Yếu tố nguy cơ để nhiễm các chủng này ở bệnh viện là do bệnh nhân thời gian nằm viện kéo dài, hệ miễn dịch suy yếu, nằm chung giường với người nhiễm bệnh hay thực hiện những thủ thuật xâ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
VŨ DIỆU THU
PHAT HIỆN VA XAC ĐỊNH
Klebsiella pneumoniae MANG GEN BLAKPC
KHANG CARBAPENEM
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2011
Trang 2Tôi xin dành những lời cám ơn chân thành nhất gửi đến tất cả những người đã luôn bên cạnh tôi, giúp tôi có được thành công ngày hôm nay.
Lời đầu tiên, xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS.BS Phạm Hùng Vân, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích và kinh nghiệm quý báu Thầy luôn động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành khóa luận
Cũng những lời tri ân này, xin gửi tới các thầy cô trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên - những người đã trang bị cho tôi nền tảng kiến thức vững chắc để tôi tự tin bước vào con đường nghiên cứu
Tôi có được may mắn vì đề này nằm trong luận án tiến sĩ của Th.S Trần Nhật Phương nên tôi nhận được rất nhiều sự hỗ trợ từ Anh Cám ơn Anh đã cung cấp cho tôi các chủng để tiến hành thí nghiệm cũng như đã theo sát từng bước đi của tôi, cho tôi những góp ý rất chân thành, giúp đề tài này đuợc hoàn thiện trong thời gian sớm nhất
Xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị, bạn bè ở công ty Nam Khoa đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo một môi trường làm việc thân thiện giúp tôi có động lực làm việc tốt hơn
Cảm ơn rất nhiều những người bạn đã luôn sát cánh, dõi theo tôi, những người
đã cùng tôi chia sẻ buồn vui trong những năm tháng đi học, những người mà nếu thiếu
họ chắc tôi khó lòng hoàn thành luận văn này một cách trọn vẹn
Và cuối cùng, từ tận đáy lòng, con biết ơn bố mẹ đã dành cho con cả cuộc đời này Gia đình luôn là điểm tựa vững chắc cho con những lúc khó khăn nhất, giúp con
có thêm động lực, niềm tin vào những gì mình làm, giúp con nên người trưởng thành như ngày hôm nay
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 7 năm 2011
Vũ Diệu Thu
Trang 3DANH MUC CHÜ VIET TAT
Trang 4DANH MỤC BANG
ASTS Antibiotics Sensitivity Testing Surveillance
CLSI Clinical and Laboratory Standards Insitute
dNTP deoxyribonucleotide triphosphate
ESBL Expanded Spectrum Beta-lactamase
FDA Food and Drug Administration
ICARE Intensive Care Antimicrobial Resisstance Epidemiology
MC agar Mac Conkey agar
MIC Minium Inhibitory Concentration
NCBI National Center for Borotechnology Information
ONPG o-nitrophenyl-D-galactopyranoside
PBP penicillin-binding protein
PCR Polymerase Chain Reaction
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 3.11 Kết quả tra cứu trình tự tương đồng với chủng K pneumoniae ATCC ®
1705 dùng trong thí nghiệm bằng công cụ BLAST của NCBI 75
Hình 3.12 Tìm vị trí cắt giới hạn trong trình tự gen blaKPC bằng phần mềm
Primer premier 5.0 77
Trang 6MỤC LỤC
PHỤ LỤC
Phu lục 1: Kết quả định danh bằng IDS 14 ® GNR
Phu lục 2: Kết quả giải trình tự gen 16S rRNA
Phu lục 3: Hình ảnh kháng sinh đồ của 21 chủng thí nghiệm
Phu lục 4: Kết quả giải trình tự gen blaKPC của các chủng thí nghiệm
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong cuộc chiến tranh giữa con người và vi khuẩn, kháng sinh là những trợ thủ đắc lực cho con người Thuốc kháng sinh không ngừng được cải biến về chất lượng và phổ tác dụng nhằm tăng cường hiệu quả điều trị Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh rộng rãi đã dẫn tới sự gia tăng các chủng vi khuẩn đa kháng thuốc với nhiều cơ chế khác nhau, đáng chú ý là cơ chế sản xuất men ESBL (extended spectrum beta-lactamase) có khả năng thủy phân các thế hệ kháng sinh cephalosporin và hầu hết các loại beta-lactam Đối với các trường hợp này, kháng sinh carbapenem được xem là phương án cuối cùng Vũ khí carbapenem hiện nay đang có nguy cơ trở nên vô hiệu do sự xuất hiện của các vi khuẩn có khả năng tiết men carbapenemase,
đáng lo ngại nhất là men KPC (Klebsiella pneumoniae Carbapenemase) phát hiện chủ yếu ở Klebsiella pneumoniae.
Klebsiella pneumoniae được biết đến là tác nhân phổ biến các trường hợp viêm phổi bệnh viện và nhiều bệnh nhiễm trùng nguy hiểm khác Chủng này có khả năng tích lũy và lan truyền tính kháng rất cao Gần đây, vi khuẩn Klebsiella pneumoniae mang gen blaKPC kháng carbapenem đã và đang bùng phát trên một số quốc gia trên thế giới và gây ra những đợt
dịch lớn điển hình như ở New York[17, 18, 20, 69], Isarel [46] Đây thực sự là thách thức đối các nhà điều trị và gánh nặng cho cộng đồng bởi vì việc trị liệu rất hạn chế, những vi khuẩn mang gen này được xem là “bất trị” Hơn nữa, gen blaKPC nằm trên plasmid nên khả năng lan truyền tính kháng rất nhanh và còn có thể cộng hợp với các họ gen kháng khác trên plamid làm cho những chủng mang gen này có tính kháng mạnh hơn Tổ chức Y tế thế giới đã lên tiếng cảnh báo về sự lây lan của các vi
khuẩn Klebsiella pneumoniae mang gen blaKPC để các nước có biện pháp kiểm soát sự lây nhiễm và tránh lạm dụng, sử dụng
thuốc kháng sinh sai mục đích Tuy nhiên, ở Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về mô hình lan truyền của siêu vi khuẩn này
Đề tài “Phát hiện và xác định Klebsiella pneumoniae mang gen blaKPC kháng carbapenem” được thực hiện nhằm phát hiện được một số chủng Klebsiella pneumoniae mang gen blaKPC ở một số bệnh viện ở Việt Nam Qua đó giúp cho các nhà
lâm sàng Việt Nam kịp thời có biện pháp cách ly, ngăn chặn sự lây lan cũng như có cái nhìn thận trọng hơn về sự lan truyền của đối tượng này
Nội dung thực hiện đề tài bao gồm các phần:
+ Định danh lại các chủng nghi ngờ là Klebsiella pneumoniae có tính đa kháng thu được từ một số bệnh viện tại Việt
Nam
+ Xác định kiểu hình tiết ESBL và carbapenemase
Trang 8+ Phát hiện gen blaKPC bằng phương pháp PCR.
+ Xác định kiểu gen blaKPC trên các chủng Klebsiella pneumoniae bằng phương pháp giải trình tự.
Trang 91 TỒNG QUAN
1.1 Vi khuẩn Klebsiella pneumoniae
1.1.1 Đặc điêm phân loại
Năm 1884, nhà khoa học người Đan Mạch Hans Christian Gram (18531938)
đã phát triển kĩ thuật nhuộm Gram để phân biệt Klebsiella pneumoniae và
Streptococcus pneumoniae Klebsiella được đặt theo tên nhà vi khuẩn học người Đức
thế kỉ 19, Edwin Klebs (1834-1913) [24]
Dựa vào độ tương đồng di truyền, chi Klebsiella được chia làm 8 loài:
Klebsiella pneumoniae, Klebsiella oxytoca, Klebsiella planticola, Klebsiella
terrigena, Klebsiella mobilis (Enterobacter aerogenes), Klebsiella ornithinolytica và
Klebsiella variicola Klebsiella pneumoniae lại được chia làm 3 loài phụ là Klebsiella
pneumoniae, Klebsiella ozaenae và Klebsiella rhinoscleromatis Sự phân chia này dựa
theo sự khác nhau trong quá trình phát sinh bệnh chứ không phải dựa vào khoảng cách
di truyền [24] Trong chi Klebsiella, Klebsiella pneumoniae là thành viên quan trọng
nhất về bệnh học và đã trở thành một trong những tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh
viện nghiêm trọng trong những năm gần đây [52]
Đặc điểm phân loại của Klebsiella pneumoniae:
1.1.2 Đặc điểm hình thái, sinh hóa và phân bố
Trang 10Klebsiella pneumoniae là trực khuẩn Gram âm, không di động, có vỏ
polysacharide đặc trưng Lớp áo này giúp vi khuẩn tránh được hàng rào phòng vệ của
tế bào chủ [52]
Hình 1.1 Hình kính hiển vi quét của khuấn lạc K pneumoniae [76]
K
pneumoniae sống kị khí tùy ý, có khả năng lên men lactose K pneumoniae
có quan hệ gần nhất với Klebsiella oxytoca, chúng phân biệt nhau nhờ phản ứng
indole, K pneumoniae có indole âm và có khả năng tăng trưởng với cả melezitose và
3-hydroxybutyrate [52] Một số phản ứng sinh hóa của các loài trong chi Klebsiella
được thống kê trong bảng 1.1
Vi khuấn này có mặt khắp nơi trong tự nhiên như ở đất, nước, nước thải, các
sản phấm thực vật, những thức ăn có hàm lượng đường và acid cao Một số
loài trong chi Klebsilla còn được phân lập từ bề mặt rễ của một số loài thực
vật với vai trò cố định nitơ Klebsiella spp có phổ kí chủ động vật rộng, bao
gồm cả côn trùng và nhiều nhóm động vật khác Ở người có thể tìm thấy
chúng ở da, cổ họng, đường ruột, dạ dày, nước tiểu hay vết thương vô trùng
[24, 52] Nguồn phân lập phổ biến của các loài trong chi Klebsiella được mô tả
trong bảng 1.2
Trang 11Ghi chú: (-) thử nghiệm âm tính; (+) thử nghiệm dương tính; (+/-) trên 70% là dương tính.
