Trong tiến trình hội nhập, nước ta đang đặt ưu tiên cao cho việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng và đa dạng hóa thị trường, tranh thủ vốn, kinh nghiệm quản lý và khoa học công nghệ tiên tiến cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Và trong giai đoạn hiện nay nước ta đã tham gia sâu rộng và ngày càng hiệu quả với các tổ chức khu vực như ASEAN, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Á Âu (ASEM) và đang tích cực đàm phán để sớm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Chính điều này một mặt đã làm cho nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, thu nhập quốc dân tăng liên tục và ổn định từ 7% đến 8%, đời sống của người dân ngày càng cải thiện, chất lượng cuộc sống và môi trường sống cũng được chú trọng, nhiều nhu cầu mới được nảy sinh. Nhưng điều này cũng đang trở thành một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam khi phải đương đầu với những đối thủ cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia khác nhau với tiềm lực vốn khổng lồ. Và để có thể đứng vững được trong giai đoạn hiện nay các công ty của Việt Nam không còn cách nào khác là phải luôn tự làm mới mình, tìm ra cách thức để làm thoả mãn đầy đủ nhất và thực sự làm vui lòng những khách hàng mục tiêu của mình. Cũng giống như các doanh nghiệp khác của Việt Nam, Công ty cổ phần Len Hà Đông cũng đang phải đối mặt với những thách thức trên khi yếu tố hấp dẫn người tiêu dùng đã không dừng lại ở việc giữ ấm cho cơ thể trong mùa Đông mà còn là việc làm đẹp, tạo cảm giác thoải mái phù hợp với cá tính trong cách ăn mặc. Không chỉ có nhu cầu khách hàng đang dần thay đổi với những đòi hỏi ngày càng cao hơn mà các đối thủ cạnh tranh của công ty cũng ngày càng mạnh hơn; Đặc biệt là khi Trung Quốc nhảy vào với thế mạnh là sản lượng sản xuất lớn, len nhiều màu sắc và giá thành rẻ. Trước tình hình trên, Công ty cũng đã có nhiều chính sách Marketing mix khác nhau. Và để có thể hiểu được các biện pháp mà Công ty áp dụng cũng như có thể đề ra được các giải pháp cho Công ty, trước hết chúng ta cần phải hiểu rõ về Công ty. Bản Báo cáo thực tập tổng hợp này chính là một bức tranh tổng hợp toàn cảnh nhất về Công ty dưới nhiều góc độ khác nhau. Và đây cũng chính là kết quả thực tập của em trong suốt giai đoạn thực tập tổng hợp tại Công ty. Em xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Phạm Hồng Hoa và Công ty Len Hà Đông đã giúp đỡ em trong suốt quá trình viết bản báo cáo này Bản báo cáo này bao gồm những nội dung chủ yếu sau: Khái quát chung về Công ty + Tổng quan về Công ty cổ phần Len Hà Đông + Tổng hợp năng lực kinh doanh ở bên trong công ty + Đặc điểm và quy cách sản phẩm + Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty trong 5 năm qua. Thực trạng Marketing của công ty + Môi trường Marketing của công ty + Khách hàng mục tiêu + Trung gian phân phối + Thực trạng tổ chức bộ máy thực hiện chức năng Marketing Trong quá trình làm báo cáo thực tập em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót vì vậy em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô để em hoàn thiện bài báo cáo này. Em xin chân thành cảm ơn
Trang 1Lời nói đầuTrong tiến trình hội nhập, nớc ta đang đặt u tiên cao cho việc mở rộngquan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng và đa dạng hóa thị trờng, tranh thủ vốn,kinh nghiệm quản lý và khoa học công nghệ tiên tiến cho sự nghiệp côngnghiệp hóa và hiện đại hóa đất nớc Và trong giai đoạn hiện nay nớc ta đãtham gia sâu rộng và ngày càng hiệu quả với các tổ chức khu vực nh ASEAN,Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng (APEC), Diễn đàn á - Âu(ASEM) và đang tích cực đàm phán để sớm gia nhập Tổ chức Thơng mại Thếgiới (WTO) Chính điều này một mặt đã làm cho nền kinh tế của đất nớc ngàycàng phát triển, thu nhập quốc dân tăng liên tục và ổn định từ 7% đến 8%, đờisống của ngời dân ngày càng cải thiện, chất lợng cuộc sống và môi trờng sốngcũng đợc chú trọng, nhiều nhu cầu mới đợc nảy sinh Nhng điều này cũng
