Là một người cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thấy tầm quan trọng của yếu tố đoàn kết quốc tế mà Người còn sớm nhận rõ vai trò của hợp tác quốc tế đối với sự phát triển của cách
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ
QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ VÀ VẬN DỤNG VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI
MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS ĐẶNG VĂN THÁI
THƯ KÝ KHOA HỌC: THS NGUYỄN THỊ GIANG
7394
08/6/2009
HÀ NỘI – 2008
Trang 2NHãm biªn so¹n
1.TS §Æng V¨n Th¸i, ViÖn Hå ChÝ Minh, Häc viÖn ChÝnh trÞ – Hµnh
quèc gia Hå ChÝ Minh (Chñ nhiÖm)
2.Ths NguyÔn ThÞ Giang,ViÖn Hå ChÝ Minh, Häc viÖn ChÝnh trÞ – Hµnh
quèc gia Hå ChÝ Minh (th− ký)
3.TS TrÇn V¨n H¶i, ViÖn Hå ChÝ Minh, Häc viÖn ChÝnh trÞ – Hµnh chÝnhgia Hå ChÝ Minh
4.TS TrÇn Minh Tr−ëng, ViÖn Hå ChÝ Minh, Häc viÖn ChÝnh trÞ – Hµnhquèc gia Hå ChÝ Minh
céng t¸c viªn 1.PGS.TS Ph¹m Ngäc Anh, ViÖn Hå ChÝ Minh, Häc viÖn ChÝnh trÞ –
chÝnh quèc gia Hå ChÝ Minh
2.Ths Ng« V−¬ng Anh, Ban lý luËn, B¸o Nh©n D©n
3.TS NguyÔn ThÞ Kim Dung,ViÖn Hå ChÝ Minh, Häc viÖn ChÝnh trÞ –chÝnh quèc gia Hå ChÝ Minh
4.PGS.TS Bïi §×nh Phong, ViÖn Hå ChÝ Minh, Häc viÖn ChÝnh trÞ –chÝnh quèc gia Hå ChÝ Minh
5.Ths Lý ViÖt Quang, ViÖn Hå ChÝ Minh, Häc viÖn ChÝnh trÞ – Hµnh quèc gia Hå ChÝ Minh
6.PGS.TS NguyÔn ViÕt Th¶o, T¹p chÝ LLCT, Häc viÖn ChÝnh trÞ – Hµnhquèc gia Hå ChÝ Minh
7.PGS.TS Lª V¨n TÝch, ViÖn Hå ChÝ Minh, Häc viÖn ChÝnh trÞ – Hµnhquèc gia Hå ChÝ Minh
8.PGS.TS Hoµng Trang, ViÖn Hå ChÝ Minh, Häc viÖn ChÝnh trÞ – Hµnhquèc gia Hå ChÝ Minh
9 Ths Lª Thu Hång, ViÖn Hå ChÝ Minh, Häc viÖn ChÝnh trÞ – Hµnh chÝnhgia Hå ChÝ Minh
Trang 3Mở ĐầU
1 - Tính cấp thiết của đề tài
Hợp tác quốc tế là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Thông qua hợp tác quốc tế, các quốc gia phát huy được những tiềm năng do điều kiện địa - kinh tế, địa - chính trị mang lại Đồng thời, tận dụng được thế mạnh của các khu vực, quốc gia khác phục vụ cho sự phát triển của mình Do vậy, có thể nói, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, khu vực phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tham gia hợp tác cả về bề rộng lẫn chiều sâu với những quốc gia, khu vực còn lại của thế giới
Là một người cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thấy tầm quan trọng của yếu tố đoàn kết quốc tế mà Người còn sớm nhận rõ vai trò của hợp tác quốc tế đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trong xây dựng và kiến thiết đất nước Điều đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ trong các tuyên bố, lời phát biểu và các hoạt động quốc tế của Người trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, rõ nhất là từ năm 1945 đến khi Người qua đời Quan điểm về hợp tác quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi chủ chương, đường lối và chính sách hợp tác quốc tế của
Đảng và Nhà nước ta, tạo nên sức mạnh tổng hợp, và trở thành nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển của cách mạng Việt Nam trong những năm
đã qua
Hiện nay, trên thế giới, hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục được đẩy nhanh, đồng thời cạnh tranh kinh tế thương mại diễn ra ngày càng gay gắt Chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt
động can thiệp lật đổ ly khai, hoạt động khủng bố, những tranh chấp về lãnh thổ và các tài nguyên thiên nhiên, đấu tranh giữa chủ nghĩa đơn phương, đơn cực và bá quyền với các lực lượng chống lại vẫn diễn biến phức tạp Đồng thời,
Trang 4nhiều vấn đề toần cầu bức xúc ngày càng đòi hỏi các quốc gia phải phối hợp giải quyết như khoảng cách ngày càng lớn giữa các nhóm nước giàu và nghèo; vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái; sự gia tăng dân số, các luồng dân di cư; tình trạng khan hiếm năng lượng, cạn kiệt tài nguyên, biến đổi khí hậu trái đất; phòng chống các dịch bệnh lớn, các tội phạm xuyên quốc gia.v.v
ở khu vực châu á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam á nói riêng, xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển tiếp tục gia tăng Quan hệ nhiều mặt giữa các nước trong khu vực tiếp tục phát triển Tuy nhiên, tại đây vẫn còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định như tranh chấp biên giới lãnh thổ, tài nguyên, những hoạt động khủng bố, những bất ổn về kinh tế, chính trị ở một
vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần vào thực hiện mục tiêu chung của nhân loại:
Độc lập dân tộc, hoà bình, hữu nghị, dân chủ và tiến bộ xã hội
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về hợp tác quốc tế và vận dụng vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện
Trang 5nay là việc làm không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn
thiết thực
Nghiên cứu quan điểm Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế không chỉ làm sáng tỏ thêm một vấn đề lý luận quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí minh mà còn làm rõ những cống hiến của Người đối với sự nghiệp cách mạng nói chung và công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta nói riêng Đồng thời, việc nghiên cứu, thấm nhuần quan điểm Hồ chí Minh về hợp tác quốc tế sẽ giúp chúng ta vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào việc giải quyết những vấn
đề phức tạp của công tác đối ngoại, đẩy mạnh hơn nữa quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế, góp phần đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở nước ta hiện nay
2 - Tình hình nghiên cứu
Tư tưởng về đối ngoại nói chung, quan điểm về hợp tác quốc tế nói riêng
là những nội dung quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Vì vậy, trong những năm vừa qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này trên những góc độ và khía cạnh khác nhau Trong đó có thể kể ra một số công trình chủ yếu sau:
- Nguyễn Đình Bin, Ngoai giao Việt Nam 1945-2000, NxbCTQG, H, 2002
- Bộ Ngoại giao, Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc, Nxb CTQG, H,
Trang 6- Hỏi đáp về hợp tác kinh tế ASEAN Nxb Thế giới, H, 2000
- GS TS Phan Ngọc Liên (chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới
Đề tài khoa học cấp nhà nước KX 02 09 (1991-1995)
- GS TS Phan Ngọc Liên, Hồ Chí Minh những hoạt động quốc tế, Nxb
Quân đội nhân dân, H, 1994
- GS TS Phan Ngọc Liên, Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề
quốc tế, Nxb CTQG, H, 1995
- Phan Ngọc Liên - Đỗ Thanh Bình, Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại với việc phát huy nội lực trong xây dựng
đất nước hiện nay Tạp chí Cộng sản, số 8/ 1998
- Lưu Văn Lợi, Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam 1945-1995, tập 2,
Nxb Công an nhân dân, H, 1996
- Nguyễn Phúc Luân, Chủ tịch Hồ Chí Minh trí tuệ lớn của nền ngoại giao
Việt Nam hiện đại, Nxb CTQG, H, 1999
- TS Nguyễn Thế Lực, Tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại nhằm thực
hiện thành công nhiệm vụ chiến lược "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực" của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Đề tài khoa học
cấp bộ, 2003 -2004
- Võ Đại Lược, Kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay - tình hình và các
giải pháp, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 1/2003
-Võ Đại Lược, Xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ ở Việt Nam trong
qua trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số
Trang 7- Vũ Oanh- Phạm Quốc Sử, Quan điểm của Hồ Chí Minh về hợp tác kinh
tế với nước Mỹ Tạp chí Thông tinh lý luận, số 9 – 1993
- GS Văn Tạo, Về công tác đối ngoại hiện nay trên cơ sở nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6/1993
- Đặng Văn Thái, Tư tưởng hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc trong hoạt
động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ 1945 -1954, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 1/2001
- TS Đặng Văn Thái, Hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb CTQG, H, 2004
- Hà Văn Thâm, Việt Nam gia nhập ASEAN và tư tưởng Hồ Chí Minh về
đoàn kết quốc tế" Tạp chí Cộng sản, số 8, 7-1995
- Phạm Đức Thành - Trương Duy Hòa, Kinh tế các nước Đông Nam á,
thực trạng và triển vọng Nxb khoa học xã hội, H, 2002
- Song Thành, Hồ Chí Minh với các mục tiêu của dân tộc và nhân loại trong thế kỷ XX Tạp chí Thông tin KHXH, số 212, 8-2000
- Trần Thành, Về mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế
trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh T/c Nghiên cứu lý luận, số 5/2001
- Nguyễn Thế Thắng, "Tư tưởng Hồ Chí Minh về làm bạn với tất cả các
nước" Tạp chí Lịch sử Đảng, số 3/1995
- Nguyễn Cơ Thạch, Thế giới trong 50 năm qua (1945-1995) và thế giới
trong 25 năm tới (1996-2020), Nxb CTQG, H, 1998
- Võ Thanh Thu (chủ biên), Quan hệ thương mại- đầu tư giữa Việt Nam và
