1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế định tội phạm và hình phạt hướng tới việc sửa đổi bộ luật hình sự 1999 đáp ứng yêu cầu mới

289 371 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 289
Dung lượng 3,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì những lý do nêu trên, Ban chủ nhiệm đề tài lựa chọn việc “Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện chế định về tội phạm và hình phạt hướng tới việc sửa đổi Bộ luật h

Trang 1

bộ t− pháp - ∗∗∗ -

báo cáo phúc trình

đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ

NGHIÊN CứU VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN HOàN THIệN CHế ĐịNH TộI PHạM Và HìNH PHạT HƯớNG TớI VIệC Sử ĐổI Bộ LUậT HìNH Sự 1999

ĐáP ứNG YÊU CầU ĐổI MớI

Chủ nhiệm đề tài: NGUYễN CÔNG HồNG

7527

22/10/2009

Hà Nội – 2009

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách mới liên quan đến yêu cầu tăng cường đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới Các chủ trương, chính sách này được thể hiện rất rõ trong: Nghị quyết trung ương 8 khoá VII, Nghị quyết TW 3 và 7 khoá VIII, Văn kiện Đại hội IX, Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác

tư pháp trong thời gian tới, Chỉ thị số 37/2004/CT-TTg ngày 08/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 09/CP và chương trình quốc gia phòng chống tội phạm của Chính phủ đến năm 2010, Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Những chủ trương, chính sách này đã từng bước được thể chế hóa bằng pháp luật nói chung

và pháp luật hình sự nói riêng

BLHS được ban hành từ năm 1985, đã qua 5 lần sửa đổi, bổ sung (1989, 1991,

1992, 1997 và 1999), trong đó lần sửa đổi, bổ sung năm 1999 là cơ bản để cập nhật, bổ sung những nội dung mới đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm BLHS đã góp phần tích cực vào đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật

tự an toàn xã hội, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay, khi mà tình hình tội phạm vẫn đang diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng, cơ cấu thành phần tội phạm có những thay đổi, tỷ lệ thanh thiếu niên phạm tội ngày càng cao; tình trạng phạm tội có sử dụng bạo lực, có tổ chức, có tính chất côn đồ hung hãn, xâm hại trẻ em, đâm thuê, chém mướn, v.v xảy ra hết sức nghiêm trọng gây lo lắng cho toàn xã hội thì các quy định của BLHS năm 1999 về tội phạm và hình phạt đã bộc lộ nhiều bất cập

Trước hết, về vấn đề tội phạm, có thể thấy, thứ nhất, trong điều kiện phát triển

kinh tế, xã hội, khoa học và công nghệ thì có một số loại tội phạm mới phát sinh như: tội phạm công nghệ cao, chứng khoán … nhưng BLHS chưa có quy định về những hành vi nguy hiểm này nên cơ quan tiến hành tố tụng bị bó tay, không thể xử lý về

hình sự được do nguyên tắc “luật không quy định thì không có tội” Thứ hai, trong tình

hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay tình hình tội phạm nói chung cũng như một số tội phạm có đã có sự thay đổi về đặc điểm, tính chất, quy mô cũng như phương thức thực hiện, nên một số quy định có liên quan của BLHS về cấu thành tội phạm (như: các tội phạm môi trường, các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin) phát sinh nhiều bất cập, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và không còn đáp ứng được yêu cầu về phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi phải được bổ

sung cho sát với tình hình Thứ ba, BLHS hiện hành được ban hành từ năm 1999 trong

bối cảnh nước ta chưa hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, nhiều điều ước quốc tế chúng ta chưa có điều kiện gia nhập, do vậy, các quy định về tội phạm chưa phản ánh được những đặc điểm và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong điều kiện hội nhập quốc tế, nhất là tính chất, khái niệm một số tội phạm mang tính quốc tế như: tội khủng bố, tội rửa tiền, tội buôn bán người, tội về sở hữu trí tuệ v.v ; Vì vậy, chưa tạo

Trang 3

được cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết trong các điều ước quốc tê như: các Công ước của Liên Hợp quốc về phòng, chống ma tuý, Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ, các hiệp định quốc tế về sở hữu trí tuệ, các điều ước quốc tế về chống khủng bố, buôn bán người, rửa tiền, v.v

Về hình phạt cũng có nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn đặt ra cần được quan tâm nghiên cứu Ví dụ: cần phải nghiên cứu để bỏ hình phạt tử hình đối với một số tội phạm cụ thể cho phù hợp với chủ trương của Đảng và xu hướng chung của thế giới; hoàn thiện các quy định hiện hành để nâng cao hiệu quả của hình phạt tù và các hình phạt không phải là hình phạt tù; ý nghĩa và hiệu quả của hình phạt bổ sung và các biện pháp tư pháp trong điều kiện hiện nay

Từ những lý do nêu trên, việc sửa đổi, bổ sung BLHS là một đòi hỏi khách quan và cấp thiết của hoạt động lập pháp và thi hành pháp luật trong điều kiện phát triển về kinh tế và xã hội hiện nay của nước ta nhằm góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế nói trên, đáp ứng yêu cầu bức xúc của thực tiễn và bảo đảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Kết quả nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện các vấn đề về tội phạm và hình phạt sẽ đưa ra được những giải pháp, phương án cụ thể nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế hiện nay, góp phần quan trọng vào việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999

để đáp ứng yêu cầu mới, đảm bảo đủ tính răn đe và mức độ trừng phạt cần thiết đối với người phạm tội trong điều kiện mới

Vì những lý do nêu trên, Ban chủ nhiệm đề tài lựa chọn việc “Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện chế định về tội phạm và hình phạt hướng tới việc sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999 đáp ứng yêu cầu mới” làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2007 để phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS đã được Quốc hội quyết định đưa vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2007, dự kiến sẽ thông qua vào tháng 5 năm 2009 cũng như việc sửa đổi, bổ sung cơ bản, toàn diện Bộ luật hình sự sau này

Với đội ngũ tham gia nghiên cứu đề tài là những chuyên gia trong lĩnh vực hình

sự đã trực tiếp tham gia xây dựng Bộ luật hình sự từ năm 1985 đến nay, chúng tôi tin rằng, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ hữu ích cho Bộ Tư pháp (cơ quan chủ trì soạn thảo dự án BLHS sửa đổi) trong việc đề xuất, kiến nghị các phương án sửa đổi, bổ sung BLHS

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến các lĩnh vực nghiên cứu của đề tài, có một số công trình nghiên cứu của các chuyên gia luật hình sự nước ngoài và một số tài liệu hội thảo, hội nghị mà Nhóm nghiên cứu có điều kiện tiếp cận, trong đó đáng chú ý là: “Luật hình sự quốc tế hiện đại”/Kubanhic A G - Trung tâm báo chí pháp lý 2003; “Hệ thống pháp luật một số nước trên thế giới”/Remetnhicop Ph M - NXB Sách pháp lý, Matxcơva 1993; “Tài liệu Hội thảo chống tham nhũng Đông Nam Á - lần thứ nhất”/Ủy ban chống tham nhũng Hàn Quốc 2004; “Bộ công cụ phòng chống tham nhũng của Liên Hợp quốc”/Văn phòng ma túy và tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) - Viên (Áo) 2004; “Báo cáo tổng hợp Tọa đàm về tội phạm kinh tế và môi trường”/Bộ Tư Pháp, Hà Nội 1999; “Báo cáo của Ủy ban kiểm soát ma túy quốc tế năm 2004”/Ủy ban kiểm soát ma túy quốc tế của Liên Hợp Quốc, New York 2005; “Những loại hình tội phạm kinh tế ở Nhật Bản và các chế định xử lý”/Tài liệu tham khảo của Bộ Tư pháp

Trang 4

Ở trong nước, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu khác nhau trong đó trực tiếp hoặc gián tiếp có đề cập đến vấn đề tội phạm và hình phạt Trước hết, có thể kể ra nhiều công trình nghiên cứu về tội phạm và hoàn thiện các chế định về tội phạm trong BLHS trong giai đoạn hiện nay như: “Hoàn thiện pháp luật hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền”/PGS TSKH Lê Cảm- NXB CAND 1999; “Phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực đưa người Việt Nam đi lao động nước ngoài”/Đinh Anh Tuấn, Nguyễn Kim Phong- NXB CAND 2006; “Đặc điểm tội phạm học của tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay: LATS Luật học”/ Phạm Văn Tỉnh; “Đấu tranh phòng, chống tội kinh doanh trái phép ở Việt Nam”; “Phòng chống các loại tội phạm ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”/GS.TS Nguyễn Xuân Yêm-NXB CAND 2005; “Tội phạm tài chính trong hội nhập”/Hà Hoàng Hợp, Phạm Bá Khiêm-NXB Thống kê 2005; “Tội phạm kinh tế thời mở của”/ GS.TS Nguyễn Xuân Yêm,

TS Nguyễn Hoà Bình, Nguyễn Phong Hoà-NXB CAND 2004; “Đấu tranh phòng, chống tội phạm rửa tiền ở Việt Nam/ TS Nguyễn Hoà Bình-NXB CAND 2004; v.v

Về hình phạt đối với các tội phạm cụ thể có các công trình nghiên cứu như:

“Chế tài hình sự đối với tội phạm xâm hại trẻ em và người chưa thành niên phạm tội”/ luật gia Hà Anh-NXB TP 2006; “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma tuý trong luật hình sự Việt Nam: LATS Luật học”/ Phạm Minh Tuyên 2006; “Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam/ Lê Văn Đệ-NXB CAND 2004; “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu: LATS Luật học”/Nguyễn Ngọc Chí; v.v

Ngoài ra, Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp đã hoàn thành việc nghiên cứu một số đề tài nghiên cứu có liên quan như: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác định trách nhiệm hình sự đối với những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường” (năm 2001);

“Một số vấn đề về hình phạt tử hình và thi hành hình phạt tử hình - Thực trạng và giải pháp” (năm 2003); “Cơ sở khoa học để xây dựng và hoàn thiện chính sách hình sự trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (năm 2005) v v Trong các công trình nghiên cứu này đã làm rõ được một số nội dung quan trong có liên quan đến tội phạm

và hình phạt như: quan điểm về bản chất của tội phạm; tội phạm hoá, phi tội phạm hoá; hình sự hoá, phi hình sự hoá; quan điểm về xử lý tội phạm v.v

Đây là những công trình có giá trị khoa học và thực tiễn cao Tuy nhiên, mỗi công trình lại khai thác sâu về một khía cạnh nhất định của vấn đề tội phạm và hình phạt, chưa có công trình nào đề cập một cách đầy đủ, toàn diện về vấn đề tội phạm và hình phạt để có thể đề xuất được những phương án, giải pháp sửa đổi, bổ sung BLHS hiện hành theo yêu cầu mới hiện nay

3 Mục đích, phạm vi, phương pháp nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

1 Đánh giá khái quát thực trạng các quy định của BLHS về tội phạm và hình phạt cũng như tình hình áp dụng các quy định này trên thực tế trên cơ sở có sự kế thừa những kết quả nghiên cứu của các đề tài có liên quan

2 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng về tội phạm và hình phạt trong điều kiện mới

3 Các kiến nghị giải pháp, hướng hoàn thiện các quy định của BLHS 1999 về tội phạm và hình phạt đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường XHCN, hội nhập

Trang 5

quốc tế, yêu cầu cải cách tư pháp và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Chế định tội phạm và hình phạt là hai nội dung cơ bản của pháp luật hình sự và thể hiện rõ chính sách hình sự của bất kỳ một quốc gia nào Chế định tội phạm bao gồm những vấn đề thuộc về lý luận chung như: khái niệm tội phạm, yếu tố lỗi của người phạm tội, các yếu tố loại trừ tính phạm tội của hành vi, phân loại tội phạm, và những vấn đề thuộc về các loại tội phạm cụ thể như tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người, tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, Chế định hình phạt bao gồm các vấn đề lý luận chung về hình phạt như: khái niệm, mục đích, hệ thống hình phạt, và các chế định hình phạt cụ thể như: tử hình, tù chung thân, tù có thời hạn, các hình phạt chính ngoài

tù (như phạt tiền, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ), các hình phạt bổ sung như: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản, , kể cả các biện pháp tư pháp hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt

Như vậy, có thể thấy chế định tội phạm và hình phạt có nội dung rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, Ban Chủ nhiệm đề tài thấy rằng, không thể nghiên cứu một cách dàn trải tất cả các vấn đề thuộc về nội dung

đó mà cần tập trung chuyên sâu vào những vấn đề cơ bản, bức xúc Trên tinh thần đó, Ban Chủ nhiệm Đề tài xác định việc nghiên cứu đề tài cần dựa trên các tiêu chí sau:

- Hoàn thiện các quy định của BLHS để nhằm thể chế hoá chủ trương cải cách

tư pháp của Nhà nước ta, cụ thể là chủ trương hạn chế áp dụng hình phạt tử hình, quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế được thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW, Nghị quyết số 48/NQ-TW và Nghị quyết số 49/NQ-TW;

- Đáp ứng các bức xúc hiện nay trong đấu tranh phòng, chống một số loại tội phạm, cũng như một số vấn đề hình phạt đang nổi cộm nhằm đưa ra các kiến nghị, đề xuất sửa đổi các quy định này phục vụ kịp thời cho công cuộc đổi mới đất nước;

- Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế hiện nay của đất nước ta, xây dựng hệ thống các quy định pháp luật hài hoà với các yêu cầu của các văn bản pháp luật quốc

tế mà Việt Nam đã và đang là thành viên

Cụ thể, phạm vi nghiên cứu của Đề tài sẽ bao gồm các vấn đề sau:

- Chính sách hình sự thể hiện tại BLHS 1999 và phương hướng sửa đổi BLHS trong giai đoạn tới

- Về chế định tội phạm: Nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định về một số tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; tội phạm môi trường; tội phạm chức vụ và một số tội phạm mang tính quốc tế như: buôn bán người, khủng bố, rửa tiền;

- Về chế định hình phạt: Đánh giá, đề xuất sửa đổi, hoàn thiện các quy định hiện hành về hình phạt tù, trong đó bao gồm tù có thời hạn và tù chung thân; nghiên cứu hạn chế áp dụng hình phạt tử hình; nghiên cứu hoàn thiện các quy định về các hình phạt chính không tước tự do; đánh giá, đề xuất sửa đổi, hoàn thiện các quy định

Trang 6

hiện hành về hình phạt bổ sung; nghiên cứu bổ sung chế định miễn chấp hành có điều kiện phần còn lại của hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lê nin để xem xét vấn đề tội phạm và hình phạt dưới ánh sáng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa xã hội khoa học

- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là: so sánh pháp luật: Phương pháp này dùng để nghiên cứu lý luận và thực tiễn các quy định tội phạm và hình phạt của nước ngoài, đối chiếu so sánh với các quy định của Việt Nam, để tìm được phương án, đề xuất hợp lý cho Việt Nam; Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, hệ thống để tìm ra những luận giải về lý thuyết và thực tiễn về tội phạm và hình phạt

Ngoài ra, Nhóm nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp điều tra xã hội học, khảo sát thực tiễn, phân tích, đề xuất, kiến nghị,

4 Quá trình thực hiện đề tài

Để thu được kết quả cuối cùng của đề tài và để thực hiện được mục đích nghiên cứu của đề tài, Ban chủ nhiệm đã tiến hành một hệ thống các hoạt động nghiên cứu như sau:

1) Ngay sau khi Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký quyết định giao nhiệm vụ chủ nhiệm đề tài, từ tháng 7 năm 2007 Ban chủ nhiệm đã triển khai xây dựng dự thảo hệ chuyên đề nghiên cứu và mời các cộng tác viên tham gia nghiên cứu viết chuyên đề Các cộng tác viên là những cán bộ nghiên cứu đầu ngành về pháp luật hình sự đang công tác tại các Viện nghiên cứu, giảng dạy tại các trường đại học, cũng như các cán

bộ đang công tác tại các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử có nhiều kinh nghiệm thực tiễn về thực thi pháp luật hình sự, đặc biệt là các chuyên gia hình sự đã tham gia trong quá trình soạn thảo BLHS 1999;

