1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững

139 573 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng sử dụng phương pháp này, tác giả Đỗ Nam Thắng 2005 đã tính toán giá trị sử dụng trực tiếp của tài nguyên VQG vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời tiếp tục hoàn thiện việc áp dụng

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

VIỆN KHOA HỌC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

BTNMT VKHQLMT

BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC

ĐỀ TÀI:

XÂY DỰNG CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ CÁC VƯỜN QUỐC GIA PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Chủ nhiệm đề tài: TS Đỗ Nam Thắng

8375

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

VIỆN KHOA HỌC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

BTNMT VKHQLMT

BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC

ĐỀ TÀI:

XÂY DỰNG CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ CÁC VƯỜN QUỐC GIA

PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Trang 3

DANH SÁCH NGƯỜI THỰC HIỆN ĐẾ TÀI Chủ nhiệm đề tài: TS Đỗ Nam Thắng - Viện Khoa học quản lý môi trường Danh sách người tham gia thực hiện đề tài:

2.TS Nguyễn Hải Yến Viện Khoa học quản lý môi trường

5 Ths Nguyễn Hoàng Phương Lan Viện Khoa học quản lý môi trường

6 CN Nguyễn Thị Thu Thảo Viện Khoa học quản lý môi trường

10 CN Tạ Thị Thùy Linh Viện Khoa học quản lý môi trường

17 KS Lê Văn Cường Viện Khoa học Lâm Nghiệp

Trang 4

MỤC LỤC

1 TÍNH CẤP THIẾT VÀ CƠ SỞ CỦA VIỆC LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ

CỦA CÁC VƯỜN QUỐC GIA 1

1.1 Nhu cầu sử dụng thông tin về giá trị kinh tế phục vụ hoạt động quản lý vườn quốc gia tại Việt Nam 1

1.2 Nhu cầu ứng dụng các phương pháp lượng giá kinh tế của các vườn quốc gia tại Việt Nam 2

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 4

2.1 Mục tiêu tổng quát 5

2.2 Mục tiêu cụ thể 5

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5

3.1 Phạm vi không gian 5

3.2 Phạm vi thời gian 6

4 CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 6

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LƯỢNG GIÁ KINH TẾ CÁC VƯỜN QUỐC GIA PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ 8

1.1 TIẾP CẬN LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA VƯỜN QUỐC GIA 8

1.1.1 Khái niệm vườn quốc gia 8

1.1.2 Mối quan hệ giữa hệ thống sinh thái của vườn quốc gia và hệ thống kinh tế 8

1.1.3 Tổng giá trị kinh tế của vườn quốc gia 12

1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA VƯỜN QUỐC GIA 14

1.2.1 Các phương pháp dựa vào thị trường thực 16

1.2.2 Các phương pháp dựa vào thị trường thay thế 17

1.2.3 Các phương pháp dựa vào thị trường giả định 19

1.2.4 Phương pháp chuyển giao giá trị 21

CHƯƠNG 2 KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VỀ LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ PHỤC VỤ QUẢN LÝ BẢO TỒN CÁC VƯỜN QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 22

2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ VƯỜN QUỐC GIA CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 22

Trang 5

2.1.1 Kinh nghiệm của nhóm các nước phát triển 22

2.1.2 Kinh nghiệm của nhóm các nước đang phát triển 25

2.1.3 Một số nhận xét chung 27

2.2 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU ĐÃ THỰC HIỆN TẠI VIỆT NAM VỀ LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ CÁC VƯỜN QUỐC GIA 27

2.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA CHO QUÁ TRÌNH LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ VQG PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO TỒN TẠI VIỆT NAM .29

2.4 LỰA CHỌN HỆ THỐNG CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM ĐỂ LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA CÁC VƯỜN QUỐC GIA 32

CHƯƠNG 3 LƯỢNG HÓA THÍ ĐIỂM GIÁ TRỊ KINH TẾ VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO 36

3.1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI CỦA VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO 36

3.1.1 Vị trí địa lý 36

3.1.2 Điều kiện tự nhiên 37

3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 43

3.2 NHẬN DIỆN CÁC GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO 45

3.2.1 Giá trị sử dụng 46

3.2.2 Giá trị phi sử dụng 53

3.2.3 Thực trạng sử dụng tài nguyên thiên nhiên tại vườn quốc gia Tam Đảo 60

3.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO 62

3.4 XÂY DỰNG QUY TRÌNH LƯỢNG HÓA CÁC GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO 63

3.4.1 Quy trình lượng hóa tổng giá trị kinh tế 63

3.4.2 Quy trình xác định giá trị kinh tế của từng giá trị chức năng của vườn quốc gia Tam Đảo 66

3.5 KẾT QUẢ LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO 73

3.5.1 Lượng hóa giá trị trực tiếp 73

Trang 6

3.5.2 Lượng hóa giá trị gián tiếp 82

3.5.3 Lượng hóa giá trị phi sử dụng 86

3.6 BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ QUÁ TRÌNH LƯỢNG HÓA CÁC GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO 106

3.6.1 Sử dụng phương pháp giá thị trường trực tiếp và phương pháp CVM đối với người dân địa phương 106

3.6.2 Sử dụng phương pháp TCM, CVM đối với du khách 107

3.6.3 Sử dụng lời nhắc "cheap talk" 107

CHƯƠNG 4 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN VÀ THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ BẢO TỒN DỰA TRÊN CƠ SỞ KẾT QUẢ LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ 109

4.1 ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI 109

4.2 NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG MỨC CHI TRẢ VÀ CƠ CHẾ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG PHÙ HỢP 115

4.3 XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU PHỤC VỤ QUẢN LÝ VƯỜN QUỐC GIA 116

4.4 LỒNG GHÉP THÔNG TIN VỀ GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA VƯỜN QUỐC GIA TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC VÀ TRUYỀN THÔNG 118

4.5 TIẾP TỤC TRIỂN KHAI CÔNG TÁC LƯỢNG HÓA CÁC GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA CÁC VƯỜN QUỐC GIA TRÊN CẠN VÀ VƯỜN QUỐC GIA DƯỚI NƯỚC ĐỂ LỰA CHỌN CŨNG NHƯ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP LƯỢNG HÓA ĐỐI VỚI CÁC ĐIỀU KIỆN CỤ THỂ CỦA CÁC VƯỜN QUỐC GIA TẠI VIỆT NAM 120

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO 125

PHỤ LỤC 129

Trang 7

MỤC LỤC BẢNG

Bảng 1: Các chức năng của vườn quốc gia 11

Bảng 2: Điều kiện áp dụng các phương pháp lượng hóa giá trị kinh tế của vườn quốc gia 32

Bảng 3: Lựa chọn phương pháp lượng hóa giá trị kinh tế của vườn quốc gia 33

Bảng 4: Số liệu khí tượng của các trạm trong khu vực Tam Đảo 39

Bảng 5: Tổng lượng nước chảy của mùa lũ và mùa kiệt 41

Bảng 6: Các giá trị kinh tế quan trọng của vườn quốc gia Tam Đảo 46

Bảng 7: Ước tính lượng du khách tại Khu du lịch Tam Đảo 51

Bảng 8: Thành phần hệ động vật Tam Đảo 54

Bảng 9: Thành phần hệ thực vật Tam Đảo 57

Bảng 10: Đặc điểm của du khách 75

Bảng 11: Mục đích đi du lịch của du khách 76

Bảng 12: Đặc điểm của vùng 76

Bảng 13: Lượng khách trung bình một năm của mỗi vùng 77

Bảng 14: Phân vùng du khách tới thăm vườn quốc gia Tam Đảo 77

Bảng 15: Tỷ lệ lượng khách đến vườn quốc gia Tam Đảo của 1 vùng/1000 dân 78

Bảng 16: Chi phí du lịch trung bình/người của mỗi vùng 78

Bảng 17: Chi phí cơ hội của thời gian du lịch 79

Bảng 18: Tổng chi phí của các vùng 80

Bảng 19: Giá trị của tỷ lệ số lần tham quan và tổng chi phí đi du lịch đến mỗi vùng 81

Bảng 20: Tổng lợi ích từ hoạt động du lịch tại vườn quốc gia Tam Đảo 82

Bảng 21: Kết quả tính toán giá trị chống xói mòn đất 84

Bảng 22: Tổng hợp một số giá trị gián tiếp của vườn quốc gia Tam Đảo 85

Bảng 23: Tổng hợp số lượng phiếu hỏi theo các mức tiền sau khảo sát 91

Bảng 24: Mối tương quan tỷ lệ phần trăm và lý do không sẵn lòng chi trả 93

Bảng 25: Mối quan hệ giữa lượng tiền và % đồng ý chi trả 94

Bảng 26: Mối tương quan tỷ lệ phần trăm và lý do sẵn lòng chi trả 96

Bảng 27: Số người đồng ý chi trả ở mỗi mức theo các đối tượng 97

Bảng 28: Mức tiền trung bình sẵn lòng chi trả 97

Bảng 29: Giải thích các tham số trong mô hình phân tích 98

Bảng 30: Kết quả phân tích tham số của người dân địa phương 99

Trang 8

Bảng 31: Kết quả phân tích tham số của người dân Hà Nội 100

Bảng 32: Kết quả phân tích tham số của du khách 101

Bảng 33: Kết quả phân tích tham số của nhà quản lý 102

Bảng 34: Tổng hợp một số giá trị của vườn quốc gia Tam Đảo 104

Trang 9

MỤC LỤC HÌNH

Hình 1: Mối liên hệ giữa hệ sinh thái của các vườn quốc gia và hệ thống kinh tế 9

Hình 2: Mô hình hóa Tổng giá trị kinh tế của rừng 13

Hình 3: Phân loại các phương pháp lượng hóa giá trị kinh tế của vườn quốc gia 15

Hình 4: Lựa chọn phương pháp phù hợp để lượng hóa giá trị kinh tế của VQG 35

Hình 5: Bản đồ Vườn quốc gia Tam Đảo 37

Hình 6: Các phương pháp xác định giá trị của vườn quốc gia Tam Đảo 63

Hình 7: Qui trình lượng hóa giá trị kinh tế của vườn quốc gia 64

Hình 8: Hàm cầu du lịch 81

Hình 9: Tỉ lệ các giá trị gián tiếp/ha tại thời điểm năm 2010 của vườn quốc gia Tam Đảo 85