các nước thành viên ASEAN, Nxb Tài Chính, H, 1998
- TS Trần Minh Trưởng, Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh
giai đoạn 1954 - 1969, Nxb CAND, H, 2005
Trang 8- Trần Minh Trưởng, Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế- Một số vấn đề
nhìn từ tư tưởng ngoai giao Hồ Chí Minh, Tạp chí Thông tin lý luận, số
- Việt Nam hội nhập ASEAN: Hợp tác và phát triển NxbCTQG, H, 1997
- Viện Quan hệ quốc tế - Bộ Ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh với công
tác ngoại giao, Nxb Sự thật, H, 1990
- Vụ chính sách thương mại đa biên (Bộ Thương mại), Diễn đàn hợp tác
kinh tế Châu á - Thái Bình Dương, Nxb CTQG, H, 1998
- TS Lê Văn Yên, Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế,
Nxb Lao động, H, 1999
Ngoài ra, vấn đề cũng đựơc đề cập tới trong nhiều bài đăng trên các báo, tạp chí như: Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lịch sử Đảng, Nghiên cứu lịch sử, Lịch
sử quân sự.v.v.; Kỷ yếu hội nghị khoa học nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh
và chính sách đối ngoại của Đảng; Các luận án tiến sỹ khoa học lịch sử…
Nhìn chung, những công trình nói trên đã đề cập khá toàn diện những
cống hiến và quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên lĩnh vực đối ngoại, đặc biệt là tư tưởng của Người về ngoại giao và đoàn kết quốc tế Các công trình khoa học nói trên không chỉ làm rõ những giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ chí Minh mà còn đi sâu nghiên cứu vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại trong thời kỳ đổi mới trên nhiều phương diện của công tác đối ngoại
Trang 9Tuy nhiên, vấn đề hợp tác quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh mới chỉ
được đề cập tới ở mức độ nhất định và chưa có một công trình nào mang tính hệ thống về vấn đề này
3 - Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
- Mục tiêu nghiên cứu
+ Làm rõ hệ thống các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế
+Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế vào
sự nghiệp đổi mới hiện nay, nêu lên một số kiến nghị nhằm góp phần thực hiện
có hiệu quả chủ trương, đường lối quốc tế của Đảng
- Để đạt được các mục tiêu trên đề tài có các nhiệm vụ sau
+ Sưu tầm, hệ thống hoá theo vấn đề các tư liệu, bài nói và bài viết, hoạt
động của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến vấn đề hợp tác quốc tế
+ Tổ chức nghiên cứu, hệ thống hoá các luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế
+ Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn hơn hai mươi năm đổi mới đất nước, bối cảnh quốc tế và trong nước, đề tài nêu ra những yêu cầu, làm
rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ hình thức, đối tượng, nội dung, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình tham gia hợp tác quốc tế của nước ta hiện nay
+ Đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần thực hiện có hiệu quả chính sách hợp tác quốc tế phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay
4 - Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Vấn đề hợp tác quốc tế bao gồm nhiều lĩnh vực như: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá - xã hội, khoa học - kỹ thuật… Xuất phát từ yêu cầu về thời
Trang 10gian thực hiện của một đề tài cấp bộ, chúng tôi xin phép giới hạn phạm vi
nghiên cứu của đề tài ở những lĩnh vực chủ yếu sau: hợp tác quốc tế về kinh tế;
về văn hóa, khoa học - kỹ thuật
5 - Phương pháp nghiên cứu
Chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở phương pháp luận; phương pháp lịch sử- lôgíc, phân tích - tổng hợp là những phương pháp chủ yếu để chúng tôi thực hiện
đề tài
6 - Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm
có 2 chương, 7 tiết
Trang 11Chương 1
quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh
về hợp tác quốc tế
1.1- Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của hợp tác quốc tế
Hợp tác quốc tế là mối quan hệ qua lại giữa các quốc gia thuộc nhiều lĩnh vực hoặc những công việc, vấn đề cụ thể, được tiến hành theo những nguyên tắc đã thống nhất trên cơ sở giúp đỡ lẫn nhau, đồng thuận về mục đích
và lợi ích
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hợp tác quốc tế là một xu hướng tất yếu trong tiến trình phát triển lịch sử loài người Xu hướng đó sẽ ngày càng phát triển cả về bề rộng và chiều sâu trong thời kỳ hiện đại
Xuất phát từ sự phát triển không đều giữa các quốc gia, có nước phát triển nhanh và đạt tới trình độ tiên tiến, có nước chậm phát triển bởi nhiều nguyên nhân và đang ở trình độ lạc hậu Yếu tố khách quan đòi hỏi phải có sự hợp tác quốc tế còn bởi điều kiện tự nhiên Đó là sự khác biệt giữa các vùng khí hậu chi phối và tác động lớn đến sản xuất nông nghiệp; sự phân bố về tài nguyên chi phối việc cung ứng nguyên liệu, nhiên liệu cho các ngành công nghiệp…
Như vậy, yêu cầu khách quan của việc hợp tác quốc tế trước hết xuất
phát từ nhu cầu của sự phân công lao động, sự cung ứng nguyên liệu, nhiên liệu
và trao đổi hàng hoá nói chung, bên cạnh đó là yêu cầu của việc phải trao đổi,
kế thừa những thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học về tổ chức
và quản lý kinh tế - xã hội
Lịch sử phát triển loài người cho thấy rõ, không phải đến thời kỳ hiện
đại, sự hợp tác mới hình thành và phát triển mà trước đó rất lâu, khi loài người ở thời kỳ sơ sử, việc hợp tác, trao đổi đã manh nha Đó là sự phân công lao động
Trang 12tự nhiên khi nền kinh tế mới chỉ là hái lượm và săn bắt, sau đó là giữa trồng trọt
và chăn nuôi, giữa nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Xã hội loài người phát triển cao hơn đòi hỏi sự phân công lao động và hợp tác mang tính xã hội bởi sự hình thành các bộ tộc, các quốc gia, đồng thời vẫn bị chi phối, tác động và yêu cầu của các yếu tố tự nhiên Có bộ tộc, quốc gia với điều kiện thiên nhiên, thổ nhưỡng thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp thì nông nghiệp trở thành chủ đạo cho nền kinh tế Điều này thể hiện rất
rõ nét trong thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa Nước có điều kiện và tri thức khoa học kỹ thuật phát triển công nghiệp thì sản xuất công nghiệp trở thành chủ
đạo V I Lênin đã nhận xét: Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã vượt giới hạn của nền kinh tế làng xã, của các chợ địa phương, của từng vùng, rồi nó vượt giới hạn của từng quốc gia Yêu cầu của việc giao lưu và trao đổi hàng hoá đã xoá
bỏ tình trạng cô lập và đóng cửa giữa các quốc gia, thúc đẩy việc đi tìm thị trường ngoài biên giới, tìm nơi cung cấp nguyên liệu, tìm thị trường tiêu thụ hàng hoá Thực chất của tình hình này là vừa phát huy lợi thế tiềm năng của chủ nghĩa tư bản, vừa khai thác tiềm năng, thế mạnh của các quốc gia khác Sự hợp tác này có thể thực hiện bằng các hình thức huy động vốn, phương tiện máy móc kỹ thuật, khoa học và kinh nghiệm về tổ chức, quản lý, đào tạo chuyên gia, cung ứng nguyên liệu và hàng hoá tiêu dùng
Khi xã hội còn tồn tại các ý thức hệ tư tưởng khác nhau, đối lập nhau thì vấn đề hợp tác quốc tế không thể không bị chi phối bởi ý thức hệ tư tưởng Thực tiễn ấy đòi hỏi giới lãnh đạo các nước phải có nhãn quan chính trị sáng suốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, nguyên tắc kiên định, phương pháp phù hợp trong quá trình đề ra đường lối chiến lược, sách lược hợp tác quốc tế
Theo tiến trình lịch sử, nhiều tổ chức hợp tác quốc tế bao hàm cả hợp tác chính trị, quân sự, kinh tế - xã hội đã hình thành các tổ chức song phương hoặc
đa phương như Liên hợp quốc (UN) và các tổ chức trực thuộc; tổ chức Hiệp ước
Trang 13Bắc Đại Tây Dương (NATO); Hội đồng tương trợ kinh tế (COMECON - SEV) của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây; Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) và các tổ chức trực thuộc; Liên hiệp Châu Âu (EU), Thị trường chung Nam Mỹ (MECOSUR), Hiệp định buôn bán tự do Bắc Mỹ (NAFTA); Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC); Liên đoàn các nước ả Rập (AL); Tổ chức các nước Châu Mỹ (OAS); Tổ chức thống nhất Châu Phi (OAU); Tổ chức thương mại thế giới (WTO); Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dương (APEC); Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM), Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển và Nga (G 8); nhóm các nước đang phát triển (G 77); Phong trào không liên kết (NAM); Hiệp hội hợp tác khu vực Nam á (SAARC)… Có tổ chức tồn tại trong một thời kỳ lịch sử nhất định, nhiều tổ chức còn tồn tại, mở rộng phạm vi hoạt động có ảnh hưởng lớn trong thời kỳ đương đại và khẳng
định sự hợp tác quốc tế, hội nhập khu vực và toàn cầu hoá là xu hướng tât yếu không quốc gia nào không bị cuốn theo vòng xoáy thời đại
Từ sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công với sự ra đời của nhà
