1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MÔ típ NGƯỜI ANH HÙNG tử TRẬN TRONG TRUYỀN THUYẾT VIỆT NAM

153 711 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi nghiên cứu mô típ người anh hùng tử trận trong truyền thuyết Việt Nam, chúng ta không chỉ hiểu được lịch sử hào hùng, bi tráng của dân tộc mà chúng ta còn biết được tư tưởng, tâm hồn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Bích

MÔ TÍP NGƯỜI ANH HÙNG TỬ TRẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Bích

MÔ TÍP NGƯỜI ANH HÙNG TỬ TRẬN

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS H Ồ QUỐC HÙNG

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình khoa học này là của riêng tôi Các kết quả đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào

Tác giả luận văn

Lê Thị Bích

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có được những thành quả như ngày hôm nay, tôi xin gửi lời cảm

ơn chân thành nhất đến những người đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Đặc biệt, để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình, chu đáo từ phía giảng viên, TS Hồ Quốc Hùng Thầy đã tận tình hướng dẫn cách trình bày, giải quyết vấn đề để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh, những người đã nhiệt tình giảng dạy để tôi hoàn thành tốt khóa học và luận văn tốt nghiệp

Ngoài ra, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu nhà trường, phòng Sau Đại học đã tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Tp Hồ Chí Minh, năm 2014

Lê Thị Bích

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 1

1.1 Khái niệm típ và mô típ 12

1.1 1 Lý thuyết về mô típ 13

1.1 2 Lý tuyết về típ 14

1.1 3 Mối quan hệ giữa típ và mô típ 15

1.2 Phân kì truyền thuyết 16

1.2.1 Truyền thuyết về họ Hồng Bàng và thời kì Văn Lang 20

1.2.2 Truyền thuyết về thời Âu Lạc và Bắc thuộc 21

1.2.3 Truyền thuyết các triều đại phong kiến tự chủ 23

1.2.4 Truyền thuyết thời chống Pháp 24

1.3 Tiêu chí xác định mô típ người anh hùng tử trận trong truyền thuyết Việt Nam 25

Tiểu kết chương 1 27

Chương 2 TÌNH HÌNH TƯ LIỆU VÀ PHÂN LOẠI MÔ TÍP TỬ TRẬN TRONG TRUYỀN THUYẾT VIỆT NAM 28

2.1 Tình hình tư liệu 28

2.2 Phân loại mô típ tử trận trong truyền thuyết Việt Nam 38

2.2.1 Mô típ chết thần kì 38

2.2.2 Mô típ t ử tiết 51

2.2.3 Mô típ bị giặc giết 58

2.2.4 Mô típ k iệt sức chết 65

Tiểu kết chương 2 69

Chương 3 MÔ TÍP TỬ TRẬN TRONG CẤU TẠO CỐT TRUYỆN TRUYỀN THUYẾT VIỆT NAM 71

3.1 Khái niệm về cấu tạo 71

3.2 Mô típ tử trận với vai trò là mô típ chi tiết 75

Trang 6

3.2.1 Các tình huống liên quan đến mô típ tử trận 75

3.2.2 Vai trò của mô típ tử trận đối với cốt truyện truyền thuyết 83

3.3 Mô típ t ử trận với vai trò là mô típ chủ đề 88

3.3.1 Ki ểu truyện 88

3.3.2 Kiểu nhân vật liên quan đến các mô típ 88

Tiểu kết chương 3 100

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC 1

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 L í do chọn đề tài

Trong kho tàng văn học dân gian, truyền thuyết là một trong những thể loại

có lịch sử hình thành, phát triển và tồn tại từ lâu đời cùng với nội dung và hình thức nghệ thuật vô cùng phong phú

Ở nước ta, việc nghiên cứu truyền thuyết bằng công tác sưu tầm, ghi chép, biên soạn được tiến hành từ rất sớm, nó được cố định bằng văn bản vào khoảng thế kỷ XIV, XV, tiêu biểu là các tác phẩm Việt Điện U Linh của Lí Tế Xuyên, Lĩnh Nam Chính Quái của Vũ Quỳnh, Kiều Phú Tuy nhiên, phải cho đến thế kỷ

XX thì truyền thuyết mới thật sự trở thành đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học độc lập là foklore học Truyền thuyết là một trong những đối tượng nghiên cứu đặc biệt có sức hấp dẫn, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học ở nước ta và nhiều nước trên thế giới

Nghiên cứu truyền thuyết bằng típ và mô típ là một phương pháp nghiên cứu rất hữu hiệu trong khoa nghiên cứu văn học dân gian từ trước đến nay Sự lặp lại các kiểu truyện và các mô típ trong các truyền thuyết là một đặc điểm dễ nhận thấy và rất đặc trưng của thể loại này Việc nghiên cứu truyền thuyết dân gian bằng típ và mô típ có thể khám phá được mối dây liên hệ trong những tác phẩm thuộc cùng một kiểu truyện hay cùng chứa đựng những mô típ như nhau

Chúng tôi chọn thực hiện đề tài Mô típ người anh hùng tử trận trong truyền thuyết Việt Nam với mong muốn sẽ góp phần miêu tả hệ thống và phân

tích một kiểu mô típ phổ biến trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam, đặc biệt là truyền thuyết chống ngoại xâm Truyền thuyết anh hùng chống ngoại xâm chiếm

số lượng lớn trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam Khi nghiên cứu mô típ người anh hùng tử trận trong truyền thuyết Việt Nam, chúng ta không chỉ hiểu được lịch sử hào hùng, bi tráng của dân tộc mà chúng ta còn biết được tư tưởng, tâm hồn, tinh thần dân tộc của người Việt gửi gắm vào những người có công với

Trang 8

nước Và hơn nữa, một mặt nào đó chúng ta thấy bề sâu, độ dày văn hóa của con người Việt Nam và đất nước Việt Nam được thể hiện dưới những tác phẩm này Trong khi tiến hành khảo sát kho tàng truyền thuyết Việt Nam, chúng tôi nhận thấy có một mô típ rất phổ biến trong nhiều cốt truyện khác, tạm gọi đó là

mô típ người anh hùng tử trận

Để tiện cho việc diễn đạt, một số chỗ chúng tôi gọi tắt “mô típ người anh hùng tử trận” là “mô típ tử trận” Vậy, “mô típ tử trận” có vị trí, ý nghĩa như thế nào với đề tài, cốt truyện và thể hiện chủ đề tư tưởng gì của tác giả dân gian ?

Nó gắn bó như thế nào với đời sống văn hóa, lịch sử hào hùng, bi tráng của dân tộc? Với mong muốn trả lời cho những câu hỏi này, chúng tôi chọn đề tài nghiên

cứu là Mô típ người anh hùng tử trận trong truyền thuyết Việt Nam làm

mục tiêu khoa học cho luận văn

m ẹ mà thôi” [9, tr.523] Ở đây tác giả đã mô tả mô típ về cái chết ở dạng thức

người anh hùng bị chém rơi đầu Đó là những gợi mở đáng quý cho chúng tôi truy tìm gốc rễ của việc tác giả dân gian xây dựng mô típ chết thần kì trong truyền thuyết

Trang 9

Thứ hai, bài viết Truyền thuyết anh hùng trong thời phong kiến, của tác giả

Kiều Thu Hoạch đã đề cập đến cái chết thần kì, thường là không bệnh tự nhiên

mất, hoặc đứt đầu chắp lại để đi gặp ông già bà cả hỏi về lẽ sinh tử rồi bấy giờ

mới chịu chết; hoặc bay lên trời, lặn xuống nước (có khi dưới hình thức trầm mình), đi vào núi mất tích, v.v…mà nhân dân thường gọi với một từ ngữ thiêng liêng là “Ngài hóa” Tác giả đã đưa ra được kết cấu cơ bản, phổ biến của thần tích và cũng là của truyền thuyết anh hùng Tác giả cũng đã lưu ý, không phải

mọi thần tích và truyền thuyết đều được cấu trúc đúng như vậy Đồng thời sự bố trí giữa các phần trong cấu trúc trên cũng rất linh hoạt và có những nặng nhẹ khác nhau Đây là cơ sở để chúng tôi tìm hiểu mô típ tử trận của nhóm truyền thuyết các triều đại phong kiến tự chủ