Hình 10: Bản đồ VQG Tam Đảo với các địa điểm khảo sát 90

Hình 11: Mối tương quan giữa mức tiền và tỷ lệ trả lời có sẵn lòng chi trả của du khách 94

Hình 12: Mối tương quan giữa mức tiền và tỷ lệ trả lời có sẵn lòng chi trả của người dân tại Hà Nội 95

Hình 13: Mối tương quan giữa mức tiền và tỷ lệ trả lời có sẵn lòng chi trả của người dân địa phương 95

Hình 14: Mối tương quan giữa mức tiền và tỷ lệ trả lời có sẵn lòng chi trả của nhà quản lý 96

Hình 15: Tỉ lệ của giá trị trực tiếp, gián tiếp, phi sử dụng/ha tại thời điểm năm 2010 của vườn quốc gia Tam Đảo 105

Hình 16: Phát triển bền vững 111

Trang 10

DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT

AC Phương pháp chi phí thiệt hại tránh được

BTTN Bảo tồn thiên nhiên

BVMT Bảo vệ môi trường

CBD Công ước đa dạng sinh học

CVM Đánh giá phụ thuộc tình huống giả định

ĐDSH Đa dạng sinh học

ĐNN Đất ngập nước

GEF Quỹ môi trường toàn cầu

GIS Hệ thống thông tin địa lý

HST Hệ sinh thái

IUCN Liên minh quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên LHQ Liên hiệp quốc

MP Phương pháp giá thị trường

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

PTBV Phát triển bền vững

RC Phương pháp chi phí thay thế

TCM Phương pháp chi phí du lịch

TEV Tổng giá trị kinh tế

UNEP Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc

VQG Vườn quốc gia

WTP Sẵn lòng chi trả

Trang 11

Bảo tồn ĐDSH kết hợp với phát triển kinh tế để hướng tới sự phát triển bền vững (PTBV) là một mục tiêu quan trọng trong chiến lược quản lý môi trường tại Việt Nam Trong những năm qua, Nhà nước đã đưa ra những cam kết và hành động cụ thể nhằm

sử dụng bền vững tài nguyên này Bên cạnh việc xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý như Luật BVMT, Luật ĐDSH, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Chương trình hành động quốc gia ĐDSH, Việt Nam đã tham gia Công ước đa dạng sinh học (CBD) của Liên hiệp quốc (LHQ), đồng thời thiết lập một hệ thống gồm 30 VQG, 58 Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN), 11 Khu Bảo tồn loài và Môi sinh, 45 Khu Bảo tồn cảnh quan và 20 Khu Rừng Khoa học và Thí nghiệm trên phạm vi cả nước

Các vườn quốc gia (VQG) kể từ khi được thành lập đã góp phần quan trọng trong việc gìn giữ các giá trị sinh thái, môi trường, đồng thời cũng góp phần tạo ra sinh kế bền vững cho một số bộ phận người dân ở các khu vực xung quanh Tuy nhiên, gần đây đánh giá của Liên minh quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN) cho thấy nhiều VQG ở Việt Nam đang bị suy giảm nhanh chóng về chất lượng bảo tồn Nguyên nhân của sự suy giảm chất lượng bảo tồn của các VQG bên cạnh

Trang 12

những yếu tố khách quan như biến đổi khí hậu, áp lực tăng trưởng kinh tế, đô thị hoá, còn có sự yếu kém trong hệ thống quản lý Cụ thể là hệ thống pháp lý thiếu đồng bộ, chồng chéo trong phân định chức năng của các cơ quan quản lý, hệ thống quyền tài sản chưa được phân định rõ ràng, nguồn tài chính cho bảo tồn kém bền vững, thiếu cơ

sở dữ liệu, tư liệu khoa học phục vụ quản lý

Kinh nghiệm thế giới cho thấy thông tin về giá trị kinh tế của VQG là một yếu tố đầu vào quan trọng cho việc quản lý hiệu quả các Vườn Tuy nhiên, tại Việt Nam các thông tin về giá trị kinh tế của VQG còn rất thiếu, rời rạc và kém đồng bộ Mặc dù đã

có 144 VQG và khu BTTN trên cả nước nhưng những quyết định quản lý, sử dụng tài nguyên tại các khu vực này vẫn mang tính hành chính, kỹ thuật trong khi các khía cạnh kinh tế chưa được nhìn nhận và xem xét đúng mức Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là chúng ta chưa có các dữ liệu về giá trị kinh tế của các VQG Các quyết định sử dụng tài nguyên thường đứng trên quan điểm cá nhân và chỉ tính đến những lợi ích trực tiếp mà VQG mang lại cho cá nhân trong khi các lợi ích tổng thể mà VQG cung cấp cho xã hội thường bị bỏ qua hoặc đánh giá thấp Từ đó các quyết định phân bổ sử dụng VQG thường không hiệu quả, không mang lại lợi ích lớn nhất cho cộng đồng và xã hội

1.2 Nhu cầu ứng dụng các phương pháp lượng giá kinh tế của các vườn quốc gia tại Việt Nam

Lượng hóa giá trị kinh tế tài nguyên nói chung và giá trị của VQG nói riêng là một chủ đề mang tính chất khoa học - ứng dụng ngày càng trở nên phổ biến trong những năm gần đây trên thế giới bao gồm cả các nước phát triển và đang phát triển do nhu cầu khách quan và sự cần thiết của thông tin phục vụ quản lý

Cùng với nhu cầu khách quan đó, cơ sở lý thuyết và các phương pháp và mô hình lượng giá ngày càng đa dạng và hoàn thiện mặc dù cũng trở nên phức tạp hơn nhằm đưa lại các kết quả chính xác, tin cậy cho các hoạt động quản lý, sử dụng tài nguyên Nhìn chung trên thế giới hiện nay, xu hướng chung là có ba cách tiếp cận lượng hóa giá trị kinh tế của VQG:

- Đánh giá phân tích tác động (Impact Analysis Valuation): được sử dụng để đánh

giá thiệt hại của VQG khi có chịu các tác động hay sốc (shock) bên ngoài như sự cố tràn dầu, ô nhiễm công nghiệp, thiên tai

- Đánh giá từng phần (Partial Valuation): được sử dụng để lượng hóa giá trị kinh

Trang 13

tế của hai hay nhiều phương án sử dụng VQG khác nhau (ví dụ: nuôi tôm, phát triển

du lịch hoặc bảo tồn)

- Đánh giá tổng thể (Total Economic Valuation): được sử dụng để đánh giá phần

đóng góp tổng thể của VQG cho hệ thống phúc lợi xã hội

Trong ba hướng tiếp cận đánh giá trên, đánh giá tổng thể có vai trò quan trọng vì

nó cung cấp thông tin nền cho các hoạt động quản lý đồng thời là dữ liệu đầu vào cho đánh giá phân tích tác động và đánh giá từng phần

Tại Việt Nam, việc lượng hóa giá trị kinh tế của tài nguyên và tác động môi trường bắt đầu vào giữa những năm 1990 cùng với sự ra đời của Luật BVMT 1993 trong đó đòi hỏi việc xác định thiệt hại do ô nhiễm suy thoái môi trường gây ra Gần đây, việc đánh giá thiệt hại về tài nguyên và môi trường càng trở nên cấp bách cùng với áp lực phát triển kinh tế Vì thế, đã có nhiều các nghiên cứu trong lĩnh vực này xuất hiện ở Việt Nam Các trường hợp và các phương pháp đánh giá cũng ngày càng đa dạng

Tác giả Mai Trọng Nhuận và các cộng sự sử dụng phương pháp giá thị trường (MP) để đánh giá giá trị kinh tế của một số điểm trình diễn VQG tại Việt Nam năm

2000, trong đó ước tính sơ bộ các giá trị sử dụng trực tiếp của một số vùng đất ngập nước tiêu biểu tại Việt Nam (Mai Trọng Nhuận và cs, 2000) Cũng sử dụng phương pháp này, tác giả Đỗ Nam Thắng (2005) đã tính toán giá trị sử dụng trực tiếp của tài nguyên VQG vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời tiếp tục hoàn thiện việc áp dụng phương pháp giá thị trường tại Việt Nam thông qua điều chỉnh một số nhân tố sai lệch để đưa ra kết quả khá tin cậy về những khối giá trị trực tiếp của VQG tại địa bàn nghiên cứu Tác giả Lê Thu Hoa và các cộng sự (2006) cũng sử dụng kỹ thuật giá thị trường để tính toán giá trị nuôi tôm tại khu VQG của VQG Xuân Thủy, Nam Định Có thể nói, MP là phương pháp lượng hóa giá trị môi trường được sử dụng phổ biến và hoàn thiện nhất ở Việt Nam hiện nay

Ngoài ra, trong những năm trở lại đây, để đánh giá những phần giá trị khác trong tổng giá trị kinh tế (TEV) của tài nguyên (tài sản môi trường), các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đã bước đầu nghiên cứu và áp dụng thử nghiệm các phương pháp phức

tạp hơn, phổ biến là phương pháp chi phí du lịch (Travel Cost Method - TCM) và Đánh

giá phụ thuộc tình huống giả định1 (Contingent Valuation Method - CVM) Các

1 Một số tài liệu dịch thuật ngữ Contingent Valuation Method – CVM là “Đánh giá ngẫu nhiên” Tuy nhiên

Trang 14

phương pháp này dựa trên các thị trường sẵn có (TCM) hoặc xây dựng các thị trường

giả định (CVM) để đánh giá phúc lợi (welfare) của người sử dụng tài nguyên khi tham

gia thị trường, từ đó đưa ra các khuyến nghị về chính sách Mở đầu bằng nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành và Lê Thị Hải (1997) về giá trị du lịch của VQG Cúc Phương thông qua việc sử dụng phương pháp TCM, phương pháp này tiếp tục được nhân rộng