đang trở thành một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ củaViệt Nam khi phải đơng đầu với những đối thủ cạnh tranh gay gắt từ các quốcgia khác nhau với tiềm lực vốn khổng lồ Và để có thể đứng vững đợc tronggiai đoạn hiện nay các công ty của Việt Nam không còn cách nào khác là phảiluôn tự làm mới mình, tìm ra cách thức để làm thoả mãn đầy đủ nhất và thực
sự làm vui lòng những khách hàng mục tiêu của mình
Cũng giống nh các doanh nghiệp khác của Việt Nam, Công ty cổ phầnLen Hà Đông cũng đang phải đối mặt với những thách thức trên khi yếu tốhấp dẫn ngời tiêu dùng đã không dừng lại ở việc giữ ấm cho cơ thể trong mùa
Đông mà còn là việc làm đẹp, tạo cảm giác thoải mái phù hợp với cá tínhtrong cách ăn mặc Không chỉ có nhu cầu khách hàng đang dần thay đổi vớinhững đòi hỏi ngày càng cao hơn mà các đối thủ cạnh tranh của công ty cũngngày càng mạnh hơn; Đặc biệt là khi Trung Quốc nhảy vào với thế mạnh làsản lợng sản xuất lớn, len nhiều màu sắc và giá thành rẻ Trớc tình hình trên,Công ty cũng đã có nhiều chính sách Marketing mix khác nhau Và để có thểhiểu đợc các biện pháp mà Công ty áp dụng cũng nh có thể đề ra đợc các giảipháp cho Công ty, trớc hết chúng ta cần phải hiểu rõ về Công ty Bản Báo cáothực tập tổng hợp này chính là một bức tranh tổng hợp toàn cảnh nhất về Công
ty dới nhiều góc độ khác nhau Và đây cũng chính là kết quả thực tập của emtrong suốt giai đoạn thực tập tổng hợp tại Công ty
Em xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Phạm Hồng Hoa và Công ty Len
Hà Đông đã giúp đỡ em trong suốt quá trình viết bản báo cáo này!
Bản báo cáo này bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
- Khái quát chung về Công ty
+ Tổng quan về Công ty cổ phần Len Hà Đông+ Tổng hợp năng lực kinh doanh ở bên trong công ty+ Đặc điểm và quy cách sản phẩm
+ Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty trong 5 năm qua
- Thực trạng Marketing của công ty
+ Môi trờng Marketing của công ty
Trang 2+ Khách hàng mục tiêu + Trung gian phân phối+ Thực trạng tổ chức bộ máy thực hiện chức năng MarketingTrong quá trình làm báo cáo thực tập em sẽ không tránh khỏi nhữngthiếu sót vì vậy em rất mong nhận đợc ý kiến đóng góp của thầy cô để emhoàn thiện bài báo cáo này.
Khách hàng mục tiêu của công ty: Các doanh nghiệp đan dệt
sử dụng sản phẩm của công ty là nguyên liệu đầu vào.
Quá trình tiêu thụ sản phẩm của công ty đợc biểu diễn qua sơ đồ:
Nguyễn thị Mai Phơng 2 Marketing 43 a_ĐHKTQ
Công ty Len
Doanh nghiệp gia công
Trang 3a Quá trình hình thành và phát triển
Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần Len Hà Đông
đợc chia làm 6 giai đoạn chính:
- Giai đoạn 1: Bắt đầu thành lập
Công ty cổ phần len Hà Đông đợc khởi công xây dựng vào tháng 4năm 1958 Đến tháng 8 năm 1959, Công ty chính thức đợc thành lập và bắt
đầu đi vào hoạt động với tên ban đầu là cơ sở tẩy nhuộm trực thuộc Bộ Nội
th-ơng Lúc này hoạt động chủ yếu của Công ty đơn giản là một cơ sở gia côngnhuộm tẩy các mặt hàng nh vải, lụa, sợi Công nghệ chủ yếu là sản xuất thủcông đợc thực hiện trên chảo rang và hong khô ngoài trời
- Giai đoạn 2: Giai đoạn mở rộng bắt đầu từ tháng 1/1961
->1977
Vào tháng 1 năm 1961, Công ty đợc chuyển sang cho Bộ Công nghiệp
nhẹ tiếp quản và đổi tên thành Nhà máy nhuộm in hoa Nhiệm vụ của nhà