Thứ ba, công trình sưu tầm, tuyển chọn và nghiên cứu Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam tập 1 và tập 2, Nguyễn Đổng Chi có những ý kiến gợi mở rất có

giá trị về cái chết với nghĩa tái sinh Sự tái sinh được ông nhắc đến trong công trình nghiên cứu của mình là sự tái sinh của các nhân vật truyền thuyết Những

người anh hùng truyền thuyết này tái sinh là do hóa thân Nguyễn Đổng Chi cho

rằng sự tái sinh của các nhân vật anh hùng trong truyền thuyết là do họ sống lại trong quan niệm của quần chúng nhân dân Bởi vì trong tư tưởng của dân gian, những người anh hùng có công với đất nước được nhân dân thờ phụng muôn đời thì không thể nào chết được mà họ phải sống mãi mãi, phải trở thành bất tử Thế cho nên thay vì cái chết trong sự thật lịch sử, qua nhiều lần tưởng tượng và thêm thắt của nhân dân, những người anh hùng ấy không còn chết như trong sự thật lịch sử nữa mà họ sẽ hóa thân thành các linh vật bay lên trời hay linh hồn của họ

sẽ nhập vào hồn thiêng sông núi để mãi mãi trường tồn Đồng thời, cũng chính trong công trình nghiên cứu này, giáo sư Nguyễn Đổng Chi đã cung cấp thêm

nhiều thông tin đáng quý từ việc tìm ra nguồn gốc của mô típ tái sinh trong tôn

giáo và tín ngưỡng dân gian Thực ra mô típ tái sinh là một cách tiếp cận trong

Trang 10

chiều sâu tâm linh Nhưng chúng tôi nghĩ rằng cái biểu hiện cụ thể trong các bản

kể qua mô tả nó liên quan mật thiết đến mô típ tử trận

Thứ tư, luận văn tốt nghiệ Bước đầu tìm hiểu bộ phận truyền thuyết dân gian đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Thị Thanh Thúy, bước đầu đã tìm

hiểu được tiến trình lịch sử, văn hóa của đồng bằng sông Cửu Long tác động đến

sự hình thành, phát triển của thể loại truyền thuyết Những nét đặc trưng của văn hóa, tập tục của vùng đất mới là nền tảng để hình thành lên các kiểu truyện, tạo nên những nét đặc trưng của truyền thuyết dân gian Cũng trong luận văn này tác giả có đề cập đến chung cục cuộc đời người anh hùng và có nhận xét sau đây đáng suy nghĩ: “truyền thuyết giai đoạn này nói về cái chết của người anh hùng gắn với sự thật lịch sử, hoàn toàn không có yếu tố thần kì hoang đường Sự thật lịch sử trong giai đoạn này phần lớn các cuộc khởi nghĩa đều bị thất bại, nghĩa quân thất trận, người anh hùng bị giặc bắt và hành quyết” Như vậy luận văn đã

đề cập đến mô típ tử trận của người anh hùng ở trường hợp bị giặc giết

Thứ năm, Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh Truy ền thuyết và giai thoại Khánh Hòa (2006) của tác giả Trần Thị Kim Thu, đã

góp phần hệ thống hóa kho tàng truyền thuyết Khánh Hòa, bước đầu miêu tả và tìm hiểu những biểu hiện của truyền thuyết nơi đây Luận văn cũng đưa ra hệ

thống mô típ phổ biến trong truyền thuyết ở vùng đất mới này Đặc biệt, ở chương 3, mục 3.1.3 tác giả đề cập đến các nhóm mô típ về nhân vật anh hùng

thời kỳ phong kiến và ngoại xâm thời Nguyễn thế kỷ XIX: mô típ tự nguyện ra hàng, mô típ tự nguyện cùng chết, mô típ gặp rủi ro, mô típ kẻ thù đe dọa, khống

chế Như vậy luận văn đã đề cập đến mô típ tử trận của người anh hùng ở trường hợp bị giặc giết

Thứ sáu, công trình mang tên Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918) của tác giả Võ Phúc Châu Trong

công trình này, tác giả tập hợp được hơn 100 truyền thuyết về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ giai đoạn (1858 – 1918) Tác giả đã hệ thống hóa

Trang 11

và miêu tả những mô típ tiêu biểu theo 6 nhóm mô típ Trong đó, ở phần nhận xét chung tác giả có đề cập đến nhóm mô típ về nhân vật bị hành quyết Trong nhóm này lại tác giả lại chia ra năm mô típ nhỏ hơn: mô típ người dân nhận hung tin, mô típ lời nói cuối cùng của nhân vật, mô típ nhân vật bị hành quyết;

mô típ đao phủ khiếp sợ, mô típ sự lạ khi rơi đầu Tác giả nhận định rằng “nhân vật anh hùng trong truyền thuyết bao giờ cũng gặp nhiều thử thách Nhưng thử thách khốc liệt đến mức thành tai họa, dẫn đến kết cục bi thương đó là cái chết Người anh hùng buộc phải làm cuộc lựa chọn giữa vinh và nhục, giữa mạng sống và cái chết Nhân vật anh hùng nào trong truyền thuyết hầu như cũng đến hồi hy sinh lẫm liệt Kể lại truyền thuyết, nhân dân không che giấu nỗi đau đớn, lòng tiếc thương vô hạn, sự ngưỡng mộ vô biên trước giờ phút cuối của người anh hùng Tình cảm ấy hội tụ, dồn nén trong các mô típ về sự hy sinh của các anh hùng” Như vậy luận án cũng đã đề cập đến mô típ tử trận của người anh hùng ở trường hợp bị giặc giết

Thứ bảy, luận án Tiến sĩ Những đặc trưng cơ bản của truyện dân gian vùng Thuận Hóa của tác giả Hồ Quốc Hùng có lưu ý đến những yếu tố đặc tả qua việc

thâu tóm công đức của các anh hùng: lối sống nghĩa khí, xung trận thì ngoan cường, thường có kết thúc bi thương Đồng thời tác giả nhấn mạnh, sự trùng lặp hình thức về tình huống tử trận của các nhân vật lịch sử dường như đã cô đúc thành một kiểu tử trận rất đặc trưng cho bộ phận truyền thuyết ở vùng Thuận Hóa Tuy nhiên, vì tác giả giới hạn phạm vi nên truyền thuyết ở địa phương khác chưa được khảo sát

Cuối cùng là luận văn Thạc sĩ Linh thần trong truyền thuyết Việt Nam của

tác giả Võ Thạch Anh đã làm rõ kiểu truyện linh thần trong truyền thuyết Việt Nam, tìm được mối quan hệ giữa truyền thuyết với tập tục, tín ngưỡng và vai trò của nó đối với đời sống tâm linh dưới góc độ hệ thống và cấu tạo tác phẩm Trong đó tác giả có đề cập đến mô típ “Ngài hóa”, tác giả chỉ ra được mô típ

“Ngài hóa” là một trong những hạt nhân quan trọng của loại truyền thuyết linh

Trang 12

thần Tuy không đi sâu vào mô típ về cái chết nhưng toàn bộ việc nghiên cứu linh thần thực chất đã đề cập đến mô típ này

Sau khi tham khảo toàn bộ số lượng các công trình nghiên cứu ở trên đây cùng với những kiến thức cơ bản về văn học dân gian, nhất là thể loại truyền thuyết, chúng tôi thấy rằng mặc dù thật sự chưa có một công trình nào nghiên

cứu cụ thể và đầy đủ về mô típ tử trận trong truyền thuyết nhưng vấn đề mô típ này được nhắc đến trong nhiều công trình nghiên cứu và bài viết trên các tạp chí chuyên ngành cũng đã chứng tỏ nó có sức hấp dẫn thú vị, thu hút sự quan tâm

của nhiều nhà nghiên cứu Kế thừa những thành quả ở trên, chúng tôi đã mạnh

dạn thực hiện đề tài của mình

3 M ục đích nghiên cứu

Nghiên cứu Mô típ người anh hùng tử trận, luận văn sẽ thống kê, phân loại,

lí giải để làm rõ đặc điểm, cấu tạo, vai trò, chức năng của nó trong một số cốt truyện truyền thuyết Không chỉ vậy, chúng tôi còn muốn thông qua đề tài để lí giải một vài vấn đề về cái chết của người anh hùng và rút ra những giá trị tư tưởng và nghệ thuật của mô típ

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ luận văn về “Mô típ tử trận của người anh hùng tử trận trong truyền thuyết Việt Nam”, chúng tôi đi khảo sát những truyền thuyết anh hùng trong chiến đấu đã được sưu tầm và xuất bản từ trước đến nay như :

- Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập 1, thần thoại – truyền thuyết,

viện văn học - Trung tâm khoa học Xã hội và nhân văn Quốc gia, Nxb Giáo dục

- Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (2009), tập 16,

truyện cổ tích, truyền thuyết – Nxb Khoa học Xã hội

- Kiều Thu Hoạch (chủ biên) (2000), Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 4; 5, Nxb Giáo dục

- Lã Duy Lan (1997), Truyền thuyết Việt Nam, Nxb Văn học Thông tin

Trang 13

- Bùi Mạnh Nhị (chủ biên) (2001) – Hồ Quốc Hùng – Nguyễn Thị Ngọc

Điệp, Văn học dân gian, những tác phẩm chọn lọc, Nxb Giáo dục

- Võ Phúc Châu (2011), Truyền thuyết dân gian về cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ (1858-1918), Nxb Thời đại