để định giá giá trị giải trí của các VQG, khu BTTN khác trong cả nước như khu BTTN Hòn Mun, VQG Ba Bể, VQG Bạch Mã Ngoài phương pháp TCM, phương pháp CVM cũng được áp dụng phổ biến để xác định giá trị phi sử dụng của tài nguyên cũng như lợi ích của việc tiến hành các chương trình bảo tồn, cải thiện chất lượng môi trường Phương pháp này cũng được sử dụng trong các nghiên cứu của tác giả Bùi Dũng Thể (2005) Gần đây, một phương pháp đánh giá mới dựa trên thị trường giả

định và lựa chọn hành vi (Choice modelling) cũng đã được thực hiện trong nghiên cứu

của Đỗ Nam Thắng (2008) để xác định giá trị của bảo tồn VQG ở VQG Tràm Chim Tác giả Đinh Đức Trường (2010) cũng đã thực hiện một nghiên cứu đánh giá giá trị kinh tế của VQG Xuân Thủy, trong đó sử dụng TCM và CVM

Tuy nhiên, các nghiên cứu cho đến nay về giá trị kinh tế của VQG tại Việt Nam

có một số các hạn chế sau:

- Thứ nhất, các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào một nhóm giá trị cụ thể của VQG,

phổ biến là giá trị sử dụng trực tiếp trong khi các nhóm giá trị sử dụng gián tiếp và phi

sử dụng chưa được nghiên cứu kỹ càng

- Thứ hai, các kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ tính toán sơ bộ, chưa

có sự thảo luận và liên hệ chặt chẽ với các biện pháp quản lý VQG cụ thể

- Thứ ba, các nghiên cứu chưa đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong việc áp

dụng các phương pháp lượng giá, đặc biệt là chưa tổng kết đánh giá khả năng áp dụng các phương pháp này trong điều kiện Việt Nam

Đề tài này là nghiên cứu đầu tiên xây dựng cơ sở phương pháp luận tổng hợp lượng hoá giá trị kinh tế toàn phần của VQG, bao gồm lượng hoá các giá trị sử dụng (use values) và giá trị phi sử dụng (non-use values), đồng thời đánh giá tính khả thi của các phương pháp lượng giá trong điều kiện Việt Nam

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

dụng trong tên gọi này có nghĩa là “phụ thuộc” chứ không phải “ngẫu nhiên” Vì vậy , trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thuật ngữ “đánh giá phụ thuộc tình huống giả định” để chỉ CVM

Trang 15

2.1 Mục tiêu tổng quát

Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế của các

VQG phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững

Thứ hai, VQG Tam Đảo hàm chứa nhiều nhóm giá trị kinh tế khác nhau Vì vậy

là địa bàn thích hợp để sử dụng nhiều phương pháp lượng hóa giá trị kinh tế của các VQG (bao gồm cả những phương pháp truyền thống và hiện đại)

Thứ ba, VQG Tam Đảo đang phải đối mặt với mâu thuẫn rất lớn giữa công tác bảo tồn và phát triển Đã có đề xuất xây dựng một phần VQG thành khu chơi gôn, giải trí, du lịch và đề xuất này đã bị các nhà hoạt động BVMT phản đối quyết liệt Thông tin về giá trị kinh tế có thể giúp các nhà quản lý lựa chọn được phương án quản lý thích hợp để giải quyết bài toán bảo tồn - phát triển Vì thế, việc tính toán giá trị kinh

tế rất có ý nghĩa cho quản lý

Thứ tư, VQG Tam Đảo có những cơ sở dữ liệu nền về quản lý và bảo tồn khá chi tiết, có nhiều tài liệu thứ cấp có thể phục vụ cho các hoạt động lượng giá

Thứ năm, VQG Tam Đảo là VQG tiêu biểu cho bảo tồn HST trên cạn, nên các kết quả nghiên cứu có thể nhân rộng ra các VQG có HST trên cạn khác

Trang 16

3.2 Phạm vi thời gian

Giá trị kinh tế của VQG Tam Đảo là tổng giá trị kinh tế được tính tại thời điểm năm 2010

4 CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và khoa học của lượng giá kinh tế các VQG

- Hệ thống hóa các phương pháp, kỹ thuật lượng hóa giá trị kinh tế của các VQG

- Nghiên cứu, phân tích kinh nghiệm quốc tế về lượng hóa giá trị của các VQG và những ứng dụng quản lý của kết quả lượng giá, rút ra bài học cho Việt Nam

- Nghiên cứu hệ thống các qui định, thông lệ quốc tế về lượng hóa giá trị kinh tế của VQG Liên hệ giữa kết quả lượng giá với các công cụ, chính sách quản lý

- Lượng hóa thử nghiệm giá trị kinh tế toàn phần của VQG Tam Đảo

- Đề xuất các biện pháp quản lý dựa trên cơ sở thông tin về lượng hoá giá trị kinh tế

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện các nội dung trên cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp kế thừa: Nghiên cứu kế thừa các tài liệu, mô hình, kỹ thuật, giải

pháp liên quan đã và đang được áp dụng để lượng giá, xác định giá trị kinh tế của các VQG trên thế giới và ở Việt Nam

Phương pháp chuyên gia: Tổ chức các hội thảo trao đổi kinh nghiệm xác định

giá trị kinh tế của các VQG trên thế giới và ở Việt Nam, xác định các nhóm giá trị sẽ lượng giá, xây dựng các phiếu hỏi, các câu hỏi phỏng vấn phục vụ cho việc lượng giá thử nghiệm tại VQG Tam Đảo

Phương pháp mô hình toán kinh tế: các mô hình toán kinh tế được sử dụng

trong đề tài để đánh giá các khối giá trị kinh tế của VQG Tam Đảo bao gồm hàm chi phí du lịch, mô hình lợi ích ngẫu nhiên có tham số và phi tham số, hàm sẵn sàng chi trả Các mô hình này được kế thừa và phát triển trên cơ sở lý các lý thuyết kinh tế, được tham vấn ý kiến chuyên gia để lựa chọn các biến số phù hợp, được chạy và thử nghiệm để điều chỉnh các trục trặc và lỗi kỹ thuật phát sinh

Phương pháp điều tra xã hội học: được thực hiện chủ yếu tại hiện trường nghiên

cứu với các đối tượng gồm các cơ sở kinh doanh, người dân, du khách tham quan, các nhà quản lý nhằm thu thập các dữ liệu đầu vào phục vụ cho việc lượng hóa giá trị kinh

Trang 17

tế và đề xuất các biện pháp quản lý VQG Tam Đảo

Phương pháp xử lý thống kê: các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập được xử lý

bằng phần mềm thống kê SPSS và Excel; thông tin trong các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cũng được xử lý riêng biệt phục vụ cho phần báo cáo kết quả, thảo luận và đề xuất biện pháp quản lý

Phương pháp phân tích, tổng hợp: sử dụng trong quá trình hoàn thiện báo cáo

đề tài Kết quả từ các mô hình xử lý dữ liệu sẽ được diễn giải, phân tích và thảo luận chi tiết Các biện pháp và qui trình quản lý cũng sẽ được đề xuất dựa trên những kết quả phân tích và tổng hợp

Phương pháp đánh giá giá trị tài nguyên và môi trường: Đề tài nghiên cứu, hệ

thống hóa và sử dụng một hệ thống các phương pháp tiên tiến trên thế giới hiện nay để lượng hóa giá trị tài nguyên của VQG Tam Đảo Về cơ bản gồm có 3 nhóm chính là: các phương pháp dựa vào thị trường thực, các phương pháp dựa vào thị trường thay thế và các phương pháp dựa vào thị trường giả định

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LƯỢNG GIÁ KINH TẾ CÁC VƯỜN QUỐC GIA

PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ 1.1 TIẾP CẬN LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA VƯỜN QUỐC GIA 1.1.1 Khái niệm vườn quốc gia

Theo Điều 16 chương III Luật đa dạng sinh học 2008, Vườn quốc gia là một hợp phần của Khu bảo tồn

Theo Quyết định số 62/2005/QĐ-BNN ngày 12 tháng 10 năm 2005 của Bộ trưởng

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc ban hành Bản quy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng, Vườn quốc gia (VQG) là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có hợp phần đất ngập nước/biển, có diện tích đủ lớn để thực hiện mục đích bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện khỏi bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc bị đe dọa cho các thế hệ hôm nay và mai sau Vườn quốc gia là nền tảng cho các hoạt động tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và các hoạt động du lịch sinh thái được kiểm soát và ít có tác động tiêu cực

Theo khái niệm trên, có hai loại VQG là VQG trên cạn và VQG đất ngập nước Hai loại VQG này có các hệ sinh thái khác nhau và vì vậy phương pháp lượng giá cũng khác nhau Trong đề tài này chúng tôi tập trung vào nghiên cứu lượng hóa giá trị kinh tế của VQG trên cạn

1.1.2 Mối quan hệ giữa hệ thống sinh thái của vườn quốc gia và hệ thống kinh tế

Xem xét mối quan hệ hữu cơ giữa hệ thống sinh thái và hệ thống kinh tế là xuất phát điểm của việc tiếp cận lượng hóa giá trị kinh tế của các VQG Trong HST, tại mọi thời điểm luôn có sự tác động qua lại giữa cấu trúc, quy trình và chức năng của hệ thống Cấu trúc của HST bao gồm các thành phần vô cơ và hữu cơ Các quá trình bao gồm sự chuyển hóa vật chất và năng lượng Tác động qua lại giữa cấu trúc và các quá trình hình thành nên chức năng sinh thái của các HST nói chung và của các VQG nói riêng Đến lượt mình, các chức năng này lại cung cấp các hàng hóa, dịch vụ môi trường và mang lại lợi ích cho con người Hình 1 trình bày mối liên hệ giữa HST của các VQG và hệ thống kinh tế