2) Sau khi có dự thảo hệ chuyên đề, Ban Chủ nhiệm đã mời các chuyên gia trong Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính cũng như các chuyên gia của các cơ quan hữu quan đến họp góp ý cho dự thảo hệ chuyên đề Nhận được các ý kiến đóng góp, Ban Chủ nhiệm đề tài đã chỉnh lý, hoàn thiện hệ chuyên đề và ký hợp đồng thực hiện các chuyên đề với các cộng tác viên Hệ chuyên đề này đã được hoàn tất xong vào tháng 8 năm 2008;

3) Ban Chủ nhiệm đã ký hợp đồng với một số chuyên gia của Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính và các chuyên gia khác dịch thuật một số tài liệu tham khảo từ tiếng nước ngoài như các BLHS của các nước, cũng như thu thập các tài liệu nghiên cứu, sách tham khảo có liên quan đến Đề tài để lập thành một Danh mục tài liệu tham khảo sử dụng trong quá trình nghiên cứu;

4) Đồng thời với việc ký hợp đồng với các chuyên gia để thực hiện các chuyên

đề, Ban Chủ nhiệm cử người tham gia 02 cuộc khảo sát về tình hình thực tiễn 8 năm thi hành Bộ luật hình sự năm 1999 tại 6 tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Thừa thiên - Huế, Quảng Trị và Quảng Bình dưới sự chỉ đạo của Ban Soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS;

Trang 7

5) Ban Chủ nhiệm Đề tài còn phối hợp với các Dự án khác tổ chức một số Hội thảo để lấy ý kiến chuyên gia về một số vấn đề có liên quan của Đề tài

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài

Đề tài đã có một số đóng góp quan trọng như sau:

Về mặt lý luận:

- Trên cơ sở xác định rõ phạm vi nghiên cứu, tập thể tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chế định tội phạm và hình phạt theo 4 nhóm vấn đề để phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung BLHS Đó là (i) tiếp tục nhân đạo hoá chính sách hình sự, (ii) nghiên cứu việc hình sự hoá những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế (iii) nghiên cứu một số vấn đề cấp bách nhất nhằm góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay và (iv) hoàn thiện các quy định của BLHS nhằm chuẩn bị các điều kiện pháp lý hình sự thực hiện các nghĩa vụ quốc tế mà Việt Nam đã cam kết Thành công lớn của tập thể tác giả

là đã chỉ ra được một cách khá thuyết phục hệ thống các vấn đề còn bất cập liên quan đến chế định tội phạm và hình phạt cần được hoàn thiện của BLHS 1999

- Trên cơ sở phân tích nội dung, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng hành vi có so sánh với pháp luật quốc tế có liên quan và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay, Đề tài đã đánh giá được một cách có hệ thống về lý luận và thực tiễn cho từng vấn đề và đề xuất được những giải pháp cụ thể và khả thi cho việc sửa đổi, bổ sung phần các tội phạm của BLHS 1999

- Trên cơ sở kết quả phân tích, đánh giá khá sâu, toàn diện và mang tính tổng kết cao về các loại hình phạt, Đề tài đã đưa ra được những kiến nghị hoàn thiện hệ thống hình phạt nói chung và các nguyên tắc có sức thuyết phục cao cho việc xem xét giảm án tử hình trên thực tế nói riêng

- Những ý kiến đánh giá, nhận xét của tập thể tác giả về sự tương thích và khác nhau giữa quy định có liên quan của BLHS 1999 và quy định của pháp luật quốc tế có liên quan và những khó khăn, bất cập trong quá trình áp dụng có ý nghĩa quan trọng cả

về mặt lý luận và thực tiễn, đóng góp tích cực cho quán trình hoàn thiện pháp luật hình

Trang 8

PHẦN I BÁO CÁO PHÚC TRÌNH

Trang 9

I CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ THỂ HIỆN TẠI BỘ LUẬT HÌNH SỰ (BLHS)

1999 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG SỬA ĐỔI

1.1 Chính sách hình sự thể hiện tại BLHS 1999

Chính sách hình sự của Nhà nước ta là bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, bảo

vệ các quyền cơ bản của con người trong xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế thị trường có môi trường xã hội lành mạnh để phát triển, có sự quản lý của Nhà nước, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các hình thức sở hữu được Hiến pháp thừa nhận, bảo đảm trật tự, an toàn công cộng, trật tự quản lý hành chính, trật tự pháp luật, bảo đảm giao lưu và hợp tác quốc tế, góp phần thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Tinh thần bao trùm chính sách hình sự của Nhà nước ta là chủ nghĩa nhân đạo, bảo vệ quyền con người, được thể hiện ở những điểm chính sau đây:

Thứ nhất, chỉ áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm

trọng và cũng chỉ trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng Do vậy, so với trước đây, BLHS 1999 đã giảm đáng kể số lượng các tội phạm có thể bị áp dụng hình phạt tử hình Nếu như trước năm 1999 có 44 điều luật quy định hình phạt tử hình, thì nay chỉ còn 29 điều luật, tập trung vào một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng như: phản bội tổ quốc, bạo loạn, khủng bố, giết người, cướp của, hiếp dâm, tội phạm ma tuý, tội phạm

về tham nhũng, …;

Thứ hai, không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm

tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

Thứ ba, đa dạng hoá hệ thống hình phạt theo hướng tăng cường các hình phạt

không gắn với giam giữ; giảm đáng kể các trường hợp có thể bị áp dụng hình phạt tù,

bổ sung thêm hình phạt tiền để tăng sự lựa chọn hình phạt, đặc biệt là đối với các tội phạm về kinh tế Nếu như trước đây hầu như tội nào cũng có hình phạt tù, thì nay có tới trên 70 điều luật (trên tổng số 267 điều) có quy định thêm hình phạt tiền và có trên dưới 10 khung hình phạt chỉ có hình phạt tiền (không có hình phạt tù trong chế tài lựa chọn);

Thứ tư, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên Đặc biệt,

người từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

1.2 Những bất cập của BLHS 1999

Qua các báo cáo tổng kết 8 năm thi hành BLHS của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Báo cáo khảo sát liên ngành về tình hình 8 năm thi hành BLHS tại một số địa phương thì có thể thấy rằng, BLHS 1999 đã quy định một cách tương đối hệ thống, toàn diện các nguyên tắc, chế định chung của chính sách hình sự, đã hình sự hoá tương đối đầy đủ các hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm và có một hệ thống hình phạt khá toàn diện, khoa học Trong 8 năm qua, BLHS 1999 đã thực sự là công cụ pháp lý quan trọng, góp phần tích cực vào việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ các thành tựu phát triển kinh tế xã hội, góp phần xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 10

Tuy nhiên, do được ban hành đã lâu, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội hiện nay

đã có nhiều thay đổi nên BLHS 1999 đã và đang bộc lộ nhiều điểm bất cập trước yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới Các điểm bất cập này có thể chia làm các nhóm sau đây:

Thứ nhất, bất cập của các quy định tại Phần chung BLHS về chế định tội phạm

có thể liệt kê như: quy định về cơ sở trách nhiệm hình sự (Điều 2) chưa xác định rõ thế nào là trách nhiệm hình sự, thời điểm phát sinh và kết thúc trách nhiệm hình sự; quy định về khái niệm tội phạm (Điều 8) chưa thật khái quát; chế định đồng phạm (Điều 20) chưa rõ ràng về người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 46 và 48) chưa rõ ràng dẫn đến khó áp dụng thống nhất ;

Thứ hai, bất cập của các quy định tại Phần chung BLHS về chế định hình phạt

có thể liệt kê như: quy định về hình phạt cảnh cáo (Điều 29) không có tác dụng giáo dục, răn đe người phạm tội trong thực tiễn Các quy định của BLHS hiện hành dẫn đến một bất hợp lý là các biện pháp tư pháp, hình phạt không tước tự do như cải tạo không giam giữ không được áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi Quy định về hình phạt bổ sung tước một số quyền công dân còn mâu thuẫn với các quy định tại các điều luật cụ thể của Phần các tội phạm ;

Thứ ba, bất cập của các quy định về các tội phạm cụ thể có thể kể ra như: một

số điều luật không mô tả hành vi khách quan nên khó xác định chính xác tội danh và

áp dụng thống nhất (Điều 134, 136, 137, 138); nội dung quy định trong cấu thành của một số tội phạm còn có những bất cập, khó thực hiện, khó chứng minh trên thực tế (Điều 80, 84, 104, 105, 119 ); nhiều tội danh quy định ghép các hành vi có tính chất

và mức độ nguy hiểm khác nhau vào cùng một điều luật, gây khó khăn trong việc định tội và định khung hình phạt (điều 120, 180, 181, 194 ) ;

Thứ tư, bất cập của các quy định về các khung hình phạt tại Phần các tội phạm

có thể liệt kê như: mức khởi đầu và mức cuối của khung hình phạt tù có thời hạn quá dài (khoản 3 Điều 104, khoản 1 Điều 133, ); khoảng cách giữa mức tối thiểu và tối đa của hình phạt tiền còn quá rộng (Điều 271, 133 ) ;

Thứ năm, trong thời gian gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế -

xã hội của đất nước, có một số hành vi đã trở nên không còn nguy hiểm cho xã hội nên không cần phải quy định là tội phạm nữa, ngược lại, có một số hành vi mới xuất hiện với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội tương đối cao, nhưng chưa được quy định trong BLHS 1999

Bên cạnh các bất cập nói trên, cũng có thể thấy rằng, với xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thì nhiều quy định của BLHS 1999 đã không đáp ứng kịp với các cam kết quốc tế mà chúng ta đã ký kết hoặc tham gia với cộng đồng thế giới

Ví dụ như: tội khủng bố (Điều 84), tội mua bán phụ nữ, tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 119, 120), tội phạm về sở hữu trí tuệ (Điều 131, 171), đã trở nên lạc hậu, không phù hợp với yêu cầu của các công ước quốc tế, cần thiết phải sớm sửa đổi, bổ sung

1.3 Kiến nghị của Đề tài về phương hướng sửa đổi BLHS 1999

Với những trình bày ở trên, có thể thấy rằng, BLHS 1999 hiện nay có rất nhiều bất cập Điều này không những gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật trong thực

Trang 11

tiễn, mà còn không đáp ứng được yêu cầu phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay

Tuy nhiên, trong phạm vi của một Đề tài khoa học cấp Bộ, với hạn chế về mặt thời gian và nhân lực, chúng tôi không có tham vọng nghiên cứu để sửa đổi tất cả các bất cập nói trên, mà chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề thật sự cấp bách nhất để phục

vụ cho việc xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS dự kiến sẽ thông qua trong kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XII Các vấn đề bất cập khác, chúng tôi cho rằng sẽ tiếp tục được nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện ở những đề tài tiếp theo

Với những lý do trên, Ban Chủ nhiệm đề tài đã hướng các nội dung nghiên cứu vào những vấn đề cấp thiết dựa trên các tiêu chí sau:

- Nghiên cứu hoàn thiện các quy định của BLHS để nhằm thể chế hoá một bước chủ trương cải cách tư pháp của Nhà nước ta, cụ thể là chủ trương hạn chế áp dụng hình phạt tử hình, quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế được thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW, Nghị quyết số 48/NQ-TW

và Nghị quyết số 49/NQ-TW;

- Nghiên cứu một số vấn đề thật sự cấp bách nhất nhằm góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay;

- Nghiên cứu một số vấn đề để đáp ứng các yêu cầu của các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết trong xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay

Với những tiêu chí trên, Nhóm nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chế định tội phạm và hình phạt để sửa đổi BLHS như sau:

• Tiếp tục nhân đạo hoá chính sách hình sự

Tính nhân đạo trong chính sách hình sự được thể hiện trước hết ở việc giảm nhẹ các hình phạt có tính hà khắc đối với người phạm tội, trong đó có hình phạt tử hình - tước mạng sống của người phạm tội Hiện nay, mặc dù đã có những bước đổi mới cơ bản, song BLHS vẫn còn 29 điều luật quy định hình phạt tử hình Trong tương lai, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ý thức của người dân đối với việc chấp hành pháp luật, tôn trọng cuộc sống cộng đồng ngày càng được nâng cao thì việc thu hẹp hơn nữa các tội phạm có thể bị xử phạt tử hình cũng cần được đặt ra Có thể, vẫn cần duy trì hình phạt tử hình, song chỉ nên áp dụng đối với một số loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng như: khủng bố, giết người, cướp của mà làm chết người, còn đối với các loại tội phạm khác thì mức hình phạt cao nhất là chung thân cũng là thích đáng Hiện nay, ở những nước còn duy trì hình phạt tử hình, chẳng hạn như Cộng hoà Liên bang Nga cũng chỉ quy định hình phạt tử hình đối với 3 tội: khủng bố, giết người

có chủ mưu và diệt chủng

Cùng với việc giảm bớt hình phạt tử hình, cần nghiên cứu tiếp tục giảm bớt hình phạt tù đối với người phạm tội Hình phạt tù chỉ áp dụng đối với những tội phạm nghiêm trọng và những tội phạm mà xét thấy nếu để người bị kết án ở ngoài xã hội thì

sẽ còn gây hại cho xã hội Còn đối với những trường hợp khác thì xem xét áp dụng các hình phạt không tước tự do Bên cạnh đó, cần nghiên cứu để giảm bớt số chế tài có quy định hình phạt tù chung thân, đặc biệt là đối với một số nhóm tội như xâm phạm

sở hữu, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế,

Trang 12

• Nghiên cứu việc hình sự hoá những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất

hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế

Trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay, nhiều vấn đề mới phát sinh, phát triển đòi hỏi phải được pháp luật hình sự bảo vệ Do vậy, cần phải nghiên cứu để hình sự hoá một số hành vi vi phạm mới Ví dụ: một số vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán, đất đai; một số vi phạm liên quan đến việc mua bán, sử dụng trái phép hoá đơn chứng từ thu nộp ngân sách, (xem chi tiết

tại Mục 2.1 Hoàn thiện các quy định về tội phạm kinh tế); một số vi phạm nghiêm trọng mới phát sinh trong lĩnh vực môi trường (xem chi tiết tại Mục 2.2 Hoàn thiện các quy định về tội phạm môi trường); các hành vi: lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử

dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che người có hành vi

vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh

tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi (xem chi tiết tại Mục 2.3 Hoàn thiện các quy định về tội phạm chức vụ); hành vi “mua bán nam giới” (xem chi tiết tại Mục 2.4 Hoàn thiện các quy định về Tội phạm buôn bán người); hành vi khủng

bố theo nghĩa rộng hơn quy định của BLHS hiện hành, cũng như hành vi tài trợ khủng

bố (xem chi tiết tại Mục 2.5 Hoàn thiện các quy định về tội phạm khủng bố); một số

hành vi rửa tiền mới trong thực tiễn chưa được Bộ luật hình sự hiện hành quy định

(xem chi tiết tại Mục 2.6 Hoàn thiện các quy định về tội phạm rửa tiền)

• Nghiên cứu một số vấn đề cấp bách nhất nhằm góp phần tháo gỡ những

khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay

Xuất phát thực tiễn đấu tranh với các loại tội phạm như tội phạm kinh tế, tội phạm môi trường, tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em, chúng ta thấy quy định hiện hành còn nhiều bất cập trong yếu tố cấu thành tội phạm, các tình tiết định khung cũng như mức hình phạt làm giảm hiệu quả phòng ngừa và gây khó khăn khi áp dụng các quy định nói trên Cụ thể là, với các tội phạm kinh tế thì nên nghiên cứu tăng cường chế tài vật chất để nâng cao tính răn đe đối với loại tội phạm này; các tội phạm môi trường với các yếu tố cấu thành quá chặt chẽ như hiện nay không thể áp dụng được trong thực tiễn; các tội phạm mua bán phụ nữ, mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em cũng

do yếu tố cấu thành chưa rõ ràng nên gây khó khăn cho các cơ quan áp dụng pháp luật Việc hoàn thiện các quy định về các tội phạm này bảo đảm hành lang pháp lý cho hoạt động kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền con người Vì vậy, việc nghiên cứu để sửa đổi các quy định này là thực sự cấp bách