nước Xô Viết, một thuật ngữ mới được giới nghiên cứu lý luận quen dùng là Chủ
nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa Thuật ngữ này có tính khái niệm dùng để nói về
các nguyên tắc hợp tác giữa các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới trước đây Các nguyên tắc này được hình thành và phát triển trên cơ sở lý luận khoa học về chuyên chính vô sản của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học Thực hiện các nguyên tắc này trong quan hệ hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa và các nước có xu hướng đi lên chủ nghĩa xã hội với nhiều hình thức phong phú, đa dạng trên cơ sở cùng chung một ý thức hệ tư tưởng, một chế độ chính trị, kinh tế, xã hội vì lợi ích của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cùng chung kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc và các giai cấp bóc lột Trong quan hệ hợp tác giữa các nước này, cùng với sự liên minh về quân sự, chính trị là sự hợp tác giúp đỡ về kinh tế, khoa học - kỹ thuật, với các nguyên tắc cơ bản được xác
Trang 14định cụ thể và giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần anh em; tôn trọng độc lập và chủ quyền quốc gia; bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước Lịch sử phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới từ sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc (1945) đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX đã cung cấp những bằng chứng không thể bác bỏ về mô hình hợp tác quốc tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô làm trụ cột; những tổ chức quốc tế điều hành mối quan hệ hợp
tác này như Khối Hiệp ước Vacsava, Hội đồng tương trợ kinh tế cho thấy rõ sự
giúp đỡ, ủng hộ lẫn nhau với tinh thần vô tư, trong sáng, đoàn kết anh em và sự nhất trí cao với những nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa Đó là tiền đề bảo đảm giải quyết thắng lợi những nhiệm vụ của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, chống chiến tranh xâm lược, chống sự can thiệp của chủ nghĩa đế quốc trong phạm vi mỗi nước và trong cả hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới
Quan điểm Hồ Chí Minh về vấn đề hợp tác quốc tế hình thành từ những năm hai mươi của thế kỷ XX và trở thành quan điểm xuyên suốt qúa trình Người cùng Đảng ta lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, hợp tác quốc tế có vai trò hết sức quan trong đối với sụ tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia dân tộc
- Hợp tác quốc tế, và rộng hơn là đoàn kết quốc tế là nhân tố quyết định thành công của cách mạng giải phóng dân tộc
Quan điểm về sự cần thiết của đoàn kết và hợp tác quốc tế hình thành rất sớm trong tư tưởng của Nguyễn ái Quốc- Hồ Chí Minh Trên con dường tìm
đường cứu nước, khảo sát thực tiễn ở nhiều nước tư bản và thuộc địa, Người đã sớm nhận rõ, chủ nghĩa đế quốc là một hệ thống thế giới, chúng vừa tranh giành, xâu xé thuộc địa, vừa vào hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ yếu trong hệ thống thuộc địa của chúng Mỗi thuộc địa là một mắt khâu của chủ nghĩa đế quốc, do vậy cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của mỗi nước chỉ tiến hành riêng rẽ thì không thể giành thắng lợi được Người viết: “Các đế quốc chủ
Trang 15nghĩa liên lạc nhau, để đè nén các dân hèn yếu (Pháp liên lạc Tây Ban Nha để
đánh lấy An Nam, liên lạc Nhật để giữ An Nam, v.v.), các tư bản liên lạc nhau
để tước bác 1) thợ thuyền (tư bản Anh, Mỹ, Pháp liên lạc tư bản Đức để tước lục thợ thuyền Đức) Thợ thuyền các nước liên lạc nhau để chống lại tư bản (như Hội công nhân quốc tế) Chúng ta cách mệnh thì cũng phải liên lạc tất cả những đảng cách mệnh trong thế giới để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa”1
Hồ Chí Minh hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng của vấn đề đoàn kết, hợp tác quốc tế, tuy nhiên theo Người, sức mạnh hợp tác đó chỉ có thể có hiệu quả
và được nhân lên gấp bội nếu được tổ chức và hành động thống nhất Chính từ nhận thức đó Người đã tuyên truyền, vận động và hoạt động tích cực cho sự ra
đời của các tổ chức như Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa; Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á Đông Người tích cực tham gia các tổ chức quốc tế khác như Quốc tế Cộng sản, như Quốc tế Nông dân… Trên các diễn đàn của các tổ chức nói trên, Người luôn tuyên truyền, cổ động nhằm hiện thực hóa khẩu hiệu của Lênin vĩ đại : “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức liên hiệp lại” Người đã chỉ trích khá gay gắt thái độ chỉ nói mà không hành động của nhiều người trong các tổ chức của Quốc tế cộng sản, như Quốc tế Nông dân Trong bài phát biểu trên diễn đàn Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản, tháng 7-1924, Người nhắc lại luận điểm của Lênin: “Cách mạng ở phương Tây muốn giành thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch và vấn đề dân tộc, như Lênin đã dạy chúng ta, chỉ là một bộ phận của vấn đề chung về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản”2
Vận dụng sáng tạo quan điểm của Lênin về vấn đề thuộc địa, Chủ tịch
Hồ Chí Minh nêu ra luận điểm: Cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H, 1995, tr.281
2
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, NXB CTQG, H, 1995, tr.277
Trang 16cách mạng vô sản ở chính quốc có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc
Đó là mối quan hệ bình đẳng chứ không phải là quan hệ lệ thuộc, hoặc quan hệ chính – phụ Năm 1925, Hồ Chí Minh viết: “ Chủ nghĩa t− bản là môt con đỉa
có cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa Nếu muốn giết con vật ấy, nguời ta phải đồng thời cắt cả hai vòi Nếu nguời ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt
đứt lại sẽ mọc ra”1
Theo Hồ Chí Minh, Nhân dân các dân tộc thuộc địa có khả năng cách mạng to lớn; khối liên minh các dân tộc thuộc địa là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản Phát biểu tại Đại hội V Quốc tế cộng sản (6-1924), Nguời khẳng định vai trò, vị trí chiến luợc của cách mạng thuộc địa: “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nuớc đi xâm luợc thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa… Nọc độc và sức sống của con rắn độc t− bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn các nuớc chính quốc”2, nếu xem thuờng cách mạng ở thuộc địa tức là “muốn đánh chết rắn đằng đuôi” Vận dụng công thức của C.Mác: “sự giải phóng của giai cấp công nhân phải là sự nghiệp của bản thân giai cấp công nhân”, Nguời đ−a ra luận điểm: “Công cuộc giải phóng anh em (tức nhân dân thuộc địa ) chỉ có thể thực hiện đuợc bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”3
Do nhận thức đuợc vai trò, vị trí chiến luợc của cách mạng thuộc địa,
đánh giá đúng sức mạnh dân tộc, năm 1921, Nguyễn ái Quốc cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể giành thắng lợi truớc cách mạng vô
Trang 17sản ở chính quốc Nguời viết: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực luợng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những nguời an hem mình ở phương Tây trong nhiệm
vụ giải phóng hoàn toàn”1
Trong tác phẩm Đuờng kách mệnh, Hồ Chí Minh có sự phân biệt về
nhiệm vụ của cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc và cho rằng: hai thứ cách mạng đó tuy có khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau Nguời nêu ví dụ: “An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ Và nếu công nông Pháp làm cách mệnh thành công, thì dân tộc An Nam sẽ đuợc tự do”
Đây là một luận điểm sáng tạo, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn; một cống hiến rất quan trọng của Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, đã đuợc thắng lợi của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trên toàn thế giới trong gần một thế kỷ qua chứng minh là hoàn toàn đúng đắn Xuất phát từ luận điểm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đoàn kết, hợp tác quốc tế là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Ngay trong quá trình vận động thành lập Đảng, Người đã chỉ rõ cách mạng Việt Nam muốn thành công thì phải có sự giúp đỡ quốc tế Người khẳng
định: “Cách mệnh An Nam là một bộ phận trong cách mệnh thế giới Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”2 Đó là quan
điểm nhất quán chỉ đạo mọi hoạt động quốc tế của Đảng ta từ khi ra đời cho
Trang 18- Hợp tác quốc tế góp phần làm tăng nguồn lực của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng đất nước
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí minh đã thấy rõ muốn xây dựng lại đất nước, cải thiện đời sống nhân dân, Việt Nam cần đến sự giao lưu, hỗ trợ quốc
tế về vốn, máy móc và chuyên gia kỹ thuật Cuối năm 1946, Trong Lời kêu gọi
Liên hợp quốc, Người khẳng định Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