Trang 19

Hình 1: Mối liên hệ giữa hệ sinh thái của các vườn quốc gia và hệ thống kinh tế

Nguồn: Sylvie Moardet and Ate Koukou-Tchamba, 2005

Nếu con người có sự ưa thích (preference) đối với các lợi ích nói trên và sẵn lòng

chi trả (WTP) để nhận thêm một lượng lợi ích nhất định từ HST VQG thì các lợi ích

này sẽ có giá trị kinh tế Theo Bateman và Willis (1999), giá trị kinh tế là một khái niệm mang tính cụ thể và không phải là bản chất của bất cứ thứ gì Giá trị kinh tế chỉ xuất hiện khi có sự tương tác giữa các chủ thể và khách thể kinh tế Cụ thể hơn, các

thuộc tính môi trường của VQG chỉ có giá trị kinh tế khi nó xuất hiện trong hàm lợi ích của một cá nhân (individual utility function) hoặc hàm chi phí của một doanh

nghiệp (firm production function) Như vậy, các chức năng của HST tự nó không mang lại giá trị kinh tế; thay vì đó, các chức năng cung cấp các hàng hóa và dịch vụ

Các dịch vụ

Sử dụng VQG

Giá trị sử dụng gián tiếp Giá trị tùy chọn

Giá trị sử dụng Giá trị không sử H ệ th

Trang 20

và việc sử dụng các hàng hóa và dịch vụ đó mới mang lại các giá trị kinh tế cho con người (Đinh Đức Trường, 2010)

Như trong hình 1, các chức năng của HST trong VQG là cung cấp các hàng hóa

và dịch vụ cho hệ thống kinh tế Về cơ bản, chức năng sinh thái của HST VQG là kết quả của sự tương tác liên tục giữa các cấu trúc và quá trình sinh thái Barbier (1994) đưa ra hệ thống phân loại các chức năng của VQG gồm 4 nhóm chính là chức năng

điều tiết (regulation function), chức năng cư trú (habitat function), chức năng sản xuất (production function) và chức năng thông tin (information function) (bảng 1)

Chức năng điều tiết: có liên quan đến năng lực của HST trong việc điều tiết các

quá trình căn bản của HST và hệ thống hỗ trợ đời sống (life support systems) thông qua chu trình sinh địa hóa và các quá trình sinh học Bên cạnh việc duy trì HST, chức năng điều tiết cũng cung ứng nhiều dịch vụ mang lại lợi ích trực tiếp và gián tiếp cho con người (ví dụ: không khí, nước, dịch vụ kiểm soát sinh thái)

Chức năng cư trú: của HST liên quan đến việc cung cấp địa bàn cư trú và sinh sản

cho các sinh vật, từ đó giúp bảo tồn và duy trì nguồn gen, ĐDSH và quá trình tiến hóa

Chức năng sản xuất: quá trình quang hợp của HST chuyển hóa năng lượng, khí

CO2, nước và các chất dinh dưỡng thành nhiều dạng cấu trúc cacbon Các cấu trúc này sau đó được sử dụng bởi các sinh vật để tổng hợp thành sinh khối của hệ Sự đa dạng trong cấu trúc cacbon cung cấp hàng hóa sinh thái cho con người như thực phẩm, nguyên liệu thô hay các nguồn năng lượng

Chức năng thông tin: HST cung cấp thông tin cơ bản cho đời sống tinh thần của

con người như giải trí, thẩm mỹ, văn hóa, tôn giáo, khoa học, giáo dục

Trang 21

Bảng 1: Các chức năng của vườn quốc gia VQG trên cạn VQG đất ngập nước

Chức năng

điều tiết

1 Điều tiết không khí

2 Điều hòa khí hậu

3 Điều tiết nước

4 Giữ đất

5 Hấp thụ CO2

6 Phòng chống lụt bão

1 Điều tiết không khí

2 Điều hòa khí hậu

4 Cung cấp nơi sinh sản

1 Cung cấp nơi cư trú cho các loài động thực vật hoang dã trên cạn và các loài thủy hải sản dưới nước

3 Nguồn gen

4 Nguồn dược liệu

1 Gỗ, than, củi

2 Thực phẩm (các loài động thực vật trên cạn và dưới nước)

3 Giá trị tinh thần và văn hóa

4 Giá trị văn hóa, lịch sử

5 Giá trị giáo dục, khoa học

1 Thông tin thẩm mỹ

2 Giải trí, du lịch

3 Giá trị tinh thầnvà văn hóa

4 Giá trị văn hóa, lịch sử

5 Giá trị giáo dục, khoa học

Nguồn: Barbier, 1994

Trang 22

1.1.3 Tổng giá trị kinh tế của vườn quốc gia

1.1.3.1 Khái niệm tổng giá trị kinh tế môi trường

Khái niệm về TEV của môi trường và tài nguyên thiên nhiên được Pearce đưa ra vào năm 1993 Từ đó đến nay, khái niệm này đã trở thành then chốt trong việc xác định và phân loại các lợi ích của môi trường và tài nguyên Tổng hợp từ nhiều tư liệu nghiên cứu cho thấy, hiện nay có 2 cách tiếp cận khi xác định TEV của rừng đó là cách tiếp cận theo lợi ích sử dụng và cách tiếp cận theo tổng lợi ích

Cách tiếp cận giá trị của rừng theo lợi ích sử dụng cho rằng: TEV của HST là tổng thể những lợi ích mà một HST trực tiếp hoặc gián tiếp mang lại cho cộng đồng và

xã hội TEV bao gồm giá trị nội tại và giá trị ngoại tác, trong đó (i) Giá trị nội tại là tổng thể những lợi ích kinh tế mà HST tạo ra trong phạm vi địa giới và không gian của HST (ii) Giá trị ngoại tác của là giá trị vượt ra ngoài phạm vi địa giới và không gian của HST (môi trường, phòng hộ…)

Cách tiếp cận giá trị của rừng theo tổng lợi ích cho rằng: TEV của HST được phân thành 2 loại là giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng Trong đó, (i) Giá trị sử dụng gồm giá trị sử dụng trực tiếp (Direct Use Value – DUV), giá trị sử dụng gián tiếp (Indirect Use Value – IUV), và giá trị lựa chọn (Option Value – OP) và (ii) Giá trị phi

sử dụng gồm giá trị giá trị tồn tại (Existence Value – EV) và giá trị lưu truyền (Bequest Value – BV) Từ những khái niệm trên có thể hiểu TEV của rừng được sơ đồ hóa trong hình 2 dưới đây

Trang 23

Hình 2: Mô hình hóa Tổng giá trị kinh tế của rừng

Nguồn: Turner và Pearce, 1993

1.1.3.2 Các giá trị kinh tế của vườn quốc gia

- Quan điểm thứ hai: Giá trị sử dụng trực tiếp là các lợi ích nhận được từ việc sử dụng trực tiếp tài sản và có thể được chia thành hai loại là sử dụng tiêu hao và sử dụng không tiêu hao Chẳng hạn giá trị sử dụng trực tiếp của rừng gồm giá trị sử dụng tiêu hao như sản xuất gỗ, thực phẩm và các lâm sản ngoài gỗ khác; giá trị sử dụng không

Giá trị sử dụng Giá trị phi sử dụng

Tổng giá trị kinh tế của VQG (TEV)

Giá trị

sử dụng

trực tiếp

Giá trị sử dụng gián tiếp

Giá trị lựa chọn

Giá trị

để lại

Giá trị tồn tại

Các giá trị

sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp trong tương lai

- Kiểm soát

lũ lụt

- Bảo vệ đầu nguồn

- …

- Đa dạng sinh học

- Bảo vệ môi trường sống

- …

- Môi trường sống

- Các thay đổi không thể đảo ngược

- …

- Văn hoá, lịch sử…

- Các loại động thực vật quý hiếm

- …

Các giá trị thế hệ hiện tại muốn gìn giữ cho thế

hệ mai sau

Các giá trị bảo tồn ĐDSH thẩm

mỹ, văn hoá,…

Trang 24

tiêu hao bao gồm các hoạt động giải trí và các hình thái du lịch thậm chí chỉ là xem hình ảnh phóng sự trên ti vi

Như vậy, có thể hiểu giá trị sử dụng trực tiếp của VQG là những giá trị gần gũi với cuộc sống hàng ngày của con người mà rừng đem lại, bao gồm: gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ và cảnh quan du lịch Việc sử dụng trực tiếp có thể mang tính chất thương mại và phi thương mại

Giá trị sử dụng gián tiếp (Indirect Use Value – IUV)

Giá trị sử dụng gián tiếp là các giá trị kinh tế do các dịch vụ môi trường và chức năng sinh thái sinh của VQG tạo ra như phòng hộ đầu nguồn, kiểm soát xói mòn, giữ đất, giữ nước, điều hoà không khí hấp thụ CO2, cung cấp O2 …

Giá trị lựa chọn (Option Value – OP)

Giá trị lựa chọn về bản chất là những giá trị sử dụng trực tiếp hoặc giá trị sử dụng gián tiếp của VQG mặc dù có thể sử dụng ở hiện tại nhưng chưa được sử dụng vì một lý

do nào đó mà để lại để sử dụng ở tương lai Ví dụ giá trị du lịch, cảnh quan, dược phẩm

B Giá trị phi sử dụng

Giá trị phi sử dụng là những giá trị bản chất, nội tại của VQG và được chia thành

giá trị tồn tại (existence value) và giá trị lưu truyền (bequest value)

Giá trị tồn tại là giá trị nằm trong nhận thức, cảm nhận và sự thỏa mãn của một cá nhân khi biết được các thuộc tính của VQG đang tồn tại ở một trạng thái nào đó và thường được đo bằng sự sẵn sàng chi trả của cá nhân để có được trạng thái đó

Giá trị lưu truyền là sự thỏa mãn nằm trong cảm nhận của cá nhân khi biết rằng tài nguyên được lưu truyền và hưởng thụ bởi các thế hệ tương lai Giá trị này cũng thường được đo bằng sự sẵn sàng chi trả của cá nhân để bảo tồn tài nguyên cho các thế

Trang 25

những phương pháp lượng giá thích hợp

Các phương pháp lượng hóa giá trị kinh tế của VQG được chia thành ba nhóm chính là:

- Nhóm phương pháp dựa trên thị trường thực (market price method)

- Nhóm phương pháp đánh giá dựa trên sự bộc lộ sở thích (revealed preference method)

