1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS

45 2,1K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 275 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCChương I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn 4 Chương II: Kết quả điều tra và khảo sát thực tế các lỗi về từ ngữ, về câu, lỗi dùng quan hệ từ, lỗi diễn đạt trong bài tập Tiếng Việt

Trang 1

MỤC LỤC

Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn 4

Chương II: Kết quả điều tra và khảo sát thực tế các lỗi về từ ngữ, về

câu, lỗi dùng quan hệ từ, lỗi diễn đạt trong bài tập Tiếng Việt và bài

Tập làm văn của học sinh THCS

7

B Khảo sát thực tế và biện pháp khắc phục các lỗi về từ ngữ của học

sinh trường THCS Đông Thái

8

Giáo án 3: Chữa lỗi về quan hệ từ (Lớp 7 ) 28

ĐẶT VẤN ĐỀ I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Để tồn tại được trong một cộng đồng con người cần phải có các mối quan hệ Một trong các mối quan hệ có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của con người đó là mối quan hệ giữa con người với con người Con người quan hệ với nhau thông qua ngôn ngữ bằng hình thức giao tiếp Để giao tiếp được thành công thì việc sử dụng ngôn ngữ ( nói và viết) có vai trò hết sức quan trọng Trong thực tế giao tiếp, các hoạt động nói đúng và viết đúng vẫn chưa đủ mà

Trang 2

phải đảm bảo cả nói hay viết hay Việc sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện

để giao tiếp là điều rất quan trọng và cần thiết cho sự thàn công trong cuộc sống Vậy làm sao để đạt được điều đó?

Trong trường Trung học cơ sở(THCS), môn Ngữ Văn có một vị trí rất quan trọng và cần thiết Thực tế việc dạy - học môn Ngữ Văn cho thấy: giáo viên tuy

đã có chú ý đến việc dạy học cho học sinh cách sử dụng từ, câu đúng và có cách cảm nhận từ hay, câu hay Nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều học sinh chưa biết hoặc biết rất mơ hồ về việc dùng từ ngữ, cảm nhận từ ngữ một cách chính xác, chưa biết viết một câu văn đúng, một đoạn văn hay Trong thực tế, hiệu quả làm bài còn thấp, lý do là: học sinh mắc phải quá nhiều lỗi về sử dụng từ, câu Cụ thể: từ dùng thừa, sáo mòn, chưa chính xác, câu còn dài dòng, lủng củng và đặc biệt là các thành phần trong câu chưa đủ hoặc sử dụng còn lẫn lộn… Các lỗi này gặp rất nhiều trong các bài Tập làm văn và bài tập Tiếng Việt của học sinh

“ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS” là một đề

tài có tính thực tiễn cao Nó giúp ta tìm hiểu và từ đó có cách thức sửa chữa các lỗi này cho học sinh nhằm đảm bảo việc nói đúng, viết đíng và tiến tới nói hay viết hay Xuất phát từ cơ sở thực tiễn, cơ sở lý luận, tôi muốn đóng góp một ý kiến nhỏ về vấn đề này, tôi hi vọng việc tham gia xây dựng, đóng góp ý kiến của riêng cá nhân vào vấn đề mà cả ngành giáo dục đang quan tâm, là một việc làm quan trọng và cần thiết

II/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Qua một số bài làm văn và bài tập Tiếng Việt của học sinh, khảo sát thực trạng mắc lỗi của các em Từ đó có thể đưa ra một số biện pháp khắc phục, nhằm giúp học sinh biết cách sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt một cách hiệu quả trong học tập cũng như trong giao tiếp hàng ngày

Đối với bản thân, tôi có điều kiện bổ sung thêm hiểu biết về các khả năng viết văn, khả năng dùng từ, đặt câu của học sinh THCS đồng thời làm tăng thêm

Trang 3

vốn tri thức cho mình từ đó để tôi có ý thức sâu hơn trong việc dạy học bộ môn này ở nhà trường THCS nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

III/ ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Do điều kiện thời gian có hạn và do khuôn khổ của đề tài này, cho nên ở đây tôi chỉ tập trung tìm hiểu một số lỗi về từ ngữ và câu thường mắc phải trong các bài Tập làm văn và bài tập Tiếng Việt của học sinh, đó là:

- Lỗi về từ ngữ

- Lỗi về câu

- Lỗi về quan hệ từ

- Lỗi về diễn đạt (logic)