Thực tiễn áp dụng một số loại hình phạt cũng cho thấy cần thiết phải nghiên cứu để sửa đối một số quy định về hình phạt hiện nay đang có nhiều bất cập như: cân nhắc về hiệu quả phòng ngừa, giáo dục của hình phạt cảnh cáo, mức tối đa và tối thiểu của hình phạt tiền, hệ thống hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên, hệ thống các hình phạt bổ sung,

Bên cạnh đó, để xử lý tội phạm một cách triệt để, nhất là các tội phạm trong lĩnh vực kinh tế, môi trường, đã đến lúc cần phải đặt lại vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân, nhất là pháp nhân kinh tế, bởi vì, hiện nay không ít tổ chức kinh tế

(pháp nhân), vì chạy theo lợi ích cục bộ mà đã thực hiện nhiểu hành vi trái pháp luật mang tính chất tội phạm (ví dụ: đầu cơ, trốn thuế, kinh doanh trái phép, buôn lậu hoặc

Trang 13

vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường, về bảo hộ lao động gây hậu quả nghiêm trọng, v.v ), trong khi đó, chính sách hình sự của nhà nước ta hiện nay mới chỉ xử lý đối với cá nhân phạm tội, còn tổ chức (pháp nhân) cũng có hành vi vi phạm tương tự thì không bị xử lý về hình sự mà bị áp dụng các chế tài xử phạt khác (hành chính, kinh

tế, dân sự) Việc xử lý như vậy là chưa thật thoả đáng, chưa truy xét đến cùng trách nhiệm đối với hành vi phạm tội Pháp luật hình sự của nhiều nước trên thế giới đã quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân, nhất là đối với pháp nhân kinh tế (từ năm

1997 Bộ luật Hình sự Trung Quốc quy định rất rõ vấn đề này)

Tuy nhiên, vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một vấn đề lớn liên quan đến nhiều chế định tại Phần chung của BLHS Việc bổ sung chế định này vào BLHS sẽ làm thay đổi hoàn toàn các quan niệm từ trước đến nay về cơ sở trách nhiệm hình sự, năng lực trách nhiệm hình sự, lỗi, hình phạt, Do vậy, vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu một cách kỹ lưỡng cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng để chuẩn bị cho việc sửa đổi cơ bản, toàn diện Bộ luật hình sự

• Nghiên cứu hoàn thiện các quy định của BLHS nhằm chuẩn bị các điều

kiện pháp lý hình sự thực hiện các nghĩa vụ quốc tế mà Việt Nam đã cam kết

Một số quy định của BLHS 1999 về tội mua bán phụ nữ, trẻ em, tội khủng bố, tội rửa tiền cần phải được nghiên cứu sửa đổi để đáp ứng các yêu cầu của cam kết quốc tế Cụ thể: quy định về tội mua bán phụ nữ, trẻ em cần tuân thủ yêu cầu của Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị, trấn áp tội buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ

nữ, trẻ em, bổ sung Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Nghị định thư về mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em, bổ sung Công ước Quyền trẻ em; quy định về tội phạm khủng bố cần phải đáp ứng yêu cầu của các điều ước quốc tế về chống khủng bố mà Việt Nam đã là thành viên; quy định về các tội phạm liên quan đến rửa tiền phải tuân thủ yêu cầu của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và các khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH TỘI PHẠM

Với phạm vi nghiên cứu được xác định tại Mục 3.2 Phần Lời nói đầu và Mục 1.3 Phần I của Đề tài, phần hoàn thiện chế định tội phạm Nhóm nghiên cứu tập trung nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện các quy định về một số nhóm tội phạm cụ thể như: tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; tội phạm về môi trường; tội phạm về chức vụ và một

số tội phạm mang tính quốc tế như: buôn bán người, khủng bố, rửa tiền

Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu cụ thể:

2.1 Hoàn thiện các quy định về tội phạm kinh tế

2.1.1 Các quy định hiện hành của BLHS về các tội phạm kinh tế

Chương XVI của Bộ luật hình sự năm 1999 với 29 điều luật (Điều 153 - Điều 181) quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Chính sách xử lý đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong BLHS đã có sự chuyển biến khá căn bản

so với các quy định trong BLHS 1985, đã loại bỏ một số tội phạm gắn liền với cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp, đồng thời, đã sửa đổi, bổ sung dấu hiệu cấu thành của một số tội, bổ sung một số tội phạm mới đã và đang phát sinh trong nền kinh tế thị trường, Nhiều tội phạm trong chương Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế đã

Trang 14

định lượng giá trị tài sản để làm cơ sở phân biệt trường hợp nào là tội phạm, trường hợp nào là vi phạm hành chính, giúp cho việc xử lý thống nhất, chính xác, khách quan, đồng thời, hạn chế tình trạng xử lý tuỳ tiện Tuy nhiên, thực tiễn 10 năm thi hành Bộ luật hình sự năm 1999 cho thấy, có nhiều quy định của chương XVI - Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế đã không còn phù hợp, chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới mà một trong những nguyên nhân chính là do các qui định này chưa kịp thể chế hoá chính sách hình sự đã được đề ra tại các nghị quyết của Đảng trong thời gian qua như Nghị quyết số 48-NQ/TW và Nghị quyết số 49- NQ/TW cũng như chưa đáp ứng được các yêu cầu của các cam kết quốc

tế mà Việt Nam đã tham gia

2.1.2 Một số yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện Chương Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Ngoài các yêu cầu chung như: việc sửa đổi, bổ sung phải phúc đáp được những đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới; qui định tội phạm và hình phạt phải phù hợp với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội; bảo đảm tính thống nhất giữa phần riêng và phần chung của BLHS; các khái niệm sử dụng phải thống nhất với hệ thống pháp luật chung, nhất là pháp luật về quản lý kinh tế, thì đối với việc hoàn thiện chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế cần đáp ứng thêm một số yêu cầu riêng sau đây:

(1) Qui định xử lý về hình sự đối với các vi phạm trong lĩnh vực kinh tế cần phù hợp với các qui luật của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tích cực góp phần thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển

Vấn đề xây dựng và phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã được đặt ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng và được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 Với đường lối kinh tế mới, nước ta từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thay thế cho cơ chế quản lý kinh tế tập trung, bao cấp

Dưới tác động của các quan hệ kinh tế mới tình hình tội phạm nói chung, tình hình các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói riêng có nhiều thay đổi, đồng thời, cũng đặt ra những yêu cầu mới về công tác đấu tranh phòng, chống đối với các loại tội phạm này Cùng với sự phát triển của nền kinh tế một số hành vi nguy hiểm xuất hiện đòi hỏi phải xử lý bằng biện pháp hình sự Một số tội phạm tính nguy hiểm cho xã hội lại tăng lên yêu cầu xử lý phải nghiêm khắc hơn Ngược lại, một số tội phạm tính nguy hiểm cho xã hội giảm đi hoặc thậm chí không cần thiết phải xử lý bằng biện pháp hình

sự mà cần chuyển sang xử lý bằng các biện pháp hành chính hoặc dân sự,

Pháp luật nói chung, trong đó có pháp luật hình sự cần phải được đổi mới, được cải cách mạnh mẽ hơn để có thể trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho quá trình phát triển kinh tế, góp phần giải phóng mọi năng lực, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế; trách tình trạng lạm dụng biện pháp hình sự trong việc xử lý các vi phạm trong lĩnh vực kinh tế, thiếu cân nhắc đến hiệu quả kinh tế cũng như xã hội của các biện pháp hình sự, dẫn đến tội phạm hoá tràn lan, bỏ qua các qui luật của nền kinh tế thị trường Do đó, ngoài việc tạo ra hành lang pháp lý an toàn cho các hoạt động kinh tế, pháp luật hình sự còn phải góp phần khuyến khích những hoạt động kinh tế theo cơ chế kinh tế mới phát triển Việc tội phạm hoá hoặc phi tội phạm hoá đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế phải phù hợp với qui luật, đặc điểm và trình độ phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Trang 15

(2) Qui định xử lý về hình sự đối với các vi phạm trong lĩnh vực kinh tế cần phù hợp với pháp luật hình sự quốc tế

Trong những năm qua, Việt Nam ngày càng tham gia tích cực vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Nước ta đã gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), đã ký Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, đã tham gia Khu vực tự

do thương mại các nước Đông Nam á (AFTA) và đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Mặt khác, trong điều kiện giao lưu kinh tế đã khác nhiều so với trước đây, việc lưu thông hàng hoá, không riêng gì nước ta, mà nhiều quốc gia khác cũng như thế, đòi hỏi phải tôn trọng những “luật chơi chung” nhất định và như vậy, cũng có nghĩa là các qui định về xử lý đối với những vi phạm phải phù hợp với pháp luật quốc

tế Điều này còn góp phần tránh được các xung đột pháp luật không cần thiết có thể sẽ xảy ra khi giải quyết các vi phạm trong tương lai

Do đó, việc sửa đổi, bổ sung các qui định xử lý về hình sự đối với các vi phạm trong lĩnh vực kinh tế cần phù hợp với pháp luật hình sự quốc tế đã trở thành một nhu

cầu khách quan Điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương “đẩy mạnh việc rà roát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản qui phạm pháp luật để phù hợp với thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên” được nêu tại

tự do như: hình phạt tù, tù chung thân hoặc tử hình Các hình phạt này vừa có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với người phạm tội, đồng thời, vừa góp phần giúp cho việc tiết kiệm chi phí của xã hội như giảm được chi phí cho việc thi hành án, … Theo chúng tôi, về vấn đề này, nên tham khảo kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia đi trước, nhất là các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi tương tự Việt Nam như: Trung Quốc, Liên bang Nga, …

2.1.3 Kiến nghị hoàn thiện các quy định hiện hành về các tội xâm phạm trật

tự quản lý kinh tế

Để đáp ứng các yêu cầu trên đây đòi hỏi chương Các tội xâm phạm trật tự quản

lý kinh tế cần sửa đổi, bổ sung khá cơ bản các qui định hiện hành, cụ thể như:

(1) Tăng cường chế tài vật chất

Thực tiễn cho thấy, việc xử lý nghiêm hay không nghiêm không chỉ phụ thuộc vào mức hình phạt được qui định nặng hay nhẹ Vấn đề là ở chỗ, biện pháp xử lý phải phù hợp với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, phải phù hợp với bản chất của từng loại tội phạm Bất kỳ một hình phạt nào cũng là sự kết hợp giữa trừng trị và giáo dục, trừng trị là biện pháp để giáo dục và có ý nghĩa răn đe Do đó, khi qui định một loại hình phạt nhà làm luật phải giải quyết hợp lý mối tương quan này Nghĩa là, làm thế nào để yếu tố trừng trị phải bảo đảm ở mức cần và đủ vì nếu nghiêm khắc thái quá

có thể sẽ tạo ra sự bi quan, phẫn uất, mất lòng tin vào động cơ giáo dục, cải tạo của người phạm tội; tạo nên sự nhận xét, đánh giá, phản ứng không tốt của những người xung quanh sẽ hạn chế tác dụng phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng của hình phạt

Trang 16

Theo qui định của BLHS 1999 thì chỉ có hình phạt cải tạo không giam giữ, tịch thu tài sản và hình phạt tiền là các hình phạt tác động trực tiếp về mặt kinh tế đến người bị kết án Tuy nhiên, hình phạt tiền có khả năng tác động mạnh mẽ và trực tiếp hơn đối với người bị kết án Còn tịch thu tài sản chỉ là hình phạt bổ sung, có khả năng

hỗ trợ cho hình phạt chính và chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng trong trường hợp do BLHS qui định Nếu so sánh với hình phạt tịch thu tài sản thì hình phạt tiền có khả năng linh hoạt hơn trong việc vận dụng Nó vừa được qui định là hình phạt chính, vừa được qui định là hình phạt bổ sung Trong hệ thống hình phạt nước ta hiện nay thì tính chất

“lưỡng tính” này chỉ được qui định ở hình phạt tiền và hình phạt trục xuất Với tư cách

là hình phạt chính, phạt tiền được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính Với tư cách

là hình phạt bổ sung, phạt tiền được áp dụng đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma tuý và những tội phạm khác do BLHS qui định

So với BLHS 1985, BLHS 1999 qui định hình phạt tiền khá phổ biến Trong BLHS 1985, chương Các tội phạm về kinh tế chỉ qui định hình phạt tiền là hình phạt chính tại một điều duy nhất1, chiếm 4,7% (1/21 điều luật); hình phạt tiền là hình phạt chính cũng chỉ được qui định trong 8 điều luật, chiếm 4% so với tổng số điều luật phần các tội phạm2 Đến BLHS 1999 thì phần lớn những tội thuộc chương Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế đều có qui định hình phạt tiền là hình phạt chính Tuy nhiên, tại chương này, qui định hình phạt tù vẫn là phổ biến, chiếm 100% các điều luật Hình phạt chung thân, tử hình còn chiếm tới 10,3% (3/29 điều luật) Hình phạt tiền được qui định là hình phạt chính, so với BLHS 1985, đã tăng nhiều, chiếm tới 62% (18/29 điều luật) nhưng lại ở dạng lựa chọn với nhiều hình phạt khác như phạt tù, cải tạo không giam giữ, … Còn hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính độc lập thì chưa được qui định ở một điều luật nào, chiếm 0 % (0/29 điều luật) Với tư cách là hình phạt bổ sung, hình phạt tiền được qui định có khá hơn, chiếm 75,8%, nhưng cũng như đối với hình phạt tiền là hình phạt chính, thường được qui định dưới dạng lựa chọn với nhiều hình phạt bổ sung khác như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định,…Còn hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung độc lập thì chỉ được qui định ở 5 điều luật, chiếm 17 % (5/29 điều luật) Do đó, đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế cần mở rộng phạm vi qui định hình phạt tiền hơn nữa Đặc biệt, cần nghiên cứu để có thể qui định hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính duy nhất đối với một số tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế ít nghiêm trọng Trước mắt đối với các tội như Tội kinh doanh trái phép (Điều 159), Tội trốn thuế (Điều 161), Tội cho vay lãi nặng (Điều 163),…khoản 1 cần qui định hình phạt tiền là hình phạt chính độc lập mà không nên qui định là chế tài lựa chọn với các chế tài khác như hiện nay Đối với hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cũng nên qui định độc lập phổ biến hơn đối với một số tội phạm ít nghiêm trọng Với trường hợp phải qui định hình phạt tù thì cần nghiên cứu theo hướng qui định hình phạt tiền là hình phạt bổ sung bắt buộc đối với một số tội nhất định

(2) Sửa đổi một số quy định hiện hành để phù hợp với các yêu cầu của các cam kết quốc tế

Trang 17

Trong bối cảnh hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và các nước đang ngày càng sâu rộng, thì việc sửa đổi pháp luật hình sự nói chung và các quy định của BLHS về các tội phạm kinh tế nói riêng để đáp ứng các yêu cầu của các cam kết quốc tế là điều hết sức cần thiết Rà soát lại các quy định về các tội phạm kinh tế, Nhóm nghiên cứu thấy cần phải sửa đổi yếu tố cấu thành và nâng khung hình phạt của các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Việt Nam đã tham gia ký kết các điều ước quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ như Công ước Stockholm về việc thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Hiệp ước hợp tác Bằng sáng chế PCT, Thỏa ước Mandrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, Nghị định thư Mandrid về đăng

ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép trái phép, Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng, Thoả ước La Hay về Đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp, Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (Công ước UPOV), Hiệp định giữa VN và Thụy Sỹ về bảo hộ SHTT và hợp tác trong lĩnh vực SHTT, Hiệp định giữa VN và Hoa

Kỳ về việc thiết lập quan hệ quyền tác giả, Hiệp định Thương mại VN - Hoa Kỳ,…

Đặc biệt, từ năm 2007, Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), một trong những vấn đề Việt Nam cam kết thực hiện là bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chống sản xuất, buôn bán hàng giả nhằm bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, quyền và lợi ích cũng như sức khỏe của người tiêu dùng cũng như uy tín của Việt Nam trong hợp tác thương mại quốc tế