- Nhóm phương pháp đánh giá dựa trên tuyên bố sở thích (stated preference method) (Spash và Henly 1993)

Barbier (1997) phân chia các phương pháp thành ba loại là:

- Các phương pháp dựa vào thị trường thực (real market)

- Các phương pháp dựa vào thị trường thay thế (surrogate market)

- Các phương pháp dựa vào thị trường giả định (hypothetical market)

Ngoài ra, gần đây phương pháp chuyển giao giá trị (benefit transfer) cũng được

sử dụng rộng rãi trong lượng hóa giá trị kinh tế các VQG

Hình 3: Phân loại các phương pháp lượng hóa giá trị kinh tế của vườn quốc gia

Nguồn: Barbier 1997, Brower 2000

CÁC PHƯƠNG PHÁP LƯỢNG HÓA

Thị trường thay

thế

Chi phí

du lịch (TCM)

Giá trị hưởng thụ (HPM)

Thị trường giả định

Đánh giá phụ thuộc tình huống giả định (CVM)

Mô hình lựa chọn (CM)

Trang 26

1.2.1 Các phương pháp dựa vào thị trường thực

Phương pháp giá thị trường (Market Price - MP)

Phương pháp giá thị trường ước tính giá trị kinh tế của các hàng hóa và dịch vụ của VQG được trao đổi, mua bán trên thị trường Giả thiết cơ bản của phương pháp này là khi giá thị trường không bị bóp méo bởi sự thất bại thị trường hoặc chính sách của Chính phủ thì nó sẽ phản ánh chân thực giá trị của hàng hóa hay chi phí cơ hội của việc sử dụng VQG Từ đó cho biết giá trị đóng góp của các hàng hóa và dịch vụ này trong nền kinh tế

Đây là phương pháp đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện vì các thông tin liên quan đến giá cả thị trường của một số các hàng hóa và dịch vụ mà VQG cung cấp là quan sát được và dễ thu thập Vì vậy, phương pháp này thường được sử dụng để lượng hóa các giá trị sử dụng trực tiếp của VQG

Bên cạnh ưu điểm trên, việc áp dụng phương pháp này cũng gặp phải một số vấn

đề nhất định Thứ nhất, như đã đề cập, mức giá thị trường trong một số trường hợp có thể bị bóp méo bởi sự thất bại của thị trường (độc quyền, ngoại ứng) hoặc bởi các chính sách của Chính phủ (thuế, trợ cấp, qui định tỷ giá), từ đó có thể phản ánh sai lệch giá trị kinh tế của hàng hóa Thứ hai, trong một số trường hợp khi tài nguyên

được VQG sử dụng đa mục tiêu (multiple purpose) thì việc đánh giá phải thận trọng để

loại trừ được sự tính trùng hoặc đánh đổi giữa các giá trị (Đinh Đức Trường, 2010)

Phương pháp chi phí thay thế (Replacement Cost - RC)

Phương pháp chi phí thay thế ước lượng giá trị của các dịch vụ sinh thái VQG xấp xỉ bằng với chi phí để cung ứng hàng hoá và dịch vụ tương đương do con người tạo ra Ví dụ, giá trị của một vùng VQG hoạt động như một vùng hồ tự nhiên có thể được ước lượng bằng chi phí xây dựng và hoạt động của một hồ nhân tạo có chức năng tương tự Phương pháp này thường được sử dụng để xác định giá trị gián tiếp của VQG thông qua việc tìm hiểu giá thị trường của các dịch vụ tương đương do con người tạo ra

Theo Dixon (1993), phương pháp này đặc biệt hữu ích cho việc lượng giá các dịch vụ của VQG, khá đơn giản trong ứng dụng do không phải thực hiện các cuộc điều tra chi tiết Tuy nhiên, nhược điểm chính của phương pháp này là đôi khi rất khó tìm được các hàng hóa nhân tạo thay thế tương đương cho các hàng hoá và dịch vụ sinh

Trang 27

thái Từ đó, phương pháp chi phí thay thế có thể không đưa ra những đo lường giá trị kinh tế một cách chính xác mà thường là đánh giá quá cao hoặc quá thấp giá trị của VQG

Phương pháp chi phí thiệt hại tránh được (Avoided Cost - AC)

Trong rất nhiều trường hợp, HST VQG có khả năng phòng hộ, bảo vệ được các tài sản có giá trị kinh tế cho con người Phương pháp chi phí thiệt hại tránh được sử dụng thông tin về những thiệt hại có thể tránh được hoặc giá trị của những tài sản được VQG bảo vệ khi có những biến cố môi trường xảy ra như là lợi ích của HST Ví dụ, nếu một khu rừng ngập mặn có khả năng phòng hộ bão cho cộng đồng thì giá trị của khu rừng ngập mặn đó có thể được tính bằng những thiệt hại về tài sản mà cộng đồng tránh được nếu cơn bão xảy ra trong trường hợp không có rừng bảo vệ

Phương pháp này đặc biệt hữu dụng trong việc đánh giá giá trị của các vùng VQG có chức năng bảo vệ tự nhiên Từ đó cung cấp cho các nhà quản lý luận điểm, bằng chứng để đầu tư cho công tác bảo tồn VQG

Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp cũng có một số vấn đề:

- Thứ nhất, việc thu thập các thông tin tổng thể về thiệt hại để so sánh giữa vùng được bảo vệ bởi dịch vụ sinh thái và vùng đối chứng khi có sự cố xảy ra là rất tốn kém

về thời gian và kinh phí vì những tác động có thể là trực tiếp, gián tiếp và lâu dài

- Thứ hai, việc xây dựng các mô hình để ước tính qui mô tác động của sự cố khi không có HST VQG bảo vệ cũng đòi hỏi những kỹ thuật phức tạp hoặc các thông tin chi tiết (Đinh Đức Trường, 2010)

1.2.2 Các phương pháp dựa vào thị trường thay thế

Thực tế cho thấy, có một số hàng hóa và dịch vụ của VQG mặc dù có được mua bán, giao dịch trên thị trường nhưng giá thị trường không phản ánh đầy đủ giá trị của các hàng hóa và dịch vụ này Khi đó, người ta phải xác định giá trị của hàng hóa, dịch

vụ mà VQG cung cấp dựa vào việc phân tích thông tin trên thị trường thay thế Có hai phương pháp truyền thống thuộc nhóm này là chi phí du lịch và giá trị hưởng thụ

Phương pháp chi phí du lịch (Travel Cost Method – TCM)

Chi phí du lịch là phương pháp được thiết kế và áp dụng để lượng hóa giá trị giải trí của môi trường và các HST Giả thiết cơ bản của TCM rất đơn giản, đó là chi phí

bỏ ra để tham quan một điểm du lịch giải trí phần nào phản ánh được giá trị giải trí của

Trang 28

nơi đó Mặc dù không quan sát trực tiếp được sự mua bán chất lượng hàng hoá môi trường của du khách nhưng chúng ta có thể thu nhận được thông tin về hành vi và sự lựa chọn của du khách để hưởng thụ tài nguyên môi trường Thông qua việc ước lượng đường cầu du lịch cá nhân hoặc đường cầu thị trường, các nhà kinh tế sẽ tính được phần phúc lợi của cá nhân hay xã hội thu được khi tham gia thị trường du lịch tại điểm xem xét

Desvousges (1983) có chỉ ra một số ưu nhược điểm khi áp dụng TCM Về ưu điểm, đây là phương pháp dễ được chấp nhận về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn do dựa trên mô hình đường cầu truyền thống và mối quan hệ giữa chất lượng hàng hoá môi trường với chấp nhận chi trả thực tế để hưởng thụ giá trị hàng hoá của du khách Tuy nhiên, cũng có một số trở ngại khi áp dụng TCM Đó là vấn đề đa mục đích (multiple purpose trip) có thể phát sinh khi du khách đi tham quan nhiều điểm trong cùng một chuyến đi và vì vậy chi phí du lịch toàn bộ không phản ánh giá trị du lịch tại một điểm cụ thể Ngoài ra, khi điểm du lịch có sự hiện diện của khách quốc tế thì việc phân vùng và tính toán chi phí của từng vùng là khá phức tạp do cả vấn đề du lịch đa mục đích và ước tính tỷ lệ du lịch

Phương pháp giá trị hưởng thụ (Hedonic Pricing Method – HPM)

Phương pháp giá trị hưởng thụ được sử dụng để ước tính giá trị của môi trường

ẩn trong giá thị trường của một số loại hàng hóa và dịch vụ thông thường Ví dụ, giá trị cảnh quan môi trường được ẩn trong giá bán hoặc thuê bất động sản Phương pháp này được phát triển từ cơ sở lý thuyết về thuộc tính giá trị của Lancaster (1966) trong đó lợi ích của mỗi cá nhân khi tiêu dùng một loại hàng hóa phụ thuộc vào các thuộc tính

của hàng hóa (attributes) Nếu chất lượng môi trường là một thuộc tính của hàng hóa

thì thông qua mô hình hóa mối quan hệ giữa mức sẵn sàng chi trả cho hàng hóa của các cá nhân với các thuộc tính của hàng hóa, ta có thể tách được phần tác động và giá trị của các thuộc tính môi trường trong lợi ích cá nhân

Mặc dù được áp dụng khá phổ biến nhưng phương pháp HPM có một số các nhược điểm nhất định Để đảm bảo độ tin cậy thì HPM đòi hỏi một số lượng dữ liệu rất lớn để chạy mô hình

Ví dụ, nghiên cứu về thị trường bất động sản cần có các mảng dữ liệu về giá bất động sản ở nhiều khu vực, các thuộc tính của bất động sản, các giao dịch thị trường thực tế trong một khoảng thời gian đủ lớn Thông thường các thuộc tính môi trường