- Trần Thị Kim Thu (2006) Truyền thuyết và giai thoại Khánh Hòa, Phụ

lục Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh

- Mùa A Tủa (2012), Truyện cổ các dân tộc phía Bắc Việt Nam, Nxb Văn

hóa dân tộc, Hà Nội

- Quách Giao (2011), Tr uyện cổ dân tộc Mường, Nxb Văn hóa dân tộc,

Nghệ An – Thanh Hóa, Tp Hồ Chí Minh

- Nông Quốc Thắng (2011), Truyện cổ các dân tộc Tây Nguyên: Truyện cổ Gia Rai, Truyện cổ Ê Đê, Truyện cổ M’Nông, Truyện cổ Ba Na – Kriêm, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội

- Doãn Thanh (1978), Truyện cổ dân gian dân tộc Dao ở Lai Châu, Nxb

Văn hóa dân tộc, Hà Nội

- Lù Dìn Siểng (1982), Truyện cổ Giáy, Nxb Văn hóa, Hà Nội

- Hoàng Quyết (1986), Truyện cổ Tày Nùng, Nxb Văn hóa, Hà Nội

- Lê Khắc Cường (2011), Truyện cổ Raglai, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội

- Mai Văn Tấn (2007), Truyện cổ Vân Kiều, Nxb Lao Động, Hà Nội

- Đinh Xăng Hiền (1985), Truyện cổ Hrê, Nxb Văn hóa, Hà Nội

- Đỗ Như Thúy (1982), Truyện cổ Cơ Tu, Nxb Văn hóa, Hà Nội

Trang 14

- Ninh Viết Giao (1980), Truyện cổ Thái, Nxb Văn hóa, Hà Nội

- Mạc Đình Dì (1985), Truyện cổ Mảng, Nxb Văn hóa, Hà Nội

- Vù Go Xá (1981), Truyện cổ Hà Nhì, Nxb Văn hóa, Hà Nội

- Lô Giàng Páo (1983), Truyện cổ Lô Lô, Nxb Văn hóa, Hà Nội

- Doãn Thanh (1982), Truyện cổ Phù Lá, Nxb Văn hóa, Hà Nội

- Lâm Quý, Phương Bằng (1983), Truyện cổ Cao Lan – Sán chí, Nxb Văn

hóa, Hà Nội

- Huỳnh Ngọc Trảng (1983), Truyện cổ Khơ me Nam bộ, Nxb Văn hóa,

Hà Nội

- Tạ Văn Thông (1984), Truyện cổ Cơ – Ho, Nxb Văn hóa, Hà Nội

- Truyện cổ Chăm của nhóm tác giả Trương Hiến Mai, Nguyễn Thị Bạch

Cúc (2012), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội

- Truyện cổ H’Mông của tác giả Lê Trung Vũ (1984), Nxb Văn hóa,

Hà Nội

- Y Thi (1984), Truyện cổ M’Nông, Nxb Văn hóa và thông tin Daklak, Đắc

Lắc

- Thu Hương (2006), Truyện cổ Nùng, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội

- Trần Kiêm Hoàng (2010) Truyện cổ Raglai, Nxb Dân Trí

- Lê Khắc Cường, Phan Văn Dốp, Nguyễn Văn Huệ (2011), Truyện cổ Raglai Nxb Văn hóa dân tộc

5 P hương pháp nghiên cứu

• Phương pháp thống kê, miêu tả:

- Sử dụng số liệu thống kê làm cơ sở phát hiện sự tồn tại của các dạng tử

trận trong hệ thống truyền thuyết anh hùng trong chiến đấu Chúng tôi

thống kê những cái chết của người anh hùng trong chiến đấu

- Miêu tả kết cấu, đặc điểm nội dung từng mảng, từng nhóm của chúng

Trang 15

• Phương pháp so sánh loại hình: Chúng tôi tìm những điểm giống nhau của

những cái chết và nhóm họp chúng lại thành những dạng chết, phân loại những cái chết của các nhân vật thành các loại khác nhau

• Phương pháp phân tích: Chúng tôi phân tích cách miêu tả cái chết của các nhân vật để từ đó rút ra những giá trị về tư tưởng và nhệ thuật

• Phương pháp cấu trúc: Với phương pháp này, chúng tôi chú trọng phân tích kết cấu tác phẩm dưới góc độ cốt truyện, cấu tạo nhân vật, các hình thức

chết của nhân vật

• Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu các tác động của văn hóa, lịch sử và đặc biệt là dân tộc học vào các thành tố của truyền thuyết để tạo cơ sở cho việc lý giải những vấn đề đặt ra trong đề tài

6 Đóng góp mới của luận văn

Thứ nhất, đây là công trình đầu tiên đi sâu tìm hiểu việc xây dựng, mô tả

thống kê tương đối đầy đủ về mô típ người anh hùng tử trận trong truyền thuyết

Việt Nam

Thứ hai, từ mô típ người anh hùng tử trận, chúng tôi rút ra những nét đặc

sắc của mô típ này về giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật

Thứ ba, thao tác so sánh mô típ tử trận trong kết cấu cốt truyện giữa các dân

tộc, giúp chúng tôi rút ra được những nét tương đồng và dị biệt về văn hóa, tín ngưỡng truyền thống vô cùng phong phú, đa dạng của các dân tộc

Cuối cùng, kết quả của luận văn là những đóng góp cụ thể của chúng tôi trong việc vận dụng phương pháp so sánh loại hình để tìm hiểu truyền thuyết và

việc nghiên cứu văn học dân gian gắn liền với nghiên cứu văn hóa dân gian

7 C ấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận văn được triển khai thành ba chương như sau:

Trang 16

Ch ương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Trong chương này chúng tôi trình bày những cơ sở và lý thuyết và lịch sử -

xã hội có liên quan đến đề tài, tạo tiền đề cho sự triển khai hai chương sau Chương 1 tập trung vào ba vấn đề:

Một là, trình bày một số vấn đề về lý thuyết mô típ: Làm rõ hai khái niệm típ và mô típ cũng như mối quan hệ của chúng với nhau

Hai là, trình bày cơ sở lịch sử - xã hội liên quan đến mô típ người anh hùng

tử trận Chúng tôi đưa ra những mốc lịch sử quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát triển của thể loại truyền thuyết, và việc phân kì truyền thuyết thành các giai đoạn để thấy được đặc điểm của truyền thuyết trong mỗi thời kì khác nhau như thế nào Từ sự phân kì này, là cơ sở để chúng tôi phân loại, mô tả mô típ người anh hùng tử trận ở chương 2 và chương 3

Ba là, chúng tôi đặt ra các tiêu chí để xác định mô mô típ người anh hùng

tử trận trong truyền thuyết Việt Nam - đối tượng khoa học chính của luận văn này

Chương 2 TÌNH HÌNH TƯ LIỆU VÀ PHÂN LOẠI MÔ TÍP TỬ

TR ẬN TRONG TRUYỀN THUYẾT VIỆT NAM

Trong chương này, chúng tôi khảo sát tình hình tư liệu, phân loại và mô tả

mô típ tử trận nhằm làm rõ biểu hiện của mô típ tử trận trong truyền thuyết Việt Nam Chương 2 tập trung vào ba vấn đề sau: thứ nhất là tình hình tư liệu; thứ hai

là phân loại tư liệu, thứ ba là mô tả các dạng thức của mô típ tử trận trong truyền thuyết Việt Nam, khảo sát các truyền thuyết có chứa mô típ tử trận

Chương 3 MÔ TÍP TỬ TRẬN TRONG CẤU TẠO CỐT TRUYỆN TRUY ỀN THUYẾT VIỆT NAM

Ở chương này, người viết sẽ đi vào làm rõ cấu tạo của mô típ tử trận ở cả hai vai trò: mô típ chi tiết và mô típ chủ đề Ở vai trò là mô típ chi tiết, chúng tôi

tiến hành liệt kê những dạng thức xuất hiện của mô típ tử trận, đồng thời phân tích vai trò, vị trí của nó đối với cốt truyện truyền thuyết Đối với vai trò mô típ

Trang 17

tử trận là mô típ chủ đề, dựa vào lý thuyết về típ, chúng tôi tập trung phân tích

về cốt truyện và kiểu nhân vật xuất hiện trong típ

Trang 18

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Khái ni ệm típ và mô típ

Ở phần này, chúng tôi tập trung mô tả và phân tích những vấn đề về cơ sở lý luận nghiên cứu văn học dân gian để tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng những chương tiếp theo Chúng tôi sẽ đi sâu làm rõ vấn đề thuật ngữ típ và mô típ và mối quan hệ của chúng để có cái nhìn thấu đáo về mô típ

Típ và mô típ là hai khái niệm hết sức cơ bản trong việc nghiên cứu truyện

cổ tích Hai thuật ngữ này đã được rất nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nổi tiếng trên thế giới và trong nước thường dùng Người có công đầu tiên đưa

ra hai khái niệm như là một phạm trù trong nghiên cứu văn học là

A N Vexelopxki – nhà folklore người Nga Sau đó người mang hai thuật ngữ típ và mô típ trở thành những thuật ngữ quốc tế, ai cũng hiểu được đó chính là Antti Aarne và Stith Thompson – hai nhà folklore người Phần Lan