(OXI) thử nghiệm oxidase; (GLU) khả năng lên men glucose; (LAC) khả năng lên men lactose; (GAS) khả năng sinh hơi; (H2S) khả năng sinh H2S; (PAD) thử nghiệm phenylalanine deaminase, (URE) thử nghiệm urease; (IND) thử nghiệm indol; (MOB) tính di động; (CIT) khả năng biến dưỡng citrat; (VP) thử nghiệm Voges - Proskauer; (MR) thử nghiệm methyl red; (LDC) thử nghiệm decarboxylase; (MLO) khả năng biến dưỡng malonate; (ONPG) thử nghiệm ONPG
GLU LAC GAS H2S
Trang 12Trang
Trang 131.1.3 Các nhân tố gây bệnh
Các thành viên trong chi Klebsiella đều biểu hiện 2 loại kháng nguyên bề mặt: kháng
Klebsiella pneumoniae
Phân lập được từ các bệnh phẩm trên người như viêm phổi, apxe phổi, viêm phổi, viêm màng não, nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng huyết
nhiều nhiễm trùng khác nhau
Klebsiella ozanae
Là tác nhân gây viêm mũi teo và nhiễm trùng mủ ở màng nhầy của mũi Ngoài ra vi khuẩn này còn có thể phân lập được từ các nhiễm trùng: máu, nước tiểu, mô mềm
Klebsiella ornithinolytica
Phân lập được từ nước và thực vật Ở người, vi khuẩn này thường được phân lập ở đường hô hấp trên, nước tiểu, dịch não tùy và máu
hầu, xoang mũi
Klebsiella terrigena
Nguồn phân lập chính là đất và nước, có thể phân lập được từ phân người khỏe mạnh, đường hô hấp nhưng không gây bệnh cho người
Trang 14Có khoảng hơn 80 kháng nguyên K và 9 kháng nguyên O Cả hai kháng nguyên này là cơ sở cho sự phân nhóm huyết thanh và đều góp phần vào quá trình phát sinh bệnh Dựa vào tính biến động trong cấu trúc của những kháng nguyên này, người ta lại phân loại thành nhiều kiểu huyết thanh khác nhau Độc tính của tất cả các loại huyết thanh dường như là như nhau [52].
Cũng như các loài khác trong họ vi khuẩn đường ruột, Klebsiella bám dính lên bề mặt
tế bào chủ nhờ hệ thống lông pili được cấu tạo bởi những đơn vị protein hình cầu có khối lượng phân tử khoảng 15-26kDa Những lông pili này có khả năng đông tụ hồng cầu của nhiều loài động vật khác nhau [52]
Để vượt qua hàng rào phòng vệ của tế bào chủ, ngoài việc thoát khỏi sự thực bào do hoạt động của các bạch cầu đa nhân, vi khuẩn phải còn phải tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng của các chất diệt khuẩn trong huyết thanh Hoạt tính diệt khuẩn chủ yếu qua trung gian các protein bổ thể Bổ thể được hoạt hóa khi có hay không có kháng thể đặc hiệu nhưng đều dẫn tới hoạt hóa protein C3, hình thành opsonin C3b và sản phẩm cuối cùng là protein C5b-C9 Protein này tạo ra các kênh xuyên màng ở màng ngoài tế bào vi khuẩn làm cho Na+ được bơm vào trong, thay đổi ấp suất thẩm thấu bên trong tế bào vi khuẩn Cho tới nay, cơ chế giúp
vi khuẩn kháng huyết thanh vẫn chưa rõ Đối với Klebsiella, giả thuyết được đưa ra là do lớp
vỏ polysaccharide bao bọc và che lớp lipopolysaccharide nằm ở dưới hoặc do chuỗi bên của kháng nguyên O xuyên qua lớp vỏ tạo thành cấu trúc bề mặt không hoạt hóa bổ thể [52]
Để tăng trưởng được trong mô tế bào chủ, vi khuẩn phải được cung cấp đủ sắt Đây là nhân tố thiết yếu cho sự tăng trưởng của vi khuẩn, có chức năng xúc tác các phản ứng oxi hóa khử trong quá trình truyền điện tử Tuy nhiên, do nguồn sắt tự do trong tế bào chủ rất thấp nên nhiều vi khuẩn đảm bảo đủ lượng sắt cho tăng trưởng bằng cách tiết ra những chất kìm
phân tử lượng nhỏ, có ái lực cao với sắt được gọi là các siderophore Ở Klebsiella người ta
nhận thấy đã có sự sản xuất hai loại siderophore là enterobactin và aerobactin [24, 52]
1.1.4 Đặc điếm gây bệnh và tình hình đề kháng kháng sinh
Klebsiella là tác nhân đứng thứ 2 sau E.coli gây nhiễm khuẩn bệnh viện và cộng
Trang 15ngoài phổi như viêm ruột, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn đường tiết niệu Yếu tố nguy cơ để nhiễm các chủng này ở bệnh viện là do bệnh nhân thời gian nằm viện kéo dài, hệ miễn dịch suy yếu, nằm chung giường với người nhiễm bệnh hay thực hiện những thủ thuật xâm lấn như đặt ống thông tiểu, đặt nội khí quản, Tuy nhiên, nhiễm khuẩn bệnh viện
do Klebsiella tăng cao chủ yếu do việc sử dụng kháng sinh làm gia tăng những chủng kháng
thuốc [24, 52]
Tính đề kháng kháng sinh của các thành viên trong gia đình Klebsiella rất cao Tất cả
đã đề kháng với ampicillin do sự có mặt của gen mã hóa sản xuất beta- lactamase đặc hiệu cho penicillin Thông thường, các enzyme beta-lactamase vốn có này còn nhạy cảm với các chất ức chế beta-lactamase như acid clavulanic, tuy nhiên từ năm 1982 tại Đức đã xuất hiện
K
ESBL (extended spectrum betalactamase) Các enzyme này được truyền qua trung gian plasmid nên có tính chất lây lan trên diện rộng, tính nhạy cảm giảm hẳn với các thuốc ức chế beta- lactamase, và nguy hiểm hơn lại có tính đa kháng thông qua trung gian plasmid với các
họ kháng sinh khác như với aminoglycoside Đối với các chủng tiết ESBL, việc lựa chọn kháng sinh điều trị rất khó khăn do chúng kháng được với nhiều loại kháng sinh Carbapenem (imipenem, ertapenem, meropenem) được coi là kháng sinh có tác dụng nhất Tuy nhiên,
“siêu vi khuẩn” K pneumoniae có khả năng kháng carbapenem với một số cơ chế khác nhau
đang bùng phát và trở thành mối nguy cho sức khỏe cộng đồng [52]
Trang 161.2 Carbapenem và cơ chế kháng carbapenem
1.2.1 Carbapenem
Carbapenem là một phân lớp của kháng sinh beta-lactam, có phổ kháng khuẩn rộng nhất so với các phân lớp khác của beta-lactam như penicillin, các thế hệ cephalosporin Carbapenem có nguồn gốc là một dẫn xuất của thienamycin, một hợp chất tự nhiên do
Streptomyces cattlaya tiết ra [15, 60].