chủ trương mở cửa, và hợp tác quốc tế trong mọi lĩnh vực Ngày 16-7- 1947, trả lời một nhà báo nước ngoài, Người nêu rõ rõ mục đích chính sách mở cửa, hợp tác quốc tế của Việt Nam là nhằm “làm cho tư bản Việt Nam phát triển Đồng thời chúng tôi hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước khác thật thà cộng tác với chúng tôi Một là để xây dựng lại Việt Nam sau lúc bị chiến tranh tàn phá, hai là để điều hòa kinh tế thế giới và giữ gìn hoà bình”1
Quan điểm về mở cửa, và tham gia hợp tác kinh tế quốc tế vừa nhằm phục vụ lợi ích phát triển kinh tế Việt Nam vừa tham gia “điều hòa kinh tế thế giới và giữ gìn hoà bình”, mặc dù được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra cách đây
đã hơn 60 năm, đến nay vẫn còn nguyên giá trị
Năm 1954, hoà bình được lập lại trên một nửa đất nước, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quan hệ ngoại giao với nhiều nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cương vị là người lãnh đạo cao nhất của Nhà nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm nhiều nước trên thế giới; tiếp và làm việc với nhiều tổ chức quốc tế, các chính khách, các doanh nhân, các ký giả tới thăm và làm việc tại Việt Nam Trong những dịp này, Người luôn thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam là sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các nước, kể cả với chính phủ các nước trước đây đã đưa quân xâm lược Việt Nam Người khẳng định, Đảng và Nhà nước Việt Nam sẵn sàng gác lại quá khứ để thực hiện
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, NXB CTQG, H, 1995, tr.170
Trang 19việc hội nhập, hợp tác kinh tế với mọi đối tác Ngày 5 - 10 - 1959, khi trả lời báo Axahi Simbun (Nhật Bản) về việc Nhật Bản bồi thường chiến tranh, Người nêu rõ lập trường của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là: “Vấn đề cốt yếu trong quan hệ giữa hai nước không phải là việc bồi thường, mà là tình đoàn kết hợp tác giữa hai dân tộc Việt - Nhật” 1 Người thông báo: “ Chúng tôi đã cố gắng duy trì những quan hệ buôn bán giữa Việt Nam với một số công ty Nhật Bản Chúng tôi cần nhiều dụng cụ, máy móc và hàng hoá của tất cả các nước chúng tôi có thể cung cấp cho những nước ấy lương thực, cây công nghiệp
và khoáng sản ” 2 Với các nhà tư bản Pháp, Hồ Chí Minh nhiều lần nói rõ: Chính phủ và nhân dân Việt Nam hoan nghênh việc họ đầu tư khai thác và hợp tác xây dựng kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật với Việt Nam
Tóm lại, Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, hợp tác quốc tế có vai trò to lớn trong
sự nghiệp và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc
- Thứ nhất, để thu hút ngoại lực bổ sung cho những mặt còn yếu và còn
thiếu trong công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ đất nước
- Thứ hai, Thông qua hợp tác quốc tế, tham gia giải quyết những vấn đề
chung của thế giới và khu vực, góp phần tăng cường củng cố hoà bình, hữu nghị với các dân tộc khác, nhất là với các nước anh em bè bạn và các nước láng giềng
- Thứ ba, Hợp tác quốc tế tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta tiếp thụ
những thành quả khoa học - kỹ thuật, kinh nghiệp quản lý của các nước tiên tiến, nâng cao năng lực quản lý, trình độ của đội ngũ khoa học kỹ thuật và người lao động Qua đó nâng cao nâng cao năng lực của nền kinh tế, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
Trang 20- Thứ tư, trong điều kiện vừa xây dựng đất nước, vừa phải tiến hành cuộc
chiến tranh cách mạng nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế còn nhằm tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo
đảm sức mạnh bảo vệ tổ quốc, giữ gìn an ninh và trật tự xã hội
Đánh giá cao vai trò của sự giúp đỡ quốc tế, song Chủ tịch Hồ Chí minh luôn luôn nhấn mạnh vai trò quyết định của yếu tố bên trong Người chỉ rõ, muốn đất nước phát triển cường thịnh tất yếu phải hội đủ cả nhân tố bên trong
và nhân tố bên ngoài, trong đó nhân tố bên trong cực kỳ quan trọng Điều quan trọng hơn là phải có đủ và phát huy tốt yếu tố bên trong (nội lực) thì mới sử dụng có hiệu quả các yếu tố bên ngoài Chúng ta phải độc lập tự chủ, tự lực tự cường trong xây dựng đất nước không có nghĩa là thực hiện đóng cửa mà ngược lại, phải coi trọng việc mở rộng giao lưu, tăng cường hợp tác quốc tế với nhiều
đối tác nhằm tạo mối quan hệ kinh tế đa phương, đa dạng Có mở rộng quan hệ
đa phương chúng ta mới có điều kiện phát huy hết tiềm năng của nội lực và ngược lại, khi chúng ta phát huy được sức mạnh nội lực chính là tạo điều kiện tiếp nhận
được sự giúp đỡ của các mối quan hệ hợp tác bên ngoài, khả năng để chúng ta thực hiện quá trình hội nhập quốc tế sẽ càng thuận lợi
Hiện nay xu hướng cùng tồn tại hoà bình, hội nhập để hợp tác và phát triển đang đặt ra yêu cầu các quốc gia - dân tộc cần thấy rõ hơn việc phải xây dựng mối quan hệ hữu nghị, giải quyết các cuộc tranh chấp, xung đột bằng hoà bình và thương lượng Yêu cầu ấy còn xuất phát từ thực tại khách quan bởi sự phát triển như vũ bão của công nghệ và tin học Sự phát triển đó làm trái đất dường như nhỏ lại; các quốc gia, dân tộc ở các phương trời khác nhau cảm thấy rất gần gũi; mọi biến thái ở bất kì nơi nào trên hành tinh đều làm mỗi người cảm nhận như đang diễn ra trên quê hương mình Sự phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ một mặt nâng cao đời sống con người, mặt khác, đang đặt loài người trước những thảm hoạ không lường như môi trường ô nhiễm, tài
Trang 21nguyên cạn kiệt, cân bằng sinh thái bị phá huỷ và hơn thế nữa, kho vũ khí hạt nhân của một số ít nước có sức công phá gấp nhiều lần việc làm nổ tung trái
đất Nếu các quốc gia và cả loài người không đoàn kết, không hợp tác thì không thể ngăn chặn được những thảm hoạ nói trên
Từ xưa đến nay, thông thường trong hợp tác quốc tế, các đối tác đều phải tuân thủ theo những nguyên tắc và yêu cầu nhất định Có thể đó là những yêu cầu theo thông lệ luật pháp quốc tế, hoặc giả là những thoả thuận song phương hoặc đa phương
1.2.1 Quan điểm về nguyên tắc trong hợp tác quốc tế
Vấn đề hợp tác quốc tế đã được Hồ Chí Minh quan tâm chỉ đạo và trực tiếp thực hiện ngay trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám 1945, nhằm một mục tiêu: phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Do đó, quan điểm chỉ đạo của Người là: tăng cường hợp tác, đoàn kết với giai cấp vô sản và các lực lượng cách mạng trên toàn thế giới, không phân biệt màu da, không phân chia dân tộc, cốt tập hợp mọi lực lượng, nhằm đánh đổ chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc
Như chúng ta đã biết, với việc ra đi tìm đường cứu nước (1911), quá trình khảo sát, nghiên cứu thực tiễn ở các nước phương Tây, châu Phi, châu Mỹ, đã cho phép Nguyễn Tất Thành kết luận: Dù là người da vàng, da trắng hay da
đen, trên thế giới hiện nay chỉ có hai loại người: những kẻ đi bóc lột và những người bị bóc lột; những kẻ đi thống trị và những người bị thống trị Từ đó Người khẳng định: nhân dân lao động ở đâu cũng là bạn, chủ nghĩa đế quốc ở
đâu cũng là thù Như vậy, ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã đưa ra nhận định có tính nguyên tắc: phân biệt bạn - thù để từ đó xác định mối quan hệ và hợp tác
Đặc biệt, sau sự kiện Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp
Trang 22gửi Bản yêu sách 8 điểm đến Hội nghị Vécsai (1919) và bị từ chối, Nguyễn ái Quốc khẳng định rằng, những lời tuyên bố về tự do, bình đẳng bác ái của chủ nghĩa đế quốc chỉ là trò lừa bịp Do đó, các dân tộc bị nô dịch muốn được giải phóng, thì phải hợp tác, đoàn kết lại, ủng hộ, giúp đỡ nhau làm cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại
Với tư tưởng đó, tháng 7 năm 1921, Người đứng ra thành lập Hội Liên
hiệp các dân tộc thuộc địa, với cơ quan ngôn luận là tờ báo “Người cùng khổ”-
sự thể hiện một bước trưởng thành trong nhận thức và hành động của Người về quan điểm hợp tác quốc tế để tiến hành cách mạng Người nói: “Mọi chế độ thực dân đế quốc đều tiêu diệt hết các nòi giống bản xứ và muốn cứu vãn những nòi giống này, ta phải lật đổ chủ nghĩa đế quốc”1; “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là
sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”2 Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, cho nên muốn làm cách mạng thắng lợi, phải đoàn kết, hợp tác với những người đồng chí của mình trên toàn thế giới
Kiên trì vận động mọi người ủng hộ quan điểm tăng cường sự hợp tác quốc
tế, nhất là mong muốn thiết lập mối quan hệ đặc biệt giữa những chiến sĩ cộng sản, ngày 21 tháng 4 năm 1924, khi còn đang học ở Trường Đại học Phương
Đông, Nguyễn ái Quốc đã viết thư gửi đồng chí Pêtơrốp (Petrov) – Bí thư Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, đề nghị thành lập “Tiểu ban Phương Đông” và