Những công trình quan trọng đầu tiên chứa đựng những khái niệm cơ bản

có liên quan đến đề tài đó là cuốn Từ điển văn học (bộ mới) [65, tr.1012] và từ

Từ điển thuật ngữ văn học [57, tr.36] Ở các công trình này có những định nghĩa

về mô típ như là những yếu tố đã được hình thành ổn định và được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật Bên cạnh đó, còn có những định

nghĩa về típ và mô típ cùng những đặc điểm của chúng trong cuốn Truyện kể dân gian đọc bằng típ và mô típ của Nguyễn Tấn Đắc Ông cho rằng típ và mô

típ là những phần tử vừa mang tính đặc trưng vừa mang tính bền vững của truyện kể dân gian Cũng trong công trình này, ông đưa ra một định nghĩa về mô típ của nhà nghiên cứu folklore Stith Thompson, đại ý như sau: Trong folklore,

mô típ là thuật ngữ chỉ bất kỳ một phần nào mà ở một tiết (item) của folklore có thể phân tích ra được Công trình này không chỉ cung cấp những khái niệm nền tảng mà còn giúp nắm bắt được phạm vi và lĩnh vực mà mô típ được quan tâm

Trang 19

nghiên cứu nhiều nhất, theo tác giả đó chính là lĩnh vực nghiên cứu truyện kể dân gian như các thể loại truyện cổ tích, truyền thuyết, huyền thoại, Đồng thời, tác giả còn giới thiệu được các phương pháp tiếp cận một mô típ cụ thể của văn học dân gian là như thế nào qua việc đi vào khảo sát một số mô típ trong truyện

kể dân gian Việt Nam như mô típ Quả bầu Lào, mô típ huyền thoại lụt hay những mô típ phổ biến trong kiểu truyện Tấm Cám…

1.1 1 Lý thuyết về mô típ

Cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” nêu định nghĩa: “Mô típ: Tiếng Hán Việt

gọi là “mẫu đề” (do người Trung Quốc phiên âm chữ mô típ trong tiếng Pháp)

Có thể chuyển thành các từ “khuôn”, “dạng” hoặc “kiểu” trong tiếng Việt nhằm

chỉ những thành tố, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được hình thành ổn định,

bền vững và được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật, nhất là trong văn học nghệ thuật dân gian”

Còn theo Nguyễn Tấn Đắc trong Nghiên cứu truyện dân gian Đông Nam

Á (bằng mô típ và típ) trích Đề cương bài giảng Sau đại học 1998 [45, tr.50]

thì “mô típ có thể là sản phẩm của trí tưởng tượng non trẻ, thơ ngây của loài người ở trước thời kỳ của tư duy khoa học” Ví dụ như nồi cơm ăn không bao giờ hết, viên ngọc ước, con người có thể nghe được tiếng nói của loài vật…

“Hoặc mô típ cũng có thể là sản phẩm của sự quan sát cuộc sống xã hội có thực nhưng nó phải bất thường, quá đáng”

Nguyễn Thị Nguyệt nêu định nghĩa: “Mô típ là những yếu tố hạt nhân cấu thành cốt truyện” [ 129, tr 12]

Từ những nhận định trên chúng tôi hiểu: Mô típ là những yếu tố tạo thành

cốt truyện Những yếu tố này được định hình ổn định và được sử dụng trong nhiều truyện khác nhau

Trang 20

1.1 2 Lý tuyết về típ

Về khái niệm típ theo Stith Thompson (dẫn theo [179, tr.11]) có nghĩa là những cốt kể có thể tồn tại độc lập trong kho truyện truyền miệng Cốt truyện như là một sơ đồ phức tạp, được cấu tạo từ một dãy mô típ Trong đó sẽ có một

mô típ cơ bản đóng vai trò chính và các mô típ khác liên hệ với nhau theo một thể thống nhất Dù đơn giản hay phức tạp, truyện nào được kể như một cốt kể độc lập đều được xem là một típ Như vậy típ truyện có thể được coi là một tác phẩm nghệ thuật trọn vẹn Có những truyện kể dài chứa đựng hàng tá mô típ, lại

có những truyện kể ngắn chỉ có một mô típ đơn lẻ Trong trường hợp đó, típ và

mô típ đồng nhất

Theo định nghĩa của Từ điển văn học [65, tr.206] thì típ là “tập hợp những

truyện có cùng chủ đề và cốt truyện tương tự nhau, được gọi là kiểu truyện” Típ

là một tác phẩm nghệ thuật trọn vẹn, có tính độc lập cao, còn mô típ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, là thành tố góp phần tạo nên cốt truyện Như vậy típ là đơn vị

lớn hơn mô típ, một típ có thể chứa nhiều mô típ Trong trường hợp truyện quá đơn giản chỉ có một thì mô típ ấy được xem như là một típ Nếu ở một số truyện

có các mô típ tương tự nhau thì những truyện ấy làm thành một kiểu truyện Tuy nhiên không phải những truyện trong cùng một kiểu truyện thì số mô típ trong chúng là hoàn toàn trùng khít với nhau mà chỉ có một hoặc một vài mô típ là tương tự nhau

Bên cạnh đó, Nguyễn Tấn Đắc trong Nghiên cứu truyện dân gian Đông Nam Á (bằng mô típ và típ) trích Đề cương bài giảng Sau đại học 1998 [45, tr.50-51] có định nghĩa “trong ngôn ngữ thông thường, típ chỉ một lớp vật thể có những đặc điểm chung Nó được dịch là kiểu, kiểu mẫu, đại diện điển hình Dựa vào đó, khoa văn học dân gian đã dùng thuật ngữ típ để chỉ một tập hợp những mẫu truyện kể dân gian có chung một cốt truyện Cụ thể hơn, típ chỉ một tập hợp của nhiều mẫu truyện chứ không chỉ từng truyện kể riêng lẻ và những mẫu truyện đó phải có chung một cốt kể Vậy típ là một cốt với tất cả những dị bản

Trang 21

của nó và trở thành một kiểu truyện, tức là một đơn vị truyện độc lập, phân biệt với những đơn vị truyện khác Có thể gọi típ là một kiểu truyện, một truyện – đơn vị”

“Típ giúp xem xét và sắp xếp truyện dân gian theo từng cốt kể, tức là theo từng truyện đơn vị, chứ không theo từng mẫu truyện riêng lẻ Trong một kho truyện kể nào đó (của một dân tộc hay một quốc gia) bao giờ số típ truyện cũng

ít hơn và ổn định hơn số mẫu truyện riêng lẻ”

Nguyễn Thị Nguyệt nêu định nghĩa: “Típ truyện là một tập hợp những truyện có cùng kiểu dạng có cùng một nội dung và được cấu thành bởi những

mô típ giống nhau” [ 129, tr.12]

Từ những nhận định trên chúng tôi hiểu: Típ là tập hợp những truyện có các

yếu tố cốt truyện tương tự nhau

1.1.3 Mối quan hệ giữa típ và mô típ

Mối quan hệ giữa típ và mô típ là rất gần gũi, có khi có thể chuyển hóa cho nhau Tức là típ cũng có khi trở thành mô típ và ngược lại một mô típ cũng có thể trở thành một típ Ở trường hợp trong một cốt truyện đơn giản, chỉ có một

mô típ thì mô típ ấy có thể được coi là một típ Ngược lại, một cốt truyện thuộc

về một típ có thể di chuyển vào một cốt truyện phức tạp hơn, trở thành một thành tố của cốt truyện phức tạp này, tức là một mô típ trong cốt truyện phức tạp mới Từ đây, ta có thể phân chia mô típ thành hai loại là mô típ chi tiết và mô típ chủ đề Mô típ chi tiết là một yếu tố kết hợp với những yếu tố khác để cấu thành nên cốt truyện Nó có thể tham gia vào nhiều típ khác nhau Còn mô típ chủ đề chính là một cốt truyện, tạo ra những cốt truyện tương tự nhau để hình thành nên một típ

Trong nội dung công trình nghiên cứu này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát

và tìm hiểu mô típ tử trận ở cả hai dạng mô típ chi tiết và mô típ chủ đề về người anh hùng tử trận trong truyền thuyết Việt Nam Với dạng mô típ người anh hùng

tử trận là mô típ chủ đề, sẽ tập trung làm rõ cấu tạo và đặc điểm của nó về cốt

Trang 22

truyện và kiểu nhân vật Còn với dạng mô típ anh hùng tử trận là mô típ chi tiết thì ngoài việc xác định cấu tạo, đặc điểm còn đi sâu tìm hiểu tác dụng, chức năng của nó đối với cốt truyện