máy bấy giờ gồm có 3 công việc chính Thứ nhất là nghề nhuộm sợi, vải, lụa,khăn mặt bông phục vụ tiêu dùng cả nớc Trong giai đoạn này, nhà máy đã đ-
ợc trang bị máy nhuộm của Tiệp và Trung Quốc chứ không còn thực hiện thủcông nh trớc nữa Đồng thời với nghề nhuộm là tẩy sợi Đây là một công việc
đợc nhà máy thực hiện do trong giai đoạn này các loại sợi đợc sản xuất ra rất
đen và cần phải qua giai đoạn tẩy sợi để sợi vải trở nên trắng và sạch hơn Thứ
ba là nghề in hoa, in các loại hình lên trên vải, lụa và khăn mặt
Năm 1974, Nhà máy nhận tài trợ của nớc ngoài và đã xây dựng một ởng kéo sợi len thảm từ lông cừu với dây chuyền hiện đại nhất khu vực lúcbấy giờ của Pháp và ý Đến năm 1976, xởng chính thức đi vào hoạt động
x Giai đoạn 3: Giai đoạn phát triển từ năm 1977 -> 1992
Từ khi xởng kéo sợi len thảm chính thức đi vào hoạt động thì côngviệc chính của nhà máy lúc này là sản xuất len thảm Vì vậy nhà máy đã đổi
tên thành Nhà máy Len nhuộm trực thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ Các sản phẩm
sản xuất của nhà máy trong giai đoạn này vẫn không có gì thay đổi so với giai
đoạn trớc đó nhng có thêm sản phẩm len thảm Có thể nói chính sản phẩm này
đã mang lại cho nhà máy một lợi nhuận khổng lồ vì trong cả nớc chỉ có duynhất nhà máy mình là sản xuất loại sợi này Tất cả các cơ sở trong cả n ớcmuốn có loại sợi này để dệt thảm thì chỉ có một lựa chọn duy nhất là đến vớiNhà máy Len nhuộm Chính vì vậy đây là giai đoạn hoàn kim của nhà máyvới 6 xởng sản xuất, 11 phòng ban và trên 1000 công nhân viên Đời sống củacông nhân viên đợc đảm bảo và hoạt động đoàn thể hết sức sôi động với một
đội bóng chuyên nghiệp và một đoàn kịch riêng của nhà máy
- Giai đoạn 4: Giai đoạn suy thoái từ năm 1992 -> 1999
Trớc sự phát triển mạnh mẽ nh vậy nên nhà máy đã chuyển tên thành
Công ty Len Hà Đông Các sản phẩm của Công ty sản xuất vẫn không có gì
thay đổi gồm có: sản xuất sợi len thảm, nhuộm vải, in hoa và tẩy sợi
Trang 4Nhng trong giai đoạn này, hoạt động sản xuất của Công ty bắt đầuxuống dốc vì từ năm 1986 thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nớc về
tự do sản xuất và tự do kinh doanh nên các cơ sở sản xuất t nhân bắt đầu xuấthiện Tẩy sợi, nhuộm, in hoa là 3 sản phẩm đầu tiên của Công ty dần bị mấtkhách hàng và thị trờng Nguyên nhân một phần là do ban lãnh đạo của Công
ty đã không nhìn thấy sự thay đổi trong chính sách của Nhà nớc nên vẫn bìnhchân và không có một chiến lợc nào cụ thể để giữ chân khách hàng Sự bìnhthản này đợc giải thích bởi sản phẩm chủ chốt của nhà máy là sản xuất lenthảm vẫn còn hết sức phát triển, khách hàng của loại sản phẩm này còn rấtlớn Nhng đến năm 1992, một sự kiện quan trọng trong lịch sử thế giới là Nga
và các nớc Đông Âu sụp đổ, và chính điều này đã làm thay đổi hoàn toàn cụcdiện của Công ty Nh chúng ta đã biết trong chiến tranh Việt Nam đã nợ cácnớc bạn đặc biệt là Nga rất nhiều tiền để phục vụ cho cuộc kháng chiến cứu n-
ớc Khi giành đợc độc lập, nớc ta đã tiến hành trả nợ cho các nớc bằng các sảnphẩm tự sản xuất ra trong đó có thảm Nhng đến năm 1992, khi Nga và Đông
Âu sụp đổ, Việt Nam không thể trả nợ bằng hình thức hiện vật nh trớc nữa Và
đồng nghĩa với việc này, sản phẩm thảm không bán đợc, các cơ sở không cònsản xuất thảm nữa và sợi len thảm của công ty mất thị trờng
Trong giai đoạn này, Công ty phải đối mặt với rất nhiều vấn đề, quymô sản xuất bị thu hẹp, công nhân viên không có việc làm, đời sống vô cùngkhó khăn
Trớc tình hình đó, vào năm 1997, Công ty đã đầu t xây dựng một phânxởng sản xuất sợi len Acrylic đan áo với dây truyền công nghệ hiện đại đợcnhập từ Pháp - một lĩnh vực mới đỗi với toàn thể cán bộ và công nhân viêntrong Nhà máy Nhiệm vụ lúc này của Công ty là phải nghiên cứu sản phẩm,tìm hiểu cách thức sản xuất, tìm hiểu nhu cầu khách hàng và tìm kiếm một thịtrờng mới