Carbapenem với cấu trúc hơi giống penicillin, gồm 1 vòng beta-lactam hình vuông nối kết với 1 vòng 5 cạnh, nhưng khác với penicillin ở chỗ nguyên tố lưu huỳnh thay bằng gốc methylen và có thêm 1 dấu nối đôi Cấu trúc đặc biệt của carbapenem tạo ra 3 đặc tính giúp carbapenem có phổ tác dụng rộng: (1) những phân tử này rất nhỏ và có khả năng sử dụng những lỗ hổng rất nhỏ của màng ngoài vi khuẩn Gram âm để tiếp xúc với PBP (penicillin-binding protein); (2) cấu trúc của carbapenem làm cho kháng sinh này khó bị beta-lactamase của nhiều loại vi khuẩn cắt đứt vòng beta-lactam; (3) carbapenem có ái lực với nhiều PBP khác nhau của nhiều loại vi khuẩn
Hình 1.2 Cấu trúc của penicillin và carbapenem
Penicilline [75]
Carbapenem [74]
Trang 17Kháng sinh thuộc nhóm carbapenem gồm có: imipenem, meropenem, ertapenem,
Bảng 1.3 Phân lớp các kháng sinh beta-lactam [2]
Cloxacillin, dicloxacillin, methincillin,
nafcillin, oxacillinAmidinopenicilli
Cephem
(chích)
Cephalosporin I Cefazolin, cephalothin, cephapirin,
cephradineCephalosporin II Cefamandole, cefocicid, ceftaroline, cefuroxime (sodium)Cephalosporin III Cefoperazone, cefotaxime, ceftazidime, ceftizoxime, ceftiaxone
Trang 18doripenem, panipenem/ betamipron, biapenem Trong đó imipenem, meropenem, ertapenem
là các loại thông dụng, doripenem cũng đã được FDA chấp nhận sử dụng để chữa trị các trường hợp nhiễm trùng ổ bụng và nhiễm trùng tiểu nặng [28] Carbapenem thường được sử dụng để chữa trị các trường hợp nhiễm khuẩn gây ra bởi vi khuẩn Gram âm sản xuất beta-lactamase phổ rộng (ESBL) [20, 22, 39, 60, 71], điển hình trong một số trường hợp như viêm màng não mủ, viêm xoang do nhiễm khuẩn bệnh viện, viêm phổi do nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm trùng không rõ nguồn gốc
1.2.2 Cơ chế kháng carbapenem
Tính kháng với carbapenem chủ yếu do 3 cơ chế:
- Sản xuất vượt mức một loại beta-lactamase không phải carbapenemase như AmpC cephalosporinase hay ESBL kết hợp với giảm tính thấm màng ngoài do mất hoặc thay thế
kênh porin làm chặn cổng vào của kháng sinh Cơ chế này được nhận thấy ở Enterobacter cloacae, Enterobacter aerogens, Proteus rettgeri, Citrobacter freundii, Escherichia coli, K pneumoniae [71, 72] Ở K pneumoniae, kênh porin màng OmpK35và OmpK36 giữ vai trò
quan trọng, sự thiếu hay thay thế một trong hai protein này đều đóng góp vào tính kháng carbapenem [36]
- Sản xuất carbapenemase có khả năng thủy giải carbapenem nhờ hoạt tính thủy phân cầu
amide của vòng beta-lactam Đây là cơ chế chủ yếu được thấy ở K pneumoniae [71, 72] Với
vũ khí Klebsiella pneumoniae carbapenemase (KPC), K pneumoniae đã gây ra nhiều đợt
dịch trên thế giới với những hậu quả nghiêm trọng
- Sự thay đổi ái lực của các protein gắn penicillin (PBP) đối với carbapenem làm cho kháng sinh này không tiếp cận được với chuỗi peptidoglycan đang được tổng hợp của vi khuẩn [71,
72] Cơ chế kháng carbapenem này trên K pneumoniae ít được nghiên cứu.
Ở K pneumoniae, vấn đề hệ thống bơm đấy kháng sinh ra ngoài AcrAB có
liên quan tính kháng carbapenem hay không vẫn chưa được làm rõ [36], tuy nhiên đã
có nghiên cứu chứng minh rằng sự biểu hiện vượt mức hệ thống này có làm cho vật
chủ mở rộng phổ kháng kháng sinh, chúng có khả năng kháng chéo với
chloramphenicol, quinolone [14]
Trang 191.2.3 Carbapenemase
Carbapenemase là enzyme thuộc họ P-lactamase bất hoạt được tất cả các loại
P-lactam như penicillin, cephalosporin phổ rộng và kể cả kháng sinh mạnh nhất hiện
nay là carbapenem [53]
Trang 20Dựa vào cơ chế thủy giải tại vị trí hoạt hóa, carbapenemase được phân làm 2nhóm:
TEM và SHV Các hoạt chất nhóm broad
spectrum trên cộng với oxyimino-cephalosporins (cefotaxime, cefpodoxime, ceftazidime, và cef triaxone) và monobactam (aztreonam)
++++
A
Khác (BES-1, GES/IBC, PER-1, 2, SFO-1, TLA-1, VEB-1, 2)
AmpC ACC-1, ACT-1,
CFE-1, CMY, DHA-1, 2, FOX, LAT, MIR-1, MOX-
1, 2
Hoạt chất nhóm expanded-
cephamycins (cefotetan, cefoxitin, và thuốc khác)
0
C
Carbape-
nemase
IMP, VIM, GIM-1,
và SPM-1
Hoạt chất nhóm expanded- spectrum cộng với cephamycins và carbapenems (ertapenem, imipenem, và meropenem)
Lớpphântử
Broad-spectrum
TEM-1, 2, SHV-1
Benzylpenicillin (penicillin G),amino-penicillins (amoxicillin
carboxypenicillins (carbenicillin và ticarcillin), ureidopenicillin (piperacillin), cephalosporins phổ hẹp (cefazolin, cephalothin, cefamandole, cefuroxime, và các thuốc khác)
OXA
Các hoạt chất nhóm broad- spectrum trên cộng thêm cloxacillin, methicillin, và oxacillin
Trang 21- Non-metallo-carbapenemase: có serin tại trung tâm hoạt động của enzyme, hoạt tính
bị ức chế bởi clavulanic
không bị ảnh hưởng bởi clavulanic
Dựa vào chức năng thủy giải, beta-lactamase được phân làm 4 nhóm từ nhóm
1 đến 4 Trong đó, nhóm 2 được chia làm nhiều nhóm phụ dựa trên sự chuyên biệt cơ
chất và các chất ức chế Carbapenemase chủ yếu thuộc nhóm 3 và nhóm phụ 2f [53]
Dựa vào đặc tính phân tử, carbapenemase được chia làm 3 lớp
- Lớp A: thuộc nhóm non-metallo-beta-lactamase, gồm các loại sau:
+ Nguồn gốc NST: Serratia marcescens enzyme (SME)
■ Not metalloenzyme carbapenemases (NMC)
■ Imipenem-hydrolyzing ß-lactamases (IMI)
+ Nguồn gốc plasmid:
■ Klebsiella pneumoniae carabapenemases (KPC)
■ Guiana Extended-Spectrum (GES)
- Lớp B: thuộc nhóm metallo-beta-lactamases, bao gồm IMP, GIM, SIM, SPM, và
VIM carbapenemases, được ghi nhận ở Pseudomonas aeruginosa, Acinetobacter
baumanii và một số vi khuẩn đường ruột Mới đây là NDM-1, một carbapenemase
nằm trên plasmid, phát hiện ở K pneumoniae và E coli, phân lập từ mẫu bệnh phẩm
của bệnh nhân người Thụy Điển nhập viện tại New Delhi, Ân Độ
- Lớp D: bao gồm oxacilinase, chủ yếu tìm thấy ở Acinetobacter baumanii.