- Nguyên nhân dẫn đến cái sai, cách sửa lỗi

2 Pham vi nghiên cứu

Để có thể có thể xác định được các lỗi trên tôi sẽ dựa trên cơ sở bài tập Tiếng Việt và các bài viết TLV của học sinh các lớp tôi đang dạy, bên cạnh đó tôi còn

sử dụng những thông tin thu được từ thực tế giao tiếp hàng ngày với học sinh trường THCS Đông Thái từ lớp 6 đến lớp 9 Đồng thời tôi sử dụng một số tài liệu nghiên cứu khác

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Kết quả điều tra và khảo sát thực tiễn

Chương 3: Giải pháp thực hiện

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp tổng hợp phân tích

- Phương pháp tổng kết kinh nghiêm

Trang 4

NỘI DUNG ĐỀ TÀI

Trang 5

người gần người hơn Vả lại ngôn ngữ còn tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành tư tưởng của con người Chính vì thế, việc học tập ngôn ngữ một cách nghiêm túc là điều rất cần thiết đối với mỗi chúng ta.

Trong nhà trường THCS, vấn đề giảng dạy ngôn ngữ được cụ thể hóa trong việc dạy học Tiếng Việt và mục tiêu của việc dạy học Tiếng Việt là: “dạy học sinh cách sử dụng tốt, sử dụng có hiệu quả Tiếng Việt” ( Phương pháp dạy học Tiếng Việt) Do đó vấn đề đặt ra là làm sao để đạt được mục tiêu đã đề ra?Trong giao tiếp, ứng xử ông cha ta đã từng rút ra những bài học quý báu:

“ Lời nói chẳng mất tiền muaLựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

Hay:

“Chim khôn kêu tiếng rảnh rangNgười khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe”

để tạo nên sự thành công của cuộc giao tiếp

Trong bài nói chuyện của Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ( 8/9/1973) với các đồng chí lãnh đạo Bộ Giáo dục cùng các Bộ nghiên cứu cải cách giáo dục, các cán bộ biên soạn chương trình các môn học của các trường phổ thông

có đoạn nhấn mạnh: “Trong ngôn ngữ, từ là cái quan trọng nhất” và điều cần thiết cho tương lai của mỗi học sinh sau này là: “điều cần viết được, nói được một cách gọn gàng, rõ rệt những điều mình muốn diễn đạt.”

Chính những mục tiêu, yêu cầu đã đề ra, phân môn Tiếng Việt đã được đưa vào môn Ngữ văn của nhà trường với tư cách là một bộ phận quan trọng nhằm rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp và tạo lập văn bản

2 Môn Tiếng Việt ở nhà trường phổ thông cơ sở có vị trí, nhiệm vụ, vai trò quan trọng, Nó là một môn học độc lập có vị trí đặc biệt quan trọng so với các môn học khác Tính đặc biệt được thể hiện ở hai đặc trưng cơ bản :

- Là môn học cung cấp những kiến thức khoa học về đối tượng “Tiếng Việt”

- Là môn học công cụ, tức là môn học nhằm hướng dẫn cách sử dụng, cách dùng Tiếng Việt (phục vụ cho mình nó và cho các môn học khác)

Trang 6

3.Trong chương trình Tiếng Việt ở THCS, Tiếng Việt tồn tại với tư cách là môn học có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh ( HS) những tri thức ngôn ngữ học,

hệ thống Tiếng Việt, quy tắc hoạt động và những sản phẩm của nó trong hoạt động giao tiếp Mặt khác, Tiếng Việt là một công cụ giao tiếp và tư duy, nên môn Tiếng Việt còn đảm nhiệm thêm một chức năng kép mà các môn học khác không có Đó là chức năng trang bị cho học sinh công cụ để giao tiếp: tiếp nhận

và diễn đạt mọi kiến thức trong nhà trường

Như vậy, môn Tiếng Việt là một trong những môn học có tầm quan trọng đặc biệt trong các môn khoa học xã hội và nhân văn, có vai trò trọng yếu trong việc

và giữ gìn và phát huy tiếng nói dân tộc

4 Quan niệm lỗi về từ ngữ, về câu và nguyên tắc chữa:

- Được coi là "lỗi" khi :

+ Sai chuẩn mực Tiếng Việt, ngữ pháp Tiếng Việt, đến tư duy logic trong câu

+ Viết từ sai chính tả, ngữ nghĩa không rõ ràng, hiểu sai nghĩa của từ, sai quan hệ ngữ nghĩa giữa các bộ phận trong câu

+ Dùng thiếu hoặc thừa quan hệ từ trong câu, hoặc dùng quan hệ từ mà không có tác dụng liên kết câu