Để đáp ứng các yêu cầu của các cam kết quốc tế về sở hữu trí tuệ, chúng tôi kiến nghị cần tập trung sửa đổi Điều 131 và 171 của Bộ luật hình sự theo hướng sửa đổi yếu tố cấu thành cơ bản của hai điều luật trên: từ “gây hậu quả nghiêm trọng hoặc

đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án” thành ”cố ý” và ”với quy mô thương mại” cho phù hợp với Điều 14 Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và Điều 61 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ của WTO Đồng thời, bổ sung thêm một loạt hành vi xâm phạm quyền quyền tác giả và quyền liên quan bao gồm quyền tài sản thuộc quyền tác giả, quyền tài sản của người biểu diễn, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, quyền tài sản của tổ chức phát sóng, quyền của người phát tín hiệu vệ tinh vào quy định của Điều 131 và chuyển điều này sang chương XVI Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Sửa đổi Điều 171 theo hướng chỉ quy định xử lý hình sự đối với hành vi sử dụng bất hợp pháp nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ tại Việt Nam, còn đối với các hành vi sử dụng bất hợp pháp các đối tượng sở hữu công nghiệp khác hoặc giống cây trồng chỉ quy định xử lý hình sự trong trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng

(3) Qui định bổ sung một số tội phạm mới

Do diễn biến của tình hình kinh tế - xã hội, bên cạnh tình hình tội phạm có lúc tăng lúc giảm thì một số hành vi nguy hiểm xuất hiện đòi hỏi cần được xử lý bằng các biện pháp hình sự Trước mắt, chúng ta phải hình sự hoá một số hành vi nguy hiểm đã xuất hiện trong lĩnh vực kinh tế, xâm phạm đến sự ổn định và phát triển của nền kinh

tế như: một số vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán, đất đai; một số vi phạm liên quan đến việc mua bán, sử dụng trái phép hoá đơn chứng từ thu nộp ngân sách,

Trang 18

Báo cáo của Bộ Công an gần đây cho thấy rằng các hành vi vi phạm quy định

về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn trên thực tế đang là vấn đề rất bức xúc, gây thiệt hại nghiêm trọng đến ngân sách Nhà nước Để phòng, chống các hành vi vi phạm này, hiện nay, chúng ta có Nghị định của Chính phủ số 89/2002/NĐ-CP ngày 7/11/2002 quy định về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn Nghị định này đã quy định các biện pháp xử phạt hành chính đối với các vi phạm về in, phát hành, sử dụng và quản lý hóa đơn Tuy nhiên, với nhiều vi phạm nghiêm trọng thì chế tài xử phạt hành chính thực sự không hiệu quả trong ngăn chặn và đấu tranh với loại hành vi này Vì vậy, việc quy định một chế tài hình sự mang tính răn đe, phòng ngừa cao là thực sự cần thiết đối với các vi phạm mang tính chất nghiêm trọng Vì lý do đó Nhóm nghiên cứu kiến nghị hình sự hóa những hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước cũng như các hành vi vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước

Trong lĩnh vực chứng khoán chúng ta thấy rằng, thị trường chứng khoán đã đi vào hoạt động được 10 năm Thời gian 10 năm qua thị trường chứng khoán đã chứng

tỏ những hiệu quả tích cực của mình với vai trò là một kênh quan trọng để Nhà nước cũng như doanh nghiệp huy động nguồn vốn phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Bên cạnh mặt tích cực như đã thấy rõ, báo cáo của một số ban ngành liên quan cũng như phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng cho thấy rằng trong lĩnh vực hoạt động thị trường chứng khoán hiện nay

đã xuất hiện nhiều hành vi vi phạm xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của các nhà đầu

tư, các doanh nghiệp cũng như hoạt động bình thường của thị trường chứng khoán như nội gián, cung cấp thông tin thiếu khách quan, thao túng giá cả trong hoạt động kinh doanh chứng khoán Điều đó đã làm cho hoạt động này thiếu tính minh bạch và sự hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư vào thị trường mới manh nha này Để điều chỉnh các hoạt động của thị trường chứng khoán, Quốc hội đã ban hành Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/6/2006, trong đó, Điều 9 quy định 4 loại hành vi bị cấm trong lĩnh vực hoạt động chứng khoán Tiếp đó, ngày 8/3/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 36/2007/NĐ-CP Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán

và thị trường chứng khoán Tuy nhiên, quy định cấm và chế tài xử phạt hành chính sẽ không đủ sức để ngăn ngừa và răn đe đối với những hành vi vi phạm trong hoạt động chứng khoán gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhà đầu tư, doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị trường Vì vậy, Nhóm nghiên cứu đề xuất cần phải hình

sự hóa một số hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán xảy ra phổ biến trong thực tiễn và gây hậu quả nghiêm trọng như công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán; sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán hoặc hành vi thao túng giá chứng khoán

(4) Sửa đổi yếu tố cấu thành của một số tội phạm

Thực tiễn áp dụng một số quy định tội phạm kinh tế như tội đầu cơ, tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai cho thấy cần phải sửa đổi các yếu tố cấu thành của các tội phạm này để các cơ quan tiến hành tố tụng không bị bó tay đối với một số hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại nghiêm trọng đến nền kinh tế quốc dân

Quy định hiện hành tại Điều 160 về tội đầu cơ chỉ trừng trị các hành vi lợi dụng tình hình khan hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo mua vét hàng hoá có số lượng lớn nhằm bán lại thu lợi bất chính trong tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh Theo kết quả khảo sát của các cơ quan Toà án, Viện Kiểm sát thì hầu như trong các năm qua chỉ xét xử rất ít các vụ án về đầu cơ Tuy nhiên, vừa qua, trong tình hình lạm

Trang 19

phát, giá cả nhiều mặt hàng lên xuống thất thường, giá tiêu dùng tăng cao, đã xảy ra nhiều hành vi lợi dụng tình hình khó khăn về kinh tế, găm hàng hoặc mua với số lượng lớn, chờ khi giá lên bán ra thu lời lớn, do vậy, một số loại hàng hoá như phân bón, vật liệu xây dựng, sữa và thuốc chữa bệnh đã bị nâng giá quá mức làm ảnh hưởng đến đời sống nhân dân Thực chất, các hành vi này là đầu cơ, tuy nhiên, vì Điều 160 không quy định nên các cơ quan tiến hành tố tụng đành bó tay với các hành vi này Vì vậy, nhóm nghiên cứu cho rằng cần bổ sung yếu tố “hoặc tình hình có khó khăn về kinh tế” vào cấu thành cơ bản của tội đầu cơ để giải quyết bất cập trên đây

Trong lĩnh vực quản lý đất đai tình hình vi phạm về quản lý đất đai, cụ thể là các hành vi của những người lợi dụng chức vụ quyền hạn để giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất trái pháp luật đang có xu hướng gia tăng và nhiều lúc, nhiều nơi xảy ra hết sức nghiêm trọng, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quỹ đất đai là tài sản quý giá của Nhà nước, đồng thời cũng gây dư luận bức xúc trong nhân dân Bộ luật hình sự hiện hành

đã có một điều khoản quy định về tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều 174), tuy nhiên, trong thực tiễn, các cơ quan tiến hành tố tụng không dễ dàng áp dụng được điều khoản này để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm quy định về quản lý đất đai vì theo quy định tại Điều 174 bắt buộc phải có yếu tố “đã bị xử

lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm” thì mới có thể truy cứu trách nhiệm hình sự người lợi dụng chức vụ, quyền hạn có hành vi vi phạm các quy định về quản lý đất đai được Vì thế, trong nhiều trường hợp, hành vi vi phạm về quản lý đất đai đã gây hậu quả nghiêm trọng, thậm chí rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, cũng như xâm phạm đến đất đai có giá trị lớn hoặc diện tích lớn, nếu chưa bị xử lý lỷ luật, thì vẫn không đưa ra truy cứu trách nhiệm hình sự được Điều bất cập nói trên đã gây trở ngại cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi áp dụng điều khoản này, và như vậy, sẽ làm mất khả năng răn đe, phòng ngừa của điều luật Trên cơ sở nghiên cứu các điểm bất cập đó, Nhóm nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 174 tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai theo hướng bổ sung thêm hai yếu tố cấu thành cơ bản là “Đất có diện tích lớn hoặc

có giá trị lớn” hoặc “Gây hậu quả nghiêm trọng” để tăng cường tính phòng ngừa, răn

đe đối với các hành vi phạm tội này

2.2 Hoàn thiện các quy định về tội phạm môi trường

2.2.1 Quy định hiện hành của BLHS về tội phạm môi trường

BLHS 1999 đã dành hẳn một chương riêng (Chương XVII) với 10 điều luật quy định về tội phạm môi trường Theo các quy định về tội phạm môi trường nói trên,

chúng ta có thể chia thành 4 nhóm và sắp xếp theo trật tự sau: Nhóm 1- Các hành vi gây ô nhiễm môi trường (từ Điều 181 đến Điều 185); Nhóm 2 - Các hành vi gây dịch bệnh cho người và động vật (Điều 186 và Điều 187); Nhóm 3 - Các hành vi huỷ hoại tài nguyên môi trường (từ Điều 188 và Điều 189); Nhóm 4 - Các hành vi xâm phạm

chế độ bảo vệ đặc biệt đối với một số đối tượng môi trường (Điều 190 và 191) Các quy định nói trên đã thể hiện thái độ kiên quyết của Nhà nước ta trong việc đấu tranh với những hành vi nguy hiểm xâm phạm đến việc bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, nghiên cứu các quy định hiện hành của BLHS về tội phạm môi trường, chúng ta thấy còn có những bất cập sau đây :

Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã quy định 10 tội phạm về môi trường,

nhưng vẫn chưa điều chỉnh được hết những hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại nghiêm trọng cho môi trường đã và đang xảy ra

Trang 20

Thứ hai, các yếu tố cấu thành của các tội phạm môi trường còn chung chung,

lại chưa có văn bản nào hướng dẫn áp dụng nên gây khó khăn cho việc điều tra, truy

tố, xét xử các loại án này Đặc biệt, việc xác định dấu hiệu “hậu quả” (nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) là hết sức khó khăn Dấu hiệu “hậu quả” ở

đây rất đa dạng có thể là hậu quả về môi trường, sinh thái, những thiệt hại về vật chất, và đối với mỗi thành phần môi trường bị xâm hại lại có tiêu chí khác nhau để đánh giá mức độ thiệt hại khác nhau Ví dụ: hậu quả nghiêm trọng ở tội gây ô nhiễm nguồn nước (Điều 183 BLHS) hoàn toàn khác với hậu quả nghiêm trọng ở tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 188 BLHS); hậu quả gây ô nhiễm môi trường thường khó xác định được ngay sau khi hành vi vi phạm được thực hiện; thiệt hại môi trường khó định lượng, không thể cân đo, đong đếm được, có loại thiệt hại gián tiếp, tiềm ẩn thường phải ước lượng, dự đoán, không có những tiêu chí đánh giá thiệt hại chính xác, (Ví

dụ Điều 189 Tội huỷ hoại rừng thì gây thiệt hại nghiêm trọng ở đây là với điện tích bao nhiêu ha đối với rừng phòng hộ? bao nhiêu ha đối với rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn? ; hay Điều 184 Tội gây ô nhiễm đất “người nào chôn vùi hoặc thải vào đất các chất độc hại quá tiêu chuẩn cho phép, ” vậy tiêu chuẩn cho phép là bao nhiêu? căn

cứ vào đâu để đánh giá mức chuẩn? )

Thứ ba, theo quy định hiện hành thì đa số các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường chỉ có thể bị xử lý về hình sự khi chủ thể tiến hành các hành vi đó “đã bị xử phạt hành chính mà cố tình không thực hiện các biện pháp khắc phục theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền gây hậu quả nghiêm trọng” Việc quy định nhiều điều

kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự như vậy đã thực sự làm cản trở các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử khi thực hiện truy tố các hành vi tội phạm về môi trường và là nguyên nhân chính của việc hầu hết các quy định này không thể đi vào cuộc sống được

2.2.2 Thực trạng áp dụng các quy định về tội phạm môi trường và xu hướng chung về tội phạm môi trường

2.2.2.1 Thực trạng áp dụng các quy định về tội phạm môi trường

Theo thống kê của Toà án nhân dân tối cao thì trong khoảng thời gian từ 1985 -

1998, các Tòa án đã thụ lý 1413 vụ với 2942 bị cáo (đã xét xử 1204 vụ với 2390 bị cáo) vi phạm các Điều 179, 181 và 195 Bộ luật Hình sự 1985 Từ 1/7/1999 - 2002, số

án đã thụ lý là 28 vụ với 56 bị cáo (đã xử 20 vụ với 44 bị cáo) vi phạm các Điều 183,

186, 187, 188, 189 và 190 Bộ luật Hình sự năm 1999

Mặc dù có được những kết quả đáng ghi nhận nhưng hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm về môi trường vẫn gặp nhiều khó khăn và bộc lộ những hạn chế Những hạn chế chủ yếu được thể hiện qua những mặt sau:

- Theo thống kê của Toà án nhân dân tối cao thì từ năm 1985 đến 1999 chúng ta chỉ xét xử các vụ vi phạm tại 3 Điều: 195, 179 và 181 của Bộ luật Hình sự 1985 và đến nay vẫn chưa xử lý hết trong khi đó tội phạm về môi trường đang tăng lên cả về số lượng và tính chất nguy hiểm Đây là điều rất đáng lo ngại

- Mặc dù số lượng vụ án về môi trường được đưa ra truy tố, xét xử đã tăng nhưng so với tình hình thực tế thì tỷ lệ vẫn còn thấp và chưa đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm hiện nay

2.2.2.2 Xu hướng chung về tội phạm môi trường

Trang 21

Kết quả nghiên cứu cho thấy các tội phạm môi trường đang có các xu hướng phát triển sau :

Thứ nhất, theo đánh giá chung thì tình hình về nhóm tội phạm gây ô nhiễm môi

trường có thể không những không giảm mà còn có chiều hướng gia tăng Theo dự báo,

tỷ trọng GDP từ khu vực công nghiệp ở nước ta sẽ tăng tới 34% vào năm 2010 Với dự kiến tăng trưởng công nghiệp như vậy, sự ô nhiễm công nghiệp sẽ trở thành một vấn

đề rất đáng lo ngại Cường độ độc hại trên quy mô toàn quốc dự tính sẽ tăng lên 3,8 lần sau 10 năm ( 2000-2010), điều này có nghĩa là tỷ lệ tăng ô nhiễm hàng năm sẽ là 14% nếu không có các biện pháp kịp thời để ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm

Hiện nay, vấn đề sử dụng phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp cũng là vấn đề cần thiết phải có sự quan tâm đúng mức, đặc biệt ở khu vực nông thôn Thuốc bảo vệ thực vật được dùng ở Việt Nam từ nhiều năm nay và

số lượng được sử dụng hàng năm vào khoảng 6.500-9000 tấn, chủ yếu là các loại thuốc có độc tính cao, dễ gây nhiễm độc và chậm phân huỷ trong môi trường như: DDT, 666 (BHC), Parathion Ethy Polychlorocamphene Nhiều lô thuốc đã qua hạn còn tồn đọng trong các kho, nếu không xử lý kịp thời, các lô thuốc này có thể bằng các con đường khác nhau được sử dụng trở lại, mặt khác do tồn đọng lâu trong các kho sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng các khu vực xung quanh

Đáng lo ngại hơn là việc xử lý không đúng kỹ thuật các chất thải công nghiệp

và sinh hoạt khác của người và súc vật, hoặc các xác sinh vật chết (chất thải sinh hoạt

ở khu vực đô thị, chất thải y tế, chất thải lỏng của ngành công nghiệp và của các bệnh viện), đã dẫn tới tình trạng đất bị suy thoái và ô nhiễm khá nặng nề Ô nhiễm đất làm giảm năng suất và chất lượng cây trồng, huỷ diệt sự sống một số sinh vật trong những khu vực ô nhiễm nặng, đồng thời còn đe doạ sức khoẻ con người thông qua vật nuôi, cây trồng, thậm chí gây ra những biến dạng sinh thái và di truyền nặng nề cho hệ sinh sống