- Giai đoạn 5: Giai đoạn bắt đầu phục hồi từ năm 2000 ->2004
Năm 2000, Trung Ương quyết định thành lập Công ty Len Việt Nambao gồm 7 nhà máy sản xuất len trong cả nớc Vì vậy, Công ty Len Hà Đông
chuyển tên thành Nhà máy Len Hà Đông là nhà máy thành viên của Công ty
Len Việt Nam Trong các sản phẩm sản xuất của Nhà máy lúc này đã có nhiều
sự thay đổi: Nghề nhuộm, tẩy sợi và in hoa không còn nữa Sản xuất sợi lenthảm với quy mô nhỏ, sợi len đan Acrylic, và sợi len PAN dệt mền chăn
Năm 2003, nhà máy thực hiện kế hoạch mở rộng quy mô sản xuấtbằng việc mở thêm một phân xởng đan dệt với các máy móc đợc nhập từTrung Quốc Đồng thời tiếp nhận dây chuyền kéo sợi len AC từ Hải phòng đểtiến hành sản xuất sợi len đan áo
- Giai đoạn 6: Ngày 1 tháng 1 năm 2005 nhà máy len Hà Đông đợc
cổ phần hoá và đổi tên thành Công ty Cổ phần Len Hà Đông không chịu sự
chi phối của nhà nớc với số vốn điều lệ là 14 tỷ đồng
Nh vậy, trải qua trên 40 năm xây dựng và trởng thành, Công ty cổphần Len Hà Đông đã trải qua nhiều thăng trầm và biến đổi cùng với sự phát
Trang 5triển của đất nớc Tuy gặp rất nhiều khó khăn nhng cán bộ công nhân viên vẫnluôn sát cánh bên nhau cùng nhau vợt qua mọi khó khăn để cho tới thời điểmnày, đời sống của công nhân lao động đã tơng đối ổn định Và vấn đề đặt ra
đối với đội ngũ lãnh đạo của Công ty là phải làm sao sản xuất sản phẩm chấtlợng tốt, nâng cao năng suất lao động, giữ chân khách hàng truyền thống vàtìm kiếm thêm đợc nhiều khách hàng mới để tạo ra nhiều công ăn việc làm ổn
định cho ngời lao động và nâng cao mức thu nhập cho cán bộ công nhân viêntrong công ty
b Lĩnh vực hoạt động
Các mặt hàng sản xuất của Công ty bao gồm 5 sản phẩm chính sau:
- Sợi len lông cừu 100% dùng cho dệt thảm len
- Sợi Spandex, sợi len AC, sợi len AC pha lông cừu
- Sợi len PAN/AC dùng cho đan dệt quần áo thời trang và xuất khẩu
- Sợi len dùng cho dệt chăn len
- Các sản phẩm quần áo len
c Cơ cấu tổ chức quản lý
sơ đồ về cơ cấu tổ chức của nhà máyHình vẽ trên đây là sơ đồ về cơ cấu tổ chức của nhà máy len khi chatrở thành công ty cổ phần Và trong giai đoạn này, quy định về chức năng,nhiệm vụ và các mối quan hệ của các đơn vị trong nhà máy nh sau (trong đóchúng ta chú ý đến 3 phòng chính liên quan trực tiếp nhất đến sản xuất sảnphẩm - Đó là phòng kinh doanh, phòng kỹ thuật sản xuất và các phân xởngsản xuất)
Nhiệm vụ của phòng kinh doanh bao gồm:
+ Triển khai tốt công tác nghiên cứu thị trờng
Phân x ởng
Len I
Phân x ởng Len II Phân x ởngĐan dệt
Trang 6+ Xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh ngắn và dài hạn.Nắm vững các yêu cầu của khách hàng về sản lợng, chất lợng sản phẩm, yêucầu kỹ thuật, tiến độ giao hàng để triển khai các kế hoạch và điều độ sản xuất
có hiệu quả nhất
+ Tiêu thụ tốt sản phẩm của Nhà máy, quản lý các cửa hàng và
đại lý, đảm bảo bán và thu tiền theo nguyên tắc
+ Lập kế hoạch mua sắm và cung cấp các loại nguyên, nhiênvật liệu, máy móc thiết bị
Mối quan hệ:
- Đối với phòng kỹ thuật-sản xuất
+ Căn cứ vào yêu cầu của khách hàng, nhu cầu sản xuất phốihợp phòng Kỹ thuật sản xuất triển khai thực hiện kế hoạch sản xuất tiêu thụ
+ Phối hợp với phòng kỹ thuật sản xuất để triển khai kế hoạchsản xuất và điều độ đảm bảo kịp thời hiệu quả
+ Thông tin kịp thời cho phòng kỹ thuật sản xuất các biến
động về chất lợng sản phẩm, các kiếu nại của khách hàng, hàng hoá bị trả lại
+ Thông tin cho phòng kỹ thuật sản xuất về hớng các sản phẩmmới trên thị trờng để phòng kỹ thuật xem xét nghiên cứu