- Nguyên tắc chữa:

+ Đạt chuẩn Tiếng Việt

+ Sai đâu sửa đó

+ Trong trường hợp cụ thể có thể đưa ra nhiều phương án để thấy sự phong phú, đa dạng trong hành văn Tiếng Việt

B.CỞ SỞ THỰC TIỄN

1 Từ sách giáo khoa

Bộ giáo dục và đào tạo đã đề cập đến vấn đề chữa lỗi về từ và câu ngay từ đầu cấp học Cụ thể:

- Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 6 có 4 tiết:

+ Học kỳ I có hai tiết: Chữa lỗi dùng từ Đó là tiết 23 và tiết 27

Trang 7

+ Học kỳ II có hai tiết: Chữa lỗi về chủ ngữ, vị ngữ Đó là tiết 120 và tiết 127.

- Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 7 có hai tiết:

+ Tiết 33: Chữa lỗi về quan hệ từ

+ Tiết 61: Chuẩn mực sử dụng từ

- Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 8 có một tiết:

+ Tiết 122: Chữa lỗi diễn đạt ( lỗi logic)

- Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9 có một tiết:

+ Tiết 34: Trau dồi vốn từ

Như vậy trong cả bốn khối lớp có 8 tiết chữa lỗi về từ và câu có tới 6 tiết đã trực tiếp đưa ra các lỗi thường gặp về từ và câu của học sinh, hai tiết còn lại (1 tiết ở lớp 7, một tiết ở lớp 9) gián tiếp đưa ra các lỗi thường gặp về từ và câu của học sinh, giúp các em nhận biết được các lỗi, từ đó rút ra kinh nghiệm và sửa chữa

Chương II KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VÀ KHẢO SÁT THỰC TẾ CÁC LỖI VỀ TỪ NGỮ

VÀ CÂU, LỖI DIỄN ĐẠT (LÔ GIC) TRONG CÁC BÀI TẬP TIẾNG VIỆT

VÀ BÀI TẬP LÀM VĂN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THCS ĐÔNG THÁI

A KẾT QUẢ ĐIỀU TRA:

Trang 8

Sau khi xem sét các bài tập Tiếng Việt và bài tập TLV của học sinh Trường THCS Đông thái đầu năm học 2012-2013 Số lỗi mà các em mắc phải được thống kê bằng bảng dưới đây:

6C

Lớp7D

Lớp 8A

Lớp 9E

Lỗi về từ ngữ

- Lỗi do dùng từ thừa, từ trùng lặp

- Lỗi do dùng từ không đúng nghĩa, đúng âm

- Lỗi do dùng từ công thức sáo rỗng

- Lỗi do dùng từ có sắc thái không phù hợp

16/3019/3010/3015/30

13/2612/2611/2610/26

14/2512/2511/2512/25

12/2310/2315/2316/23

12/2611/26 9/2612/26

13/2512/25 8/2513/25

11/23 9/23 8/2312/23

Lỗi về quan hệ từ

- Câu thiếu quan hệ từ

- Câu thừa quan hệ từ

- Câu dùng quan hệ từ mà không có tác dụng

liên kết

14/3015/3013/30

10/26 9/2612/26

13/2514/2511/25

13/2312/2311/23

Lỗi về diễn đạt

- Không nắm vững kiến thức về cấp độ khái

quát của nghĩa từ ngữ

- Không nắm vững về trường từ vựng

15/3013/30

12/2413/24

12/2513/25

Trang 9

khi dùng từ, đặt câu, khi phân tích ngữ pháp của các câu Lỗi ấy không phải do các em không nắm được ngôn ngữ và các quy tắc ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ mà phần nhiều là do suy nghĩ của các em thiếu cẩn thận, lười suy nghĩ, trình độ tư duy và trình độ hiểu biết còn hạn chế Vì thế giáo viên cần phải tìm ra nguyên nhân và tìm cách khắc phục cho các em.

Ví dụ 3: Dùng thừa 2 từ đồng nghĩa: “ vĩnh hằng, bất biến”.

Những lỗi này làm cho câu văn rườm rà, lủng củng, đơn điệu chứng tỏ sự nghèo nàn của người viết về vốn từ

c, Cách chữa

Ví dụ 1: Bỏ từ trùng lặp “ bạn bè”, câu trở thành:

Trong học tập, bạn bè phải biết giúp đỡ nhau, cùng nhau trao đổi kinh nghiệm học tậ , và phải cùng nhau tiến bộ hơn.