“Nhóm châu á” ngay trong trường, để các sinh viên có dịp giao lưu trao đổi kinh nghiệm cách mạng với nhau Một tháng sau, Người lại gửi tiếp một bức
thư cho Ban Phương Đông QTCS, đề nghị cho thành lập Liên đoàn cộng sản
phương Đông Hồ Chí Minh nói rằng, Người có ý tưởng này trong đầu đã lâu và
cảm thấy phải có nghĩa vụ chia sẻ điều đó với người khác Nhận xét về ý tưởng
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, NXB CTQG H 1995, tr.340
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, NXB CTQG H 1995, tr.416
Trang 23này của Người, nhà nghiên cứu Sôphia Quyn viết: “Mối quan tâm của ông là
Đối với Hồ Chí Minh: “Sẽ rất hữu ích nếu như người An Nam biết những
người anh em Hinđu của họ đã hợp nhất chống lại đế quốc Anh như thế nào, hay những công nhân Nhật Bản đã sát cánh bên nhau đấu tranh với chế độ bóc lột tư bản ra sao, những người Ai Cập đã hy sinh cao cả để đòi quyền tự do
Tiếp tục vận động thực hiện quan điểm đẫ đề ra, ngày 9 tháng 7 năm
1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn ái Quốc đã cùng với một số đồng chí Trung Quốc, ấn Độ, Triều Tiên, Miến Điện, thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức á Đông Rõ ràng, trong nhận thức, Hồ Chí Minh hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng của vấn đề đoàn kết, hợp tác quốc tế, tuy nhiên theo Người, sức mạnh hợp tác đó chỉ có thể có hiệu quả và được nhân lên gấp bội nếu được tổ chức và hành động dưới sự chỉ đạo thống nhất của Quốc tế cộng sản Chính vì vậy, Người đã chỉ trích khá gay gắt thái độ chỉ nói mà không hành động của nhiều người trong các tổ chức của Quốc tế cộng sản, như Quốc
tế Nông dân.Trong bài phát biểu trên diễn đàn Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản, tháng 7-1924, Người nhắc lại luận điểm của Lênin: “Cách mạng ở phương Tây muốn giành thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch và vấn đề dân tộc, như Lênin đã dạy chúng ta, chỉ là một bộ phận của vấn đề chung về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản”3
Người còn khẳng định, cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa có thể nổ ra và giành thắng lợi trứơc cách mạng vô sản ở chính quốc Nhưng cách
1
Sôphia Quyn, Hồ Chí Minh những triển vọng nghiên cứu mới qua hồ sơ lưu trữ của Quốc tế cộng sản Tài liệu
ĐM Bản tiếng Anh lưu tại Viện Hồ Chí Minh, tr 7-8
2
Dẫn theo.Sôphia Quyn, tlđd, tr.8
3
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, NXB CTQG, H, 1995, tr.277
Trang 24mạng có nổ ra và giành thắng lợi được hay không, là do giai cấp vô sản thế giới
có hợp tác, đoàn kết chặt chẽ, lãnh đạo giai cấp nông dân thuộc địa làm cách mạng hay không - vì nông dân ở các nước thuộc địa chiếm hơn 90% dân số Vì vậy, Người yêu cầu Quốc tế cộng sản phải tích cực giúp đỡ cách mạng thuộc
địa nhiều hơn nữa, theo Người: “Nếu hiện nay nông dân vẫn còn trong tình
trạng tiêu cực, thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo Quốc tế cộng sản cần phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ
Với việc đứng ra thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam - sau đó trở thành một chi bộ của Quốc tế cộng sản 2- 1930, Người khẳng định đưa cách mạng Việt Nam phát triển theo đường lối cách mạng vô sản, đường lối của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời cũng chứng tỏ tính đúng đắn về mặt quan điểm hợp tác quốc tế của Hồ Chí Minh Chính Người đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào cộng sản và công nhân thế giới Tư tưởng hợp tác, đoàn kết các lực lượng của dân tộc với lực lượng cách mạng thế giới đã từng bước được Người hiện thực hóa
Nhận xét về vấn đề này, ông C.P Ragiô trong tác phẩm Hồ Chí Minh đã
nói: “Đối với Hồ Chí Minh chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa
quốc tế.”2
Thời gian từ cuối năm 1938 đến cuối năm 1940, Hồ Chí Minh về hoạt
động ở Trung Quốc và tham gia vào cuộc chiến tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc(trong vai thiếu tá Hồ Quang, tập đoàn quân số 18, tức Bát lộ quân) Trong thời gian này, quan điểm hợp tác quốc tế của Hồ Chí Minh được thể hiện bằng việc vận động các lực lượng dân chủ, tiến bộ, hợp thành một mặt trận chống phát xít Hàng loạt bài báo, ký bút danh Bình Sơn; P Lin gửi về Việt Nam, kêu gọi nhân dân Việt Nam ủng hộ nhân dân Trung Quốc kháng Nhật:
Trang 25“Cứu Trung Quốc tức là tự cứu mình” Các bài báo này được đăng trên nhiều
báo ở Hà Nội và Sài Gòn, chủ yếu là báo Dân chúng (Cơ quan ngôn luận của
Đảng) và Notrevoix (Tiếng nói của chúng ta)
Đầu năm 1941, Hồ Chí Minh bắt được liên lạc và trở về nước Quan điểm
về hợp tác quốc tế của Người được thể hiện rõ qua Nghị quyết Hội nghị Trung
ương lần thứ 8 (5-1941), với việc Người chỉ đạo thành lập Mặt trận Việt Nam
độc lập Đồng minh (tức Việt Minh), trong đó đưa ra Chương trình Việt Minh, kêu gọi nhân dân gương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tích cực chuẩn bị lực lượng, đứng về phe Đồng minh chống phát xít, thành lập các hội “cứu quốc” chờ thời cơ tổng khởi nghĩa Hội nghị cũng nhìn nhận lại tình hình Đông Dương và đặt vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước, nhằm phát huy cao độ tinh thần yêu nước của nhân dân mỗi dân tộc, đồng thời vẫn thể hiện sự gắn bó cùng chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Đông Dương Cũng trong thời
kỳ này, dưới sự chỉ đạo của Người, Việt Minh đã liên lạc và giúp đỡ tích cực cho lực lượng Đồng minh chống phát xít lúc đó đang có mặt ở Việt Nam, (nhóm “Con Nai” của Mỹ) Điều đó cho thấy tư tưởng chỉ đạo về hợp tác quốc
tế của Hồ Chí Minh luôn luôn kiên định và chứng tỏ tính hiệu quả bằng thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945
Ngay sau khi giành được độc lập, vấn đề hợp tác quốc tế là một trong những vấn đề quan trọng nhất được Hồ Chí Minh quan tâm và trực tiếp chỉ đạo
về chủ trương, đường lối và xây dựng chính sách cụ thể Người đề ra một số quan điểm mang tính nguyên tắc chỉ đạo hoạt động hợp tác quốc tế của Đảng
và Nhà nước ta như sau :
Một là, sẵn sàng mở rộng hợp tác với tất cả các nước, trên nguyên tắc tôn
trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi
Trong bản Thông cáo về “Chính sách ngoại giao của Chính phủ lâm thời”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ vấn đề hợp tác với từng đối tượng Đối với các nước đồng minh chống phát xít: “Việt Nam hết sức thân thiện và thành thực
Trang 26hợp tác trên lập trường bình đẳng, tương ái” Đối với kiều dân Pháp thực sự tôn trọng độc lập của Việt Nam thì tính mệnh và tài sản của họ được bảo vệ theo luật pháp quốc tế, còn “riêng với chính phủ Pháp Đờ Gôn, chủ trương thống trị Việt Nam, thì kiên quyết chống lại Đối với các nước láng giềng, như Trung Hoa, vốn có quan hệ lịch sử lâu đời thì: “thắt chặt tình thân ái, khiến hai dân tộc Việt - Hoa tương trợ mà cùng tiến hóa”; Với Ai Lao và Cao Miên cùng chung số phận với Việt Nam thì “tương trợ để thực hiện và củng cố sự độc lập, giúp đỡ lẫn nhau để kiến thiết và sánh vai ngang hàng mà tiến hóa”; “Với các nước nhược tiểu dân tộc trên toàn cầu, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng thân thiện, hợp tác chặt chẽ trên nguyên tắc bình đẳng để ủng hộ lẫn nhau trong xây dựng và giữ vững nền độc lập”1
Có thể coi Thông cáo chính sách ngoại giao (3-10-1945) như là một giác
thư của Nhà nước Việt Nam gửi đến cộng đồng quốc tế, khẳng định những quan điểm dân chủ, tiến bộ, nhân đạo, hòa bình và sẵn sàng hợp tác của nhân dân ta với cộng đồng quốc tế Các quan điểm đó hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển của quan hệ quốc tế sau chiến tranh, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của nhân dân các nước trên thế giới
Cũng trong thời gian này, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Hồ Chí Minh đã gửi hàng chục bức thông điệp, điện văn tới Chủ tịch Hội đồng Liên hiệp quốc, các vị đứng đầu Nhà nước và Ngoại trưởng các cường quốc, Chính phủ một số nước á Phi, cho các tổ chức Liên đoàn ảrập, Hội nghị Liên Phi vv yêu cầu các nước công nhận nền độc lập của Việt Nam, đồng thời ngỏ
ý sẵn sàng hợp tác trên nhiều lĩnh vực
Trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc, (tháng 12-1946) Hồ Chí Minh nêu rõ:
“Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa
Trang 27a/ Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình
b/Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường xá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế
c/Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc
tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc”1
Quan điểm sẵn sàng mở rộng hợp tác kể cả với Pháp - một nước vốn cai trị, áp bức dân tộc Việt Nam trong gần một thế kỷ, tuy nhiên sự hợp tác phải dựa trên những nguyên tắc nhất định Đó là nguyên tắc hợp tác một cách bình