Thứ hai, tội phạm huỷ hoại các tài nguyên môi trường, vi phạm các chế độ bảo

vệ đặc biệt đối với một số đối tượng môi trường sẽ gia tăng một cách đáng kể và với

mức độ ngày càng nguy hiểm, mang tính chất hủy diệt

Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Á giàu về

đa dạng sinh học Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của nước ta Tuy nhiên, thay vì bảo tồn nguồn tài nguyên quý giá này và sử dụng một cách hợp lý, chúng ta đang khai thác một cách quá mức và phí phạm, không những thế nhiều người còn sử dụng những biện pháp mang tính chất huỷ diệt như các chất độc, kích điện, nhiều loài hiện đã trở nên hiếm, một số loài có nguy cơ diệt vong Độ che phủ của rừng Việt Nam đã giảm sút đến mức báo động Chất lượng rừng ở các vùng còn rừng

đã bị hạ thấp quá mức, rừng bị suy thoái một cách nặng nề và hết sức trầm trọng,

Trong cơ chế thị trường thì mục đích lợi nhuận, lợi nhuận siêu ngạch là mục đích mà bọn buôn lậu, trốn thuế hướng tới Chính vì vậy, các loại tội phạm về đốt, phá rừng để lấy gỗ buôn bán trái phép, săn bắt các loại thú quý hiếm để mang đi tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu lậu là tình trạng rất đáng lo ngại Bọn lâm tặc không từ một thủ đoạn nào để khai thác và khai thác cho được các loại tài nguyên trên, từ thủ đoạn đưa hối lộ cho tới cả việc chúng sẵn sàng chống trả một cách quyết liệt với các lực lượng có trách nhiệm trong việc bảo vệ tài nguyên môi trường

Trang 22

Thứ ba, ngày càng xuất hiện nhiều nhóm tội phạm có tổ chức khá chặt chẽ hoạt

động mang tính chất xuyên quốc gia về buôn bán trái phép động vật hoang dã quý hiếm Có nhiều khả năng có sự xâm nhập, móc nối của các tổ chức tội phạm quốc tế vào các hoạt động này

Thứ tư, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế- xã hội thì một số loại hành

vi nguy hiểm, gây thiệt hại nghiêm trọng cho môi trường đã xảy ra khá phổ biến ở Việt nam như: hành vi mua bán, tái chế rác thải y tế hoặc rác thải chưa qua xử lý; hành vi vi phạm các quy định về phòng ngừa sự cố môi trường; hành vi nhập khẩu các loài động

2.2.3.1 Điều chỉnh cấu thành các tội phạm môi trường theo hướng mở rộng khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về môi trường

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm môi trường cho thấy do các quy định hiện hành đặt ra quá nhiều điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự như: đã bị

xử phạt hành chính, cố tình không thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả, gây hậu quả nghiêm trọng … nên gây rất nhiều khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi

áp dụng các điều luật này Đây là nguyên nhân chính làm cho các quy định này không vào cuộc sống được, làm giảm đáng kể tác dụng răn đe, phòng ngừa đối với hành vi tội phạm về môi trường Vì vậy, trước mắt, Nhóm tác giả cho rằng cần phải loại bỏ các điều kiện nói trên để mở rộng khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành

vi xâm phạm môi trường, tạo điều kiện tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc khi áp dụng pháp luật cho các cơ quan tiến hành tố tụng

2.2.3.2 Tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về môi trường và bảo đảm sự tương xứng giữa các chế tài của các tội phạm về môi trường

Nghiên cứu các hình thức trách nhiệm, mức độ trách nhiệm hình sự được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với các tội phạm về môi trường cho thấy, Nhà nước ta đã thể hiện thái độ trừng trị nghiêm khắc hơn đối với các tội phạm đó so với Bộ luật Hình sự năm 1985 Tuy vậy, xuất phát từ nhu cầu đấu tranh đối với các tội phạm này trong giai đoạn hiện nay, thì sự nghiêm khắc đó vẫn chưa thoả đáng

Mặt khác, việc quy định các loại hình phạt và mức hình phạt đối với các tội phạm về môi trường trong chương XVII của Bộ luật hình sự hiện hành cũng chưa bảo đảm sự tương xứng về mức độ nghiêm khắc Nhóm tác giả cho rằng, cần cân đối lại mức hình phạt và loại hình phạt áp dụng đối với các tội phạm về môi trường theo hướng các tội phạm về môi trường có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội tương đương nhau thì cần quy định những loại và mức hình phạt như nhau

2.2.3.3 Tội phạm hoá các hành vi nguy hiểm cho xã hội trong lĩnh vực môi trường

Nghiên cứu diễn biến của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cần được pháp luật hình sự bảo vệ và các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về các tội phạm môi trường, Nhóm nghiên cứu thấy rằng, việc bảo vệ bằng pháp luật hình

Trang 23

sự đối với các quan hệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường vẫn chưa đầy đủ, chưa bao quát hết chiều sâu và chiều rộng của loại quan hệ đang phát triển rất nhanh này Do vậy, việc nghiên cứu bổ sung một số tội phạm mới trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là rất cần thiết Cụ thể, trước mắt có thể nghiên cứu để bổ sung một số tội danh như: Tội

vi phạm các quy định về phòng ngừa sự cố môi trường; tội vi phạm các quy định về quản lý các chất thải nguy hiểm cho môi trường; tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại3 Về lâu dài, chúng ta có thể nghiên cứu để bổ sung các tội danh như: Tội phạm về vũ khí sinh học; tội vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường xung quanh khi tiến hành sản xuất; tội vi phạm các quy định về an toàn khi tiếp xúc với các độc tố

vi sinh hay độc tố sinh học khác;

2.3 Hoàn thiện các quy định về tội phạm chức vụ

2.3.1 Quy định hiện hành của BLHS về các tội phạm chức vụ

2.3.1.1 Về khái niệm tội phạm chức vụ

Theo Điều 277 Bộ luật hình sự, thì các tội phạm về chức vụ là những hành

vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ

Ngoài các tội phạm quy đinh tại Chương XXI Bộ luật hình sự ra, còn nhiều tội phạm khác quy định ở các Chương khác cũng do người có chức vụ thực hiện

và cũng xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, nhưng lại không được coi là các tội phạm về chức vụ

Việc đưa ra một khái niệm về các tội phạm về chức vụ thật chính xác, thật đặc trưng cho loại tội phạm này về lý luận và thực tiễn vẫn còn nhiều vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu

Cơ quan, tổ chức bị xâm phạm do hành vi phạm tội gây ra bao gồm các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, được gọi chung là cơ quan, tổ chức

Hành vi xâm phạm đến cơ quan, tổ chức rất đa dạng và phong phú, nhưng các tội phạm về chức vụ chỉ xâm phạm đến các hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức và cũng chỉ xâm phạm đến một số lĩnh vực chứ không phải xâm phạm hết tất cả các hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức

Hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức là những hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ do pháp luật hoặc điều lệ quy định, những hoạt động này nhằm thực hiện chức năng và mục đích đã đề ra Ví dụ: Theo quy định của pháp luật thì cán bộ, công chức phải chí công, vô tư, không được lợi dụng chức vụ để trục lợi, nhưng trong cơ quan, tổ chức nào đó có cán bộ đã tham ô, nhận hối lộ, hoặc lấy tiền của cơ quan, tổ chức mà mình là thành viên để đưa hối lộ là đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức đó Có thể nói, những hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức bị xâm phạm do các tội phạm về chức vụ gây ra, chính là những quy định của pháp luật hoặc của điều lệ buộc phải làm mà không làm, cấm không được làm thì lại làm Những quy định cụ thể này được thể hiện

3 Nhóm nghiên cứu sử dụng thuật ngữ “loài ngoại lai xâm hại” cho phù hợp với thực tiễn cũng như Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 ngày 13/11/2008

Trang 24

trong từng hành vi phạm tội cụ thể trong từng tội phạm về chức vụ trong chương này

Người có chức vụ quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ

Nếu căn cứ vào quy định tại Điều 277 Bộ luật hình sự thì các tội phạm về chức vụ quy định từ Điều 278 đến Điều 291 Bộ luật hình sự có một số trường hợp không thoả mãn khái niệm như: tội đưa hối lộ quy định tại Điều 289, tội làm môi giới hối lộ quy định tại Điều 290 Bộ luật hình sự, không chỉ người có chức vụ thực hiện mà còn bao gồm cả những người không có chức vụ thực hiện, mặc dù hành vi của họ cũng xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức

Như vậy, tên chương và khái niệm các tội phạm về chức vụ không phù hợp với nội dung của một số tội phạm được quy định trong chương này Mặt khác, do yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng thì cần thiết phải quy định một chương các tội phạm về tham nhũng mới đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay

2.3.1.2 Về các tội phạm chức vụ cụ thể

Qua nghiên cứu các tội phạm về chức vụ, Nhóm nghiên cứu thấy có các điểm bất cập như sau:

Thứ nhất, các hành vi tội phạm về tham nhũng quy định tại Mục A Chương

XXI chưa bao quát được hết các hành vi tham nhũng quy định tại Luật phòng, chống tham nhũng Theo Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng thì các hành vi tham nhũng bao gồm:

- Tham ô tài sản;

- Nhận hối lộ;

- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ vì vụ lợi;

- Lạm quyền trong khi thi hành công vụ vì vụ lợi;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi;

- Giả mạo trong công tác để vụ lợi;

- Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì

vụ lợi;

- Nhũng nhiễu vì vụ lợi;

- Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi;

Trang 25

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi

Như vậy, Luật phòng, chống tham nhũng đã quy định 12 hành vi tham nhũng, trong đó có hành vi đã được quy định tại mục A - Các tội phạm về tham nhũng của chương XXI Bộ luật hình sự, có hành vi được quy định trong các tội phạm khác, tại chương khác của Bộ luật hình sự

Thứ hai, về các tình tiết là yếu tố định tội cũng như định khung hình phạt

quy định đối với một số tội chưa hợp lý, một số tình tiết rất khó áp dụng Ví dụ

như: tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” là tình tiết định tội đối với các tội:

tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi

dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh đối với người khác để trục lợi, nhưng nếu “gây hậu quả nghiêm trọng khác” thì lại là tình tiết định khung hình phạt của chính các

tội phạm đó trong khi khó có thể phân biệt sự khác nhau giữa hậu quả nghiêm trọng với hậu quả nghiêm trọng khác của cùng một hành vi phạm tội;

Mức trị giá tài sản để làm ranh giới phân biệt giữa hành vi phạm tội và hành vi vi phạm khác cũng không còn phù hợp, vì tình hình kinh tế-xã hội đã khác nhiều so với cuối thế kỷ 20

Thứ ba, về khung hình phạt cũng như mức hình phạt đối với các tội phạm

về tham nhũng, nói chung là nghiêm khắc Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần phải xem xét lại để quy định khung hình phạt cũng như mức hình phạt cho phù hợp hơn như: giữa tội tham ô và tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội không có gì khác nhau, thậm chí tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản còn nghiêm trọng hơn tội tham ô tài sản, nhưng khung hình phạt và mức hình phạt quy định đối với tội tham ô nặng hơn đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; giữa tội nhận hối lộ với tội đưa hối lộ, tính chất, mức độ nguy hiểm khác nhau nhưng khung hình phạt và mức hình phạt lại như nhau v.v…

2.3.2 Thực trạng áp dụng các quy định về tội phạm chức vụ

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì trong năm 2007, qua công tác thanh tra đã phát hiện vi phạm với tổng giá trị lên tới hơn 8.000 tỷ đồng và hơn 1 triệu USD; vi phạm về đất đai hơn 8.700 ha; kiến nghị xử lý hơn 200 tập thể và 2.300

cá nhân có sai phạm; Cơ quan điều tra đã phát hiện trên 580 vụ với hơn 1200 đối tượng đã gây thiệt hại hơn 865 tỷ đồng; Viện kiểm sát đã truy tố 392 vụ với 1.031

bị can; Toà án đã xét xử 360 vụ với 843 bị cáo So với năm 2006 thì năm 2007 số

vụ án về tham nhũng tăng nhiều, nhất là đối với tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ tăng hơn 66%; tội nhận hối lộ tăng 23% về số vụ và hơn 67% số bị can Các địa phương có án tham nhũng nhiều là các tỉnh Bắc Giang, Thừa Thiên-Huế, thành phố Hà Nội , Nghệ An, Long An, Bình Thuận, Bắc Ninh, Hoà Bình4…

Thực tiễn xét xử cho thấy, trong các tội phạm về chức vụ mà Toà án các cấp

đã xét xử, thì tội tham ô tài sản là tội phạm chiếm tỷ lệ cao nhất; tiếp đó là tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; tội đưa hối lộ; tội nhận hối lộ; tội làm môi giới hối lộ;

4 Báo cáo tổng kết của Thanh tra Nhà nước năm 2007

Trang 26

tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; tội nhận hối lộ; tội giả mạo trong công tác; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác

để trục lợi; tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ Có tội tuy Bộ luật hình sự quy định nhưng trên thực tế chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự trường hợp nào như tội đào nhiệm; có tội phạm trên thực tế xảy ra nhiều nhưng ít bị phát hiện như tội nhận hối lộ

Có một điểm đáng lưu ý là số vụ án tham nhũng bị phát hiện và xử lý so với thực trạng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ Trong các báo cáo của các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các các cơ quan hữu quan khi nói đến tình hình tham nhũng ở nước ta trong thời gian qua đều đánh giá chung là: tình hình tham nhũng

ở nước ta chưa giảm và diễn biến rất phức tạp, là vấn đề đáng lo ngại

Việc xử lý hành vi tham nhũng không chỉ riêng ở nước ta mà ở tất cả các quốc gia trên thế giới bao giờ cũng là một việc khó khăn, phức tạp vì nó đụng đến những người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy Nhà nước, nhất là đối với người

có chức vụ quan trọng, chủ chốt Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tệ tham nhũng trong thời gian qua cho thấy, các vụ tham nhũng lớn gây thiệt hại cho Nhà nước hàng trăm tỷ đồng hoặc có những vụ đưa và nhận hối lộ hàng tỷ đồng, nhưng khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra chỉ chứng minh được một phần rất nhỏ trong tổng số thiệt hại thực tế đã gây ra Số người tham nhũng được xác định ban đầu có thể đến con số hàng trăm, nhưng kết quả điều tra chỉ kết luận được một số người hoặc một số khoản tiền tham ô hối lộ không đáng kể được coi là đủ căn cứ buộc tội, nên tình trạng lọt người, lọt tội là lẽ đương nhiên

Bên cạnh đó, do tác động tiêu cực (mặt trái) của nền kinh tế thị trường, cùng với sự quản lý về các mặt kinh tế-xã hội của Nhà nước ta còn nhiều yếu kém, nên tình hình tội phạm diễn biến rất phức tạp Nếu trước đây, tính chất và quy mô tội phạm xảy ra trong một phạm vi hẹp, thiệt hại gây ra về tài sản nhiều lắm cũng chỉ hàng tỷ đồng, nếu phạm tội có tổ chức thì số người tham gia cũng vài chục người, nhưng hiện nay tội phạm không chỉ phức tạp về tính chất mà quy

mô của nó cũng rất lớn Có vụ gây thiệt hại cho nhà nước hàng trăm tỷ đồng như

vụ PMU18 ở Bộ Giao thông, vụ đề án 112 ở Văn Phòng Chính phủ, vụ Nguyễn Đức Chi ở Khánh Hoà, vụ Nguyễn Lâm Thái.v.v…

Tình hình tội phạm về chức vụ và cuộc đấu tranh phòng, chống các tội phạm về chức vụ tội phạm về chức vụ và cuộc đấu tranh phòng, chống các tội phạm về chức vụ trong thời gian sắp tới vẫn còn diễn biến phức tạp; việc phát hiện những hành vi tham nhũng trên mọi mặt của đời sống xã hội vẫn là vấn đề bức xúc, nhưng bức xúc nhất vẫn là trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản; nhiều

vụ tham nhũng lớn vẫn chưa được phát hiện; nhiều hạng mục công trình mới nghiệm thu nhưng đã xuống cấp nghiêm trọng nhưng chưa được làm rõ để quy trách nhiệm; tham nhũng trong các lĩnh vực khác tuy ở mức độ khác nhau nhưng vẫn tiếp tục phát triển như: xuất nhập khẩu hàng hoá, tài chính, ngân hàng dầu khí, quản lý đất đai và kể cả trong lĩnh vực hoạt động tư pháp, quản lý cán bộ