Trang 10

Ví dụ 2: Bỏ cụm từ “ Câu tục ngữ” (thứ ba) thay bằng từ “đây”, câu trở

thành:

Câu tục ngữ nói lên vấn đề có công mài sắt mói có ngày nên kim, câu tục ngữ rất ngắn gọn nhưng đem đến cho chúng ta một bài học quý giá bởi đây là những kinh nghiệm được đúc rút lâu đời trong dân gian.

Ví dụ 3: Bỏ từ “ vĩnh hằng”, câu sẽ như sau:

Câu tục ngữ như một chân lý bất biến, một châm ngôn hành động vô giá, nâng đỡ con người.

2 Lỗi dùng từ không đúng nghĩa, không đúng âm

Đây là do việc dùng từ sai hoàn toàn về nghĩa hoặc không đúng sắc thái, hoặc không đúng hình thức ngữ âm

Dùng các từ “ bàng quang”, “ lãng mạng” không phù hợp với nghĩa.

Ví dụ 1+2: Nhầm lẫn giữa hai từ có âm gần giống nhau nhưng nghĩa khác hẳn

nhau: “bàng quang”( bộ phận cơ thể người) nhầm với “ bàng quan” ( thái độ

ứng xử thờ ơ không quan tâm của con người)

Ví dụ 3: Từ “ chót lọt” không phù hợp với nghĩa.

Ví dụ 4: Dùng từ “ vô cùng tuyệt vời” không phù hợp với nghĩa.

c Cách sửa

Trang 11

Ví dụ 1 : Thay thế “ bàng quang” bằng “bàng quan”, câu trở thành: “ Do bàng quan nên nó làm hỏng việc”.

Ví dụ 2: Thay “ lãng mạng” bằng “ lãng mạn”, câu sẽ là:

Trong dòng Văn học Lãng mạn, Hàn Mạc Tử xuất hiện như một ngôi sao sáng

Ví dụ 3: Thay “chót lọt” bằng “cuối cùng”, câu trở thành:

Anh Trỗi vẫn hiên ngang đến phút cuối cùng.

Ví dụ 4: Bỏ cụm từ “vô cùng tuyệt vời”, câu sẽ là:

Kiên trì nhẫn nại là một đức tính vô cùng quý giá.

3 Lỗi do dùng từ công thức sáo rỗng

Đây là lỗi do dùng các từ mà nghĩa đã quá quen thuộc, sáo mòn về hình tượng, tính truyền cảm, không tạo được vẻ đẹp riêng của cái định phản ánh

a Ví dụ:

Ví dụ 1: Câu tục ngữ: “ Có công mài sắt có ngày nên kim” tuyệt hay, nó khuyên nhủ con người phải rèn luyện bản lĩnh trau dồi tính kiên trì nhẫn nại.

(Nguyễn Thanh Lương)

Ví dụ 2: Chiều nay, khi nào hoàng hôn xuống, anh chở hàng ra chợ nhé.

Ví dụ 3: Mỗi câu tục ngữ là một chân lý vô giá, chỉ cho con người đi đến đỉnh vinh quang.

(Đỗ Trọng Trung)

b Nhận xét

Ví dụ 1: Dùng từ “tuyệt hay” là từ sáo rỗng không diễn tả đúng nghĩa, tình

cảm của người nói Làm cho câu văn trở nên hời hợt, mờ nhạt, thiếu sáng tạo

Ví dụ 2: Cụm từ “hoàng hôn xuống” không phù hợp với phong cách ngôn

Trang 12

Câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim” rất sâu sắc, nó khuyên nhủ con người phải rèn luyện bản lĩnh trau dồi tính kiên trì nhẫn nại.

Ví dụ 2: Bỏ cụm từ “khi nào hoàng hôn xuống”, câu trở thành:

Chiều nay, anh chở hàng ra chợ nhé.

Ví dụ 3: Thay cụm từ “đi đến đỉnh vinh quang” bằng cụm từ “con đường dẫn đến thành công”, câu sẽ là:

Mỗi câu tục ngữ là một chân lý vô giá, chỉ cho con người con đường dẫn đến thành công.

4 Lỗi do dùng từ có sắc thái không phù hợp

(Chu Công Minh)

Ví dụ 3: Thúy Kiều bày tỏ lòng yêu thương và lời thề vô cùng thủy chung son sắt với Kim Trọng.

Ví dụ 1: Bỏ từ “kinh khủng”, câu trở thành: “ Hôm nay, trời nắng to”.

Ví dụ 2: Bỏ cụm từ “tâm đầu ý hợp”, câu sẽ là: “Sau mấy câu tự giới thiệu, họ ngồi xuống trò chuyện”.