1.3 Klebsiella pneumoniae carbapenemase (KPC)
1.3.1 Klebsiella pneumoniae carbapenemase (KPC)
Trước đây các men carbapenemase được cho là chuyên biệt cho loài, do gen
mã hóa nằm trên nhiễm sắc thể với các đặc tính rõ ràng Tuy nhiên, với việc phát hiện
các carbapenemase do gen mã hóa nằm trên plasmid, điển hình là KPC (Klebsiella
pneumoniae Carbapenemase), đã làm thay đối cách nhìn nhận về mô hình lan truyền
của tác nhân kháng thuốc này Sự gia tăng nhanh chóng các chủng mang gen blaKPC
Trang 22trong thời gian gần đây càng cho thấy tầm quan trọng của việc tìm hiểu đặc tính của
các men này trong nghiên cứu lâm sàng học
KPC là một carbapenemase đầu tiên được tìm thấy ở K pneumoniae, thuộc
lớp A, nhóm 2f, bị ức chế bởi clavulanic Kết quả của việc sản xuất enzyme này là vi
khuẩn có khả năng đề kháng với tất cả penicillin, cephalosporin (cefepime,
ceftriaxone), carbapenems (meropenem, ertapenem), và aztreonam Vi khuẩn đường
ruột tiết men KPC hầu hết còn kháng được các lớp kháng sinh khác như
fluoroquinolone, aminoglycoside [16, 34, 38, 46, 62]
KPC do gen mã hóa nằm trên plasmid, plasmid có thể ở dạng dung hợp hay
không dung hợp Trình tự gen blaKPC nằm giữa trình tự transposon Tn44001, vị trí
của gen blaKPC ở K pneumoniae và một số loài khác được mô tả trong hình 1.3
Việc kết hợp gen blaKPC với các họ gen kháng khác nằm trên plasmid như
fluoroquinolone, aminoglycosides làm tăng cường tính kháng cho vi khuẩn Hơn nữa,
plasmid là yếu tố di truyền di động, có thể dễ dàng di truyền ngang giữa các loài lân
cận nên khả năng truyền tính kháng là rất cao [22, 53, 58]
Trang 23Có 3 loại isoenzyme của KPC đã được xác định rõ ràng Trình tự gen
blaKPC-2 sai biệt 1 nu so với blaKPC-1 dẫn đến sự biến đổi serine thành glycine ở vị trí 175
Trình tự gen blaKPC-3 khác biệt một nu so với blaKPC-2 dẫn đến sự thay thế
tyrosine thành histidine tại vị trí 272 [31] Sự khác nhau này giúp ta phân biệt 3 biến
thể gen blaKPC này dựa trên sản phẩm gen sau khi cắt bởi 2 loại enzyme cắt giới hạn
BstNI và RsaI như hình 1.4 Tuy là men KPC-3 có hiệu quả thủy giải cao hơn KPC-1
và KPC-2 nhưng tầm quan trọng lâm sàng vẫn chưa rõ ràng KPC-3 được nhận thấy
có ở K pneumoniae [37, 56, 69], Enterobacter cloacae [19], Hiện nay đã phát hiện
các biến thể khác của KPC ( từ 2-11) [21]
Trang 24c]ai San phàm POR ban đâu
11 I San phàm PCR đã đươc cãt bơi Bst'N i vá Rsal1.3.2 Phát hiện và điều trị nhiễm khuẩn kháng carbapenem
Một số phương pháp phát hiện vi khuẩn mang gen blaKPC thông qua việc phát
hiện carbarpenemase đã được sử dụng bao gồm:
- Sử dụng môi trường chọn lọc CHROMagar KPC có bổ sung tác nhân ức chế vi
khuẩn Gram âm và dương nhạy carbapenem [57]
- Phương pháp đĩa khuyếch tán kháng sinh dựa trên sự xác định đường kính vòng vô
khuẩn quanh đĩa carbapenem [67]
Hình 1.4 Sự khác biệt giữa KPC-1, KPC-2 và KPC-3 [30]
Trang 25- Phương pháp vi pha loãng dựa trên sự xác định giá trị nồng độ ức chế tối thiểu MIC
của các kháng sinh carbapenem Cùng với phương pháp đĩa khuyếch tán kháng sinh,
đây được coi là phương pháp đánh giá tiêu chuẩn trong các phòng thí nghiệm, được
biện luận theo tiêu chuẩn của CLSI [67]
- Sử dụng que thử E-test được cấu tạo bằng nitrocellulose tẩm kháng sinh carbapenem
theo dãy nồng độ để xác định nồng độ ức chế tối thiểu MIC Khi đặt que E-test trên
môi trường đã trải vi khuẩn, kháng sinh từ que khuyếch tán ra môi trường theo
gradient nồng độ và ức chế sự phát triển của vi khuẩn tạo thành vùng vô khuẩn có
hình elip Một số hệ thống tự động như MicroScan WalkAway (Dade MicroScan,
Inc), BD Phoenix (BDDS), Sensititre AutoReader (Westlake, Mỹ), VITEK Legacy
(bioMérieux) và VITEK 2 (bioMérieux) giúp xác định MIC carbapenem cũng đã
được nghiên cứu sử dụng [63, 64]
- Thử nghiệm Hodge cải biên: là thử nghiệm có độ nhạy cao giúp khẳng định kiểu hình
tiết carbapenemase Thử nghiệm này dựa trên nguyên tắc những chủng có khả năng
tiết carbapenemase có khả năng tăng cường sự tăng trưởng của chủng E.coli ATCC ®
25922 nhạy carbapenem ở trong vùng vô khuẩn đĩa carbapenem [67]
- Phương pháp dựa trên APB (3-aminophenylboronic acid): APB là một dẫn xuất của
boronic có khả năng ức chế enzyme carbapenemase lớp A Phương pháp này dựa sự
mở rộng đường kính vòng vô khuẩn từ đĩa carbapenem tới vùng giao tiếp với đĩa
chứa chất ức chế carbapenemase APB đối với những chủng tiết carbapenemase lớp A
[49]
- Phương pháp PCR hay realtime-PCR dựa trên sự khuếch đại vùng gen blaKPC bằng
cặp mồi chuyên biệt [30, 59] Phương pháp này có độ nhạy và độ chuyên biệt cao
nhưng cũng có trường hợp kết quả dương tính giả do sự ngoại
nhiễm hay âm tính giả do trình tự mồi không đặc hiệu, các thành phần phản ứng không
tối ưu
- Phương pháp giải trình tự: phương pháp này bổ sung cho phương pháp
khuếch đại PCR nhằm xác định chính xác kiểu gen blaKPC [25]
Trang 26Nhìn chung, việc phát hiện vi khuẩn mang gen blaKPC kháng carbapenem rất
khó khăn vì giá trị MIC carbapenem có thể rất cao nhưng vẫn nằm trong khoảng xác
định là trung gian được xác định theo CLSI Những nghiên cứu trước đây cho thấy có
tình trạng “kháng giả” đối với imipenem do có sự phân hủy của thuốc Một vài
nghiên cứu gần đây còn nảy sinh vấn đề cả “kháng giả” và “nhạy giả” với imipenem
và meropenem trong các loài vi khuẩn đường ruột Vì vậy, phát hiện carbapenemase
không chỉ là thách thức đối với các hệ thống tự động mà với ngay cả những phương
pháp kiểm soát tiêu chuẩn Sai sót trong việc phát hiện sẽ dẫn tới những hậu quả
nghiêm trọng [25, 27, 36, 40, 42, 64]
Ertapenem là carbapenem hiệu quả thấp nhất đối với KPC và được sử dụng
trong các phương pháp thử nghiệm tính nhạy kháng sinh và hệ thống tự động cho
thấy khá nhạy để phát hiện KPC Tuy nhiên, vấn đề về độ chuyên biệt khi dùng
ertapenem để phát hiện KPC được đặt ra do Enterobacteriaceae tiết ESBL và mang
đột biến kênh porin cũng kháng ertapenem [40]
Điều trị nhiễm trùng gây ra bởi vi khuẩn sản xuất KPC là rất khó khăn và rất ít
thuốc kháng sinh có hiệu quả Polymyxin và tigecycline là 2 kháng sinh được chỉ
định điều trị cho vi khuẩn Gram âm sản xuất KPC Polymyxin B kết hợp với
rifampicin cho thấy hiệu quả trên tất cả các chủng, kể cả các chủng kháng polymyxin
B Tuy nhiên hiệu quả lâm sàng của việc kết hợp này cũng như hiệu quả trên các
chủng kháng polymyxin B cần phải được làm rõ [20] Hơn nữa, mặc dù polymyxin B
là loại polymyxin hiệu quả nhất nhưng có độc tính cao và đã bị rút ra khỏi danh sách
kháng sinh sử dụng trên người nên được thay thế bằng kháng sinh tương tự, cùng họ
là colistin nhưng vẫn chưa có sự đồng thuận về hiệu quả [11, 35]
Do khó khăn trong việc điều trị, tỉ lệ tử vong do nhiễm trực khuẩn Gram âm tiết KPC rất cao (khoảng 40%) [43]
1.3.3 Tình hình dịch tễ học
Năm 1996, K pneumoniae sản xuất KPC lần đầu tiên được phân lập từ mẫu bệnh
phẩm lâm sàng ở bệnh viện tại Bắc Carolina, Mỹ KPC ít được phát hiện những năm sau đó Cho tới năm 2001, họ vi khuẩn Enterobacteriaceae sản xuất KPC bùng phát
Trang 27tại bệnh viện ở New York và New Jersey [72] Vi khuẩn sản xuất KPC tiếp tục lan
truyền theo thời gian và mới đây báo cáo cho biết có 27 bang ở Mỹ và nhiều quốc
gia khác trên thế giới như Trung Quốc [61, 68, 73], Colombia [12], Brazil [42, 50, 51], Pháp [44], và Israel [37] Tình hình dịch tễ vi khuẩn sản xuất KPC tiếp tục leo thang
Mặc dù hầu hết KPC được phát hiện trong các chủng Klebsiella nhưng cũng được
thấy ở các vi khuẩn đường ruột khác như Klebsiella oxytoca [54, 71], Escherichia coli
[46], Salmonella spp [41], và Citrobacter freundii [54], Serratica spp [73] Một số
nghiên cứu còn nghi nhận sự có mặt của gen KPC ở những vật chủ không thuộc họ
vi khuẩn đường ruột như Pseudomonas aeruginosa phát hiện ở Colombia năm 2006
[12], Acinetobacter baumannii phát hiện ở Puerto Rico năm 2010 [55] Tệ hại hơn, ở
Hy Lạp đã ghi nhận một trường hợp nhiễm khuẩn K pneumoniae mang đồng thời 2
loại carbapenemase KPC-1 và VIM-1 [26] Sự phân bố gen blaKPC theo thời gian và vùng địa lý được thống kê trong bảng 1.6, hình 1.4 Nếu không có biện pháp phát
hiện nhanh để kiểm soát quá trình lây lan, sự bùng phát trên qui mô toàn cầu của
các chủng vi khuẩn mang gen blaKPC, đặc biệt là K pneumoniae mang gen blaKPC
có nguy cơ trở thành hiện thực
Trang 282001-2003 New York, Mỹ
2002-2003 New York, Mỹ K pneumoniae 29 [17]
2003-2004 New York, Mỹ K pneumoniae 95 [20]
2004 New York Mỹ K pneumoniae 59 [18]
[66]
2006 Medellin, Pseudomonas aeruginosa 3 [65]
Collombia Citrobacter freundii 1 [65]
2003 New York Enterobacter cloacae 1 [19]
Trang
Trang 29Viuiíi phân bô rai rác Vunti tlieh
Vunti phân hô rai rác co Paeinìomona.s spp manu KPC Vunu dich co Pseiídomcmas spp
mont» KPC
1.4 Một số nghiên cứu đã thực hiện 1.4.1
Trên thế giới
Trên thế giới, đặc biệt ở những vùng dịch tễ đặc hữu, rất nhiều nghiên cứu được
thực hiện nhằm phát hiện các “siêu vi khuẩn” kháng carbapenem cũng như tìm hiểu
cơ chế kháng của các chủng này, trong đó cơ chế tiết men KPC rất được quan tâm
trong thập kỉ gần đây Một số nghiên cứu điển hình như:
Gln
Trang
Trang 30Epidemiology) điều tra tính kháng của 448 chủng Enterobacteriaceae và Pseudomonas aeruginosa với kháng sinh imipenem [63].