- Đối với phòng tài chính kế toán: Xây dựng các phơng án kinh doanh
để xác định nhu cầu vốn đảm bảo cho sản xuất kinh doanh đồng thời phối kếthợp thu tiền bán hàng
- Đối với các phân xởng sản xuất: Giám sát, theo dõi tiến độ sản xuấtcủa các phân xởng để có biện pháp xử lý kịp thời khi có biến động
Phòng kỹ thuật-sản xuất
Chức năng của phòng là tham mu giúp việc Giám đốc về công tácquản lý khoa học kỹ thuật, đầu t phát triển sản xuất, quản lý chất lợng sảnphẩm
Nhiệm vụ của phòng kỹ thuật-sản xuất:
+ Xây dựng ban hành quy trình công nghệ các loại sản phẩm,quy trình thao tác, các tiêu chuẩn kỹ thuật về sản phẩm thành phẩm cho quátrình sản xuất đạt hiệu quả
+ Kiểm tra, theo dõi việc thực hiện các quy trình và tiêu chuẩn
+ Xây dựng và triển khai các dự án đầu t
Phòng tài chính-kế toán: Tham mu giúp việc cho Giám đốc trong lĩnhvực tài chính kế toán đảm bảo điều hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Phòng tổ chức hành chính: Tham mu giúp việc Giám đốc về các mặtcông tác tổ chức, lao động, tiền lơng, hành chính quản trị, bảo vệ Nhà máy
Trang 7Các phân x ởng sản xuất : Có nhiệm vụ tổ chức, quản lý, triển khai sảnxuất đảm bảo hoàn thành kế hoạch về sản lợng, chất lợng đợc giao, trên cơ sở
sử dụng có hiệu quả nhất về lao động, thiết bị, vật t, nguyên, nhiên vật liệu và
động lực
Nhiệm vụ chủ yếu:
+ Tổ chức và điều hành kế hoạch sản xuất theo yêu cầu củakhách hàng
+ Có trách nhiệm tổ chức thực hiện kịp thời các phơng án thínghiệm, chế thử sản phẩm mới phục vụ cho sản xuất Động viên cán bộ côngnhân thờng xuyên nghiên cứu đề xuất sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoásản xuất, tiết kiệm, không ngừng nâng cao năng suất và chất lợng sản phẩm
+ Quản lý và sử dụng có hiệu quả nhất lực lợng lao động củaphân xởng, chấp hành tốt kỷ luật lao động, nội quy và kỹ thuật an toàn trongsản xuất, vệ sinh công nghiệp Có kế hoạch bồi dỡng, kèm cặp thờng xuyênnâng cao trình độ tay nghề cho công nhân
Khi trở thành Công ty cổ phần thì cơ cấu tổ chức của Nhà máy cũng cónhiều thay đổi cho phù hợp hơn Cụ thể, Công ty cổ phần sẽ chịu điều hànhtrực tiếp của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc.Trong đó Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơquan quyết định cao nhất của Công ty Hội đồng quản trị là cơ quan quản lýCông ty, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan
đến mục đích, quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của
Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị bổ nhiệm một ngời trong số họ làmTổng Giám đốc ở Công ty, Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm luôn vị trí củaTổng Giám đốc Ngoài ra, những phòng ban trớc đây sẽ đợc giữ nguyên nhng
sẽ chịu sự chỉ đạo trực tiếp của các Giám đốc phụ trách từng phòng ban Việcgiao phó từng công việc cho một ngời nhất định sẽ rất nhiều thuận lợi vì: Họ
đã đợc chọn lọc là ngời có nhiều kinh nghiệm nhất về lĩnh vực đó nên họ làmviệc sẽ rất có hiệu quả; Đồng thời họ sẽ có thể tự mình đối phóvới những sựviệc bất ngờ xảy ra liên quan trực tiếp đến công việc mình đảm nhận màkhông cần xin sự chỉ đạo từ cấp trên
Có thể nói, việc chuyển đổi từ Nhà máy sang Công ty Cổ phần khôngchỉ đơn thuần là việc thay đổi tên gọi, mà đó còn là việc thay đổi toàn bộ cả cơcấu tổ chức, vai trò lãnh đạo góp phần tốt nhất cho việc đối mặt của Công tytrớc sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thơng mại Thế giới WTO vào năm
- Tỷ số về khả năng thanh toán: Đây là nhóm chỉ tiêu
đ-ợc sử dụng đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của Công ty
Trang 8- Tỷ số về khả năng hoạt động: Đây là nhóm chỉ tiêu đặctrng cho việc sử dụng tài nguyên, nguồn lực của Công ty.