đẳng và cùng có lợi
Trong bộn bề khó khăn, cùng một lúc phải chống cả thù trong giặc ngoài, Hồ Chí Minh vẫn hết sức coi trọng việc xây dựng mối quan hệ hợp tác Việt - Trung; Việt - Pháp, tỏ rõ thiện chí của Chính phủ và nhân dân ta mong muốn hoà bình, hữu nghị với tất cả các nước
Trong bài phát biểu đáp từ Thủ tướng Pháp Biđôn (7-1946), cũng như các tuyên bố ngoại giao, trả lời phỏng vấn… trong chuyến thăm nước pháp, Người luôn kiên định lập trường sẵn sàng hợp tác với Chính phủ và nhân dân Pháp Người tuyên bố Việt và Pháp là hai dân tộc tự do, bình đẳng, đều có lý tưởng dân chủ, đều ham muốn tự do chúng ta đã gạt bỏ đế quốc chủ nghĩa cường quyền và quốc gia chủ nghĩa chật hẹp, vì cả hai đều không hợp thời Chúng ta
đều được kích thích bởi một tinh thần Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây, đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”…
“Chúng tôi cần đến nước Pháp trong lĩnh vực văn hóa và kinh tế…để làm cho nước Việt Nam phồn vinh…Tôi đến đây để hòa giải Tôi không muốn về Hà Nội với hai bàn tay trắng Tôi mong muốn trở về với những kết quả cụ thể, một
sự khẳng định tương lai hợp tác mà chúng tôi mong đợi”2
Trang 28Bằng các hoạt động tích cực đó, Hồ Chí Minh đã làm cho bạn bè trên thế giới biết đến khát vọng, ý chí độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam, bày tỏ quan điểm thiện chí sẵn sàng hợp tác của Việt Nam với bạn bè quốc tế Tuy lời kêu gọi hợp tác đầy thiện chí mà Hồ Chí Minh đưa ra không được Liên hợp quốc cũng như nhiều nước trong phe đồng minh hưởng ứng, song Người vẫn kiên trì giữ vững quan điểm đó
Tháng 1-1950, trong Tuyên bố khi đi thăm nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Chủ tịch
Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào trọng quyền bình
đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hoà bình và xây đắp dân chủ thế giới.”1 Quan điểm đó vừa phù hợp với thực tại lịch sử, vừa giữ bản sắc truyền thống Việt Nam, vừa đúng với luật pháp và quy định quốc tế Do đó vừa phát huy được tiềm năng sức mạnh của dân tộc, vừa tận dụng được sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế
Ngày nay, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hợp tác bình đẳng và cùng có lợi vẫn là một trong những quan điểm mang tính quyết định đến kết quả của sự hợp tác, đồng thời đảm bảo sự bền vững trong quan hệ hợp tác lâu dài, không chỉ vận dụng cho phạm vi quốc gia mà còn trở thành điều kiện tiên quyết trong hợp tác quốc tế của tất cả các nước trên thế giới
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, vấn đề hợp tác nói chung và nhất là hợp tác quốc tế nói riêng, chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau, nêu cao nhân nghĩa và đạo lý trong quan hệ quốc tế, trân trọng
thành quả của sự hợp tác
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập, tập 6, sđ d, tr 7-8
Trang 29Về quan điểm tự nguyện trong hợp tác quốc tế, Hồ Chí Minh hoàn toàn tán đồng với quan điểm của V.I.Lênin, Người viết: “Lênin đã dạy rằng: “Không
có sự cố gắng của giai cấp vô sản và sau đó là của toàn thể quần chúng lao
động tất cả các nước và các dân tộc trên thế giới, hướng tới sự liên minh và thống nhất với nhau, thì việc chiến thắng chủ nghĩa tư bản không thể nào hoàn thành có kết quả được.”1 Hồ Chí Minh khẳng định, người ta chỉ có thể hợp tác chặt chẽ với nhau khi mối quan hệ hợp tác đó là hoàn toàn tự nguyện, không có
sự ép buộc và bất bình đẳng
Quan điểm tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau trong quan hệ hợp tác quốc
tế trong điều kiện hiện nay, cũng chính là việc giữ vững mục tiêu và nguyên tắc
đã lựa chọn, thoả thuận Không vì sức ép từ bên ngoài, hay lợi nhuận trước mắt
mà nhượng bộ, phá vỡ nguyên tắc, đi chệch mục tiêu đã định trước Trong khi thực hiện lộ trình hội nhập theo xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá, phải biết tiếp thu có chọn lọc, chỉ mở cửa du nhập những cái gì phù hợp với điều kiện hoàn cảnh nước ta Đặc biệt là biết đi tắt, đón đầu, nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới
để rút ngắn thời gian, đẩy mạnh quá trình hội nhập Đồng thời, phải tỉnh táo nhận ra và ngăn chặn kịp thời những thủ đoạn lừa bịp, những thói hư tật xấu - mặt trái của cơ chế thị trường, sự truyền bá lối sống thực dụng, văn hoá đồi trụy vv, đó là những vấn đề luôn luôn song hành với quá trình hội nhập
Ba là, các nước trên thế giới tăng cường trao đổi, hợp tác với nhau, cùng
theo đuổi chính sách chung sống hòa bình, giải quyết các vấn đề mâu thuẫn,
tranh chấp thông qua đối thoại, đàm phán không dùng vũ lực
Có thể khẳng định rằng, tư tưởng hoà bình hợp tác hữu nghị luôn thường trực trong con người Hồ Chí Minh Cho đến những ngày cuối cùng của cuộc
đời, dù đang lâm bệnh nặng, trong lá thư viết gửi Níchxơn ngày 25 – 8 - 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khẳng định: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, NXB.CTQG H 2000, tr 345
Trang 30chuộng hoà bình, một nền hoà bình chân chính trong độc lập và tự do thực sự.”1
Khi phải tiến hành cuộc đấu tranh một mất một còn với bọn thực dân để
giành độc lập dân tộc, Người cũng luôn luôn tìm kiếm mọi cơ hội có thể hợp tác để thay cho một cuộc chiến bạo lực Hồ Chí Minh nói: “Về quan hệ quốc tế,
chúng tôi luôn luôn trung thành với chính sách hòa bình và hợp tác giữa các nước trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hòa bình.”2
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn
thể hiện tư tưởng nhất quán, mong muốn đoàn kết, hợp tác hữu nghị với tất cả
các dân tộc trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, sắc tộc, địa lý Quan
điểm của Người giờ đây trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế, không chỉ đúng với đường lối đối ngoại của Việt Nam, mà với
tất cả các quốc gia trên thế giới
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, muốn giữ được độc lập dân tộc và phát triển
đất nước, phải tăng cường đoàn kết và hợp tác quốc tế, lấy tinh thần thiện chí,
hoà bình để giải quyết những bất đồng, trên cơ sở gắn lợi ích dân tộc với lợi ích
các nước trong khu vực và lợi ích chung của nhân loại Đặc biệt, trong điều kiện quan hệ quốc tế hiện nay, xu thế toàn cầu hoá không cho phép bất cứ một
quốc gia nào, dù mạnh đến đâu có thể tách mình ra khỏi thế giới, đặc biệt là những vấn đề mang tính toàn cầu, nếu không đoàn kết, hợp tác thì không thể nào giải quyết được Ví dụ : vấn đề ô nhiễm môi trường, vấn đề hiệu ứng nhà
kính, vấn đề nguồn nước vv Trong bối cảnh đó, người ta lại thấy tầm nhìn vượt trước thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghiã lớn lao không chỉ trên phạm vi quốc gia mà cả trên bình diện toàn cầu
Chúng ta đang sống trong một trật tự thế giới mới, từ “lưỡng cực” chuyển
sang “một cực”, từ xu thế đối đầu, chiến tranh lạnh, chuyển sang xu thế liên
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tâp12, sđ d, tr 488
2
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tâp 9, sđ d, tr.52
Trang 31kết, hoà hoãn, chung sống hoà bình hội nhập và cùng phát triển Việt Nam (nói riêng) và thế giới (nói chung), dù muốn hay không cũng không thể đi ngược với
xu thế của thời đại, xu thế của sự phát triển Tuy nhiên, có thể nói, những vấn đề cơ bản của thời đại ngày nay cùng xu hướng phát triển của nó đã được Hồ Chí Minh tiên liệu, giải quyết từ những năm đầu thập niên năm mươi của thế kỷ trước
Bởi vì Người đã nhìn thấy cho dù thế giới có biến chuyển thế nào, thì nhu cầu về hoà bình, độc lập dân tộc, về quyền con người của nhân dân ở tất cả các quốc gia vẫn không hề thay đổi Cho nên, chỉ có thể hợp tác với nhau, cùng nhau theo đuổi chính sách chung sống hoà bình, cùng phát triển Quan điểm đó cũng chính là nền tảng lý luận, là chiếc cầu trên con đường nhận thức đưa Việt Nam bước vào thế giới hiện đại
Bốn là, thiết lập mối quan hệ hữu nghị và hợp tác bền chặt với các nước
láng giềng, khu vực
Chủ trương tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác bền chặt với các nước láng giềng, các nước trong khu vực Đông Nam á và châu á Trong đó, Trung Quốc là ưu tiên số một: Quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc như môi với răng, môi hở thì răng lạnh; “Giúp Trung Quốc tức là giúp mình” Xây dựng quan hệ hợp tác với các nước trên bán đảo Đông Dương: đoàn kết, tin cậy lẫn nhau, đây là mối quan hệ đặc biệt Quan hệ với các nước trong khu vực Inđonêxia, ấn Độ, Miến Điện(Mianma) là các đối tác trong khu vực gần gũi, thân thiện
Để có sự hợp tác chặt chẽ, chân thành với các nước láng giềng, khu vực, một mặt Hồ Chí Minh chỉ đạo tăng cường tuyên truyền, vận động để họ hiểu tinh thần hợp tác, thiện chí chúng ta, mặt khác, Người luôn luôn khẳng định nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung Quan
