về tính chất của khoản chi phí đó thì nhà phân tích có thể vẽ biểu đồ biểu diễn các mức độ chi phí phát sinh ở các mức
độ hoạt động khác nhau dựa trên cơ sở số liệu thống kê ở các kỳ kinh doanh
đã qua Nhà phân tích sẽ rút ra một qui luật về mức độ phát sinh chi phí là một đường thẳng phù hợp nhất với các điểm đã quan sát (đồ thị hình 4)
Hình 2 4 Đồ thị ước tính chi phí theo phương pháp biểu đồ phân tán
Tác giả cho rằng phương pháp này tương đối đơn giản và rất có ý nghĩa trong việc cung cấp ý niệm ban đầu về tính biến đổi, cố định hay hỗn hợp của chi phí Tuy nhiên hạn chế của phương pháp này là phụ thuộc vào sự quyết định chủ quan của nhà phân tích khi vẽ đường thẳng biểu diễn chi phí
Phương pháp cực đại - cực tiểu
Phương pháp cực đại – cực tiểu ước tính chi phí hỗn hợp bằng cách sử dụng số liệu thống kê ở mức độ hoạt động cao nhất và thấp nhất trong một loạt các số liệu thống kê về mức độ hoạt động và chi phí của doanh nghiệp Khi đó chi phí biến đổi/1đơn vị mức độ hoạt động và chi phí cố định trong một kỳ được xác định theo các công thức 2.1.1 và 2.1.2
Trang 40b: Chi phí biến đổi/1đơn vị mức độ hoạt động Ymax: Tổng chi phí ở điểm quan sát cao nhất Ymin: Tổng chi phí ở điểm quan sát thấp nhất Xmax: Mức độ hoạt động ở điểm quan sát cao nhất
Xmin: Mức độ hoạt động ở điểm quan sát thấp nhất Theo tác giả, phương pháp này khách quan hơn phương pháp biểu đồ phân tán vì hoàn toàn không có sự tự quyết định của người phân tích Tuy nhiên, phương pháp này có một nhược điểm lớn là chỉ sử dụng có hai giá trị quan sát để ước tính chi phí, hơn nữa hai giá trị quan sát được sử dụng là hai giá trị cao nhất và thấp nhất nên không mang tính đại diện cho các mức độ hoạt động thường xảy ra của doanh nghiệp
Phương pháp bình phương nhỏ nhất
Phương pháp bình phương nhỏ nhất ước tính chi phí một cách khách quan bằng cách sử dụng tất cả các giá trị chi phí quan sát được Đường thẳng biểu thị chi phí hỗn hợp là đường hồi qui có tổng bình phương các độ chênh lệch giữa các giá trị quan sát và đường hồi qui là nhỏ nhất Chi phí biến đổi/1đơn vị mức độ hoạt động và chi phí cố định trong một kỳ được xác định theo các công thức 2.2.1 và 2.2.2
n∑X2 – (∑X)2
n Trong đó:
o b là chi phí biến đổi/1đơn vị mức độ hoạt động
o a là chi phí cố định
o n là số điểm quan sát
o X là các giá trị quan sát của mức độ hoạt động
o Y là các giá trị quan sát của chi phí