1.2 Phân kì truyền thuyết

Thứ nhất, để tiện cho việc phân loại hợp lý, chúng tôi xin đề cập đến một số

mốc lịch sử có liên quan đến thể loại truyền thuyết Tất nhiên việc phân kì này

chỉ có tính tương đối để nhằm tìm hiểu cấu tạo của mô típ phát triển qua các thời

kì Đúng hơn là tìm hiểu dưới góc độ loại hình lịch sử

Theo dòng lịch từ khi An Dương Vương lên ngôi lịch sử nước ta trải qua 4

lần Bắc thuộc, giai đoạn nội chiến Lê – Mạc, Trịnh – Nguyễn, Pháp thuộc, Nhật thuộc, chống Pháp, chống Mỹ thì lịch sử nước ta trải qua gần 2300 năm trong đó

thời gian hòa bình độc lập chỉ khoảng 800 năm còn lại là 1500 năm dân tộc chúng ta sống phải chiến đấu chống giặc ngoại xâm

Hàng nghìn năm Bắc thuộc, hàng trăm năm bị thực dân, đế quốc chiếm đóng, tưởng chừng dân tộc Âu Lạc đã bị khuất phục trước những đế quốc sừng

sỏ hàng đầu thế giới đó Nhưng không, với dòng dõi con rồng cháu tiên, nhân dân Âu Lạc đã không ngừng nuôi khát vọng độc lập tự chủ, bảo vệ bờ cõi cha ông đã xây dựng, đó là tinh thần yêu nước sâu sắc thể hiện rõ nét xuyên suốt tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam tạo nên truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta

Sau chiến công chói lọi chống Tần, Thục Phán xưng là An Dương Vương đặt quốc hiệu là Âu Lạc thay cho Văn Lang Tên nước thể hiện rõ ràng sự hợp

nhất giữa hai thành phần dân tộc Việt là Âu và Lạc trong một chỉnh thể quốc gia

rộng mở cao hơn Văn Lang An Dương Vương đã xây dựng đất nước Âu Lạc có

kết cấu chính trị - xã hội hoàn chỉnh gồm ban văn và ban võ hoàn chỉnh, đặc biệt

An Dương Vương còn xây dựng quân đội vững mạnh hàng vạn quân với thành trì phòng thủ Cổ Loa đồng thời là kinh đô của Âu Lạc Với sự phát triển mạnh

Trang 23

mẽ về mọi mặt Âu Việt đã đủ sức chống lại ngoại bang xâm lăng và không ít lần chiến thắng quân thù xâm lăng và làm cho giặc phải bỏ ý định xâm lược Âu Lạc Trong hơn 100 năm Bắc thuộc lần thứ nhất của nhà Hán, nhân dân Âu Lạc

vẫn không ngừng nổi dậy đấu tranh giành độc lập dân tộc nhưng hầu hết các

cuộc nổi dậy đều bị đàn áp đẫm máu Cuộc khởi nghĩa chỉ giành được thắng lợi khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa vào năm 40

Trưng Vương lên ngôi trị vì được 3 năm thì bị quân Hán do Mã Viện thống lĩnh quay trở lại đàn áp mạnh mẽ Với tinh thần yêu nước quật cường, Hai Bà đã lãnh đạo nhân dân đứng lên chống quân Hán nhưng do tương quan lực lượng chênh lệch quá lớn, tháng 4 năm 43 hai Bà Trưng bị thất bại và hi sinh oanh liệt cùng hàng nghìn nghĩa binh.Từ sau thất bại năm 43 của hai Bà Trưng, nước ta rơi vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ II

Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống hoàn toàn thắng lợi Một lần

nữa, nhân dân ta bằng sức chiến đấu anh dũng của mình, khẳng định quyền tự

chủ đất nước,bảo vệ vững chắc những thành quả đấu tranh và xây dựng đất nước

của tổ tiên mình.Thắng lợi của cuộc kháng chiến đã giáng một đòn nặng nề vào

tư tưởng bành trướng của vua tôi nhà Tống Tên tuổi của Lê Hoàn và quân tướng nhà Tiền Lê cũng như của thái hậu Dương Vân Nga mãi mãi khắc sâu vào

lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta

Trong ba lần chống quân Nguyên Mông, đã xuất hiện rất nhiều tấm gương dũng cảm hi sinh quên mình vì đất nước, nhưng đóng vai trò quan trọng nhất, là người kết nối sức mạnh đoàn kết đoàn kết dân tộc đó là vua Trần Nhân Tông và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Xuất thân là người dòng dõi nhà Trần, Trần Hưng Đạo được coi là người hội tụ tinh hoa dân tộc, mang trong mình hào khí Đông A thời Trần và tinh thần và truyền thống yêu nước của dân tộc Đây được coi là đỉnh cao của thời kỳ phong kiến nước ta về tất cả mọi mặt, và trong đó không thể không nhắc đến sự phát triển của tinh thần yêu nước và truyền thống

chống giặc ngoại xâm

Trang 24

Khởi nghĩa Lam Sơn đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược

to lớn, làm thay đổi về cơ bản cục diện chiến tranh và so sánh lực lượng giữa ta

và địch Sau khi gặp nhiều thất bại liên tiếp, trong cuộc phản công cuối cùng, Vương Thông buộc phải chấp nhận rút quân về nước vào cuối năm 1427 Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta hoàn toàn thắng lợi

Sau chiến thắng quân Thanh xâm lược, hơn nửa thế kỷ sau, nước ta phải đối

mặt với kẻ thù xâm lược là thực dân Pháp Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, do tương quan lực lượng, phương tiện chiến tranh hơn hẳn, quân Pháp đã nhanh chóng chiếm được ưu thế Tuy nhiên, với truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta bao đời đã trỗi

dậy mạnh mẽ, nước ta đã xuất hiện nhiều anh hùng kiệt xuất dẫn dắt phong trào yêu nước chống giặc ngoại xâm đánh bại hai kẻ thù sừng sỏ nhất thế giới trong hơn một thế kỷ

Tóm lại, truyền thống chống ngoại xâm là một vốn quý vô giá của dân tộc,

là nguồn động viên tinh thần lớn lao, có tác dụng duy trì tư tưởng chiến đấu và

sẵn sàng chiến đấu đối với nhân dân ta Việc đánh giặc cứu nước là rất quan

trọng nhưng cũng rất bình thường đối với mọi người dân Nhân dân ta nhận thức sâu sắc rằng: nước mất thì nhà tan, do đó, muốn bảo vệ quyền lợi cá nhân thì không có cách nào khác là phải đấu tranh bảo vệ quyền lợi của dân tộc Đấu tranh vì quyền lợi cá nhân nhưng không chỉ vì quyền lợi cá nhân mà còn vì nghĩa cả của dân tộc

Thứ hai, việc nghiên cứu truyền thuyết dựa vào cảm hứng thời đại nhưng theo diện mạo của nó có phần khác nhau Do đó nhiều nhà nghiên cứu đi theo hướng này, xin dẫn ra một số cách phân loại của những nhà nghiên cứu đi trước

Để tiếp cận thể loại truyền thuyết, những nhà nghiên cứu đi trước đã tiến hành phân cắt nó ra thành những biến thể dưới cấp thể loại Ở đây, chúng tôi chỉ dẫn các công trình mang tính chất giáo trình, không xét đến các bài nghiên cứu nhỏ đăng trên các tạp chí chuyên ngành

Trang 25

Dưới đây là sự nhóm hóa các truyền thuyết của các nhà nghiên cứu mà chúng tôi bao quát được

Tên tác gi ả Tên công trình Các bi ến thể truyền thuyết

Lê Chí Quế Văn học dân gian Việt

Nam

Truyền thuyết lịch sử;

Truyền thuyết anh hùng;

Truyền thuyết các danh nhân văn hóa;

Truyền thuyết tôn giáo

Hoàng Tiền Tựu Văn học dân gian (Tập 2) Truyền thuyết về họ Hồng

Bàng và thời kì Văn Lang; Truyền thuyết về thời kì Âu

Đỗ Bình Trị Văn học dân gian (Tập 1) Cách 1:

Những truyền thuyết về thời các vua Hùng;

Những truyền thuyết về sau

Truyền thuyết nhân vật;

Truyền thuyết địa danh;

Truyền thuyết phong vật

Trang 26

5- Truyền thuyết dân gian người Việt)

Hồ Quốc Hùng Truyền thuyết Việt Nam

và vấn đề thể loại

Truyền thuyết địa danh;

Truyền thuyết lịch sử

Cách phân chia nhóm truyền thuyết của những nhà nghiên cứu trên đây chủ

yếu dựa vào hai hướng, một hướng là dựa vào nội dung của lịch sử qua từng thời

kì (Hoàng Tiến Tựu, Đỗ Bình Trị - cách 1), một hướng dựa vào đối tượng được truyền thuyết kể đến (Lê Chí Quế, Đỗ Bình Trị - cách 2, Kiều Thu Hoạch, Hồ

Quốc Hùng) Không khẳng định cách chia nào là đúng đắn, nhưng theo chúng tôi nhận thấy, cách chia nhóm loại dựa vào nội dung của lịch sử qua từng thời kì

lịch sử có ưu điểm là thấy được những nét khu biệt của truyền thuyết qua các

thời kì, cũng như thấy được quá trình vận động, phát triển của truyền thuyết) - nghiên cứu kho tàng truyền thuyết dân gian phân chia theo mặt này có lẽ là khả

dụng hơn cả

Từ cơ sở lịch sử, tham khảo cách phân chia của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi phân truyền thuyết thành các nhóm như sau:

1.2.1 Truyền thuyết về họ Hồng Bàng và thời kì Văn Lang

Họ Hồng Bàng mở đầu thời kỳ lập quốc của dân tộc ta kéo dài 2622 năm (2879tcn-258tcn), từ Kinh Dương Vương đến Lạc Long Quân và các đời Hùng Vương Theo Ðaị Việt sử ký toàn thư của sử thần Ngô Sĩ Liên, cho đến thời vua

Hùng cương vực nước Văn Lang trải rộng, phía đông giáp Nam Hải, phía tây đến Ba Thục, phía bắc đến hồ Ðộng Ðình, phía nam giáp nước Hồ Tôn (nước Chiêm Thành)

Truyền thuyết về Họ Hồng Bàng là hệ thống truyền thuyết mang tính chất

sử thi, phản ánh không khí anh hùng ca thời Hùng Vương dựng nước và trình độ khá văn minh của người Văn Lang Các nhân vật Vua Hùng, Sơn Tinh (Thần Tản Viên) Phù Ðổng Thiên Vương là những biểu tượng của quốc gia Văn Lang

Trang 27

trong thời kỳ đang lớn mạnh Hình tượng Lạc Long Quân-Âu Cơ có ý nghĩa khái quát hoá cho công cuộc chinh phục tự nhiên mở mang bờ cõi của người Văn Lang

Những truyền thuyết tiêu biểu trong chuỗi truyền thuyết về thời các vua Hùng : Lạc Long Quân - Âu Cơ, Sơn Tinh - Thủy Tinh, Thánh Gióng

Nhân vật Hùng Vương không phải là nhân vật chính của từng truyện riêng nhưng lại là nhân vật nổi bật trong hệ thống truyện Vua Hùng (Hùng Vương thứ sáu, Hùng Vương thứ mười tám, Hùng Vương nói chung) là người đứng đầu quốc gia, vị vua có uy tín với con người, tiếp cận với thần linh, là biểu trưng của sức mạnh và tinh thần Văn Lang

Yếu tố thần kỳ còn khá đậm đặc trong truyền thuyết thời kỳ này Tuy nhiên,

từ Lạc Long Quân đến Thánh Gióng phương pháp sáng tác truyền thuyết đã thay đổi một mức độ nhất định: Vai trò của thần linh cũng như tính chất siêu nhiên giảm xuống trong khi tính chất trần thế tăng lên Lạc Long Quân là một vị thần, cuộc hôn phối của Lạc Long quân với Âu Cơ cũng mang tính chất phi thường Khác với Lạc Long Quân, cho dù nhân vật Thánh Gióng còn mang những nét thần kỳ nhưng vẫn gần gũi với con người bình thường (có mẹ, sinh ra ở làng Phù Ðổng, ăn cơm, cà) Mặt khác, từ Lạc Long Quân đến Thánh Gióng, truyền

thuyết thời kỳ này cũng có sự thay đổi về đề tài chủ đề: từ đề tài đấu tranh chinh phục thiên nhiên đến đề tài đấu tranh chống xâm lược Nói tóm lại, từ "Sơn Tinh Thuỷ Tinh" cho tới Thánh Gióng, truyền thuyết thời kỳ Văn Lang đã có sự biến đổi

Trong quá trình khảo sát truyền thuyết thời kì này, chúng tôi không tìm thấy

có tác phẩm nào xuất hiện mô típ tử trận đạt tiêu chí nêu trên Cho nên truyền thuyết thời kì này chúng tôi sẽ không đưa vào bảng khảo sát ở chương 2

1.2.2 Tr uyền thuyết về thời Âu Lạc và Bắc thuộc

Nước Âu Lạc của An Dương Vương tồn tại khoảng 50 năm (257 – 208 trước công nguyên) Sở dĩ ta gắn thời kỳ Âu Lạc vào thời Bắc thuộc vì lịch sử

Trang 28

Âu Lạc cũng như truyền thuyết An Dương Vương mang tính chất bi hùng Thời

kỳ Bắc thuộc hơn 10 thế kỷ(207tcn-938) là thời kỳ bị xâm lược và chiến đấu dành độc lập của dân tộc ta Trong hơn một ngàn năm bị nô lệ, dân tộc ta đã không bị đồng hoá hay bị diệt vong như nhiều dân tộc trên thế giới, đó là điều hết sức phi thường

Truyền thuyết thời kỳ này đã phản ánh và chứng minh được sức sống và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam Nhờ có sức sống mãnh liệt và bản lĩnh cao, dân tộc

ta đã vượt qua thời kỳ bị uy hiếp và thử thách gay go, lâu dài

Truyền thuyết phản ánh cả lịch sử chiến thắng và lịch sử chiến bại của dân tộc Nhiều truyền thuyết thời kỳ này mà trong đó truyện An Dương Vương là tiêu biểu, có kết cấu hai phần: phần đầu là lịch sử chiến thắng, phần sau là lịch

Nhân vật trung tâm của các truyền thuyết thời kì này thường là các vị vua và một loạt các bề tôi nửa hư nửa thực được xâu chuỗi xung quanh Đi kèm với ông vua nước Âu Lạc là một loạt các nhân vật: Ông Nỏ, ông Nồi, ông Lý Tiến, Nhân vật Trưng Trắc, Trưng Nhị có một hệ thống chuỗi xung quanh khá đặc biệt Đó là hệ thống nhân vật hầu hết là nữ với con số thiêng 36 (theo Trần Quốc Vượng đó là bội số của 9 (thể hiện tính năng động thời cổ)

Trang 29

Xoay quanh hai nhân vật trung tâm là Lý Nam Đế (Lý Phật Tử) và Nam Việt Vương (Triệu Quang Phục) được xác định trong khung niên đại thời thuộc Lương, nhóm truyền thuyết thời tiền Lý thêu dệt một loạt nhân vật liên quan: Nhã Lang – Cảo Nương, Lý Phục Man, Trương Hống, Trương Hát,…Không tách rời nghệ thuật truyền thống của truyền thuyết, nhóm nhân vật này còn mang dấu ấn rất rõ của các thần tự nhiên mà có nhà nghiên cứu đã chứng minh bản chất sông nước của cả nhóm Những dấu hiệu nhiên thần trong tích truyện, những nơi thờ tự ở các cửa biển, cửa sông cùng với sự mờ mịt của thời khuyết

sử khiến cho cả một triều đại chìm vào màn sương huyền thoại

Ở thời kì này, ta thấy xuất hiện cả 4 kiểu tử trận: Chết thần kì, tử tiết, bị giặc giết, kiệt sức chết Trong đó xuất hiện nhiều nhất là kiểu chết thần kì và tử tiết Điều này sẽ được làm rõ ở chương 2

1.2.3 Truyền thuyết các triều đại phong kiến tự chủ

Về phương diện lịch sử, thời kỳ phong kiến tự chủ từ TK X đến TKXIX có những nét lớn như sau:

- Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV: giai cấp phong kiến Việt Nam xây dưng một quốc gia thống nhất,gìn giữ, củng cố nền độc lập dân tộc

- Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX: sự suy sụp của các triều đại phong kiến và cuối cùng đi đến tan rã quốc gia phong kiến trước thế lực phương Tây

- Trong suốt chặng dài lịch sử nêu trên, dân tộc ta đã làm nên những chiến tích: nhà Trần ba lần đánh tan quân Nguyên - Mông, Lê Lợi quét sạch quân Minh ra khỏi cõi, Nguyễn Huệ đánh tan quân Thanh ở phía Bắc và quân Xiêm ở phía Nam Bên cạnh đó còn phải kể đến các cuộc nội chiến giữa những tập đoàn phong kiến và các phong trào nông dân khởi nghĩa chống lại triều đình

Truyền thuyết thời kỳ này gồm các nhóm sau đây: Truyền thuyết về anh hùng chống ngoại xâm (Truyền thuyết về Yết Kiêu, Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Trãi ), truyền thuyết về danh nhân văn hóa (Truyền thuyết về Chu Văn An, Trạng Trình ), truyền thuyết về lịch sử địa danh (Sự tích Hồ Gươm, Sự tích núi

Trang 30

Ngũ Hành ), truyền thuyết về anh hùng nông dân (Truyền thuyết về Chàng Lía, Quận He, Ba Vành )

So với truyền thuyết thời kỳ trước, yếu tố hoang đường kỳ diệu trong truyền thuyết thời kỳ này giảm đi một mức đáng kể Ðặc biệt, có những truyền thuyết

về anh hùng nông dân không có yếu tố thần kỳ(Truyền thuyết về Hầu Tạo, Chàng Lía, Lê Văn Khôi )