điểm của Hồ Chí Minh được thể hiện rõ bằng tuyên bố: “Thái độ nước Việt
Trang 32Nam với những nước á châu là một thái độ anh em”1, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau, cùng tiến tới mục tiêu, giành thắng lợi chung
Năm là, xây dựng chính sách và xử lý mềm dẻo, linh hoạt trong quan hệ
hợp tác với các nước lớn
Các nước lớn luôn có vị trí và ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế Quan hệ hợp tác giữa các nước lớn với nhau thường có tính chất đấu tranh trong thỏa hiệp để gây ảnh hưởng đến các nước nhỏ yếu Do đó coi trọng và xử lý đúng
đắn, xây dựng chính sách hợp tác mềm dẻo với các nước lớn mang ý nghĩa quan trọng đến sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế của nước ta cũng như trên thế giới
Quan điểm của Hồ Chí Minh khi hoạch định, xây dựng chính sách quan
hệ, hợp tác với các nước lớn là phải khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt Đồng thời phải kiên trì đấu tranh, không ảo tưởng, giữ vững lập trường, nguyên tắc theo mục tiêu chiến lược của cách mạng, giữ vững độc lập tự chủ, không dao động ngả nghiêng trước bất cứ áp lực nào “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”
Độc lập, tự chủ không có nghĩa là tự cô lập, tách rời dân tộc với thời đại Trong mối quan hệ dân tộc và quốc tế, Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh tinh thần độc lập tự chủ “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, tự lực cánh sinh dựa vào sức mình là chính, coi sức mạnh bên trong bao giờ cũng là yếu tố quyết định;
đồng thời Người cũng khẳng định: cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, muốn giành được thắng lợi, cách mạng Việt Nam phải tranh thủ được sự ủng hộ giúp đỡ của cách mạng thế giới, đặc biệt là tranh thủ
được sự ủng hộ của các nước lớn Quan điểm của Người đã chứng tỏ tính hiệu quả trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cụ thể là trong việc xử lý mối quan hệ giữa Việt Nam - Liên Xô - Trung Quốc và Mỹ
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, sđ d, tr 136
Trang 33Vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh, hiện nay trong vấn đề quan hệ, hợp tác với các nước lớn được Đảng ta luôn xử lý theo chiều hướng cân bằng về quyền lợi, về mức độ ảnh hưởng Trong quá trình hợp tác với đối tác là các cường quốc, phải tạo được mối liên hệ cộng đồng lợi ích, để từ đó buộc họ vừa
có trách nhiệm bảo vệ lợi ích của mình, đồng thời bảo vệ lợi ích của chúng ta
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mọi hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế của nhà nước ta cần phải tuân thủ những nguyên tắc sau:
Một là: Trong hợp tác quốc tế, luôn phải đặt quyền lợi của quốc gia, dân
tộc, của nhân dân phải đặt lên hàng đầu; phải biết tranh thủ các điều kiên quốc
tế thuận lợi để gia tăng nguồn lực phát triển quốc gia Hợp tác quốc tế phải làm tăng sức mạnh của đất nước và làm giàu bản sắc dân tộc
Hai là: Trong hợp tác quốc tế, Phải luôn chủ động không trông chờ, ỷ lại,
không phụ thuộc, phải căn cứ vào năng lực của đất nước và tình hình quốc tế
để quyết định mức độ hợp tác trong trong lĩnh vực cụ thể
Độc lập, tự chủ là đặc điểm quán xuyến trong toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh, từ buổi đầu ra đi tìm đường cứu nước, lựa chọn con đường giải phóng dân tộc, xác định đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam, cho đến việc hoạch định các chủ trương chính sách cụ thể của Đảng, Nhà nước ta mỗi thời
kỳ, trong đó đặc biệt là việc xây dựng đường đối lối ngoại và hợp tác quốc tế
Độc lập, tự chủ tức là dựa vào sức mình là chính, có tham khảo, chọn lọc kinh nghiệm, bài học của quốc tế, nhưng tự mình phải suy nghĩ, tìm tòi, định ra những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm giải quyết công việc của đất nước Chỉ khi nào có độc lập tự chủ trong việc hoạch định đường lối, chính sách, khi đó mới chủ động trong hợp tác quốc tế Nguyên tắc là chủ động không chịu bất cứ một sức ép nào từ bên ngoài(trong vấn đề hợp tác với ai, điều kiện gì ), không để “biến thành con bài trong tay của người khác”, vì lợi ích trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài, lợi ích quốc gia
Trang 34Mức độ độc lập tự chủ trong hợp tác quốc tế một phần phụ thuộc vào thực lực, vị thế chính trị, kinh tế, quân sự của đất nước, nhưng cũng còn phụ thuộc vào trình độ tư duy, trí tuệ, kinh nghiệm, phương pháp, khả năng ứng xử, của
Đảng và lãnh tụ trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa
ở buổi đầu xây dựng nền Cộng hòa dân chủ, chúng ta ở giữa vòng vây của thù trong giặc ngoài, chưa có một quốc gia nào trên thế giới công nhận, hợp tác, nhưng với đường lối, sách lược ngoại giao khôn khéo, chính sách hợp tác quốc
tế chủ động, thiện chí, chúng ta vẫn giữ được chính quyền, buộc đối phương từng bước phải thừa nhận nền độc lập của đất nước, đồng thời vận động, tranh thủ mọi khả năng để lập quan hệ hợp tác với các nước trong phe dân chủ
Từ đầu năm 1950, với việc dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ ta đi thăm Liên Xô và Trung Quốc, ta đã thiết lập được quan hệ ngoại giao chính thức với các nước xã hội chủ nghĩa và trở thành thành viên của phe xã hội chủ nghĩa, phá
được thế bao vây cô lập của kẻ thù Trong những năm 60, trong khi công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam phụ thuộc vào sự viện trợ quân sự, kinh tế rất lớn của cả hai nước, vấn đề hợp tác quốc tế dường như chỉ diễn ra một chiều (nhận viện trợ).Tuy nhiên với kinh nghiệm, trí tuệ và sự khôn khéo trong đường lối và hoạt động đối ngoại,
Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta vượt qua những thử thách tưởng chừng không thể vượt qua nổi, vẫn giữ được quyền chủ động trong mọi vấn đề
về quan hệ hợp tác quốc tế
Bằng thiên tài trí tuệ, tình cảm quốc tế trân thành, trong sáng, bằng nghệ thuật ứng xử tinh tế, có lý có tình, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vẫn kiên trì đường lối độc lập tự chủ, tranh thủ được sự giúp đỡ ủng hộ của cả Liên Xô
và Trung Quốc, làm thất bại âm mưu của Mỹ
Ba là: Bất luận trong hoàn cảnh nào, trong đàm phán hợp tác quốc tế
cũng phải kiên định về mục tiêu, luôn luôn giữ thế tiến công, nhưng biết nhân
Trang 35nhượng, thỏa hiệp đúng lúc, đúng nguyên tắc để từng bước giành thế có lợi cho
đất nước
Mục tiêu nhất quán của Đảng và nhân dân ta đã được Hồ Chí Minh nêu
rõ là: " Phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới”
Kiên định mục tiêu đó, tuy nhiên, trong quá trình phát triển của cách mạng, căn cứ vào tương quan lực lượng và tình hình quốc tế, mục tiêu chung đó thường được cụ thể hoá thành những mục tiêu từng bước và có sự điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với diễn biến của tình hình, điều quan trọng là mục tiêu từng bước phải tạo cơ sở vững chắc để tiến đến mục tiêu cuối cùng
Tháng 11 năm 1945, nước ta giành được độc lập trong điều kiện khó khăn dồn dập, thù trong giặc ngoài ra sức hoạt động phá hoại, lật đổ, để xoá đi
lý do mà kẻ thù có thể lợi dụng chống phá, và để dễ dàng liên minh hợp tác với các lực lượng dân chủ trên thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Trung
ương tuyên bố giải tán Đảng, mà thực chất là rút vào hoạt động bí mật
Việc ký Hiệp đinh sơ bộ 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946 là một bước
"hoà để tiến", về danh nghĩa là nhân nhượng, “hợp tác” với kẻ thù, nhằm phân hoá và loại bớt kẻ thù, tranh thủ thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, không tránh khỏi
Là người kiên quyết đấu tranh cho mục tiêu độc lập và thống nhất Tổ quốc, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là nhà ngoại giao biết thương lượng,
có đầu óc thực tế, biết tìm ra mẫu số chung cho mỗi cuộc đối thoại Vì vậy, Người thường nhắc nhở cán bộ ta: Trong vấn đề đối ngoại, ngoại giao và hợp tác quốc tế, phải kiên trì, chớ nôn nóng, muốn đạt ngay mục tiêu cuối cùng,
đôi khi phải biết nhân nhượng, phải biết thắng từng bước
1.2.2 Quan điểm về phương pháp trong quan hệ hợp tác quốc tế
Theo Hồ Chí Minh, có chủ trương đường lối đối ngoại đúng đắn, chính sách ngoại giao phù hợp, và có thực lực, đó chính là tiền đề điều kiện cho công
Trang 36tác hợp tác quốc tế hiệu quả Để làm tốt được nhiệm vụ đó, phải nắm vững những vấn đề có tính phương pháp luận sau đây:
- Trên cơ sở phân tích, nhìn nhận, đánh giá tình hình thế giới và mối tương quan trong quan hệ quốc tế, khu vực, (những khó khăn, thuận lợi, xu thế phát triển) để xây dựng chiến lược, sách lược đối ngoại, ngoại giao và các chính sách hợp tác quốc tế cụ thể, phù hợp với từng đối tác Không dựa vào tình hình chủ quan, cục bộ
- Trong quan hệ, hợp tác song phương hoặc đa phương, phải phân biệt rõ