- Tỷ số về khả năng sinh lãi: Nhóm chỉ tiêu này phản ánhhiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp nhất của Công ty Nhng vì trớc đây,Công ty là một doanh nghiệp Nhà nớc nên ta không xét đến tỷ số này
Để có thể phân tích đợc các tỷ số này ta sử dụng số liệu trong 2 bảngsau: Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh trong 2 năm gần đâynhất: năm 2003 và năm 2004 Từ 2 bảng đó ta sẽ có bảng tổng hợp sau đây:
(Chi tiết tại phụ lục 1)
+ Khả năng thanh toán hiện hành = TSLĐ/Nợ ngắn hạn
Tỷ số này cho biết mức độ các khoản nợ của Công ty đợc trang trảibằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tơng đơng vớithời hạn của các khoản nợ đó
+ Tỷ số khả năng thanh toán nhanh
Đây là tỷ số giữa các tài sản quay vòng nhanh với nợ ngắn hạn Tỷ sốnày cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vàoviệc bán tài sản dự trữ (tồn kho) và đợc xác định bằng cách lấy tài sản lu độngtrừ phần dự trữ (tồn kho) chia cho nợ ngắn hạn:
Năm 2003: (16017-10709) / 4432 = 1,2
Năm 2004: (13149-9465) / 5726 = 0,64
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh thấp hơn năm 2003 Nguyên nhân là
do mức dự trữ của Công ty hầu nh không giảm nhng tiền mặt lại giảm đáng
kể, các khoản phải thu giảm Những thay đổi về chính sách tín dụng và cơ cấu
Trang 9tài trợ đã làm khả năng thanh toán của Công ty trở nên yếu kém Công tykhông thể thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn đến hạn nếu không sửdụng đến một phần dự trữ.
+ Tỷ số dự trữ (tồn kho) trên vốn lu động ròng
Tỷ số này cho biết dự trữ chiếm bao nhiêu phần trăm vốn lu độngròng Nó đợc tính bằng cách chia dự trữ cho vốn lu động ròng (trong đó vốn lu
động ròng đợc xác định bằng phần chênh lệch giữa tổng tài sản lu động vàtổng nợ ngắn hạn)
Đối với Công ty, tỷ số này năm 2003 là 92,44%, năm 2004 là127,53% Nh vậy, tỷ số dự trữ trên vốn lu động của Công ty là quá cao, đặcbiệt là trong năm vừa qua, dự trữ cao tới mức toàn bộ vốn lu động ròng không
đủ để tài trợ cho nó Điều này liên quan tới cơ cấu vốn, cơ cấu tài trợ cũng nhcơ cấu tài sản lu động của Công ty
* Các tỷ số về khả năng hoạt động:
+ Vòng quay tiền
Tỷ số này đợc xác định bằng cách chia doanh thu cho tổng số tiền vàcác loại tài sản tơng đơng tiền bình quân (chứng khoán ngắn hạn dễ chuyểnnhợng); Nó cho biết số vòng quay của tiền trong năm ở đây ta đi xác định sốvòng quay tiền của Công ty trong năm 2003 và năm 2004:
Năm 2003: 21317 / 2078 = 10,26
Vòng quay tiền của Công ty Len Hà Đông năm 2003 và năm 2004
t-ơng ứng là 10,26 và 15,67 Tuy vòng quay tiền năm 2004 đã tăng lên so vớinăm 2003 nhng vẫn cha thể chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của Công ty đã tốthơn mà phải kết hợp phân tích một số chỉ tiêu khác
+ Vòng quay dự trữ (tồn kho)
Đây là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuấtkinh doanh của Công ty, vòng quay dự trữ đợc xác định bằng tỷ số giữa doanhthu trong năm và giá trị dự trữ (nguyên vật liệu, vật liệu phụ, sản phẩm dởdang, thành phẩm) bình quân:
Trang 10Hiệu suất sử dụng tài sản cố định của Công ty năm 2004 hầu nh khôngtăng so với năm 2003 (tăng thêm 0,03) Điều này chứng tỏ Công ty sử dụng tàisản cố định có hiệu quả.