Hai nhóm truyền thuyết nổi bật của thời kỳ này là: truyền thuyết về anh hùng chống ngoại xâm và truyền thuyết về anh hùng nông dân Nhân vật anh hùng có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dân tộc sâu sắc, giàu lòng thương yêu nhân dân Ðây là những nhân vật có tài năng phi thường, mang vẻ kỳ vĩ, siêu nhiên Chính vì vậy giai đoạn này chủ yếu xuất hiện kiểu tử trận bị giặc giết, bên cạnh đó vẫn có kiểu chết thần kì, tử tiết, kiệt sức chết

1.2.4 Truyền thuyết thời chống Pháp

Hệ thống truyền thuyết trong thời kì này bắt đầu nảy sinh và lưu truyền từ

âm vang của tiếng súng kháng chiến đầu tiên đến khi có Đảng cộng sản ra đời

Tư tưởng chủ đạo của hệ thống truyện kể này vẫn là tinh thần yêu nước, ý thức độc lập tự chủ dân tộc và chí khí quyết tâm đấu tranh chống Pháp xâm lược bảo

vệ đất nước Truyện kể vẫn xoay quanh những hình tượng anh hùng kháng chiến, thủ lĩnh của các cuộc khởi nghĩa, các sĩ phu, nho sĩ giàu lòng yêu nước chống lại sự xâm lược và đồng hóa của kẻ thù Trong thời kì này, mô típ chiếm

ưu thế đó là mô típ bị giặc giết, điều đó nói lên sự dã man của kẻ thù Bên cạnh

đó vẫn còn tồn tại mô típ chết kì lạ, tử tiết và kiệt sức chết, tuy nhiên nó chỉ chiếm một khối lượng nhỏ tác phẩm khảo sát

Khảo sát các đơn vị tác phẩm, chúng tôi sẽ chia truyền thuyết thành 3 thời

kì (Thời kì Bắc thuộc, các triều đại phong kiến tự chủ, thời kì Pháp thuộc), mỗi thời kì đều có 4 kiểu tử trận: chết thần kì, tử tiết, bị giặc giết, kiệt sức chết Sự khác nhau trong mỗi thời kì là sự nổi trội về một kiểu tử trận nào đó, hoặc có thể

về nội dung và hình thức thể hiện

Trang 31

Tiểu kết: Lịch sử của dân tộc có lẽ song song tồn tại với lịch sử phát triển

của thể loại truyền thuyết Nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị trong công trình Nghiên

cứu tiến trình lịch sử của văn học dân gian Việt Nam có nói: “Tiến trình văn

h ọc dân gian là quá trình nảy sinh, phát triển nở rộ và suy tàn các thể loại của

nó, đồng thời là quá trình của sự vận động lịch sử của toàn bộ hệ thống thể loại

c ủa nó” [195, tr.38] Nhận thức đó gợi ý cho nhiều người đi sau về mặt vận

dụng lý thuyết vào nghiên cứu các hiện tượng văn học dân gian Việt Nam

1.3 Tiêu chí xác định mô típ người anh hùng tử trận trong truyền thuyết Việt Nam

Trong công trình nghiên cứu này, để đảm bảo sự nhất quán và chính xác ở việc khảo sát tư liệu, chúng tôi xin đặt ra những tiêu chí cụ thể để xác định mô típ người anh hùng tử trận trong truyền thuyết Ở đây xin được đưa ra ba tiêu chí

để xác định như sau:

Thứ nhất, người anh hùng đi đánh giặc

Thứ hai, phải có tình tiết thua trận

Thứ ba, phải có tình tiết về cái chết (chết tại trận hoặc có thể chạy về quê hương mới chết,…)

Đối với tiêu chí thứ nhất – phải có chi tiết người đi đánh trận, có thể là chàng trai, hoặc cô gái, có thể là người mẹ, người chồng, người vợ hay người con trong gia đình, Vì lòng căm thù giặc sâu sắc mà họ đã đứng lên tập hợp lực lượng để đánh giặc, trả thù nhà đền nợ nước

Ở tiêu chí thứ hai – người đi đánh giặc thua trận, bởi có một số truyền thuyết anh hùng đi đánh trận, thắng, trở về hóa (Những truyện này không được luận văn khảo sát vì nó không mang ý nghĩa tử trận, tức thua trận chết)

Tiêu chí thứ ba – tình tiết về cái chết có thể được tác giả dân gian nói trực tiếp (tử tiết, hy sinh, hành quyết,…), hoặc gián tiếp (hóa; đi xuống sông, núi mất tích, được đón lên trời,…)

Trang 32

Sở dĩ phải xác định những tiêu chí trên là vì mô típ này rất giống với mô típ hóa mà người anh hùng đi chiến đấu thắng trận trở về rồi “hóa” (Thánh Gióng, Truyện Bảng Công và Hải Công đời Trần, Sự tích bà Quý Minh đời Trần,…) hay thắng trận về quê một thời gian thì bị bệnh chết, thắng trận nhưng do bị kiết

sức mà chết (truyện Ngư Thần Võ Cố - […Trong trận hỏa công bừng trời này,

Võ Cố xông pha trong lửa đạn từ sáng tới chiều mới hạ xong đồn trai giặc Và ngay lúc đó, Võ Cố cũng ngã ra bất tỉnh, vì vẩy trên người chàng đã bị lửa nung khô, cong lên hết Nghĩa quân vội khiêng chàng ra sông dìm xuống nước, nhưng không kịp chàng đã tắt thở…]) hoặc sống thêm một thời gian nữa sau đó mới

chết và được sắc phong, truy phong hoặc hiển linh, âm phù Vì kết cục cuối cùng ở cả hai kiểu truyện họ đều chết

Trang 33

Tiểu kết chương 1

Như vậy trong nội dung chương này, chúng tôi đã tập trung làm rõ những vấn đề chung, khái quát có liên quan đến đề tài: Cơ sở lý thuyết về típ, mô típ, mối quan hệ giữa chúng, chỉ ra sự khác nhau giữa típ và mô típ có liên quan đến

mô típ tử trận Về những vấn đề cơ sở lịch sử là tìm hiểu, phân chia các giai đoạn phát triển của truyền thuyết, xác định xem mô típ tử trận có hay không có trong từng giai đoạn Bên cạnh đó, việc đưa ra những tiêu chí để xác định mô típ

tử trận trong truyền thuyết sẽ làm cho việc khảo sát tư liệu được cụ thể, rõ ràng

và nhất quán hơn

Trang 34

Chương 2 TÌNH HÌNH TƯ LIỆU VÀ PHÂN LOẠI MÔ TÍP

2.1 Tình hình tư liệu

Có thể thấy việc khảo sát và phân loại là những công việc đầu tiên và quan trọng trong nghiên cứu khoa học Để có thể hiểu và nắm bắt một đối tượng nào đấy thì việc xác định được nó một cách chính xác là vô cùng cần thiết, quyết định kết quả nghiên cứu Chính vì thế, việc phân loại đòi hỏi phải có được độ

chuẩn xác, kết hợp những thao tác khoa học nghiêm túc Trước hết, việc lựa chọn nguồn tư liệu để khảo sát cũng cần phải được hết sức chú ý

Để xác định được mô típ tử trận- đối tượng nghiên cứu chính của đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát những tư liệu sau đây và tìm được những truyền thuyết có chứa mô típ tử trận phù hợp với các tiêu chí xác định mô típ mà chúng tôi đã đưa ra ở phần trên:

1.Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập 1, thần thoại – truyền thuyết,

Viện Văn học - Trung tâm khoa học Xã hội và nhân văn Quốc gia, NXB Giáo dục, gồm có 177 tác phẩm truyền thuyết, chúng tôi chọn lọc được 29 truyền thuyết sau đây:

• Ba anh em họ Nguyễn và Thục Nương (tr.330)

• Sự tích năm anh em chàng Vịt (tr.355)

Trang 35

• Hà Tơ Hà Liễu (tr.363)

• Sự tích tướng quân Lũ Lũy (tr.365)

• Bà Trưng Nhị và thành Dền (tr.366)

• Triệu Việt Vương và Lí Nam Đế (tr.388)

• Truyện chàng trai họ Đoàn (tr.391)

• Truyện may áo cho chồng bằng hơi thở ấm (tr.453)

2 Trong công trình của Kiều Thu Hoạch (2004), Tổng tập văn học dân gian

người Việt, Tập 4, Nxb Khoa Học Xã Hội, 228 tác phẩm truyền thuyết, chúng

tôi chọn lọc được 51 truyền thuyết sau đây:

• Sự tích Nhạc Sơn cư sĩ thời Hùng Vương (tr.292)

Trang 36

• Truyện ông Lý Tiến (tr.312)

• Sự tích anh em Trù công Thuận nương giúp Bà

• Sự tích Đào Kỳ thời vua Trưng (tr.435)

• Sự tích Thuỷ Hải và Đăng Giang thời vua Trưng (tr.441)

• Sự tích Mộc Hoàn thời vua Trưng (tr.443)

• Sự tích Doãn Công dẹp giặc Tô Định (tr.448)