2.3.3 Kiến nghị hoàn thiện các quy định hiện hành của BLHS về các tội phạm chức vụ

Trang 27

Từ các bất cập và hạn chế của quy định hiện hành cũng như thực tiễn áp dụng nói trên, Nhóm nghiên cứu xin đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện các quy định hiện hành về các tội phạm chức vụ như sau:

Ngoài ra, đối với các tội phạm có dấu hiệu lợi dụng, chức vụ quyền hạn đang được quy định tại các Chương khác của Bộ luật hình sự nên đưa về Mục B Chương XXI cho phù hợp với tên của Chương này như: Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165); tội lập quỹ trái phép (Điều 166); Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ (Điều 169); Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều 174); Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng (Điều 176)

Phương án II:

Đổi tên gọi của Chương XXI là “Các tội phạm về tham nhũng” và chỉ quy định trong chương này các tội phạm về tham nhũng, còn các tội phạm khác có dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì đưa về các chương khác tuỳ theo khách thể

bị xâm phạm

Chúng tôi nghiêng về phương án này, vì nếu Bộ luật hình sự có một chương riêng đối với các tội phạm về tham nhũng sẽ có ý nghĩa lớn về quan điểm, chủ trương phòng chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta không chỉ đối nội mà còn có tác dụng to lớn cho chính sách đối ngoại Mặt khác, việc nêu khái niệm các tội phạm về tham nhũng cũng thuận lợi hơn đối với khái niệm các tội phạm về chức vụ

Nếu chấp nhận phương án hai thì khái niệm tội phạm về tham nhũng cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp

2.3.3.2 Nội dung cụ thể cần sửa đổi, bổ sung

(1) Bổ sung một số tội phạm:

Theo quy định tại khoản 8 Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng thì hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi là hành vi tham

Trang 28

nhũng Do đó cần quy định tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn đưa hối lộ hoặc làm môi giới hối lộ5

Bộ luật hình sự năm 1985 cũng quy định tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 137a) Tuy nhiên, khi xây dựng Bộ luật hình sự năm 1999 nhà làm luật đã nhập Điều 137a với Điều 137 và quy định tội “sử dụng trái phép tài sản” tại Điều 142 Bộ luật hình sự năm 1999 Nay, theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng thì hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của nhà nước vì vụ lợi là hành vi tham nhũng Do đó cần khôi phục lại tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của nhà nước6

Theo quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng thì hành vi nhũng nhiễu vì vụ lợi cũng là hành vi tham nhũng Hành vi này cũng đã được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 279 Bộ luật hình sự về tội nhận hối lộ với tên gọi là “sách nhiễu” Sách nhiễu và nhũng nhiễu tuy về bản chất giống nhau nhưng là hai khái niệm khác nhau Sách nhiễu cũng là nhũng nhiễu nhưng là để đòi hỏi người bị sách nhiễu phải đáp ứng yêu cầu của người có hành vi sách nhiễu (đòi hối lộ), còn nhũng nhiễu có nội dung rộng hơn sách nhiễu, có những hành vi nhũng nhiễu không mang tính chất của sách nhiễu (đòi hối lộ) Do đó cần quy định tội nhũng nhiễu vì vụ lợi Tuy nhiên, nhiên nếu hành vi nhũng nhiễu thuộc trường hợp “sách nhiễu” thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm đ khoản 2 Điều 279 Bộ luật hình sự7

Theo quy định tại khoản 11 Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng thì hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi cũng là hành vi tham nhũng Hành vi này cũng đã được quy định trong Bộ luật hình sự như: tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 285); tội đào nhiệm (Điều 286) và một số tội xâm phạm hoạt động

tư pháp như: tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội (Điều 294); tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn (Điều 301); tội không thi hành án (Điều 305); tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu (Điều 308) Nhưng tất cả tội phạm này dấu hiệu vì vụ lợi không phải là dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội phạm, mặc dù trong một số tội có thể người phạm tội vì vụ lợi Tuy nhiên, nếu vì vụ lợi mà phạm tội thì tuỳ trường hợp mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác tương ứng như: nhận tiền hoặc tài sản mà không ra quyết định thi hành án thì ngoài tội “không ra quyết định thi hành án” người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “nhận hối lộ” Nay Luật phòng, chống tham nhũng quy định hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi là hành vi tham nhũng nên có ý kiến cho rằng có cần quy định một tội danh riêng không, nếu quy định thành tội danh riêng thì các hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ

đã được quy định trong các điều luật của Bộ luật hình sự sẽ xử lý như thế nào? Đây là vấn đề không chỉ có ý nghĩa về lý luận, mà còn có ý nghĩa về thực tiễn và đặc biệt là trong lĩnh vực hoạt động lập pháp Qua thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và đối với các tội phạm về tham nhũng nói riêng, các hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ đã được quy định là hành vi phạm tội ở một số điều luật, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của việc phòng chống loại tội phạm này Mặt khác, các hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ đã được quy định trong các điều luật của

5 Xem nội dung cụ thể tại Chuyên đề số 6 Phần II Hệ Chuyên đề : “Nghiên cứu hoàn thiện các quy

định của BLHS về một số tội phạm chức vụ”

6 Như chú thích 5

7 Như chú thích 5.

Trang 29

Bộ luật hình sự nếu đưa hết về Mục A chương XXI Bộ luật hình sự sẽ không phù hợp với khách thể bị xâm phạm, nhất là đối với một số tội xâm phạm hoạt động tư pháp thì không thể đưa về Mục A chương XXI Bộ luật hình sự được Chính vì vậy, chúng tôi

đề nghị vẫn cần phải quy định tội “không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi” Tuy nhiên, những hành vi đã được quy định ở các tội phạm khác trong Bộ luật hình sự thì không bị xử lý về tội “không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi” nữa8

Theo quy định tại khoản 12 Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng thì hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi đều là hành vi tham nhũng

Đối với các hành vi này, Bộ luật hình sự cũng đã quy định là tội phạm như: hành vi bao che cho người có hành vi phạm tội đã được quy định tại khoản 2 Điều 313; hành vi can thiệp trái pháp luật vào việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đã được quy định tại Điều 283-Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; Điều 297-Tội ép buộc nhân viên làm trái pháp luật; Điều 306-Tội cản trở việc thi hành án Tuy nhiên, so với khoản 12 Điều 3 Luật phòng chống tham nhũng thì còn nhiều hành vi chưa được quy định là hành vi tội phạm, nhất là đối với hành vi bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực khác mà hành vi này chưa cấu thành tội phạm Vì vậy, cần cấu tạo một tội riêng để điều chỉnh tất cả các hành vi bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi9

(2) Các sửa đổi, bổ sung khác

Đối với các tội phạm cụ thể cũng phải sửa đổi, bổ sung về giá trị tài sản; về tình tiết định tội, định khung hình phạt, khung hình phạt và mức hình phạt cho phù hợp như chúng tôi đã nêu ở trên

2.4 Hoàn thiện các quy định về tội phạm mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em

2.4.1 Quy định hiện hành của BLHS về Tội mua bán phụ nữ và tội mua bán trẻ em

Bộ luật hình sự năm 1999 có 2 điều luật quy định về hai tội phạm trực tiếp liên quan đến việc buôn bán phụ nữ, trẻ em Đó là: tội mua bán phụ nữ (Điều 119) và tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120)

Về tội mua bán trẻ em (Điều 120 BLHS):

Điều 120 BLHS không quy định cụ thể về hành vi khách quan của tội phạm, tuy nhiên, theo hướng dẫn của Nghị quyết 04/HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao năm 1986, “mua bán trẻ em được hiểu là mua, hoặc bán trẻ em vì mục đích tư lợi” Trong thực tiễn áp dụng pháp luật cũng như trong các tài liệu giảng dạy, mua bán trẻ em thường được hiểu là việc chuyển giao trẻ em từ một người hay một nhóm người này sang một người hoặc một nhóm người khác để đổi lấy tiền, hàng hoá hoặc lợi ích vật chất khác Trẻ em được hiểu là người dưới 16 tuổi Về chủ thể của tội phạm, người từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể là chủ thể của tội phạm này Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em được thực hiện

do lỗi cố ý trực tiếp Phạm tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em phải chịu hình phạt tù từ 3 năm đến 10 năm Phạm tội trong trường hợp có tình tiết tăng nặng

8 Như chú thích 5

9 Như chú thích 5

Trang 30

như: mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; vì động cơ đê hèn; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt nhiều trẻ em; để đưa ra nước ngoài; để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo; để sử dụng vào mục đích mại dâm; tái phạm nguy hiểm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì hình phạt là tù từ 10 năm đến

20 năm hoặc tù chung thân Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền bổ sung từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc phạt quản chế từ một năm đến năm năm

Về Tội mua bán phụ nữ (Điều 119 BLHS):

Tương tự như tội mua bán trẻ em, hành vi khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi chuyển giao phụ nữ từ một người hay một nhóm người này sang một người hoặc một nhóm người khác để đổi lấy tiền, hàng hoá hoặc lợi ích vật chất khác Đối tượng bị mua bán là phụ nữ từ đủ 16 tuổi trở lên Nếu đối tượng là người dưới 16 tuổi, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm về tội mua bán trẻ em (Điều 120 BLHS) Việc người phụ nữ có đồng ý đưa họ ra để mua bán hay không không có ý nghĩa để cấu thành tội mua bán phụ nữ Người từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể là chủ thể của tội phạm này Tội mua bán phụ nữ được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp Phạm tội mua bán phụ nữ phải chịu hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm Phạm tội trong trường hợp có tình tiết tăng nặng như: mua bán phụ nữ vì mục đích mại dâm; có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp, mua bán phụ nữ để đưa ra nước ngoài; mua bán nhiều người; mua bán nhiều lần thì hình phạt là tù từ 5 năm đến 20 năm Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền bổ sung từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm

2.4.2 Thực trạng áp dụng quy định của BLHS về tội mua bán phụ nữ, trẻ

em 10

2.4.2.1 Thực trạng áp dụng:

Theo báo cáo của Bộ Công an, hàng năm, lực lượng công an đã phát hiện, điều tra khoảng từ 200 đến 300 vụ mua bán phụ nữ, trẻ em Riêng năm 2006, lực lượng Công an và Bộ đội biên phòng đã khám phá 224 vụ, bắt 454 đối tượng phạm tội mua bán phụ nữ, trẻ em So với năm 2005, cả số vụ, số đối tượng lẫn số đường dây tội phạm bị phát hiện, triệt phá đều tăng rõ rệt so với năm 2005 Riêng trong đợt cao điểm tấn công tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em trên tuyến biên giới Việt Nam-Trung Quốc, Việt Nam-Campuchia diễn ra trong hai tháng 7-8/2007, cả nước đã điều tra, triệt phá 72 vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em, bắt 150 đối tượng

Về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ

án mua bán phụ nữ, trẻ em, trong 6 năm từ 2001 đến 2006, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã thụ lý, kiểm sát điều tra 1099 vụ với 2231 bị can phạm tội mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em, trong đó số vụ án mới khởi tố là 760 vụ và số bị can mới khởi tố là

1267 Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã truy tố 721 vụ với 1219 bị can, tạm đình chỉ điều tra 58 vụ, 95 bị can Tính trung bình, mỗi năm toàn quốc truy tố khoảng 88 vụ với

150 bị can phạm tội mua bán phụ nữ, khoảng 33 vụ, 53 bị can phạm tội mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em

10 Các thông tin trong phần này có sử dụng tư liệu của Đề tài Sự cần thiết và một số nội dung của Luật phòng, chống buôn bán người, Vụ Pháp luật Hình sự-Hành chính, Bộ Tư pháp

Trang 31

Ngành Toà án cũng có nhiều cố gắng trong hoạt động xét xử để góp phần đấu tranh chống loại tội phạm này Từ năm 2001 đến 2006, toà án nhân dân các cấp đã xét

xử 675 vụ với 1157 bị cáo Riêng trong năm 2006, số vụ án bị đưa ra xét xử là 123 vụ với 237 bị cáo Trong số này, có 38 bị cáo phải chịu mức án trên 15 năm tù, 77 bị cáo

bị xử phạt tù từ 7 năm đến 15 năm và 123 bị cáo bị xử phạt tù dưới 7 năm, chỉ có 10 bị cáo bị phạt tù nhưng được hưởng án treo

Nhìn chung, các vụ án được điều tra, truy tố, xét xử đều bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Nhiều vụ đã được liên ngành địa phương chọn là án điềm để điều tra, truy tố, xét xử nhanh, kể cả đưa ra xét xử lưu động ở những xã vùng biên nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục, phòng ngừa chung Nhiều bị cáo đã bị xét xử với mức án cao, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, chủ trương đấu tranh không khoan nhượng đối với loại tội phạm này, được quần chúng, nhân dân đồng tình ủng

hộ

Bên cạnh những mặt đã đạt được thì trên thực tế vẫn còn một số tồn tại, vướng mắc thể hiện ở chỗ:

Một là, hiện nay, các cơ quan tiến hành tố tụng còn chưa thực sự chú trọng đến

việc phát hiện xử lý các mua bán phụ nữ, trẻ em trong nội địa Trong nhiều trường hợp, chúng ta không chủ động phát hiện được vụ án ngay từ đầu để kịp thời ngăn chặn, theo dõi và bóc dỡ toàn bộ đường dây buôn bán phụ nữ, trẻ em Chỉ đến khi nạn nhân được giải cứu hoặc tự mình trốn thoát về nước khai báo thì vụ án mới được phát hiện Như vậy, thiệt hại đã thực tế xảy ra, nạn nhân bị đưa đi nước ngoài, công tác giải cứu gặp rất nhiều khó khăn, việc thu thập chứng cứ ở nước ngoài cũng vô cùng nan giải

Hai là, đa số các vụ án chỉ xử lý được phần ngọn, tức là chỉ bắt và đưa ra truy

tố, xét xử được những đối tượng là người Việt Nam làm nhiệm vụ tuyển mộ phụ nữ, trẻ em đưa ra bán ở nước ngoài Còn phần gốc là bọn chủ mưu, cầm đầu trong được dây buôn bán người là người nước ngoài thì không điều tra, xử lý được

Ba là, quá trình áp dụng pháp luật trong điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm

này cũng gặp khá nhiều khó khăn, vướng mắc, trong đó có những khó khăn, vướng mắc là do một số quy định của BLHS còn có những điểm khiếm khuyết, bất cập

2.4.2.2 Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội mua bán phụ nữ, trẻ em 11

Thứ nhất, khó khăn, vướng mắc trong việc định tội danh:

Một trong những khó khăn mà các cơ quan tiến hành tố tụng gặp phải trong việc định tội danh là việc chứng minh yếu tố tư lợi Điều 119 và Điều 120 BLHS không mô tả hành vi khách quan của tội mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em, nhưng theo hướng dẫn của Nghị quyết 04 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì

“mua bán trẻ em được hiểu là mua, hoặc bán trẻ em vì mục đích tư lợi” Từ đó có thể suy ra rằng mua bán phụ nữ cũng là việc mua hoặc bán phụ nữ vì mục đích tư lợi Tuy nhiên, việc chứng minh yếu tố tư lợi này không phải là dễ dàng Trong những vụ án chứng cứ buộc tội chủ yếu là lời khai của nạn nhân mà nạn nhân không biết được kẻ phạm tội đã hưởng lợi bao nhiêu hoặc có thoả thuận về việc hưởng lợi hay không, không nhìn thấy việc giao nhận tiền bạc giữa kẻ mua và kẻ bán, còn bị can, bị cáo thì

11 Phần này có sử dụng tư liệu của Báo cáo kết quả khảo sát thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em, số 3665/BC-BCNĐA4 ngày 14/11/08 (sau đây gọi tắt là Báo cáo).