- Năm 1999, Martinez-Martinez và cộng sự đã nghiên cứu vai trò của beta- lactamase và porin
ở K pneumoniae kháng carbapenem và cephalosporin [39].
- Năm 2007, cấu trúc tinh thể của gen blaKPC-2 được đưa ra bởi Ke, W và cộng sự [33]
- Năm 2008, Thierry Naas và cộng sự đã xác định cấu trúc gen blaKPC từ các chủng K pneumoniae, Pseudomonas aeruginosa thu được từ các bệnh viện ở Mỹ, Colombia, Hy Lạp
[45]
- Năm 2006, Fred C Tenover và nhóm nghiên cứu của mình đã tiến hành đánh giá nhanh các phương pháp thử tính nhạy kháng sinh tự động và không tự động phát hiện tính kháng
carbapenem thông qua phát hiện KPC ở các chủng K pneumoniae [64].
- Năm 2008, Hindiyeh và cộng sự đã tối ưu hóa qui trình realtime-PCR để phát hiện nhanh chóng gen blaKPC [30]
- Samra và cộng sự kết luận môi trường CHROMagar KPC có khả năng chọn lọc những vi khuẩn đường ruột kháng carbapenem (2008) [57]
- Năm 2009, Vered Schechner và cộng sự đánh giá phương pháp PCR giúp phát hiện các thành viên tiết men KPC trong họ vi khuẩn đường ruột [59]
- Năm 2009, Pasteran và cộng sự đề nghị thử nghiệm tính nhạy dựa vào APB aminophenylboronic acid) để phát hiện carbapenemase lớp A ở các vi khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae [49]
(3 Ngoài ra, những nghiên cứu sự xuất hiện của gen blaKPC và các biến thế mới của
nó được thực hiện trên nhiều quốc gia, điển hình như New York [17, 18, 38, 69], Isarel [37],
1.4.2 Trong nước
Tại Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về tình hình đề kháng kháng sinh
Trang
Trang 31chủng gây nhiễm khuẩn bệnh viện do vi khuẩn Gram âm hoặc đánh giá mức độ kháng thuốc của các chủng này qua việc xác định nồng độ ức chế tối thiểu MIC bằng E-test, xác định tỷ lệ
ESBL đối với Klebsiella mà chưa xác định đến mức phân tử dẫn đến tính kháng của các
chủng này
Các dữ liệu đã công bố cho thấy tình hình đề kháng carbapenem ở K pneumoniae tại
một số bệnh viện có sự gia tăng theo thời gian Theo nghiên cứu từ chương trình giám sát tính
kháng thuốc ASTS tại Hội nghị tổng kết tháng 1 năm 2005 thì tỷ lệ đề kháng chung của K pneumoniae đối với carbapenem (imipenem) là 0,1% Cũng trong năm này, ở Bệnh viện
Thống Nhất, tỷ lệ đề kháng của vi khuẩn này với imipenem lên đến 1,5% [9]
Một nghiên cứu tương tự trong năm 2005 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 cho thấy K pneumoniae là tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện đứng hàng thứ 2 sau E.coli và được quan
tâm nghiên cứu nhiều do đặc tính kháng kháng sinh của chúng và khả năng đề kháng chéo rất cao trong trường hợp sử dụng nhiều loại kháng sinh Đặc tính này có được là do vi khuẩn có men ESBL kháng được với các cephalosporin thế hệ thứ 3, 4 với tỷ lệ từ 50 - 70% Điểm đáng chú ý là tỷ lệ kháng imipenem của các chủng trong nghiên cứu này lên đến 10% [6]
Nhóm nghiên cứu tại tại Bệnh viện Nhiệt Đới cho thấy từ năm 2000 đến năm 2006 trong khi các chủng vi khuẩn phân lập từ nhiễm trùng ngoài cộng đồng còn nhạy cảm với một
số kháng sinh thông dụng thì các chủng phân lập tại bệnh viện đã có một tỉ lệ kháng thuốc
khá cao, chủ yếu bao gồm Pseudomonas, Klebsiella và Acinetobacter Đáng lo ngại là tỉ lệ
kháng với imipenem đang gia tăng nhanh đáng kể và trở thành thách thức lớn trong việc lựa chọn kháng sinh điều trị nhiễm trùng bệnh viện [5]
Tại Bệnh Viện Trưng Vương, Bác sĩ Bùi Nghĩa Thịnh và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2010 cho thấy các kháng sinh mạnh là imipenem/cilastatin và
meropenem có tỷ lệ kháng bởi K pneumoniae lần lượt là 5,6% và 4,3% [7].
Trong những nghiên cứu tương tự ở một số bệnh viện khác, tỷ lệ K pneumoniae
kháng với carbapenem là rất thấp hoặc chưa phát hiện đựơc chủng kháng Trong nghiên cứu
Trang
Trang 32pneumoniae kháng đa kháng sinh ở mức cao hơn nhưng kháng rất thấp với imipenem với tỷ
lệ là 0,7% [1] Còn tại Bệnh viện Trung ương Huế chưa phát hiện thấy chủng này kháng với carbapenem [8]
Các nghiên cứu này cho kết quả phù hợp với nghiên cứu đa trung tâm do Bác sĩ Phạm
Hùng Vân và nhóm MIDAS thực hiện trên 16 bệnh viện tại Việt Nam cho thấy K pneumoniae một khi đã tiết đựơc ESBL thì không chỉ đề kháng với penicillin, cephalosporin
thế hệ 1, 2, 3, 4, monobactam mà còn có tỷ lệ kháng cao đối với aminoglycoside và fluoroquinolone Phân tích cho thấy vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriaceae vẫn còn nhạy cảm
cao với imipenem và meropenem Có 2,5% Enterobacter sp kháng được imipenem nhưng vẫn còn nhạy hoàn toàn với meropenem Đối với K pneumoniae, 3,2% kháng imipenem và
1,2% kháng meropenem Kết quả còn cho thấy MIC90 (nồng độ ức chế tối thiểu ức chế 90%
các chủng vi khuẩn thử nghiệm) của imipenem và meropenem trên K pneumoniae là 1,5 |!
g/ml và 0,25 |ig/ml Mặc dù tỷ lệ kháng đựơc carbapenem ghi nhận là thấp nhưng cần phải đựơc lưu tâm làm rõ vì nếu cơ chế của đề kháng là do vi khuẩn tiết được men carbapenemase thì nguy cơ lan truyền tính kháng thuốc sẽ rất cao vì gen mã hóa cho tính đề kháng có thể nằm trên plasmid và có thể lan truyền được [11]
Như vậy nguy cơ để Enterobacteriaceae trở thành siêu vi khuẩn kháng thuốc là hiện
thực, nhất là khi K pneumoniae tiết men KPC phố biến và lan rộng Chính vì vậy sự
giám sát các vi khuẩn sở hữu các khả năng này là điều nhất thiết phải đặt ra cho các phòng thí nghiệm lâm sàng hiện nay [11]
Trang
Trang 33TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1. aaAnh (2008), "Sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh thường gặp tại Bệnh Viện Nhi Đồng 2 năm 2007", tạp chí Y
Học Thành Phố Hồ Chí Minh, tập 12(phụ bản số 4), trang 183 - 191 .