Ví dụ 3: Bỏ từ “vô cùng”, câu sẽ là: “Thúy Kiều bày tỏ lòng yêu thương và lời thề thủy chung son sắt với Kim Trọng.”

* Nguyên nhân mắc lỗi

Sở dĩ học sinh mắc lỗi về từ như trên là :

- Do tính cẩu thả và sơ xuất khi làm bài và trong suy nghĩ

Trang 13

- Do trình độ nhận thức còn hạn chế, viết mà không hiểu là mình viết gì.

- Do chưa hiểu hết nghĩa của từ hoặc do hoàn toàn hiểu sai lệch nghĩa của từ nên chủ quan không suy nghĩ cẩn thận

- Do học sinh mất gốc từ lớp dưới, lên lớp 9 các em không nắm được những kiến thức mà giáo viên truyền đạt nên không ý thức được cái sai của mình

- Do năng lực cảm thụ từ còn hạn chế nên dùng từ trở nên tùy tiện sai phong cách

II LỖI VỀ CÂU

Câu là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ , chứa đựng một nội dung thông báo hoàn chỉnh, được cấu tạo theo nguyên tắc ngữ pháp nhất định và luôn gắn với một ngữ điệu nhất định

Câu được gọi là đúng khi nó tuân theo đúng quy tắc cấu tạo, nghĩa là câu phải mang một nội dung thông báo hoàn chỉnh, nó phải đầy đủ thành phần, danh giới giữa các thành phần phải rõ ràng, rành mạch Ngược lại là câu sai

Để có được những bài văn hay, nhưng câu nói đúng người viết cần có những hiểu biết nhất định về câu như: cấu tạo của câu, cách tổ chức các thành phần câu, mối quan hệ ý nghĩa giữa các bộ phận trong câu và giữa câu với câu Nếu thiếu hiểu biết về câu sẽ dẫn đến việc sử dụng câu sai, câu thiếu thành phần, câu chưa phân định rõ mối quan hệ giữa các thành phần câu hoặc lỗi do không phân định rõ mối quan hệ giữa các vế câu hoặc giữa câu với câu…

Lỗi về câu trong các bài viết của học sinh có rất nhiều vẻ, nhiều dạng khác nhau Xét một cách khái quát ta thấy có một số lỗi chủ yếu sau:

Trang 14

b Nhận xét

Các em không phân biệt được trạng ngữ và chủ ngữ của câu, nhập chủ ngữ vào trong thành phần phụ trạng ngữ Việc này làm cho người đọc khó hiểu, câu văn lủng củng, thiếu lô gic, tối ý

- Cách 2 : Bỏ từ “qua”, biến thành phần trạng ngữ thành chủ ngữ trong câu:

Bài thơ “Viếng lăng Bác” cho ta thấy tình cảm yêu quý chân thành của nhân dân miền Nam đối với Bác Hồ.

Ví dụ 2:

- Cách 1: Bỏ từ “trong” câu trở thành: Truyện “Trạng Quỳnh” đã thể hiện tinh thần phản phong quyết liệt của nhân dân ta.

- Cách 2: Thêm cụm từ “tác giả dân gian”, câu trở thành: Trong truyện

“Trạng Quỳnh”, tác giả dân gian đã thể hiện tinh thần phản phong quyết liệt của nhân dân ta”.

2 Lỗi không phân định định ngữ, phần phụ chú và vị ngữ.

a Ví dụ:

Ví dụ 1: Nam Cao nhà văn lớn, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn của khuynh hướng Văn học Hiện thực phê phán.

(Nguyễn Thị Thanh Tâm)

Ví dụ 2 : Truyện ngắn “ Lão Hạc” một tác phẩm đặc sắc có giá trị hiện thực sâu sắc.

Trang 15

Ví dụ 1+2 : Học sinh đã nhầm yếu tố phụ “nhà văn lớn, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn của khuynh hướng Văn học Hiện thực phê phán” , “ một tác phẩm đặc sắc có giá trị hiện thực sâu sắc” là thành phần vị ngữ của câu.

Ví dụ 3: Học sinh nhầm định ngữ là chủ ngữ của câu

Sử dụng câu không phân định rõ ràng định ngữ, phần phụ chú, vị ngữ dẫn đến việc hiểu sai nội dung định thông báo của câu làm câu chưa thoát ý

Ví dụ 2: Bỏ dấu phẩy thêm từ “là” để tạo vị ngữ : Truyện ngắn “Lão Hạc”

là một tác phẩm đặc sắc có giá trị hiện thực sâu sắc.