• Sự tích Hà Đại Liễu, Cao Sơn, Tần Thắng thời vua Trưng (tr.458)

• Sự tích Ả Tú, Ả Huyền, Thượng Cát ba tướng

• Sự tích Bát Nàn công chúa (tr.465)

Bản khác:

• Sự tích hai anh em Uyên Mặc đại vương và

Quang Dung công chúa thời Hai Bà Trưng (tr.473)

• Sự tích hai anh em đánh giặc Tô Định (tr.487)

• Những cánh đồng mang tên chiến công (tr.490)

Trang 37

• Xuân Nương công chúa (tr.502)

• Ba anh em họ Nguyễn và Thục nương (tr.517)

Triệu Việt Vương và Lý Nam Đế (tr.578)

• Ba anh em Trung – Thành – Trinh (tr.584)

• Sự tích Triệu Việt Vương và Cảo nương (tr.597)

Bản khác:

Truyện tích Triệu Quang Phục (tr.604)

• Sự tích Đại lang, Nhị lang thời Triệu Việt Vương (tr.609)

• Sự tích thần sông Như Nguyệt (tr.613)

Bản khác:

Sự tích Trương Hống, Trương Hát (tr.615) Truyện tích Trương Hống, Trương Hát (tr.624)

Trang 38

Sự tích anh em Trương Hát (tr.632)

• Sự tích hai mẹ con đánh giặc Lương (tr.648)

• Bài ký về Hương Lãm Mai Hắc Đế (tr.663)

• Sự tích bà mẹ Đinh Tiên Hoàng và các công thần (tr.706)

• Sự tích Quan Ải đại vương thời Đinh Tiên Hoàng (tr.711)

• Truyện Nguyễn Bồ, Nguyễn Bặc (tr.727)

• Sự tích sứ quân Nguyễn Siêu ở Đông Phù Liệt

• Sự tích sứ quân Ngô Xương Xí (tr.748)

• Sự tích sứ quân Kiều Công Hãn (tr.754)

• Sự tích sứ quân Đỗ Cảnh Thạc Động nhĩ Đại vương (tr.781)

• Lý Phục Man

• Truyện Đoàn Thượng triều Lý

Bản khác:

Truyện Đoàn Thượng Đông Hải đại vương (tr.914)

Sự tích Đông Hải đại vương Đoàn Thượng (tr.918) Đông Hải đại vương Đoàn Thượng (tr.919)

Sự tích hai anh em Đông Hải đại vương Đoàn

Tích truyện Đông Hải đại vương Đoàn Thượng (tr.924)

Trang 39

3 Trong công trình của Kiều Thu Hoạch (2004), Tổng tập văn học dân gian

người Việt, Tập 5, Nxb Khoa Học Xã Hội, có 208 tác phẩm truyền thuyết,

chúng tôi chọn lọc được 19 truyền thuyết sau đây:

4 Lã Duy Lan (1997), Truyền thuyết Việt Nam, NXB Văn học Thông tin gồm có

37 tác phẩm truyền thuyết, chúng tôi chọn lọc được 15 truyền thuyết sau đây:

• Đại tướng quân Nguyễn Chu Sĩ (tr.24)

Trang 40

• Ngọc Phượng công chúa (tr.47)

• Trưởng nội thị tướng quân Phùng Thị Chính (tr.94)

• Khai quốc Đại nguyên soái Liêm Quang Cai (tr.98)

• Lệ Hải Bà Vương Triệu Thị Trinh (tr.113)

• Lý Nam Đế và Triệu Việt Vương (tr.125)

• Gia thông đại vương Lý Phục Man (tr.153)

• Nhị vị tướng quân Trương Hống, Trương Hát (tr.163)

5 Bùi Mạnh Nhị (chủ biên) (2001) – Hồ Quốc Hùng – Nguyễn Thị Ngọc Điệp,

Văn học dân gian, những tác phẩm chọn lọc, NXB Giáo dục, gồm có 55 tác

phẩm truyền thuyết, chúng tôi chọn lọc được 10 truyền thuyết sau đây:

Ngày đăng: 09/12/2015, 16:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tr ần Thị An (1992) “Sự vận động truyền thuyết về Mẫu qua những truyện k ể về Liễu Hạnh và truyền thuyết về nữ thần Chăm”, Tạp chí Văn học, (5), tr.44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự vận động truyền thuyết về Mẫu qua những truyện kể về Liễu Hạnh và truyền thuyết về nữ thần Chăm”, "Tạp chí Văn học
2. Trần Thị An (1994), “Nghiên cứu truyền thuyết, những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Văn học , (7), tr.34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu truyền thuyết, những vấn đề đặt ra”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 1994
3. Trần Thị An (1999), “Truyện kể địa danh, từ góc nhìn thể loại”, Tạp chí Văn học , (3), tr.50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện kể địa danh, từ góc nhìn thể loại”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 1999
4. Trần Thị An (2000), Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Viện văn học , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 2000
5. Tr ần Thị An (2001) “Văn bản hóa truyện dân gian Việt Nam – nhìn từ cuối th ế kỷ XX”, Tạp chí Văn học, (5), tr.56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản hóa truyện dân gian Việt Nam – nhìn từ cuối thế kỷ XX”, "Tạp chí Văn học
6. Trần Thị An (2002), “Suy nghĩ mới về bản chất thể loại truyền thuyết”, Thông báo văn Văn hóa dân gian, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, tr.597 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ mới về bản chất thể loại truyền thuyết”, "Thông báo văn Văn hóa dân gian
Tác giả: Trần Thị An
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2002
7. Đào Duy Anh (1938), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Quan Hải Tùng Thư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Quan Hải Tùng Thư
Năm: 1938
8. Đào Duy Anh (1964), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1964
9. Võ Thạch Anh (2012), Linh thần trong truyền thuyết Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Linh thần trong truyền thuyết Việt Nam
Tác giả: Võ Thạch Anh
Năm: 2012
10. Nguyễn Vũ Tuấn Anh (2002), Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại
Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
11. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2003
12. Nguyễn Chí Bền (2000), Văn hóa dân gian Việt Nam – những suy nghĩ , Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Việt Nam – những suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
13. Nguyễn Chí Bền (2005), “Những hằng số của văn hóa dân gian người Việt Nam Bộ”, Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa nghệ thuật dân gia Nam Bộ , Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hằng số của văn hóa dân gian người Việt Nam Bộ”, "Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa nghệ thuật dân gia Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2005
14. Phan Xuân Biên (2004), Mi ền Đông Nam Bộ con người và văn hóa, Nxb Đại h ọc Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miền Đông Nam Bộ con người và văn hóa
Tác giả: Phan Xuân Biên
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
15. Trần Đức Các (1978), “Về việc điều tra văn học dân gian từ một điểm đến việc nghiên cứu một thể loại”, T ạp chí Văn học, (3), tr.89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc điều tra văn học dân gian từ một điểm đến việc nghiên cứu một thể loại”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Trần Đức Các
Năm: 1978
16. Phong Châu (1972) “Bàn v ề vấn đề văn bản truyện cổ dân gian Việt Nam”, Tạp chí Văn học , (6), tr. 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về vấn đề văn bản truyện cổ dân gian Việt Nam”, "Tạp chí Văn học
17. Võ Phúc Châu (2011), Truyền thuyết dân gian về cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ (1958-1918) , Nxb Thời Đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết dân gian về cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ (1958-1918)
Tác giả: Võ Phúc Châu
Nhà XB: Nxb Thời Đại
Năm: 2011
18. Nông Qu ốc Chấn (1974) “Nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam trong mối quan h ệ giữa các dân tộc”, Tạp chí Văn học , (1), tr. 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam trong mối quan hệ giữa các dân tộc”, "Tạp chí Văn học
19. Nguyễn Đổng Chi (1967), “Văn học dân gian là một kho tàng quý báu cho sử học”, Tạp chí Văn học, (1), tr.94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian là một kho tàng quý báu cho sử học”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Năm: 1967
20. Nguy ễn Đổng Chi (1971) “Qua việc khoanh vùng sưu tầm văn học dân gian t ại một xã thí điểm”, Tạp chí Văn học , (6), tr.50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qua việc khoanh vùng sưu tầm văn học dân gian tại một xã thí điểm”, "Tạp chí Văn học

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

PHỤ LỤC 2: BẢNG THỐNG KÊ TẦN SỐ XUẤT HIỆN CỦA NHÓM TRUYỀN  THUYẾT CHỨA MÔ TÍP TỬ TRẬN TRONG TRUYỀN THUYẾT VIỆT NAM   PHỤ LỤC 2A - MÔ típ NGƯỜI ANH HÙNG tử TRẬN TRONG TRUYỀN THUYẾT VIỆT NAM
2 BẢNG THỐNG KÊ TẦN SỐ XUẤT HIỆN CỦA NHÓM TRUYỀN THUYẾT CHỨA MÔ TÍP TỬ TRẬN TRONG TRUYỀN THUYẾT VIỆT NAM PHỤ LỤC 2A (Trang 132)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w