Trang 29

của bất động sản rất ít khi được ghi chép khi tiến hành giao dịch, vì vậy phải kết hợp

dữ liệu thuộc tính thông thường với hệ thống thông tin địa lý (GIS) để hoàn thiện bộ số liệu Thường thì HPM chỉ được áp dụng tại các quốc gia phát triển với hệ thông cơ sở

dữ liệu đầy đủ

1.2.3 Các phương pháp dựa vào thị trường giả định

Với những hàng hóa và dịch vụ của VQG không có thị trường và không có giá

cả, các nhà nghiên cứu phải xây dựng các thị trường giả định và quan sát hành vi của

cá nhân trên các thị trường này để tính phúc lợi khi tham gia thị trường, từ đó ước tính giá trị của các hàng hóa và dịch vụ môi trường Nhóm phương pháp này thường được

sử dụng để xác định các giá trị phi sử dụng của VQG

Phương pháp đánh giá phụ thuộc tình huống giả định (Contigent Valuation Method - CVM)

Phương pháp CVM được phát triển bởi Davis (1963) (Đinh Đức Trường, 2010) trong lĩnh vực phân tích marketing, sau đó được chuyển sang áp dụng trong đánh giá môi trường thông qua việc xây dựng các kịch bản về giả định về chất lượng môi trường và thu thập thông tin về hành vi và sự lựa chọn tiêu dùng của cá nhân đối với kịch bản giả định này, chúng ta có thể ước lượng được sự thay đổi trong phúc lợi của

cá nhân khi chất lượng môi trường thay đổi Từ đó tính được thặng dư tiêu dùng của cá nhân khi tham gia thị trường giả định; lợi ích này đo lường giá trị của môi trường đối với chính cá nhân đó Phương pháp này thường được sử dụng để lượng giá các giá trị phi sử dụng của môi trường vì các giá trị này thường không có thị trường giao dịch Mặc dù CVM có rất nhiều biến thể khác nhau và ngày càng được hoàn thiện thì vẫn có một qui trình chung gồm một số bước cơ bản là:

(i) Xác định nhóm đối tượng và phạm vi đánh giá

(ii) Xây dựng dự thảo phiếu hỏi và điều tra thử để điều chỉnh phiếu hỏi và cách tiếp cận lấy số liệu

(iii) Xây dựng phiếu hỏi chi tiết bao gồm các thông tin về thị trường giả định, tình huống giả định, phương tiện chi trả và câu hỏi về sự sẵn sàng chi trả

(iv) Thu thập số liệu hiện trường và xử lý dữ liệu

(v) Tính toán phúc lợi dựa trên mô hình thực nghiệm và suy rộng kết quả tính toán

Về ưu điểm, CVM cho phép xác định các giá trị khó lượng hóa của tài nguyên và

Trang 30

môi trường Cách tiếp cận đánh giá được xây dựng trên cơ sở lý thuyết về độ thỏa dụng và hàm cầu cá nhân, vì vậy mang tính hợp lệ về lý luận Ngoài ra, thông tin ước lượng nếu được tiến hành với qui trình chuẩn mực, có độ tin cậy cao có thể sử dụng trong hoạch định các chính sách, công cụ quản lý tài nguyên

Tuy nhiên, như đã nêu, phương pháp này cho đến nay vẫn gặp sự phê phán rất nhiều do tính chất giả định của nó Vì vậy nhược điểm lớn nhất của phương pháp là người trả lời không tham gia một tình huống thực tế mà chỉ là giả định Vì vậy, động

cơ chi trả và mức chi trả có thể rất sai lệch so với khi họ phải đối mặt với một tình huống thực Carson (1993) có nhận diện 4 loại sai lệch chính khi áp dụng phương pháp

gồm sai lệch giả định (hypothetical bias), sai lệch chiến lược (strategic bias), sai lệch thiết kế (designing bias) và sai lệch xuất phát điểm (starting bias) Các sai lệch này có

thể được giảm thiểu qua những kỹ thuật trong thiết kế và điều tra Một nhược điểm nữa khi áp dụng phương pháp là sự tốn kém về thời gian và kinh phí do đòi hỏi sự tham gia của nhiều chuyên gia, họp nhóm tư vấn thảo luận, điều tra thử tại hiện trường, điều chỉnh câu hỏi, và một kích cỡ mẫu lớn

Phương pháp mô hình lựa chọn (Choice Modelling –CM)

Mô hình lựa chọn là phương pháp lượng giá thông qua tuyên bố về sở thích được

sử dụng để lượng hóa giá trị phi sử dụng của tài nguyên thông qua việc xây dựng hai hay nhiều kịch bản giả định, mỗi kịch bản có nhiều thuộc tính khác nhau (attributes) Thông qua sự lựa chọn của cá nhân với từng kịch bản, nhà nghiên cứu có thể ước lượng được phúc lợi cá nhân khi tham gia kịch bản và sự đánh đổi về giá trị giữa các

thuộc tính trong các kịch bản

Phương pháp CM được xây dựng dựa trên thuyết lợi ích ngẫu nhiên của Manski (1977) và thuyết thuộc tính của giá trị của Lancaster (1966) Hai lý thuyết này cho phép lượng giá các hàng hoá môi trường dưới dạng các thuộc tính của chúng thông qua việc áp dụng mô hình lựa chọn xác suất để chọn ra cách kết hợp các thuộc tính đó Bằng cách đặt cho mỗi thuộc tính một mức giá hoặc mức chi phí thì các ước lượng về lợi ích biên sẽ được chuyển thành các ước lượng về tiền tệ đối với mỗi sự thay đổi các mức độ của thuộc tính

Qui trình tiến hành CM cũng bao gồm một số bước giống như CVM Về ưu điểm,

CM cho phép lượng hóa giá trị của nhiều kịch bản lựa chọn khác nhau cũng như sự đánh đổi trong các thuộc tính của từng kịch bản, từ đó đưa ra cho nhà quản lý nhiều ý

Trang 31

tưởng để lựa chọn hướng quản lý môi trường khi đã có kết quả nghiên cứu Tuy nhiên,

CM vẫn là phương pháp phân tích dựa trên kịch bản giả định, từ đó vẫn phát sinh vấn

đề sai lệch giả định đối với người được phỏng vấn trong khi trả lời Ngoài ra, CM đòi hỏi quá trình xây dựng phiếu điều tra phức tạp do mỗi kịch bản có nhiều thuộc tính, việc xác định qui mô của mỗi thuộc tính phải dựa vào các bằng chứng khoa học và ý kiến dự đoán sâu của các chuyên gia có chuyên môn cao và nhiều kinh nghiệm thực tiễn (Đỗ Nam Thắng, 2008)

1.2.4 Phương pháp chuyển giao giá trị

Brower (2000) định nghĩa phương pháp chuyển giao giá trị là việc sử dụng kết quả lượng hóa giá trị của một địa điểm nghiên cứu sang một địa điểm khác Phương pháp này sử dụng cho những VQG có đặc điểm sinh thái tương tự như nhau, đặc biệt

là trong bối cảnh cần số liệu gấp mà không đủ thời gian và kinh phí để tiến hành nghiên cứu mới Tuy nhiên khi thực hiện phương pháp này cần lưu ý đến độ chính xác của nghiên cứu trước đây, cũng như những biến động về mặt không gian và thời gian giữa 2 nghiên cứu (Đỗ Nam Thắng 2008)

Trang 32

CHƯƠNG 2 KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VỀ LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ PHỤC VỤ

QUẢN LÝ BẢO TỒN CÁC VƯỜN QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

CHO VIỆT NAM 2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ

VƯỜN QUỐC GIA CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Trong các đề tài nghiên cứu và ứng dụng thực tế, trên thế giới hiện nay áp dụng

nhiều cách tiếp cận và các phương pháp khác nhau để xác định giá trị kinh tế các khu

BTTN, VQG nhằm đưa ra các kết quả ước tính về các giá trị sử dụng, phi sử dụng, từ

đó làm cơ sở để xem xét và đưa quyết định quản lý phù hợp với mỗi khu BTTN và

VQG Tại Hội nghị thượng đỉnh năm 1992, các chính phủ đã công nhận các khu bảo

tồn tự nhiên là các đơn vị kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc xoá đói giảm

nghèo, duy trì HST và hỗ trợ môi trường sống của các cộng đồng trên thế giới Quan

điểm mới về khu bảo tồn tự nhiên đòi hỏi phải có nhận thức đúng và hiểu rõ giá trị

kinh tế của các khu bảo tồn tự nhiên Lợi ích trực tiếp của các khu VQG, khu bảo tồn

thể hiện ở giá trị sử dụng trực tiếp khu rừng đó vào các mục đích như giải trí, du lịch,

khai thác lâm sản, săn bắn, giá trị của nguồn gen dự trữ, giáo dục và nghiên cứu

Những lợi ích đó được tính toán theo giá thị trường hoặc theo các phương pháp chuyên

ngành quy đổi bằng tiền các giá trị phi sử dụng và giá trị không có giá thị trường

2.1.1 Kinh nghiệm của nhóm các nước phát triển

Hiện nay, việc lượng hóa giá trị kinh tế VQG trở nên phổ biến tại các nước phát

triển như: Hoa Kỳ, Canada, Anh, Scotlan, Australia, Thụy Điển Sử dụng các phương

pháp có giá thị trường và các phương pháp ước tính chuyên ngành như: phương pháp

chi phí du lịch; phương pháp chi phí cơ hội; phương pháp CVM; phương pháp mô hình

lựa chọn… để lượng giá các giá trị sử dụng và phi sử dụng của VQG, khu bảo tồn

Sau đây là một số ví dụ điển hình về các quốc gia trên thế giới thực hiện các

nghiên cứu về lượng hóa giá trị kinh tế các khu bảo tồn tự nhiên:

Trang 33

thông qua tổng hợp phiếu điều tra để xác định giá trị của khu giải trí đầm lầy ven bờ Terebonne Parish bang Louisiana Phương pháp đánh giá chủ quan cũng đã được ứng dụng để để xác định tầm quan trọng của các khu rừng nhiệt đới (Kramer Randall A.,1996)

- Nghiên cứu lượng cacbon hấp thụ trên cơ sở mô hình động có tính đến giá trị sử dụng đất trong nông nghiệp (R.G.Newell và R N Stavins, 1999) và MP để tính giá trị hấp thụ CO2 của rừng Kết quả nghiên cứu trên 36 địa hạt của bang Arkansas, Louisiana, Mississippi cho thấy giá trị của số lượng gỗ khai thác định kỳ nhỏ hơn giá trị của hấp thụ cacbon, vì vậy không tiến hành việc khai thác gỗ