2. aaDiệp (2009).
3. aaNga (2008), "bv thong nhat".
4. AaNguyễnTháiBình, "Nhiễm trùng cơ hội do Enterobacteriaceae", Tài liệu giảng dạy Đại học Y
dược thành phố Hồ Chí Minh.
5. AaNguyễnThanhBảo.
6. AaPhạmHùngVân.
7. aaPhú (20089), "bệnh viện hoàn mỹ".
8. aaThi, "benh vien nhi trung uong".
9. aathịnh, hồi súc cấp cứu trung uong.
10. aaTuấnBảo, "benh vien trung uong Hue".
11. aatuyếncươnghương (2005), "benh vien thong nhat".
12. Akpaka, P.E., et al (2009), "Emergence of KPC Producing Pseudomonas aeruginosa in Trinidad & Tobago", Journal of clinical
microbiology, JCM 00362-09v1.
13. Ambretti, S., et al (2010), "A carbapenem-resistant Klebsiella pneumoniae isolate harboring KPC-1 from Italy", New
Microbiologica, 33(3), 281-282.
14. Bialek, S., et al (2010), "Membrane Efflux and Influx Modulate both Multidrug Resistance and Virulence of Klebsiella pneumoniae in a
Caenorhabditis elegans Model", Antimicrobial agents and chemotherapy, 54(10), 4373.
15. Birnbaum, J., et al (1985), "Carbapenems, a new class of beta-lactam antibiotics: Discovery and development of imipenem/cilastatin", The
American journal of medicine, 78(6), 3-21.
16. Bradford, P.A., et al (2004), "Emergence of carbapenem-resistant Klebsiella species possessing the class A carbapenem- hydrolyzing KPC-2 and
inhibitor-resistant TEM-30 -lactamases in New York City", Clinical infectious diseases, 39(1), 55.
17. Bratu, S., et al (2005), "Rapid spread of carbapenem-resistant Klebsiella pneumoniae in New York City: a new threat to our antibiotic
armamentarium", Archives of internal medicine, 165(12), 1430.
18. Bratu, S., et al (2005), "Emergence of KPC-possessing Klebsiella pneumoniae in Brooklyn, New York: epidemiology and recommendations for
detection", Antimicrobial agents and chemotherapy, 49(7), 3018.
19. Bratu, S., D Landman, M Alam, E Tolentino, and J Quale (2005), "Detection of KPC carbapenem-hydrolyzing enzymes in Enterobacter spp from
Brooklyn, New York", Antimicrob Agents Chemother, 49, 776-778.
20. Bratu, S., P Tolaney, U Karumudi, J Quale, M Mooty, S Nichani, and D and Landman (2005), "Carbapenemase- producing Klebsiella pneumoniae
in Brooklyn, N.Y.: molecular epidemiology and in vitro activity of polymyxin B and other agents", J Antimicrob Chemother,
56, 128-132.
21. Chen, L., et al (2011), "Multiplex Real-Time PCR Assay for Detection and Classification of Klebsiella pneumoniae Carbapenemase Gene (blaKPC)
Variants", Journal of clinical microbiology, 49(2), 579.
22. Cole, J.M., et al (2009), "Development and evaluation of a real-time PCR assay for detection of Klebsiella pneumoniae carbapenemase genes",
Journal of clinical microbiology, 47(2), 322.
23. Cuzon, G., et al (2008), "Plasmid-Mediated Carbapenem-Hydrolyzing {beta}-Lactamase KPC-2 in Klebsiella pneumoniae Isolate from Greece",
Antimicrobial agents and chemotherapy, 52(2), 796.
24. Dworkin, M., The genus Klebsiella in The Prokaryotes: Symbiotic associations,
biotechnology, applied microbiology 2006, Springer Verlag, 159-196.
25. Endimiani, A., et al (2009), "Characterization of blaKPC-containing Klebsiella pneumoniae isolates detected in different institutions in the Eastern
USA", Journal of antimicrobial chemotherapy, 63(3), 427.
26. Giakkoupi, P., et al (2009), "Emerging Klebsiella pneumoniae isolates coproducing KPC-2 and VIM-1 carbapenemases",
Antimicrobial agents and chemotherapy, 53(9), 4048.
27. Goldfarb, D., et al (2009), "Detection of plasmid mediated KPC-producing Klebsiella pneumoniae in Ottawa, Canada: evidence of intra-hospital
transmission", Journal of clinical microbiology, JCM 00098-09v1.
28. Greer, N.D (2008), "Doripenem (Doribax): the newest addition to the carbapenems", Proceedings (Baylor University.
Medical Center), 21(3), 337.
29. Grobner, S., et al (2009), "Emergence of carbapenem-non-susceptible extended-spectrum {beta}-lactamase-producing Klebsiella pneumoniae isolates
at the university hospital of Tubingen, Germany", Journal of medical microbiology, 58(7), 912.
30. Hindiyeh, M., et al (2008), "Rapid detection of blaKPC carbapenemase genes by real-time PCR", Journal of clinical
microbiology, 46(9), 2879.
31. Hossain, A., M J Ferraro, R M Pino, R B Dew III, E S Moland, T J Lockhart, K S Thomson, R V Goering, and N D Hanson (2004),
"Plasmid-mediated carbapenem-hydrolyzing enzyme KPC-2 in an Enterobacter sp.", Antimicrob Agents
Chemother, 48, 4438^-440.
32. Jacoby George A., L.S.M.-P (2005), "Mechanisms of disease: The New beta-Lactamases", N Engl J Med, 352(4), 380-91.
33. Ke, W., et al (2007), "Crystal structure of KPC-2: insights into carbapenemase activity in class A -lactamases",
Biochemistry, 46(19), 5732-5740.
34. Kitchel, B., et al (2009), "Molecular epidemiology of KPC-producing Klebsiella pneumoniae isolates in the United States: clonal expansion of
multilocus sequence type 258", Antimicrobial agents and chemotherapy, 53(8), 3365.
35. Kwa, A.L., V.H Tam, and M.E Falagas (2008), "Polymyxins: a review of the current status including recent developments",
_ Ann Acad Med Singapore, 37, 870-83
36. Landman, D., S Bratu, and J Quale (2009), "Contribution of OmpK36 to carbapenem susceptibility in KPC-producing Klebsiella pneumoniae",
Journal of medical microbiology, 58(10), 1303.
Trang 3437. Leavitt, A., et al (2007), "Emergence of KPC-2 and KPC-3 in carbapenem-resistant Klebsiella pneumoniae strains in an Israeli hospital",
Antimicrobial agents and chemotherapy, 51(8), 3026.
38. Lomaestro, B.M., et al (2006), "The spread of Klebsiella pneumoniae carbapenemase-producing K pneumoniae to upstate New York",
Clinical infectious diseases, 43(3), e26.
39. Martinez-Martinez, L., et al (1999), "Roles of beta-lactamases and porins in activities of carbapenems and cephalosporins against Klebsiella
pneumoniae", Antimicrobial agents and chemotherapy, 43(7), 1669.
40. McGettigan, S.E., K Andreaecchio, and P.H Edelstein (2009), "Specificity of ertapenem susceptibility screening for the detection of Klebsiella
pneumoniae carbapenemases (KPC)", Journal of clinical microbiology, JCM 02143-08v1.
41. Miriagou, V., et al (2003), "Imipenem resistance in a Salmonella clinical strain due to plasmid-mediated class A carbapenemase KPC-2",
Antimicrobial agents and chemotherapy, 47(4), 1297.
42. Monteiro, J., et al (2009), "First report of KPC-2-producing Klebsiella pneumoniae strains in Brazil", Antimicrobial agents
and chemotherapy, 53(1), 333.
43. Munoz-Price, L.S., et al (2010), "Successful Eradication of a Monoclonal Strain of Klebsiella pneumoniae during a K pneumoniae
Carbapenemase-Producing K pneumoniae Outbreak in a Surgical Intensive Care Unit in Miami, Florida",
Infection Control and Hospital Epidemiology, 31(10), 1074-1077.
44. Naas, T., et al (2005), "Plasmid-Mediated Carbapenem-Hydrolyzing {beta}-Lactamase KPC in a Klebsiella pneumoniae Isolate from France",
Antimicrobial agents and chemotherapy, 49(10), 4423.
45. Naas, T., et al (2008), "Genetic Structures at the Origin of Acquisition of the {beta}-Lactamase blaKPC Gene",
Antimicrobial agents and chemotherapy, 52(4), 1257.