Trang 32

một mực không thừa nhận việc hưởng lợi, thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can bị cáo về tội mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em mà chỉ có thể xử lý về tội

tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép hoặc môi giới mại dâm

Trong quá trình định tội danh, nhận thức về cấu thành tội phạm mua bán phụ

nữ, mua bán trẻ em của một số cơ quan tiến hành tố tụng cũng còn có những điểm chưa thống nhất Có cơ quan tiến hành tố tụng cho rằng, chỉ cần có sự thoả thuận về việc đổi phụ nữ, trẻ em để lấy một lợi ích vật chất là đã cấu thành tội phạm nhưng lại

có cơ quan cho rằng, cần phải có việc hưởng lợi thực tế Các cơ quan tiến hành tố tụng cũng còn có quan điểm chưa thống nhất về việc xử lý đối với trường hợp việc mua bán được thực hiện hoàn toàn do sự tự nguyện của nạn nhân

Hiện nay, việc đăng ký khai sinh đang có nhiều bất cập, chưa kịp thời, chính xác, đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số Vì thế vấn đề xác định

độ tuổi của nạn nhân bị buôn bán là hết sức khó khăn để xác định tội danh đối với kẻ phạm tội là mua bán phụ nữ hay tội mua bán trẻ em Đã có nhiều vụ phải trưng cầu giám định độ tuổi nhưng dung sai có thể đến 6 tháng, nếu áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị can thì sẽ bất lợi cho bị hại, nhiều trường hợp có thể dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm

Có vụ án mua bán trẻ em, nhưng bên mua thực sự hiếm muộn con cái, chỉ muốn

có được một đứa trẻ để nuôi như con và đã chăm sóc cháu bé rất chu đáo Cháu bé được sống một cuộc sống đầy đủ cả về vật chất và tình cảm, được học hành và đối xử như con ruột của họ Trong trường hợp này, các cơ quan tiến hành tố tụng còn lúng túng, không chắc có nên truy tố bên mua với tội danh mua bán trẻ em hay không

Thứ hai, khó khăn trong việc xác định các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình giải quyết các vụ án về mua bán phụ nữ, trẻ em, có những quan điểm chưa thống nhất trong áp dụng các tình tiết tăng nặng như: “mua bán nhiều lần”,

“có tính chất chuyên nghiệp”, “dùng thủ đoạn xảo quyệt”,

Một số ý kiến cho rằng, trên thực tế thì rất khó thiết lập chứng cứ để áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với loại tội mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em Ví dụ như tình tiết “vì mục đích mại dâm” Thực tiễn công tác điều tra cho thấy, hầu hết các vụ án mua bán phụ nữ, trẻ em, các bị hại đều khai về việc bị ép buộc bán dâm, nhưng bị can lại không thừa nhận trong khi những chứng cứ bổ trợ để củng cố thì thiếu, như không xác minh được người mua dâm, địa điểm bán dâm, … Vì thế, các cơ quan tiến hành tố tụng không thể kết luận được là có tình tiết “vì mục đích mại dâm”

Thứ ba, khó khăn, bất cập do phát sinh hành vi phạm tội mới:

Trên thực tế hiện nay, đã có trường hợp lừa gạt, mua bán nam giới từ 16 tuổi trở lên sang Trung Quốc làm tại các lò gạch hoặc những công việc nặng nhọc khác nhưng không thể xử lý được vì Điều 119 và Điều 120 của BLHS chỉ mới quy định tội mua bán phụ nữ và tội mua bán trẻ em

2.4.2.3 Nguyên nhân của các khó khăn vướng mắc trong áp dụng pháp luật:

Theo Báo cáo khảo sát thực tiến thi hành pháp luật về điều tra, truy tố, xét xử tội mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em, trong số nhiều nguyên nhân dẫn đến những khó

Trang 33

khăn, vướng mắc nêu trên, có những nguyên nhân do một số quy định của BLHS hiện hành còn một số bất cập

Thứ nhất, yếu tố cấu thành của tội mua bán phụ nữ, tội mua bán trẻ em còn chưa hợp lý:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, ý chí của đối tượng được mua bán không có ảnh hưởng đến việc định tội Điều này có những điểm bất hợp lý như sau:

- Gây chồng chéo giữa tội mua bán phụ nữ với tội môi giới mại dâm Sự chồng chéo này thể hiện rất rõ trong trường hợp tuyển mộ phụ nữ rồi giới thiệu vào những tụ điểm mại dâm trong nội địa;

- Gây chồng chéo giữa tội mua bán phụ nữ, trẻ em với tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài;

- Không phân biệt được giữa những trường hợp môi giới hôn nhân, môi giới lao động bất hợp pháp với trường hợp mua bán phụ nữ, trẻ em

Việc đưa yếu tố tư lợi vào cấu thành tội phạm chưa thật hợp lý vì vừa khiến cơ quan tiến hành tố tụng gặp nhiều khó khăn khi chứng minh yếu tố này, vừa chưa phản ảnh được bản chất của tội mua bán phụ nữ, trẻ em nói riêng và buôn bán người nói chung

Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật hiện hành, việc nạn nhân có bị đặt trước nguy cơ bị xâm hại, lạm dụng, bóc lột hay không lại không có ý nghĩa trong việc định tội Thực tế điều tra, truy tố, xét xử cho thấy có những trường hợp môi giới lao động, môi giới kết hôn có yếu tố nước ngoài, cho, nhận con nuôi (có đưa cho bố mẹ đẻ của trẻ em một số tiền), về hình thức thì hoàn toàn đủ dấu hiệu cấu thành của Điều 119 hoặc Điều 120, nhưng đối tượng được trao đổi không hề bị thiệt hại gì Theo hướng dẫn của Nghị quyết 04 của Hội đồng thẩm phán, trường hợp bố mẹ vì đông con hoặc

vì hoàn cảnh khó khăn đặc biệt mà phải bán con mình (dưới hình thức cho làm con nuôi) hoặc người hiếm hoi mà mua trẻ em về nuôi thì không coi là phạm tội Tuy nhiên, những trường hợp khác như môi giới kết hôn, môi giới lao động thì chưa đâu đề cập đến

Pháp luật hình sự hiện hành mới chỉ chú trọng đến việc xử lý các hành vi mua bán phụ nữ, trẻ em mà chưa xác lập cơ sở pháp lý để trừng trị hành vi mua bán nam giới từ đủ 16 tuổi trở lên Trong khi đó thì thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy

đã có những vụ án mua bán nam giới xảy ra

Thứ hai, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ định khung của Điều 119 và Điều

120 còn chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng:

Các tình tiết tăng nặng định khung của Điều 119 và Điều 120 BLHS còn chưa đầy đủ Một số tình tiết được quy định tại Điều 120 nhưng lại không được quy định tại Điều 119 như tình tiết “để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo,” “gây hậu quả nghiêm trọng,” “tái phạm nhiều lần” cần được coi là tình tiết tăng nặng định khung đối với tội mua bán phụ nữ Các tình tiết “bóc lột sức lao động,” “gây hậu quả nghiêm trọng,”

“lợi dụng chức vụ, quyền hạn” cũng là những tình tiết làm tăng đáng kể tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em nhưng chưa được quy định Ngoài ra, việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với tội mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em, cũng chưa có hướng dẫn cụ thể nên gây nhiều lúng túng cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình áp dụng

Trang 34

Thứ ba, các khung hình phạt của cả hai điều luật này đều quá rộng:

Chênh lệch giữa mức phạt tù tối thiểu và tối đa của khung 1 Điều 120 là 7 năm; khung 2 điều 119 là 15 năm Khung 2 Điều 120 quy định hai hình phạt là tù có thời hạn và tù chung thân, trong đó chênh lệch giữa mức phạt tù tối thiểu và tối đa là 10 năm

Thứ tư, hình phạt bổ sung quy định chưa đầy đủ:

Khoản 3 các điều 119 và 120 của Bộ luật hình sự đều quy định hình phạt tiền

bổ sung từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng Trong điều kiện lạm phát và trượt giá như hiện nay, mức phạt tiền như vậy chưa đủ nghiêm khắc Thêm vào đó, cả hai điều luật này đều không quy định hình phạt bổ sung là tịch thu tài sản Điều này đã bó tay cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thu hồi những khoản tiền có nhiều nghi vấn là do phạm tội mà có, chưa kể đến yêu cầu vô hiệu hoá khả năng tiếp tục phạm tội của kẻ phạm tội

2.4.3 Đánh giá tính tương thích của các điều 119 và 120 Bộ luật hình sự với các chuẩn mực quốc tế về chống buôn bán người

2.4.3.1 Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị, trấn áp buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ, trẻ em, bổ sung Công ước về phòng ngừa, trừng trị, trấn áp tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (sau đây gọi tắt là Nghị định thư về chống buôn bán người) 12

Nghị định thư về chống buôn bán người là văn kiện pháp lý quốc tế trong đó đưa ra khái niệm buôn bán người hiện đang được đông đảo các quốc gia trên thế giới thừa nhận và được sử dụng trong pháp luật về phòng, chống buôn bán người của nhiều nước trên thế giới

Theo quy định của Nghị định thư, tội phạm buôn bán người là tội phạm do

người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý và thoả mãn cả ba yếu tố

dưới đây:

- Hành vi: tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận người

- Thủ đoạn: dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực hoặc cưỡng ép dưới bất kỳ

hình thức nào, bắt cóc, lừa gạt, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương, đưa hoặc nhận tiền hoặc lợi ích khác để đạt được sự đồng ý của người có quyền kiểm soát đối với người khác

- Mục đích: bóc lột

Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý rằng, riêng trong trường hợp người bị buôn bán là người dưới 18 tuổi thì chỉ cần hai yếu tố: hành vi và mục đích được thoả mãn là đã đủ cấu thành tội buôn bán người, mà không cần phải chứng minh thủ đoạn

Ngoài ra, cũng theo yêu cầu của Nghị định thư thì các Quốc gia thành viên có nghĩa vụ không những quy định là tội phạm hành vi trực tiếp thực hiện việc buôn bán

12 Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm xuyên quốc gia được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 15/11/2000 và có hiệu lực ngày 29/9/2003 Việt Nam đã ký Công ước này ngày 13/12/2000 nhưng hiện chưa phê chuẩn Bổ sung cho Công ước này có ba nghị định thư là Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp, trừng trị buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em, Nghị định thư về chống đưa người di cư trái pháp luật bằng đường bộ, đường biển và đường không và Nghị định thư về chống sản xuất và buôn bán trái phép vũ khí vũ khí nhẹ

Trang 35

người đã hoàn thành mà cả những hành vi buôn bán người chưa đạt, đồng phạm buôn bán người (như giúp sức, xúi giục) và các hành vi tổ chức, chỉ đạo việc buôn bán người

2.4.3.2 Nghị định thư không bắt buộc về chống mua bán trẻ em, mại dâm trẻ

em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em, bổ sung Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (sau đây gọi tắt là Nghị định thư về chống mua bán trẻ em)

Nghị định thư về chống mua bán trẻ em là một trong hai Nghị định thư không bắt buộc, bổ sung cho Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em Nghị định thư này đã được Việt Nam ký ngày 08/9/2000 và phê chuẩn ngày 20/12/2001 Nghị định thư này đã đưa ra các khái niệm mua bán trẻ em cũng như nghĩa vụ hình sự hóa hành

vi mua bán trẻ em vì mục đích bóc lột và trong lĩnh vực nuôi con nuôi

Nghị định thư về chống mua bán trẻ em yêu cầu các quốc gia thành viên hình

sự hóa hành vi mua bán trẻ em vì mục đích bóc lột hoặc trong khi làm trung gian giới thiệu nuôi con nuôi Điều 3 của Nghị định thư quy định cụ thể như sau:

“1 Mỗi quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng tối thiểu những hành vi và hoạt động sau đây phải được quy định đầy đủ trong pháp luật hình sự, dù các tội phạm này được thực hiện đơn lẻ hoặc có tổ chức, ở phạm vi trong một quốc gia hoặc xuyên quốc gia:

(a) Trong bối cảnh mua bán trẻ em như được xác định tại Điều 2:

(i) Việc cho, chuyển hoặc nhận trẻ em, bằng bất kỳ thủ đoạn nào nhằm:

So với Nghị định thư về chống buôn bán người thì yếu tố cấu thành của tội mua

bán phụ nữ, mua bán trẻ em quy định tại các điều 119 và 120 của BLHS hiện hành có những điểm khác biệt như sau:

Thứ nhất, theo tinh thần quy định tại các điều 119 và 120 BLHS thì chỉ có hành

vi chuyển giao phụ nữ, trẻ em đổi lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác mới được coi là mua bán phụ nữ hoặc mua bán trẻ em, những hành vi khác như tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp tùy từng trường hợp sẽ bị xử lý như đồng phạm hoặc phạm tội chưa đạt, trong khi đó, theo Nghị định thư, bất cứ hành vi nào trong cả quy trình buôn bán người đều bị coi là buôn bán người, nếu chứng minh được các yếu tố thủ đoạn và mục đích

Thứ hai, các điều 119 và 120 không quy định thủ đoạn phạm tội là một yếu tố

bắt buộc của cấu thành tội phạm, trrong khi đó, theo quy định của Nghị định thư, thì một trong những yếu tố bắt buộc của tội buôn bán người là kẻ phạm tội đã dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hay các hình thức ép buộc khác, bắt cóc, lừa gạt, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương của nạn nhân, hay đưa tiền cho người có quyền kiểm soát đối với nạn nhân để người đó đồng ý giao nạn nhân … hay nói cách khác, là

Trang 36

nạn nhân bị buôn bán không chấp thuận việc bị buôn bán (trừ trường hợp nạn nhân là người dưới 18 tuổi do người dưới độ tuổi này được coi là không đủ năng lực để bày tỏ

ý chí đối với việc bị buôn bán) Điều này đã dẫn đến một số vướng mắc trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này như đã phân tích ở trên

Thứ ba, theo Điều 119 và Điều 120 của Bộ luật hình sự thì mục đích bóc lột

không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm, trong khi đó, theo Nghị định thư, buôn bán người là loại tội phạm trước hết xâm phạm con người Vì vậy, vấn đề cốt lõi là kẻ phạm tội có mục đích xâm hại nạn nhân, cưỡng ép nạn nhân phải làm những việc trái với ý muốn của họ, như cưỡng ép mại dâm, cưỡng ép lao động, chiếm đoạt các bộ phận trên cơ thể v.v., chứ không chỉ là việc kẻ phạm tội đã thu lợi ra sao

Thứ tư, theo Nghị định thư, đối tượng bị buôn bán là con người nói chung, cả

nam lẫn nữ, trong khi đó, theo quy định của Điều 119 và Điều 120 Bộ luật hình sự thì nam giới từ đủ 16 tuổi trở lên không thuộc đối tượng được bảo vệ của hai điều luật này

Những sự khác biệt này có thể được tóm tắt trong bảng dưới đây:

Yếu tố

cấu thành

Điều 119, Điều 120 BLHS của Việt Nam

Nghị định thư về chống buôn bán người Hành vi

Thủ đoạn Không quy định Dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực

hoặc cưỡng ép dưới bất kỳ hình thức nào, bắt cóc, lừa gạt, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương, đưa hoặc nhận tiền hoặc lợi ích khác để đạt được sự đồng ý của người có quyền kiểm soát đối với người khác

Lưu ý: trong trường hợp đối tượng bị

buôn bán là trẻ em (người dưới 18 tuổi thì không cần yếu tố này)

Nam, nữ ở bất kỳ độ tuổi nào

Sự khác biệt này sẽ dẫn đến những trường hợp theo quy định của pháp luật Việt Nam thì bị coi là mua bán phụ nữ hoặc mua bán trẻ em và phải bị trừng trị nhưng theo Nghị định thư về chống buôn bán người thì không cấu thành tội phạm (do không có mục đích bóc lột) và ngược lại, có những trường hợp không bị coi là mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em theo pháp luật Việt Nam (do không chứng minh được yếu tố trục lợi) nhưng lại là buôn bán người theo Nghị định thư về chống buôn bán người (vì có mục đích bóc lột dù không có việc trục lợi)