đối tượng là bạn hay thù, là đồng minh chiến lược, lâu dài, hay chỉ là đối tác liên minh tạm thời mang tính sách lược, để có đối sách quan hệ, hợp tác phù hợp
- Mở rộng quan hệ hợp tác, liên minh với tất cả các lực lượng có thể liên minh được để thực hiện mục tiêu chiến lược cách mạng (một cách có nguyên tắc), nếu không thể hợp tác toàn diện, thì tùy theo hoàn cảnh thực tiễn mà hợp tác trên từng lĩnh vực
- Từ quan điểm sẵn sàng làm bạn và hợp tác với tất cả các nước, các dân tộc, các tổ chức quốc tế (có nguyên tắc), một cách có hiệu quả, phải biết vận dụng nhiều hình thức quan hệ, đa dạng hóa quan hệ
- Xử lý khéo léo vấn đề cộng đồng lợi ích giữa các nước lớn, sao cho ít kẻ thù nhất, nhiều bầu bạn nhất
- Phải chủ động, nhanh chóng xây dựng thực lực nắm quyền chủ động trong quan hệ hợp tác Hồ Chí Minh nói: " Nếu mình chưa có lực lượng làm cơ
sở thì hãy khoan nói đến ngoại giao " 1
Tóm lại, việc ra đi tìm đường cứu nước, với hành trình khảo sát thực tiễn
khắp năm châu, quan điểm hợp tác quốc tế của Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh đã từng bước sáng tỏ Đặc biệt khi tiếp cận với những nguyên lý về hợp
1
Dẫn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb ST, H 1987, tr 115
Trang 37tác, đoàn kết giai cấp, tinh thần quốc tế vô sản của học thuyết Mác-Lênin, quan
điểm của Người về hợp tác quốc tế đã liên kết phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới, đồng thời giúp cho những người cộng sản tránh được tư tưởng biệt lập, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước chân chính và tinh thần quốc tế vô sản, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại làm nên thắng lợi của cách mạng Việt nam Những quan điểm, nguyên tắc, yêu cầu, phương pháp về hợp tác quốc tế mà
Hồ Chí Minh nêu ra cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị
1.3 - Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xác định đối tác trong hợp tác quốc tế
1.3.1 Xác định đối tác hợp tác quốc tế trong cách mạng giải phóng
dân tộc
Hồ Chí Minh là người tìm đường, chỉ đường và dẫn đường cho nhân dân Việt Nam làm cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên xây dựng chế độ mới – chế độ xã hội chủ nghĩa Chỉ đến Hồ Chí Minh lãnh đạo, cách mạng Việt Nam mới có quan điểm: cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới Chính từ quan điểm nền tảng này mà Hồ Chí Minh đã có nhiều quan điểm khác về hợp tác quốc tế, trong đó có quan điểm của Người về xác định đối tác hợp tác quốc tế
Xác định đối tác hợp tác quốc tế của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và đòi hỏi của cách mạng Việt Nam Bởi vậy, quan điểm của Người về xác định đối tác hợp tác quốc tế bao giờ cũng
có những nguyên tắc chỉ đạo và mang tính lịch sử – cụ thể
Khi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới – tức là
nó là một phần hiện hữu trong dòng chảy của cách mạng thế giới, nó có mối quan hệ biện chứng với các lực lượng cách mạng trên thế giới Theo Hồ Chí
Trang 38Minh trong mối quan hệ đó, cách mạng Việt Nam có vị trí vai trò của nó trong vận động của quốc tế Vị trí vai trò của cách mạng Việt Nam trong cách mạng thế giới đòi hỏi cách mạng Việt Nam phải chủ động hoàn thành nhiệm vụ của mình để góp phần vào tiến trình chung của sự vận động và phát triển của cách mạng thế giới, đồng thời phải biết tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng trên thế giới cho cách mạng Việt Nam thông qua hợp tác quốc tế Như
vậy, với Hồ Chí Minh hợp tác quốc tế là một tất yếu của cách mạng Việt Nam
Cách mạng Việt Nam thực hiện tính tất yếu hợp tác quốc tế có thành công hay không có phần rất quan trọng phụ thuộc vào việc xác định đối tác hợp tác quốc tế Về vấn đề này, Hồ Chí Minh có cả một hệ quan điểm Trước hết,
Xuất phát từ tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam mà tìm đối tác
Ngay năm 1925 - 1927, Hồ Chí Minh đã xác định: “ Cách mệnh Việt Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới Ai làm cách mệnh trong thế giới
đều là đồng chí của dân Việt Nam cả”1
Tính cách mạng, khoa học và tính biện chứng trong quan điểm Hồ Chí
Minh về xác định đối tác hợp tác quốc tế còn được thể hiện trong tính lịch sử –
cụ thể Những năm Hồ Chí Minh bôn ba tìm đường cứu nước ở khắp các châu
lục trên thế giới, khi tìm thấy chân lý: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”, thì Người cũng
đồng thời thấy rõ để thực hiện chân lý này thì hợp tác quốc tế là bộ phận hữu cơ của cách mạng Việt Nam, nó tạo thành tính biện chứng trong quan điểm về
“con đỉa hai vòi”, “hai cánh chim” của phong trào cách mạng thế giới Và lúc này Hồ Chí Minh cũng nhận rõ: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”2 Người có cơ sở để nhận thức sâu sắc tư tưởng chỉ dẫn của Mác, Ăngghen và Lênin: “Vô sản tất cả
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, sđ d, tr 301
2
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, sđ d, tr 266
Trang 39các nước đoàn kết lại”, “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” Vì vậy, từ rất sớm (1922), Hồ Chí Minh đã xác định đối tác hai bên giữa những người lao động ở chính quốc và nhân dân thuộc địa “là những mối quan hệ đoàn kết và liên minh” Và Người kêu gọi: “Vì nền hoà bình thế giới, vì tự do và ấm no, những người bị bóc lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại
và chống bọn áp bức”1 Như vậy, để chống chủ nghĩa thực dân đế quốc, giải phóng những người nô lệ ở thuộc địa và giải phóng những người bị bóc lột ở chính quốc, thì nhân dân hai nơi này trở thành đối tác của nhau, phải tạo thành liên minh chặt chẽ để cùng chống kẻ thù chung
Năm 1923, Hồ Chí Minh từ Pháp tới Liên Xô, lúc này Quốc tế Cộng sản (Đệ tam quốc tế) đã ra đời được hơn bốn năm và đặt trụ sở tại Mátxcơva Quốc
tế Cộng sản có vai trò to lớn trong tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạng toàn thế giới Hồ Chí Minh nhận rõ cách mạng Việt Nam muốn thắng lợi chẳng những phải đi theo đường lối của Quốc tế Cộng sản mà còn cần có sự giúp đỡ quốc tế “tất yếu phải Đệ tam quốc tế” Như vậy Quốc tế Cộng sản lúc này là
đối tác cực kỳ quan trọng của cách mạng Việt Nam Đây là quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh cho tới khi Quốc tế Cộng sản tuyên bố giải thể
Từ năm 1943, Quốc tế Cộng sản không còn, đồng thời xuất hiện các nước Đồng Minh chống phát xít Lúc này nhân dân Việt Nam một cổ hai tròng, vừa bị thực dân Pháp bóc lột, vừa bị phát xít Nhật thống trị Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính hất cẳng Pháp, độc chiếm Đông Dương và thống trị nhân dân
ta Trong hoàn cảnh đó, quan điểm của Hồ Chí Minh là đứng về phe Đồng
Minh, chống phát xít để giành độc lập cho dân tộc Đầu năm 1945, Hồ Chí
Minh lại đích thân sang Trung Quốc liên lạc với các lực lượng Đồng Minh và
đặt vấn đề các lực lượng Đồng Minh ủng hộ, giúp đỡ Việt Minh tiến tới khởi nghĩa đánh đổ chính quyền của phát xít Nhật, giành chính quyền về tay nhân
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, sđ d, tr 452
Trang 40dân Cùng thời gian này, Người còn gửi thư cho một số nguyên thủ và ngoại trưởng các nước Đồng Minh đề nghị họ ủng hộ Việt Minh làm cách mạng Trên thực tế có Mỹ là nước Đồng Minh lớn đã có lực lượng giúp Việt Minh thuốc men, điện đài, vũ khí và một ít lực lượng vũ trang vào dịp Việt Minh lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền 1945 Khi giành được độc lập, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”1 Như vậy, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định lực lượng đồng minh là đối tác của cách mạng Việt Nam để làm tăng sức mạnh của nhân dân ta làm Cách mạng Tháng Tám thành công là hoàn toàn đúng đắn
Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân Việt Nam giành được độc lập dân tộc, thiết lập chính quyền cách mạng Sau cách mạng chưa có một nước nào công nhận nhà nước cách mạng Việt Nam, ngược lại độc lập dân tộc vừa giành được lại bị đe doạ khi các nước đế quốc bao vây, tấn công Để giữ vững
nền độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương phát huy cao độ tinh thần độc
lập, tự chủ, tự lực tự cường của toàn dân tộc, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác quốc tế Lúc này, xác định đối tác hợp tác quốc tế của cách mạng Việt
Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định quan điểm: Việt Nam muốn
“làm bạn với tất cả các nước dân chủ, không gây thù oán với bất cứ ai” Quan
điểm này của Hồ Chí Minh chẳng những thể hiện đòi hỏi khách quan khi đó,
mà còn có ý nghĩa chỉ đạo lâu dài trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã diễn ra trong cả nước, vào tháng 5 - 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan điểm với đối tác hợp tác quốc
tế: “Thái độ nước Việt Nam đối với những nước á châu là một thái độ anh em,
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H 1995, t 4, tr 3