Ví dụ 3: Bỏ từ “mà” câu trở thành : Cặp mắt long lanh của Thái Văn A, Xuân Miễn gọi là mắt thần canh biển.

3 Câu không phân định trật tự cần có của thành phần câu

Đây là loại lỗi mà khi viết học sinh sắp xếp trật tự các thành phần trong câu một cách lộn xộn làm cho câu văn khó hiểu

Ví dụ 1: Học sinh chưa chú ý tới trật tự của từ là yếu tố phụ miêu tả cho

danh từ Cách nói “các nhà thơ khác xuất sắc” ở ví dụ trên làm người đọc khó

Trang 16

hiểu và dễ hiểu nhầm là Hồ Xuân Hương không phải là nhà thơ xuất sắc Tuy nhiên, ý định của người viết lại không loại Hồ Xuân Hương ra khỏi các nhà thơ xuất sắc mà muốn xếp vào đó.

Ví dụ 2: Cụm từ “thành công nhất định về sau” sắp xếp không hợp lí.

Ví dụ 2: Sắp xếp lại thành phần câu vế sau:

“ Qua mỗi lần như vậy, người ta sẽ tích lũy được nhiều kinh nghiệm và về sau nhất định thành công”.

III LỖI QUAN HỆ TỪ, LỖI VỀ QUAN HỆ Ý NGHĨA GIỮA CÁC BỘ PHẬN TRONG CÂU VÀ GIỮA CÂU VỚI CÂU

Giữa câu với câu và giữa các bộ phận trong câu thường có quan hệ ý nghĩa nhất định Những quan hệ ý nghĩa này được biểu thị bằng trật tự tuyến tính của các bộ phận đó với nhau, hoặc bằng những phương tiện liên kết khác như quan

hệ từ chẳng hạn Khi viết, nếu không khéo dùng những phương tiện thích hợp để làm bộc lộ mối quan hệ ấy thì câu sẽ tối nghĩa hoặc không thể hiểu được

Lỗi về quan hệ ý nghĩa của câu có thể chia làm hai loại:

1 Không phân định rõ quan hệ giữa các vế câu, hoặc giữa câu với câu

a Ví dụ

Ví dụ 1: Vì phong trào “Ba đảm đang” đang phát triển sôi nổi khắp nơi, nên chị em phụ nữ chúng ta đã đóng góp nhiều thành tích to lớn vào công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm xây dựng Tổ quốc giàu mạnh.

Trang 17

( Bùi Thị Minh Nguyệt)

b Nhận xét:

Ví dụ 1+2: Quan hệ giữa các thành phần câu không hợp lí Vế 1 không phải

là nguyên nhân của điều được nói ở vế 2

Ví dụ 3: Người đọc dễ hiều là: kẻ “đăm đăm nhìn ra cửa bể” và nghĩ đến cảnh ngộ cô đơn của mình ở đây là “ta” chứ không phải nàng Kiều như người

viết muốn nói Quan hệ giữa các vế trong câu không ăn khớp

- Cách 2: Bỏ từ “vì”, “chúng ta” thay từ “nhờ”

Nhờ phong trào “ Ba đảm đang „ đang được phát triển sôi nổi khắp nơi, nên chị em phụ nữ đã đóng góp nhiều thành tích to lớn vào công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm xây dựng Tổ quốc giàu mạnh.

2 Không phân định rõ những bổ ngữ có cách chi phối khác nhau

a.Ví dụ:

Thực tế khách quan cho thấy: thành công chỉ có thể có qua những lần rút kinh nghiệm, khắc phục từ những thất bại bước đầu.

b Nhận xét:

Ví dụ này có “từ những thất bại bước đầu” là bổ ngữ đứng sau động từ

"khắc phục" Tuy nhiên, người ta chỉ nói “rút kinh nghiệm từ ” còn với

“khắc phục” thì không thể dùng quan hệ “từ” được Lỗi ở ví dụ này là: học

sinh không phân định rõ những bổ ngữ có cách chi phối khác nhau

c.Cách sửa

Trang 18

- Cách 1 : Có thể tách thành : “Thực tế khách quan cho ta thấy: thành công chỉ có thể có qua những lần rút kinh nghiệm từ những thất bại bước đầu và khắc phục chúng”.

- Cách 2: bỏ từ “từ’:

“Thực tế khách quan cho ta thấy: thành công chỉ có thể có qua những lần rút kinh nghiệm, khắc phục những thất bại bước đầu”.