So với yêu cầu hình sự hóa hành vi mua bán trẻ em của Nghị định thư về chống mua bán trẻ em thì quy định của Điều 120 Bộ luật hình sự cũng có những điểm khác

biệt, có thể thấy rõ ở bảng so sánh dưới đây:

Trang 37

Thủ đoạn Không quy định Không quy định

Người dưới 16 tuổi Người dưới 18 tuổi

Như vậy, có thể thấy Điều 120 Bộ luật hình sự có phạm vi bao quát khá rộng, cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mọi trường hợp chuyển giao trẻ em đổi lấy tiền hoặc lợi ích vật chất, vì bất cứ mục đích nào Trường hợp làm trung gian xúi bẩy việc nuôi con nuôi một cách không lương thiện đổi lấy tiền hoặc lợi ích vật chất cũng coi là mua bán trẻ em theo quy định của Điều này Do vậy, theo chúng tôi, Điều

120 của BLHS đã đáp ứng được những yêu cầu của Nghị định thư về chống mua bán trẻ em liên quan đến việc hình sự hóa hành vi mua bán trẻ em

2.4.4 Kiến nghị hoàn thiện các quy định hiện hành nhằm đấu tranh có hiệu quả đối với tội buôn bán người

Những phân tích ở trên cho thấy việc sửa đổi, bố sung Điều 119, 120 là hết sức cần thiết không những nhằm khắc phục những khiếm khuyết nội tại của hai điều luật này như phân tích ở trên mà còn để làm hài hòa giữa pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế về chống buôn bán người, tạo điều kiện thuật lợi cho việc hợp tác quốc tế trong đấu tranh chống loại tội xâm phạm nghiêm trọng quyền con người này Việc sửa đổi, bổ sung hai điều luật này cần được tiến hành theo hướng sau:

Thứ nhất, cần hình sự hóa hành vi buôn bán nam giới từ đủ 16 tuổi trở lên Như

vậy, trong tương lai, cuộc đấu tranh của chúng ta sẽ được đề cập đến trên một bình diện rộng lớn hơn là buôn bán người chứ không chỉ dừng lại ở buôn bán phụ nữ, trẻ

em

Thứ hai, cấu thành của tội phạm cần được thiết kế theo hướng đáp ứng các yêu

cầu của Điều 5 của Nghị định thư về chống buôn bán người, đặc biệt là:

- Cần mô tả cụ thể hành vi buôn bán người, bao gồm bất cứ hành vi nào trong quy trình buôn bán người, từ tuyển mộ, vận chuyển đến chuyển giao, chứa chấp, nhận người

Trang 38

- Quy định rõ những thủ đoạn thực hiện tội phạm này, như: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hay các thủ đoạn ép buộc khác, lừa gạt, lạm dụng quyền lực, lợi dụng tình trạng quẫn bách hay bất kỳ thủ đoạn nào khác để bóc lột nạn nhân trái với ý muốn của

họ Yếu tố này không áp dụng trong trường hợp đối tượng bị buôn bán là người chưa thành niên Việc quy định thủ đoạn của tội phạm sẽ cho phép phân biệt giữa những trường hợp phạm tội buôn bán người – nạn nhân không chấp thuận việc bị bóc lột hoặc

về hình thức có chấp thuận nhưng sự chấp thuận này không có ý nghĩa do bị kẻ phạm tội đe dọa, cưỡng ép, lừa gạt hoặc dùng các thủ đoạn khác, với những trường hợp phạm các tội khác như: chứa mại dâm, môi giới mại dâm, tổ chức cho người khác trốn

đi nước ngoài trái phép hoặc các vi phạm pháp luật khác như môi giới hôn nhân có yếu

tố nước ngoài bất hợp pháp, môi giới lao động ra nước ngoài bất hợp pháp – tức là trường hợp có sự đồng thuận của đối tượng của tội phạm

Riêng đối với người dưới 18 tuổi - đối tượng được coi là chưa đủ năng lực để bày tỏ ý chí một cách chín chắn khi tham gia vào những quan hệ xã hội không có lợi cho sự phát triển lành mạnh của họ - thì việc người đó bày tỏ ý chí ra sao hay kẻ phạm tội đã sử dụng thủ đoạn gì không có ý nghĩa đối với việc định tội

- Cần nghiên cứu quy định rõ mục đích bóc lột, bao gồm bóc lột tình dục, bóc lột sức lao động, các hình thức bóc lột khác và lấy bộ phận cơ thể

Việc quy định yếu tố cấu thành của điều luật như trên sẽ góp phần khắc phục được cơ bản những khó khăn, vướng mắc khi định tội danh mà hiện nay các cơ quan tiến hành tố tụng đang gặp phải trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội buôn bán người như đã phân tích ở trên

Thứ ba, cần bổ sung một số tình tiết tăng nặng định khung như: lợi dụng chức

vụ, quyền hạn; vì mục đích vô nhân đạo; tái phạm nguy hiểm; phạm tội đối với người thân thích; phạm tội đối với trẻ em; gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng

Thứ tư, các khung hình phạt cần được chia nhỏ hơn để rút ngắn khoảng cách

giữa mức hình phạt tối đa và tối thiểu trong từng khung Cũng nâng mức phạt tiền bổ sung tối thiểu lên mười triệu đồng, mức tối đa lên năm trăm triệu đồng, đồng thời, bổ sung hai hình phạt là tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản và cấm đảm nhiệm chức

vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Thứ năm, về trường hợp môi giới nuôi con nuôi, cần bổ sung một tội danh riêng

là tội giới thiệu trẻ em làm con nuôi để trục lợi

Nuôi con nuôi là một hoạt động nhân đạo, có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo đảm quyền được chăm sóc nuôi dưỡng trong môi trường gia đình thay thế đối với những trẻ

em không có gia đình, không nơi nương tựa, trẻ em khuyết tật, tàn tật v.v… Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động dễ bị lợi dụng để thực hiện những hành vi vô nhân đạo, như lạm dụng, bóc lột trẻ em, trục lợi bất chính Đối với những hành vi lợi dụng việc nuôi con nuôi để lạm dụng, bóc lột trẻ em sẽ bị trừng trị theo tội buôn bán người Nghị định thư

về mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em, bổ sung Công ước Quyền trẻ em yêu cầu phải hình sự hoá những hành vi làm trung gian, tranh thủ sự đồng ý một cách không lương thiện việc nuôi con nuôi để trục lợi Việt Nam đã phê chuẩn Nghị định thư này từ năm 2001, do vậy, việc trừng trị hành vi này bằng pháp luật hình sự là rất cần thiết để thực hiện nghĩa vụ này

Trang 39

Hiện nay, hành vi trục lợi trong việc nuôi con nuôi sẽ được xử lý theo quy định tại Điều 120 BLHS Với việc sửa đổi Điều 119 như đề xuất ở trên, hành vi này, nếu không có mục đích bóc lột, sẽ không bị coi là buôn bán người Do vậy, cần nghiên cứu

bổ sung Điều 119a để quy định một tội danh riêng về lợi dụng việc giới thiệu con nuôi

để trục lợi với các yếu tố cấu thành như sau:

Chủ thể của tội phạm này là người trung gian, giới thiệu việc cho, nhận con nuôi

Về mặt chủ quan: tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý

Mặt khách quan của tội này đòi hỏi người phạm tội phải có hành vi liên hệ, móc nối, giới thiệu trẻ em làm con nuôi, đồng thời đã thực tế nhận hoặc có thoả thuận về việc nhận tiền hoặc lợi ích vật chất từ bên cho con hoặc nhận con nuôi

2.5 Hoàn thiện các quy định về tội phạm khủng bố

2.5.1 Các quy định hiện hành của BLHS về tội phạm khủng bố

Bộ luật hình sự có một số quy định liên quan đến khủng bố Có thể chia các quy

định này thành hai nhóm như sau:

1) Các quy định liên quan trực tiếp đến hành vi khủng bố (Điều 84 - tội khủng bố); 2) Các quy định về những tội phạm khác có liên quan, như: tội giết người (Điều 93); tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Điều 104); tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ (Điều 221); tội chế tạo, vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 230); tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (Điều 232); tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ (Điều 233); tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc (Điều 238); tội hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có (Điều 251); tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 266); tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 267); tội xuất nhập cảnh trái phép (Điều 274)

Bên cạnh đó, BLHS còn có các quy định về các trường hợp chuẩn bị phạm tội (Điều 17); phạm tội chưa đạt (Điều 18), đồng phạm (Điều 20) và che giấu tội phạm (Điều 313) Đây là những điều luật được áp dụng đối với các hành vi phạm tội nói chung và tội phạm khủng bố nói riêng

Điều 84 Bộ luật hình sự hiện hành quy định về tội khủng bố như sau:

“1 Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc công dân, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình

2 Phạm tội trong trường hợp xâm phạm tự do thân thể, sức khoẻ, thì bị phạt tù

từ năm năm đến mười lăm năm

3 Phạm tội trong trường hợp đe doạ xâm phạm tính mạng hoặc có những hành

vi khác uy hiếp tinh thần, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm

4 Khủng bố người nước ngoài nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì cũng bị xử phạt theo Điều này”

Trang 40

2.5.2 So sánh quy định của Bộ luật hình sự về tội phạm khủng bố với các chuẩn mực quốc tế về chống tội phạm khủng bố

Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia 8/13 văn kiện pháp lý quốc tế về chống khủng khủng bố và hiện đang tiếp tục nghiên cứu khả năng tham gia các văn kiện còn lại Tại các văn kiện pháp lý quốc tế mà Việt Nam đã tham gia có quy định một số nghĩa vụ với các quốc gia thành viên, trong đó nghĩa vụ hình sự hoá các hành vi được

coi là tội phạm tại các văn kiện pháp lý quốc tế này Thêm vào đó, theo quy định tại

Điều 2 Công ước quốc tế về trấn áp hành vi tài trợ cho khủng bố năm 1999, thì tất cả

các hành vi bị coi là tội phạm trong một số văn kiện pháp lý quốc tế phải được quy định là tội phạm khủng bố Ngoài ra, Lực lượng đặc nhiệm về chống rửa tiền (FATF)

đã đưa ra như 9 khuyến nghị đặc biệt, yêu cầu các quốc gia thành viên phải hình sự hoá hành vi khủng bố, các tổ chức khủng bố và hành vi tài trợ cho khủng bố Như vậy, Việt Nam cũng như tất các các quốc gia thành viên có nghĩa vụ quy định các hành vi được coi là tội phạm trong một số văn kiện pháp lý quốc tế là tội phạm khủng bố (xem

ở phần phụ lục nội dung của các văn kiện này)

Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng, cho đến nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa có một định nghĩa nào về khủng bố được chấp nhận chung mà các hành vi được coi là tội phạm khủng bố chỉ được quy định dưới dạng liệt kê trong từng văn kiện pháp lý quốc tế cụ thể Kết quả nghiên cứu so sánh, đối chiếu quy định của BLHS Việt Nam về tội khủng bố với các văn kiện pháp lý quốc tế có liên quan cho thấy có những điểm khác biệt thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, về mục đích phạm tội: Theo quy định tại Điều 84 BLHS thì tội khủng

bố nhằm vào hai mục đích: một là, nhằm chống chính quyền nhân dân; hai là, nhằm

gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của Việt Nam, trong khi đó, từ quy định tại các văn

kiện pháp lý quốc tế cho thấy, tội phạm khủng bố có mục đích: gây ra tình trạng lo sợ, hoảng loạn trong công chúng hoặc ép buộc chính các cá nhân, tổ chức làm hoặc không làm một việc nhất định Như vậy, dấu hiệu mục đích của tội phạm khủng bố được quy định trong BLHS có phạm vi hẹp hơn so với các văn kiện pháp lý quốc tế

Do đó, một số hành vi như: quyên góp tiền bạc, lập kế hoạch, xúi giục, giúp đỡ dưới các hình thức khác cho tội phạm khủng bố được tiến hành tại Việt Nam nhưng nhằm thực hiện hành vi khủng bố ở nước ngoài và không nhằm chống chính quyền nhân dân Việt Nam, hay không nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của Việt Nam, thì chưa

có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khủng bố

Thứ hai, về hành vi khách quan: Điều 84 BLHS quy định 4 nhóm hành vi

khủng bố: thứ nhất, xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc công dân; thứ hai, xâm phạm tự do thân thể, sức khoẻ của cán bộ, công chức hoặc công dân; thứ ba,

đe dọa xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc công dân; thứ tư, uy hiếp tinh

thần của cán bộ, công chức hoặc công dân Ngoài ra, các hành vi nói trên được thực hiện đối với người nước ngoài nhằm mục đích gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của Việt Nam cũng được coi là tội phạm khủng bố Theo quy định tại các văn kiện pháp lý quốc tế, thì hành vi khủng bố là hành vi xâm phạm hoặc có nguy cơ xâm phạm nghiêm

trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tự do thân thể, tài sản của cá nhân, tổ chức Ngoài ra,

cũng theo tinh thần của các văn bản pháp lý quốc tế này, thì một người cũng bị coi là tội phạm khủng bố ngay cả khi đe dọa sẽ thực hiện, kích động người khác thực hiện

hành vi gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tự do thân thể, tài sản của cá nhân, tổ chức

Ngày đăng: 09/12/2015, 12:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Các hình phạt chính và hình phạt bổ sung được áp dụng ở nước ta - Nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế định tội phạm và hình phạt hướng tới việc sửa đổi bộ luật hình sự 1999 đáp ứng yêu cầu mới
Bảng 1. Các hình phạt chính và hình phạt bổ sung được áp dụng ở nước ta (Trang 50)
Bảng 2. Số điều luật qui định tù chung thân ở các chương trong BLHS hiện  hành. - Nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế định tội phạm và hình phạt hướng tới việc sửa đổi bộ luật hình sự 1999 đáp ứng yêu cầu mới
Bảng 2. Số điều luật qui định tù chung thân ở các chương trong BLHS hiện hành (Trang 54)
Bảng 4. Số  lượng hình phạt cải tạo không giam giữ  được áp dụng so với - Nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế định tội phạm và hình phạt hướng tới việc sửa đổi bộ luật hình sự 1999 đáp ứng yêu cầu mới
Bảng 4. Số lượng hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng so với (Trang 69)
Hình phạt bổ sung đối với các tội phạm cụ thể. Theo chúng tôi, các hình phạt bổ sung  cần phải được qui định tại khoản cuối cùng của từng điều luật qui định về tội phạm cụ  thể - Nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế định tội phạm và hình phạt hướng tới việc sửa đổi bộ luật hình sự 1999 đáp ứng yêu cầu mới
Hình ph ạt bổ sung đối với các tội phạm cụ thể. Theo chúng tôi, các hình phạt bổ sung cần phải được qui định tại khoản cuối cùng của từng điều luật qui định về tội phạm cụ thể (Trang 74)
Bảng 1. Các hình phạt chính và hình phạt bổ sung được áp dụng ở nước ta - Nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế định tội phạm và hình phạt hướng tới việc sửa đổi bộ luật hình sự 1999 đáp ứng yêu cầu mới
Bảng 1. Các hình phạt chính và hình phạt bổ sung được áp dụng ở nước ta (Trang 189)
Bảng 2: Mức chênh lệch giữa tối đa và tối thiểu của phạt tiền trong BLHS  hiện hành - Nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế định tội phạm và hình phạt hướng tới việc sửa đổi bộ luật hình sự 1999 đáp ứng yêu cầu mới
Bảng 2 Mức chênh lệch giữa tối đa và tối thiểu của phạt tiền trong BLHS hiện hành (Trang 194)
1999, hình phạt bổ sung thường được qui định tại khoản cuối cùng của điều luật về tội  phạm cụ thể (trong đa số các tội) hoặc chỉ có ở  điều cuối cùng của chương (ví dụ  chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia) - Nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế định tội phạm và hình phạt hướng tới việc sửa đổi bộ luật hình sự 1999 đáp ứng yêu cầu mới
1999 hình phạt bổ sung thường được qui định tại khoản cuối cùng của điều luật về tội phạm cụ thể (trong đa số các tội) hoặc chỉ có ở điều cuối cùng của chương (ví dụ chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia) (Trang 207)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w