+ Hiệu suất sử dụng tổng tài sảnChỉ tiêu này còn đợc gọi là vòng quay toàn bộ tài sản, nó đợc đo bằng
tỷ số giữa doanh thu và tổng tài sản và cho biết một đồng tài sản đem lại baonhiêu đồng doanh thu:
đốc và toàn thể nhân viên trong Công ty cần tiếp tục phát huy khả năng kinhdoanh hơn nữa để có thể tạo điều kiện tốt nhất cho sự cạnh tranh về giá củasản phẩm trên thị trờng hiện nay
b Cơ sở vật chất kỹ thuật
Công ty Len Hà Đông đợc thành lập lần đầu tiên vào năm 1959, vàcho đến ngày hôm nay đã đi vào hoạt động đợc 45 năm Vào những năm 80của thế kỷ 20, Công ty đã cho xây dựng mở rộng về quy mô nên cho đến naycơ sở hạ tầng của Công ty khá vững chắc Các phòng ban, phân xởng và thiết
bị văn phòng hầu nh còn mới
Xét về công nghệ máy móc thiết bị của Công ty:
- Phần lớn các loại máy móc sản xuất sợi len thảm đều là nhữngmáy móc cũ từ năm 1976 của Pháp và ý Và nh vậy, trải qua 28 năm mặthàng này vẫn không hề thay đổi về quy cách sản xuất nhng rõ ràng chất lợngcủa sợi len thảm sẽ ngày một giảm Ban lãnh đạo của Công ty cần có mộtchính sách mới cho sản phẩm sợi len thảm thì mới có thể cạnh tranh đợc vớicác sợi len thảm khác trên thị trờng hiện nay
- Đối với những máy móc sản xuất len AC phần lớn là hàngSecond-hand đợc tân trang lại từ năm 1985 bởi những kỹ s của Công ty Cho
đến thời gian này các loại máy đã không còn đảm bảo đợc độ chính xác nhban đầu và hay phải sửa chữa bảo dỡng thờng xuyên dẫn đến các sản phẩmsản xuất ra có nhiều sản phẩm không đảm bảo đợc đúng chất lợng, quy cáchhay màu sắc Bởi vậy, Công ty có nhiều mặt hàng đã xuất đi nhng bị trả lại vìphạm nhiều lỗi so với sản phẩm chào hàng Điều này đã làm cho uy tín củaCông ty bị ảnh hởng nhiều
Trang 11- Phân xởng đan dệt là phân xởng mới nhất của Công ty đợc xâydựng từ năm 2003 với máy móc mới đợc nhập từ Trung Quốc Và đây chính làphân xởng có đợc máy móc mới nhất và hiện đại nhất của Công ty.
Trong tổng số 385 lao động của công ty thì:
- Khối công nhân là 338 ngời
- Khối quản lý là 32 ngời, trong đó lao động có trình độ
đại học và cao đẳng là 27 ngời chiếm 84,4%
- Khối phục vụ là 15 ngời gồm có: bảo vệ, tạp vụ
Về trình độ tay nghề lao động:
- Công nhân bậc cao (từ bậc 5 đến bậc 7) là 48 ngờichiếm 14,2% trong tổng số lao động trong khối công nhân của toàn Công ty
- Công nhân bậc thấp và học việc là 290 ngời chiếm85,8%
Có thể nói: nhìn vào trình độ tay nghề lao động nh trên ta thấy côngnhân có trình độ tay nghề cao trong Công ty còn thấp và điều này cũng là mộttrong những nguyên nhân khiến cho chất lợng sản phẩm sản xuất ra của Công
ty cha đảm bảo đợc chất lợng Chính vì vậy, Công ty cần có những chính sách
đào tạo và huấn luyện hợp lý và thờng xuyên nhằm nâng cao đợc chất lợng lao
động trong Công ty Để thực hiện đợc điều này, hàng năm Công ty vẫn thờngxuyên tổ chức các cuộc thi nâng cấp bậc thợ và tổ chức ôn luyện tay nghề thithợ giỏi Đồng thời Công ty cũng có những chính sách khuyến khích vật chất
đối với những công nhân có tay nghề cao nhằm khuyến khích ngời lao động tựmình ôn luyện để nâng có trình độ cho bản thân
Mức lơng trung bình của công nhân viên trong toàn công ty là 827.000
đồng/ngời/tháng Trong đó mức lơng trung bình của công nhân trong Công ty
là 710.000 đồng/ngời/tháng Có thể nói, với mức lơng nh hiện nay của Công
ty dành cho công nhân lao động là còn thấp và cha đáp ứng đợc nhu cầu sinhhoạt của công nhân Chính vì nguyên nhân này nên có một số công nhân khi
đã làm việc đợc trong Công ty đợc một thời gian thì đều có ý định tìm mộtcông việc khác Qua đó ta có thể thấy rằng mức độ trung thành của công nhânvẫn còn ở mức thấp Công ty cần có những chính sách điều chỉnh để có thể
Trang 12thu hút đợc những công nhân có tay nghề cao và giữ chân đợc những côngnhân có kinh nghiệm để có thể đảm bảo và nâng cao chất lợng của đội ngũcông nhân.