46. Navon-Venezia, S., I Chmelnitsky, A Leavitt,M J Schwaber, D Schwartz, and a.Y Carmeli (2006), "Plasmid-mediated imipenem-hydrolyzing
enzyme KPC-2 among multiple carbapenem-resistant Escherichia coli clones in Israel", Antimicrob Agents
Chemother, 50, 3098-3101.
47. Nordmann, P., G Cuzon, and T Naas (2009), "The real threat of Klebsiella pneumoniae carbapenemase-producing bacteria",
The Lancet infectious diseases, 9(4), 228-236.
48. Palepou, M., et al (2005), "Novel class A carbapenemase, KPC-4, in an Enterobacter isolate from Scotland, abstr 1134_01_20 Prog Abstr 15th Eur",
Cong Clin Microbiol Infect Dis., Copenhagen, Denmark.
49. Pasteran, F., et al (2009), "Sensitive screening tests for suspected class A carbapenemase production in Enterobacteriaceae",
Journal of clinical microbiology, JCM 00130-09v1.
50. Pavez, M , E M Mamizuka, and N Lincopan (2009), "Early dissemination of KPC-2-producing Klebsiella pneumoniae strains in Brazil",
Antimicrobial agents and chemotherapy, 53(6), 2702.
51. Peirano, G., et al (2009), "Carbapenem-hydrolysing -lactamase KPC-2 in Klebsiella pneumoniae isolated in Rio de Janeiro, Brazil", Journal
of antimicrobial chemotherapy, 63(2), 265.
52. Podschun, R and U Ullmann (1998), "Klebsiella spp as nosocomial pathogens: epidemiology, taxonomy, typing methods, and pathogenicity factors",
Clinical microbiology reviews, 11(4), 589.
53. Queenan, A.M and K Bush (2007), "Carbapenemases: the Versatile {beta}-Lactamases", Clinical microbiology reviews,
20(3), 440.
54. Rasheed, J.K., et al (2008), "Detection of the Klebsiella pneumoniae carbapenemase type 2 carbapenem-hydrolyzing enzyme in clinical isolates of
Citrobacter freundii and K oxytoca carrying a common plasmid", Journal of clinical microbiology, 46(6), 2066.
55. Robledo, I.E., et al (2010), "Detection of KPC in Acinetobacter spp in Puerto Rico", Antimicrobial agents and
chemotherapy, 54(3), 1354.
56. Samra, Z., et al (2007), "Outbreak of carbapenem-resistant Klebsiella pneumoniae producing KPC-3 in a tertiary medical centre in Israel",
International journal of antimicrobial agents, 30(6), 525-529.
57. Samra, Z., et al (2008), "Evaluation of CHROMagar KPC for Rapid Detection of Carbapenem Resistant Enterobacteriaceae", Journal of
clinical microbiology, JCM 00249-08v1.
58. Samuelsen, 0., et al (2009), "Emergence of clonally related Klebsiella pneumoniae isolates of sequence type 258 producing plasmid-mediated KPC
carbapenemase in Norway and Sweden", Journal of antimicrobial chemotherapy, 63(4), 654.
59. Schechner, V., et al (2009), "Evaluation of PCR-based testing for surveillance of KPC-producing carbapenem-resistant members of the
Enterobacteriaceae family", Journal of clinical microbiology, 47(10), 3261.
60. Schwaber, M.J., et al (2008), "Predictors of carbapenem-resistant Klebsiella pneumoniae acquisition among hospitalized adults and effect of
acquisition on mortality", Antimicrobial agents and chemotherapy, 52(3), 1028.
61. Shen, P., et al (2009), "Novel Genetic Environment of the Carbapenem-Hydrolyzing {beta}-Lactamase KPC-2 among Enterobacteriaceae in China",
Antimicrobial agents and chemotherapy, 53(10), 4333.
62. Smith Moland, E., et al (2003), "Plasmid-mediated, carbapenem-hydrolysing -lactamase, KPC-2, in Klebsiella pneumoniae isolates", Journal
of antimicrobial chemotherapy, 51(3), 711.
63. Steward, C.D., et al (2003), "Antimicrobial susceptibility testing of carbapenems: multicenter validity testing and accuracy levels of five antimicrobial
test methods for detecting resistance in Enterobacteriaceae and Pseudomonas aeruginosa isolates", Journal of clinical
microbiology, 41(1), 351.
64. Tenover, F.C., et al (2006), "Carbapenem resistance in Klebsiella pneumoniae not detected by automated susceptibility testing", Emerg
Infect Dis, 12(8), 1209-13.
65. Villegas, M.V., K Lolans, A Correa, J N Kattan, J A Lopez, J P Quinn, and a.t.C.N.R.S Group (2007), "First identification of
Pseudomonas aeruginosa isolates producing a KPC-type carbapenem-hydrolyzing beta-lactamase", Antimicrob
Agents Chemother, 51, 1553-1555.
66. Villegas, M.V., K Lolans, O M del Rosario, C J Suarez, A Correa, A M and a.J.P.Q Queenan (2006), "First detection of
metallo-beta-lactamaseVIM-2 in Pseudomonas aeruginosa isolates from Colombia", Antimicrob Agents
Chemother, 50, 226-229.
67. Wayne (2011), CLSI (Clinical and Laboratory Standards Institute): Performance
standards for antimicrobial susceptibility testing.Twenty-First informational
supplement, M100-S21, Vol 31, Clinical and Laboratory Standards Institute.
68. Wei, Z.Q., et al (2006), "Plasmid-mediated KPC-2 in a Klebsiella pneumoniae isolate from China", Antimicrobial agents and
chemotherapy, AAC 01053-06v1.
Trang 3569. Woodford, N., et al (2004), "Outbreak of Klebsiella pneumoniae producing a new carbapenem-hydrolyzing class A {beta}- lactamase, KPC-3, in a
New York Medical Center", Antimicrobial agents and chemotherapy, 48(12), 4793.
70. Woodford, N., et al (2008), "Arrival of Klebsiella pneumoniae producing KPC carbapenemase in the United Kingdom",
Journal of antimicrobial chemotherapy, 62(6), 1261.
71. Yigit, H., et al (2003), "Carbapenem-Resistant Strain of Klebsiella oxytoca Harboring Carbapenem-Hydrolyzing {beta}- Lactamase KPC-2",
Antimicrobial agents and chemotherapy, 47(12), 3881.
72. Yigit, H., et al (2001), "Novel carbapenem-hydrolyzing {beta}-lactamase, KPC-1, from a carbapenem-resistant strain of Klebsiella pneumoniae",
Antimicrobial agents and chemotherapy, 45(4), 1151.
73. Zhang, R., et al (2007), "Plasmid-mediated carbapenem-hydrolysing -lactamase KPC-2 in carbapenem-resistant Serratia marcescens isolates from
Hangzhou, China", Journal of antimicrobial chemotherapy, 59(3), 574.
74. zzhttp://en.wikipedia.org/wiki/File:Carbapenems_structure.svg.
75. zzhttp://fr.wikipedia.org/wiki/Fichier:Penicillin-core.png.
zzhttp://www.sciencephoto.com./media/11034/view.
Trang 362 VẬT LIỆU PHƯƠNG PHÁP
2.1 Vật liệu
2.1.1 Các chủng thí nghiệm
- Đối tượng nghiên cứu: 21 chủng vi khuẩn nghi ngờ là Klebsiella pneumoniae kháng
carbapenem thu bệnh viện được từ một số bệnh viện tại Việt Nam
- Các chủng chuẩn dùng trong thử nghiệm Hodge cải biên: Escherichia coli ATCC ®
25922 (vi khuẩn nhạy carbapenem), K pneumoniae ATCC ® 1705 (carbapenemase
dương tính), K pneumoniae ATCC ® 1706 (carbapenemase âm tính).