- Phương pháp mô hình toán được sử dụng trong một nghiên cứu để tính giá trị phòng chống lụt bão của bãi đầm lầy ven bờ Terrebonne Parish thuộc châu thổ Mississippi, bang Louisiana, đã chỉ ra rằng việc mất đi khoảng 1 hải lý vuông đầm lầy ven bờ có thể dẫn đến tổn thất khoảng 5,75 triệu đôla/năm

- Tại thảo nguyên vùng Bắc Mỹ đã có nhiều nghiên cứu phân tích kinh tế xác định giá trị của đầm lầy Những đầm lầy thảo nguyên ở phía tây Bắc Mỹ là nơi cư trú của chim di cư và là địa điểm săn bắn lý tưởng Giá trị khu vực được xác định bằng sự sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ vùng đất săn bắn

- Một nghiên cứu khác về đánh giá lợi ích các phương án thay thế của hệ thống cung cấp nước của thành phố New York do Acharya Gayatri thực hiện năm 1998 So sánh hai phương án tăng chất lượng nước: cải tạo HST của vùng cung cấp nước chính New York và xây dựng những hệ thống lọc nước hiệu quả hơn Phương án thứ nhất cần chi phí là 1-1,5 tỷ đôla và còn thu về những lợi ích sinh thái Phương án thứ hai cần đầu tư 6-8 tỷ đôla và chi phí thường niên hàng năm là 300 triệu đôla Lợi ích mang lại từ việc cải tạo HST chứa nước nhằm cải thiện chất lượng nước đã dẫn đến quyết định đầu tư để bảo tồn các HST

2.1.1.2 Australia

Lượng giá kinh tế được áp dụng với trường hợp VQG Grampians ở Australia (Sturgess Read, 1994) nghiên cứu các lợi ích thu được từ sự phát triển du lịch và sản xuất mật ong Để tính toán những lợi nhuận thu được từ khách du lịch người ta đã xác định những chi phí lưu trú, ăn uống và các chi phí khác Khách du lịch được phân loại theo khoảng cách, loại phương tiện sử dụng và thời gian lưu trú tại VQG Phương pháp chi phí du lịch được sử dụng nhằm xác định chi phí đi lại đối với du khách Từ

Trang 34

đường cầu các du khác thăm quan, các nhà nghiên cứu đã ước tính được giá trị giải trí của VQG này

2.1.1.3 Thụy Điển

Lượng giá kinh tế được tiến hành với giá trị hấp thụ nitơ của các đầm lầy Nồng

độ nitơ ở trong nước của các khu vực không gần với đầm lầy thường cao gấp hai lần tiêu chuẩn quy định Lượng nitơ trong lớp nước bề mặt đó được thải ra chủ yếu từ hệ thống dẫn nước thải và phân bón Các nhà nghiên cứu đã cảnh báo về mức độ nguy hiểm sức khỏe do nước sinh hoạt bị ô nhiễm nitơ và những chi phí y tế phát sinh

Vì vậy, người dân đã lên tiếng sẵn sàng đóng góp dưới hình thức đóng thuế nhằm cải thiện chất lượng nước sinh hoạt Kết quả của việc trưng cầu dân ý đã đưa ra mức chi trả vào khoảng 100 đôla/người/năm nhằm giảm nồng độ nitơ xuống dưới tiêu chuẩn quy định

2.1.1.4 Canada

Các nhà nghiên cứu đã xác định giá trị tồn tại trong dự án xây đập kè và hồ chứa trên sông Alpha Creek thuộc khu vực thảo nguyên Canada nhằm cân bằng nguồn nước phục vụ dân cư và nông nghiệp (Tilden D Frehs J.,1997) Phân tích tài chính chỉ ra dự

án có lãi nhưng không tính đến các tổn thất về cảnh quan, giải trí, nơi cư trú của động vật hoang dã cũng như sự thay đổi khí hậu Nghiên cứu này đã lượng hóa giá trị của những tổn thất về môi trường nếu tiến hành dự án Kết quả đã chỉ rõ việc xây dựng hồ chứa đã làm thay đổi đổi dòng chảy tự nhiên của sông; làm biến mất một số loài cá, 11 hecta rừng tự nhiên, 3 loài chim, 500 hecta đất thảo nguyên hoang dã; xây dựng được

600 hecta hồ chứa nước và tạo dựng được 20 hecta đầm lầy nước

Nghiên cứu đã lượng giá bồi thường mỗi năm khoảng 59 đôla cho người dân mà những phương pháp lượng giá khác không thể tìm thấy Trong tính toán giá trị tồn tại câu hỏi đặt ra là việc xác định số lượng người dân trong phạm vi nghiên cứu Người dân càng sống xa dòng sông thì giá trị tồn tại của nó đối với con người càng nhỏ Trong phạm vi nghiên cứu bao gồm 20 ngàn người dân sống trong bán kính 90 phút đi bằng ôtô đến dòng sông nếu đền bù 59 đôla/người/năm thì sự tổn thất của giá trị tồn tại chiếm 1,2 triệu đôla/năm

2.1.1.5 Anh

Trang 35

Các nhà nghiên cứu tại những khu đầm lầy Norfolk Broads ở miền Nam nước Anh đã nghiên cứu lượng hóa giá trị tồn tại của chúng nhằm mục đích bảo vệ đầm lầy (Barbier Edward, Mike Acreman, Duncan Knowler., 1997; Bateman I.J., Langford I.H and Graham A A, 1995) Dùng CVM để trưng cầu dân ý những nhóm người dân

có liên quan đã cho thấy khi khoảng cách của người phỏng vấn tới vùng đầm lầy gia tăng thì mức sẵn sàng chi trả để bảo tồn sẽ giảm xuống Những người dân sống trong vùng đầm lầy sẵn sàng chi trả khoảng 22 đôla/người/năm trong khi những người dân khác trong vùng Great Britain chỉ trả 7,2 đôla/người/năm Tổng giá trị sẵn sàng chi trả tương đương khoảng 57,3 đôla triệu/năm và 12,9 triệu đôla/năm

2.1.2 Kinh nghiệm của nhóm các nước đang phát triển

Các nhà nghiên cứu cũng đã dùng phương pháp CVM để ước tính giá trị kinh tế của đàn sư tử tại VQG Pilanesberg thuộc phía Nam Châu Phi (Vorhies D., Vorhies F, 1993) Kết quả cho thấy mức sẵn sàng chi trả để bảo đảm điều kiện sống và nuôi dưỡng sư tử khoảng 63-67 ngàn đôla/năm nhỏ hơn rất nhiều so với lợi nhuận bổ sung khoảng 5-12 triệu đôla/năm Dựa vào những kết quả chi phí và lợi nhuận đó những công ty du lịch sinh thái đã đầu tư cho VQG nhằm bảo tồn loài sư tử Lợi nhuận thu được trong lĩnh vực du lịch sinh thái đã giúp cho hiệu quả kinh tế của VQG tăng lên gấp nhiều lần

Trang 36

cộng đồng 33 triệu đô la, nguồn nước 13,8 triệu, hấp thụ cácbon 17,4 triệu, giá trị ĐDSH 2,3 triệu) Các chi phí phi thương mại nếu không có khu BTTN là 199,9 triệu

đô la (lợi nhuận tài chính 3,1 triệu đô la, đóng góp của nhà tài trợ 10,7 triệu, thiệt hại

về mùa vụ và chăn nuôi 75,5 triệu, chi phí cơ hội 110,6 triệu) Như vậy, nếu không có các khu bảo tồn tự nhiên thì tổng thiệt hại kinh tế hàng năm là 76,4 triệu đô la

Chỉ tính riêng giá trị sử dụng trực tiếp các hàng hoá, dịch vụ mang tính thương mại như thu phí cho thuê, vé vào cửa, trồng cây, khai thác gỗ, củi đã đem lại thu nhập khoảng 1 triệu đô la/năm Giá trị sử dụng các sản phẩm, dịch vụ phi thương mại như kiếm củi đun, lấy cỏ, làm than, sử dụng nước, săn bắt của người dân địa phương sống trong bán kính 1,5 km cách khu bảo tồn tự nhiên là 82 đôla/hộ/năm, và 36 đôla/hộ/năm đối với các hộ sống trong bán kính từ 1,6-2,5 km cách khu bảo tồn tự nhiên Các giá trị sử dụng mà người dân bán trên thị trường đem lại thu nhập từ 30-

136 đôla/hộ/năm Nếu không có khu bảo tồn tự nhiên thì các hộ dân sẽ mất thu nhập khoảng 135 đôla/hộ/năm

ở Columbia và các tổ chức cá nhân quản lý các khía cạnh du lịch của công viên Tổng

số thặng dư và cá nhân người tiêu dùng tích lũy cho du khách Columbia tại LNNP được ước tính bằng cách sử dụng phương pháp chi phí vùng du lịch, chi phí sẵn sàng trả để phục hồi HST được phân tích bằng cách sử dụng phương pháp CVM Tổng số thặng dư của người tiêu dùng vượt quá 2,7 tỷ peso Columbia hay 1.300.000 USD Thặng dư của người tiêu dùng cá nhân đã được xác định là 87 peso Columbia

Mức trung bình sẵn sàng chi trả để khôi phục lại các vùng bị thiệt hại do cháy rừng năm 2006 dao động giữa 3.969 và 6.742 USD Nếu ban quản lý của công viên LNNP tiến hành tăng lệ phí tham quan, giá trị thu đươc có thể tăng từ 232.800.000 peso và 395.500.000 peso, tương đương với khoảng 116,408 USD và 197,739 USD để khôi phục lại vùng ảnh hưởng của cháy rừng năm 2006