d Năng lực tổ chức và quản lý
Việc đánh giá đợc năng lực tổ chức và quản lý của một Công ty là rấtkhó khăn vì vậy trong khuôn khổ của bài viết em xin trình bầy về năng lực tổchức sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng và năng lực quản lý thànhphẩm của Công ty
- Quá trình tổ chức sản xuất sản phẩm: Nh chúng ta thấy, dựavào sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty, việc tổ chức sản xuất đợc quản lý trựctiếp từ phòng kinh doanh và Phó giám đốc Kỹ thuật sản xuất nên công việcluôn đợc sắp xếp một cách hợp lý và hoạt động rất hiệu quả Khi có đơn đặthàng của khách hàng, phòng kinh doanh sẽ dựa vào lợng hàng còn trong kho
để xem xét khả năng đáp ứng yêu cầu hiện tại của khách hàng rồi phối hợpcùng với các phân xởng để tiến hành sản xuất
- Việc quản lý các kho thành phẩm chịu sự quản lý trực tiếp củaquản đốc của từng phân xởng Và quản đốc của từng phân xởng có tráchnhiệm báo cáo lại thờng xuyên với phòng kinh doanh để phòng kinh doanhnắm đợc tình hình số lợng, chất lợng và màu sắc của từng mặt hàng hiện cònlại trong kho tạo hiệu quả hơn trong việc quản lý
Nh vậy, có thể nói việc tổ chức quản lý thành phẩm của Công ty là tốt
và Công ty cần giữ vững và phát huy hiệu quả việc tổ chức này
3/ Đặc điểm và quy cách sản phẩm.
a Đặc điểm của sản phẩm
Công ty Len Hà Đông là Công ty chuyên sản xuất 2 loại sợi chính đó
là sợi len thảm và sợi len dùng cho đan dệt Sản phẩm của Công ty ra thị trờng
đợc khách hàng quan tâm chủ yếu đến những chỉ tiêu sau: độ bền, chi số, độ
đồng đều, màu sắc và độ bền màu, độ xốp Trong đó:
- Độ bền của sợi là số gam lực làm đứt sợi Đây là mộtchỉ tiêu đợc các khách hàng đan dệt rất quan tâm vì nếu độ bền thấp thì trongquá trình dệt sẽ gây ra hiện tợng đứt sợi hoặc nổ mặt hàng
- Chi số của sợi là chiều dài của đoạn sợi trên trọng lợng
là một gam, thể hiện mức độ to hay nhỏ của sợi Khách hàng quan tâm đến chỉtiêu này để quyết định sản xuất mặt hàng dầy hay mỏng Khi sản xuất mặthàng mỏng thì khách hàng sẽ quan tâm đến sợi len có chi số cao Chi số sợicàng cao thì giá thành càng cao do sản xuất sợi nhỏ có năng suất thấp và chiphí cao
- Độ đồng đều thể hiện mức độ to nhỏ giữa các đoạn sợihoặc mức độ bền khác nhau giữa các đoạn sợi Một sản phẩm có chất lợng cao
là sợi len có độ đồng đều cao Độ không đều có thể chấp nhận đợc là 2%
Trang 13- Màu sắc và độ bền màu: Độ bền màu của sợi là khảnăng không phai màu trong điều kiện ẩm nhiệt độ tự nhiên và trong môi trờngnớc ở nhiệt độ phù hợp mà sản phẩm không bị phai màu.
- Độ xốp thể hiện độ mềm mại, độ bông của sợi Sảnphẩm của sợi len có độ xốp cao có khả năng giữ nhiệt tốt hơn sản phẩm khôngxốp
Ngoài ra đối với mặt hàng đan dệt: Khách hàng quan tâm đến các chỉtiêu chính sau: Mẫu mã, quy cách, kiểu dáng và màu sắc
ở từng phân x ởng đối với từng sản phẩmQuy trình sản xuất sợi len thảm 100% lông cừu
Dới đây là mẫu sợi len thảm 100% lông cừu dùng để dệt thảm cao cấp(len mộc) cha qua giai đoạn nhuộm sấy với chi số 4:
Quy trình sản xuất sợi len P/AC đan dệt
Dới đây là 2 mẫu len P/AC với 2 màu sắc khác nhau Đây là sợi len cóchi số thấp dùng để đan dệt:
Sợi len AC
Trang 14Màu: Trắng pha ghi Màu: Hồng pha trắng
Chi số: 2 Chi số: 2
Quy trình sản xuất sợi len dệt chăn
Dới đây là mẫu sợi len dệt chăn với chi số 4:
Quy trình sản xuất sợi len AC, sợi len Spandex đan dệt
Dới đây là một số mẫu len AC và len Spandex với các màu sắc khác nhau:
Len AC đơn màu Len AC xe kiểu Len AC không co Len Spandex Màu đỏ T Màu trắng pha ghi Màu chì Màu hồng 203 Chi số 30/2 Chi số 25/2 Chi số 45/2 Chi số 40/2
Quy trình gia công đan dệt