* Nguyên nhân mắc lỗi:

- Học sinh chưa ý thức được các thành phần và vị trí các thành phần trong câu nên mắc các lỗi về trật tự các thành phần và nhầm lẫn sự chi phối các bổ ngữ

- Học sinh còn quá sơ sài, cẩu thả trong suy nghĩ, trong cách viết nên mắc các lỗi không đáng

- Các em chưa có thái độ học tập nghiêm túc

4 LỖI VỀ DIỄN ĐẠT ( LO-GIC)

Loại lỗi này không phải là lỗi ngữ pháp như lỗi câu không có thành phần chính hoặc sử dụng sai dấu câu mà là loại lỗi liên quan đến khả năng tư duy của người viết ( nói )

1 Lỗi do không nắm vững kiến thức về cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ.

- Ví dụ 2: có kiểu cấu trúc danh 1 là danh 2, điều kiện đúng là danh1< danh2

nghĩa là danh2 phải bao hàm danh1 Muốn chữa câu này ta phải đảo vị trí của chủ ngữ và vị ngữ

c Cách chữa:

Trang 19

- Ví dụ 1: Muốn chữa câu này ta phải đảo trật tự cấu trúc các câu để hợp logic Câu đúng sẽ là:

Người mù là người tàn tật.

- Ví dụ 2: Câu đúng là:

Những người đang theo học Đại học Sư phạm là sinh viên.

2 Lỗi không nắm vững về trường từ vựng.

- Ví dụ 1: các yếu tố: na, mít, mía, bưởi, chôm chôm là chủ ngữ phải là

những từ ngữ thuộc cùng một trường từ vựng biểu thị khái niệm thuộc phạm trù

cây ăn quả ở đây "mía" không thuộc phạm trù cây ăn quả, do vậy câu này thừa

từ "mía".

- Ví dụ 2: trong câu này từ “đâu” và “đấy” mới cùng trường từ vựng còn

“đâu” và “ngay” không cùng trường từ vựng do đó không đảm bảo quan hệ hô ứng Ta có thể thêm sau từ “ngay” bằng từ "đấy" để hoàn chỉnh câu.

c Cách sửa:

- Ví dụ 1: Na, mít, bưởi, chôm chôm đều là những cây ăn quả có giá trị.

- Ví dụ 2: Tơ ươm đến đâu, tư thương đón mua ngay đến đấy.

Trên đây, tôi đã tiến hành khảo sát thực tiễn và đưa ra một số lỗi cơ bản về cách dùng từ, đặt câu mà học sinh Trung học cơ sở thường mắc Nguyên nhân mắc lỗi có nhiều, nhưng nhìn một cách tổng quát nhất là do học sinh thiếu hiểu biết về ngôn ngữ Tiếng Việt như những kiến thức về: từ vựng, ngữ pháp Lý do của sự thiếu hiểu biết trên là do đâu? Chắc chắn lỗi thuộc về học sinh là chính,

có thể là do các em chủ quan, không chủ động học hỏi nhưng không phải không có phần trách nhiệm về người giáo viên Vậy đứng trước tình trạng trên cần phải có giải pháp gì để khắc phục được lỗi mà học sinh thường mắc Đây là một vấn đề không phải chỉ có ngành giáo dục mới có trách nhiệm quan tâm, chú

Trang 20

ý, trong đó còn có vai trò của từng cá nhân Với ý thức cá nhân, tôi muốn được đóng góp tiếng nói nhỏ bé của mình vào vấn đề này với mong muốn giúp các

em học tốt hơn môn NgữVăn và đạt hiệu quả cao trong hoạt động giao tiếp

Chương III MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Các lỗi về từ ngữ, về câu xuất hiện phổ biến trong bài làm của học sinh, nếu không tránh được các lỗi này sẽ gây hậu quả nghiêm trọng Chính vì lẽ đó việc khắc phục các lỗi về từ, về câu ngay từ bây giờ khi các em vẫn ngồi trên ghế nhà trường là điều cần thiết và cần giải quyết kip thời Nếu khắc phục được các lỗi này, kết quả đầu tiên là sẽ tạo ra cho bài văn của các em sự chuẩn xác, mạch lạc,

Trang 21

phong phú, hấp dẫn Nhưng muốn khắc phục có hiệu quả trước hết phải có các biện pháp đúng đắn, hợp lý.