- Máy PCR (MyCycler, Bio-rad, Mỹ)
- Máy đọc gel (GelDoz XR, Bio-Rad, Mỹ)
- Máy phân tích nồng độ DNA tự động Aligent 2100 Bioanalyser (Aligent
Technologies, Mỹ)
- Máy giải trình tự tự động ABI 3130XL genetic Analyzer (Applied Biosystem,
Mỹ)
- Máy sấy khô (Nam Khoa, Việt Nam)
- Micropipet, đầu tuyp, eppendorf, que cấy vòng, que cấy thẳng, que cấy vô
trùng, tăm bông vô trùng, khay nhựa 12 giếng
Trang 37- Đĩa thạch MC, MHA (Nam Khoa, Việt Nam)
- Đĩa kháng sinh imipenem (10 (Tg), meropenem (10 (Tg), ceftazidime (30
(Tg), cefotaxime (30 (Tg), cefepime (10 (Tg), amoxillin/clavulanate (30/20
(Tg), Ceftazidime/clavulanate (30/10 (Tg) (Nam Khoa, Việt Nam)
- Bộ hóa chất NKMIC.MDA giúp xác định nồng độ ức chế tối thiểu MIC bao
gồm: kháng sinh đông khô meropenem, ertapenem, doripenem (Nam Khoa,
Việt Nam), môi trường lỏng Muller Hinton (Nam Khoa, Việt Nam)
- Bộ hóa chất dùng cho phản ứng PCR (Biorad, Mỹ) bao gồm PCR buffer,
MgCl2, dNTPs, Tag DNA polymerase, nước cất
- Bộ hóa chất QIAquick PCR Purification Kits (QUIAGEN, Mỹ) dùng cho tinh
sạch DNA
- Hóa chất dùng cho điện di gồm: Agarose (Bio-Rad, Mỹ), TBE 10X (Bio-Rad,
Mỹ), loading buffer (Bio-Rad, Mỹ), ethidium bromide (Bio-Rad, Mỹ), thang
chuẩn DNA từ 100 bp đến 900 bp (Bio-Rad, Mỹ)
- Bộ hóa chất dùng cho điện di DNA chip bao gồm: Gel-dye, marker, ladder
(Aligent Technologies, Mỹ)
- Bộ hóa chất dùng cho quá trình giải trình tự (BigDye Terminator v3.1 Cycle
Sequencing Kit, ABI, Mỹ) bao gồm Big Dye, Big Dye buffer, nuclease free
water, sodium acetate 3 M, ethanol 100%, ethanol 70%
2.2 Phương pháp
2.2.1 Phương pháp nhuộm Gram
Muc đích: xác định vi khuẩn là Gram âm hay dương để tiến hành các bước
định danh tiếp theo
Nguyên tắc: khi nhuộm vi khuẩn với thuốc màu Crystal Violet và một chất gắn
màu Iodine như Lugol nếu ta tẩy màu bằng ethanol 95%, vi khuẩn Gram dương có lớp
peptidolycan dày ăn màu tím của Crystal Violet, ngược lại vi khuẩn Gram âm bị tẩy
mất màu tím Khi nhuộm lại với safranin 0,5%, nhóm Gram dương vẫn giữ màu tím
còn nhóm Gram âm sẽ bắt màu đỏ
Trang 38Tiến hành
- Phết nhuộm được cố định trên lame
- Phủ Crystal Violet lên phết nhuộm trong 1 phút Rửa nước và nghiêng kính để
cho ráo
- Phủ Lugol lên phết nhuộm trong 1 phút Rửa nước và nghiêng kính cho ráo
- Phủ ethanol 95% lên phết nhuộm, để 30 giây Rửa bằng nước và nghiêng kính
cho ráo
- Nhuộm lại với dung dịch Safranin trong 30 giây Rửa nước và thấm khô vết
nhuộm
- Quan sát ở vật kính dầu
Đoc kết quả: vi khuẩn Gram dương giữ màu tím của Crystal Violet, vi khuẩn
Gram âm giữ màu đỏ của Safranin
2.2.2 Phương pháp định danh sinh hóa
Các chủng vi khuẩn thí nghiệm được phân lập trên môi trường MacConkey
agar (MC) Các vi khuẩn mọc được được định danh bằng bộ hóa chất định danh IDS
14® GNR (Nam Khoa, Việt Nam) dùng cho định danh các trực khuẩn Gram âm dễ
mọc
2.2.2.1 Nguyên tắc một số phản ứng sinh hóa định danh nhóm trực khuẩn
Gram âm
• Thử nghiệm khả năng lên men
Khi sử dụng các nguồn cacbon để lên men, tùy phương thức lên men các sản
phẩm tạo ra sẽ khác nhau bao gồm rượu, các acid hữu cơ, CO2, Trong tất cả các
trường hợp, các sản phẩm tạo thành đều làm giảm pH môi trường dẫn đến sự thay đổi
màu của chỉ thị pH trong môi trường
• Thử nghiệm nitratase (khử nitrate)
Nhằm xác định vi sinh vật có có hệ enzyme citratase có khả năng khử nitrat
thành nitrite hay nitơ tự do trong điều kiện kị khí Nitrite được tạo ra sẽ phản ứng với
sulphanilamide và N-napthylethylenediamine hydrochloride ở pH acid cho hợp chất
Trang 39có màu hồng.
• Thử nghiệm ONPG
Các vi khuẩn có khả năng len men đường lactose nhanh có khả năng sản xuất
cả 2 loại men lactose permease và P-galactosidase Một số vi khuẩn được xem là
nhóm vi khuẩn lên men lactose chậm chỉ sản xuất được P-galactosidase Hoạt tính của
enzyme này có thể xác định dựa một cơ chất tổng hợp là
o-nitrophenyl-D-galactopyranoside (ONPG) Sự thủy phân của cơ chất đường này bởi P-galactosidase
sẽ phóng thích o- nitrophenol có màu vàng
• Thử nghiệm khả năng biến dưỡng citrate
Sự biến dưỡng citrate bởi vi sinh vật sẽ tạo ra CO2 làm kiềm hóa môi trường
Mặt khác mọi sinh vật có khả năng sử dụng citrate làm nguồn cacbon duy nhất đều có
khả năng dùng muối ammonium làm nguồn đạm duy nhất Sự phân giải của muối
ammonium dùng làm nguồn đạm trong môi trường sẽ sinh NH3 làm kiềm hóa môi
trường Sự gia tăng giá trị pH này được chỉ thị bằng sự đổi màu của chỉ thị pH trong
môi trường
• Thử nghiệm Urease
Vi khuẩn tiết men urease có khả năng thủy phân urê trong môi trường thành
CO2 và NH3 làm môi trường bị kiềm hóa Chất chỉ thỉ Phenol Red trong môi trường
thử nghiệm làm môi trường chuyển sang màu đỏ
• Phenylalanine deaminase (PAD)
Một số vi khuẩn thuộc bộ lạc Proteeae như Proteus, Morganella, Providencia
có khả năng sản xuất men deaminase khử amin của amino acid phenylalanine thành
một keto acid, chất này kết hợp với ion sắt trong thuốc thử Ferric chloride 10% để cho
ra màu xanh lá cây
• Thử nghiệm bile esculine
Thử nghiệm này giúp phân biệt vi sinh vật dựa trên khả năng thủy phân liên
kết glucoside trong esculine thành esculetin và glucose tự do khi có sự hiện diện của
muối mật Esculetin tạo ra sẽ phản ứng với muối sắt trong môi trường thử nghiệm tạo
thành hợp chất màu đen hay nâu đen
Trang 40• Thử nghiệm khả năng sinh indol
Thử nghiệm này phát hiên vi sinh vật sản xuất men tryptophanase khi nuôi cấy
vi sinh vật trong môi trường canh trypton Phản ứng thủy phân trytophan tạo thành
Indole, chất này kết hợp với Para-dimethylamino benzaldehyde trong thuốc thử Kovác
cho ra một hợp chất muối dimethyl ammonium màu đỏ
• Thử nghiệm VP (Voges - Proskauer)
Thử nghiệm VP nhằm mục đích phát hiện acetoin, một sản phẩm trung tính
trong quá trình trao đổi glucose trong tế bào vi sinh vật Chất này bị oxid hóa trong
môi trường kiềm biến đổi thành diacetyl, dưới sự xúc tác của alpha-naphthol để cho
một phức chất màu hồng đỏ
• Thử nghiệm khả năng biến dưỡng malonate
Thử nghiệm nhằm xác định khả năng của vi sinh vật sử dụng malonate như là
nguồn carbon duy nhất trong môi trường Các vi sinh vật biến dưỡng malonate sẽ sử
dụng chu trình glyoxylic acid để biến dưỡng năng lượng Nếu không sử dụng được
malonate, chất này có tác dụng như một chất diệt khuẩn Các vi sinh vật có khả năng
biến dưỡng malonate đồng thời có khả năng sử dụng ammonium là nguồn đạm duy
nhất Do vậy khả năng biến dưỡng malonate được ghi nhận nhờ sự phóng thích NH3
làm kiềm hóa môi trường và chuyển màu của chỉ thị pH
• Thử nghiệm KIA
Thử nghiệm này nhằm phát hiện khả năng sử dụng các nguồn carbonhydrate,
khả năng sinh H2S và sinh khí trong môi trường KIA chứa hai loại đường lactose 1%
và glucose 0.1% Sau khi nuôi cấy chủng này 18-24 giờ, có ba trường hợp có thể xảy
ra:
+ Nếu vi sinh vật chỉ lên men glucose, phần trên bề mặt của ống thạch nghiêng
trở nên có pH kiềm và phần sâu trong ống có pH acid Điều này có thể giải thích do vi
sinh vật sau khi sử dụng hoàn toàn lượng glucose ít ỏi trên bề mặt mội trường, chúng
tiếp tục dị hóa pepton trong môi trường giải phóng NH3 làm phần bề mặt của môi
trường có pH kiềm Ở phần sâu trong môi trường với điều kiện thiếu ôxi, glucose
được lên men kỵ khí sinh ra các acid hữu cơ làm giảm pH của môi trường Nếu trong