A GIẢI PHÁP TÌNH THẾ

Trong mỗi giờ học, học sinh cần tích lũy nhiều vốn từ, nghĩa của từ để có sự vận dụng đúng đắn và có ý thức về cách dùng từ, đặt câu trong bài viết của mình

Là người trực tiếp giảng dạy, giáo viên cần nắm vững đặc điểm nhận thức của từng lứa tuổi để có biện pháp truyền đạt sao cho phù hợp và để bài giảng đạt hiệu quả cao nhất Bên cạnh đó, giáo viên phải là người chỉ đạo cho các em thấy

rõ lỗi sai của mình, nguyên nhân, cách chữa lỗi: chữa bài tập trên lớp, trong các giờ truy bài, giờ trả bài Sau đây là giáo án minh họa cho việc chữa lỗi về từ và câu do Bộ giáo dục và đào tạo đưa vào chương trình dạy học trong nhà trường THCS hiện nay

GIÁO ÁN 1 (LỚP 6) Tiết 27 CHỮA LỖI DÙNG TỪ

A/ MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

Giúp HS: - Nhận ra được những lỗi thông thường về nghĩa của từ

- Có ý thức dùng từ đúng nghĩa, sửa được các lỗi dùng từ sai nghĩa

B/ CHUẨN BỊ

Trang 22

- GV: Soạn bài, một số lỗi sai mà HS thường mắc trong bài TLV số 1.

- HS: + Đọc trước bài ở nhà:

+ Đọc và tra từ điển Hán Việt những lỗi thường mắc phải

C/ TIẾN TRÌNH LÊN LỚP

1 Ổn định tổ chức lớp: Kiểm tra sĩ số.

2 Kiểm tra bài cũ: 2 HS lên bảng làm bài tập.

- Gạch chân dưới các từ không đúng và sửa lại cho đúng các từ đó trong các câu văn sau:

+ Những yếu tố kì ảo tạo nên giá trị tản mạn trong truyện cổ tích.

+ Đô vật là những người có thân hình lực lượng.

- Chỉ ra các từ lặp và tìm từ thay thế phù hợp cho từ lặp trong các đoạn văn sau:

+ Nhà vua gả công chúa cho Thạch Sanh Lễ cưới của công chúa và Thạch Sanh tưng bừng nhất kinh kỳ:

+ Vừa mừng vừa sợ Lý Thông không biết làm thế nào Cuối cùng, Lý Thông truyền cho dân mở hội hát xướng 10 ngày để nghe ngóng.

3 Bài mới

Giáo viên dẫn vào bài:

Từ có thể biểu hiện một nghĩa hoặc nhiều nghĩa Những nghĩa này của từ có thể tồn tại một cách tiềm tàng trong hệ thống ngôn ngữ Chỉ khi từ đi vào hoạt động giao tiếp, những nghĩa này mới hiện thực hóa một cách cụ thể và rõ ràng

Do vậy, việc nắm nghĩa và sử dụng được đúng nghĩa của từ trong hoạt động giao tiếp là một việc làm cần thiết

TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC

I Phát hiện và sửa lỗi

1 Phát hiện lỗi

Giáo viên cho HS đọc phần I sách giáo khoa Ngữ Văn 6 Tập 1/tr 75

Giáo viên yêu cầu HS gạch dưới các từ dùng sai nghĩa trong 3 câu a,b,c và đặt câu hỏi:

- Các từ dùng sai nghĩa trong a,b,c là những từ nào?

Ngày đăng: 09/12/2015, 16:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Sách Ngữ văn 6, 7, 8, 9 NXB Giáo dục Khác
2. Sách giáo viên Ngữ Văn 6, 7, 8, 9 NXB Giáo dục Khác
3. Thiết kế bài giảng Ngữ văn 6, 7, 8, 9 NXB Giáo dục Khác
4. Tiếng Việt thực hành, Nguyễn Minh Thuyết – Nguyễn Văn Hiệp, NXB Giáo dục 1997 Khác
5. Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Lê A – Nguyễn Quang Minh – Nguyễn Minh Toán, NXB Giáo dục Khác
6. Ngữ pháp Tiếng Việt ( Tập 1, 2), Diệp Quang Ban ( chủ biên), NXB Giáo dục Khác
7. Từ điển Tiếng Việt ( in lần thứ 3), Hoàng Phê ( chủ biên), NXB Khoa học xã hội – Trung tâm từ điển học Hà Nội 1994 Khác
8. Hướng dẫn tự học Ngữ Văn 6, 7, 8, 9 NXB Giáo dục Khác
9. Một số kiến thức – kỹ năng và bài tập nâng cao Ngữ Văn 8 NXB Giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w