2.1.2.4 Thái Lan

Trang 37

Có rất nhiều nghiên cứu xác định giá trị môi trường ở Thái Lan liên quan đến các VQG và khu bảo tồn Grandstaff và Dixon (1986) sử dụng phương pháp chi phí khu

du lịch, và tìm ra giá trị thặng dư tiêu dùng của VQG Lumpinee, giá trị sử dụng được lượng hóa lên tới 132.000.000 baht/năm TDRI/HIID cũng sử dụng phương pháp chi phí du lịch để xác định giá trị sử dụng của VQG Khao Yai và phương pháp CVM để xác định giá trị phi sử dụng của VQG này Kết quả nghiên cứu bằng phương pháp chi phí du lịch ước tính lợi ích là 1.420 baht cho mỗi chuyến thăm, trong đó có 870 baht là thặng dư người tiêu dùng Mức sẵn sàng trả cho phí vào cửa là 22 baht/người Giá trị sẵn sàng trả trung bình cho phí vào cửa sau khi đã nâng cấp các hạng mục là 44 baht/người Giá trị phi sử dụng trung bình đối với người Thái là 730 baht/người/năm Giá trị phi sử dụng trung bình đối với đối tượng không phải là người Thái là 183 baht/người/năm (Kaosa ARD, Patmasiriwat, Panayotou and Deshazo, 1995)

2.1.3 Một số nhận xét chung

- Tại các quốc gia phát triển, các phương pháp hiện đại được sử dụng phổ biến trong lượng giá các VQG gồm TCM, CVM, các phương pháp này đặc biệt có giá trị trong việc ước tính các nhóm giá trị khó lượng hóa của VQG, khu bảo tồn như giá trị bảo tồn ĐDSH, giá trị lưu truyền, giá trị tồn tại;

- Các nghiên cứu lượng giá chủ yếu phục vụ cho mục tiêu so sánh chi phí và lợi ích của các phương án sử dụng tài nguyên khác nhau, từ đó giúp các nhà quản lý lựa chọn được các phương án phát triển phù hợp nhất;

- Các quốc gia đang phát triển chủ yếu sử dụng các kỹ thuật đơn giản như giá thị trường, chi phí thay thế để lượng hóa từng phần các nhóm giá trị của VQG Ưu điểm của việc áp dụng các kỹ thuật đơn giản là ít tốn kém về chi phí và chuyên gia, tuy nhiên kết quả lượng giá chỉ cho thấy một phần giá trị trong TEV của VQG, từ đó chưa

hỗ trợ được nhiều cho công tác ra quyết định

- Thực tế cho thấy giá trị phi sử dụng ngày càng được cộng đồng quan tâm, đặc biệt giá trị ĐDSH, và phương pháp CVM ngày càng phổ biến hơn và kết quả ước tính giá trị phi sử dụng ngày càng cao nhờ sự nâng cao nhận thức và thái độ của con người về công tác bảo tồn các HST trên cạn và dưới nước

2.2 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU ĐÃ THỰC HIỆN TẠI VIỆT NAM

VỀ LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ CÁC VƯỜN QUỐC GIA

Trang 38

Tại Việt Nam, việc lượng giá tài nguyên và tác động môi trường bắt đầu vào giữa những năm 1990 cùng với sự ra đời của Luật BVMT 1993 và nghị định 175/CP, trong

đó đòi hỏi việc lượng giá môi trường và những thiệt hại do ô nhiễm suy thoái môi trường gây ra Gần đây, cùng với quá trình phát triển, việc định giá tài nguyên và những tổn hại do ô nhiễm môi trường gây ra càng trở nên cấp bách Chính vì vậy, trong những năm qua, đã có rất nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này xuất hiện ở Việt Nam Các trường hợp lượng giá và các phương pháp lượng giá cũng ngày càng đa dạng và hoàn thiện

Sử dụng kỹ thuật lượng giá thị trường, tác giả Đỗ Nam Thắng (2005) đã tính toán giá trị sử dụng trực tiếp của tài nguyên ĐNN vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ở đây tác giả tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật thông qua việc sử dụng giá thị trường có điều chỉnh một số nhân tố (loại trừ những sai lệch) để đưa ra kết quả khá chính xác về những khối giá trị trực tiếp của ĐNN (gỗ, củi, dược liệu, các sản phẩm phi gỗ…)

Dự án VIE (97/007) của Thụy Sỹ và Bộ Kế hoạch đầu tư trong một nghiên cứu điểm cũng đã lần đầu tiên xây dựng hàm số liều lượng đáp ứng (dose-response) giữa lưu lượng mưa và mức xói mòn đất tại Lâm Đồng, từ đó tính ra thiệt hại năng suất nông nghiệp do việc chặt phá rừng gây ra

Nghiên cứu của Bùi Dũng Thể (2005) tiếp tục sử dụng kỹ thuật lượng giá giá thị trường để đánh giá giá trị của các loại rừng, giá trị của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất và tác động thuốc trừ sâu lên sức khỏe của con người Có thể nói, kỹ thuật lượng giá thị trường là kỹ thuật lượng giá môi trường được sử dụng phổ biến và hoàn thiện nhất ở Việt Nam hiện nay

Để đánh giá những phần giá trị khác trong TEV của tài nguyên, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã bước đầu nghiên cứu và áp dụng thử nghiệm các kỹ thuật lượng giá phức tạp hơn, phổ biến là kỹ thuật Chi phí du lịch TCM và CVM Các kỹ thuật này dựa trên việc căn cứ vào thị trường sẵn có và xây dựng thị trường ảo để đánh giá lợi ích của người sử dụng tài nguyên khi tham gia thị trường, từ đó đưa ra các khuyến nghị về chính sách Mở đầu bằng nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành (1997)

về giá trị du lịch của VQG Cúc Phương thông qua việc sử dụng kỹ thuật TCM, kỹ thuật này tiếp tục được nhân rộng để định giá giá trị giải trí của các VQG, khu BTTN khác trong cả nước như VQG Ba Bể (Nguyễn Quang Hồng, 2005), VQG Bạch Mã (Lê Minh Ngọc và Đinh Đức Trường, 2006), Khu bảo tồn Hòn Mun (Phạm Khánh Nam,

Trang 39

2001) Ngoài phương pháp TCM, phương pháp CVM cũng được áp dụng phổ biến trong lượng giá các giá trị phi sử dụng của tài nguyên cũng như lợi ích của việc tiến hành các chương trình bảo tồn, cải thiện chất lượng môi trường ở Việt Nam Kỹ thuật này ngày càng được hoàn thiện hơn trong các nghiên cứu của Phạm Khánh Nam (2001) về chi trả cho dịch vụ nước sạch ở Thành phố Hồ Chí Minh Đỗ Nam Thắng (2008) là một trong những tác giả đầu tiên ở Việt Nam sử dụng phương pháp lượng giá

mô hình hóa sự lựa chọn (Choice Modelling-CM) để ước tính giá trị của bảo tồn ĐNN

ở VQG Tràm Chim Kỹ thuật này đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhà nghiên cứu kinh tế và các nhà sinh thái học để xây dựng các kịch bản bảo tồn phù hợp,

từ đó tính ra lợi ích của từng kịch bản

Có thể nói, việc lượng hóa giá trị kinh tế của các tài nguyên đã được thực hiện khá phổ biến ở Việt Nam trong những năm qua do yêu cầu của công tác thu thập thông tin phục vụ quản lý và nghiên cứu khoa học Các kỹ thuật lượng giá cũng được sử dụng ngày càng nhuần nhuyễn hơn từ nhóm kỹ thuật đơn giản như lượng giá giá thị trường đến các nhóm phức tạp hơn như mô hình lựa chọn

Nhìn chung, các nghiên cứu cho đến nay về giá trị kinh tế của VQG tại Việt Nam

có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào một nhóm giá trị cụ thể của VQG,

phổ biến là giá trị sử dụng trực tiếp trong khi các nhóm giá trị sử dụng gián tiếp và phi

sử dụng chưa được nghiên cứu kỹ càng

Thứ hai, các kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ tính toán sơ bộ, chưa

có sự thảo luận và liên hệ chặt chẽ với các biện pháp quản lý VQG cụ thể

Thứ ba, các nghiên cứu chưa đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong việc áp

dụng các phương pháp lượng giá, đặc biệt là chưa tổng kết đánh giá khả năng áp dụng các phương pháp này trong điều kiện Việt Nam

2.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA CHO QUÁ TRÌNH LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ KINH TẾ VQG PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO TỒN TẠI VIỆT NAM

Như đã trình bày ở trên, lượng hóa giá trị của tài nguyên môi trường nói chung và giá trị của các VQG nói riêng đã được tiến hành từ những năm 1970 trên thế giới Cho đến nay, việc lượng giá tổng thể hoặc từng phần giá trị kinh tế các VQG đã trở nên

Trang 40

phổ biến tại các nước phát triển và cả các nước đang phát triển nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên tại các khu vực này Ngoài việc dùng phương pháp MP đối với các hàng hóa dịch vụ, sản phẩm có giá thị trường, các nghiên cứu đã sử dụng một số phương pháp chuyên ngành: phương pháp CVM, phương pháp TCM, phương pháp mô hình lựa chọn (CM) Các phương pháp (kỹ thuật) này dựa vào thị trường sẵn có và xây dựng thị trường ảo để đánh giá lợi ích của người sử dụng tài nguyên khi tham gia thị trường, từ đó đưa ra các khuyến nghị về chính sách dựa trên việc tiêu dùng các hàng hóa dịch vụ môi trường, sinh thái mà VQG, khu BTTN đã cung cấp, cũng như thái độ và nhận thức của con người

Có thể rút ra một số bài học được rút ra cho quá trình lượng hóa giá trị kinh tế VQG như sau:

Thứ nhất, lượng hóa giá trị kinh tế VQG đòi hỏi khối lượng lớn thông tin nền về các điều kiện tự nhiên, môi trường, kinh tế, xã hội Ví dụ như các thông tin về thảm thực vật, sinh khối gỗ, sản lượng và tình hình khai thác các lâm sản ngoài gỗ; các thông tin về các hệ sinh thái, loài, gen Đây là khó khăn không những ở Việt Nam mà ngay cả ở các quốc gia phát triển Để có được thông tin nền này cần có các điều tra cơ bản và hệ cơ sở dữ liệu đầy đủ về VQG, đặc biệt là số liệu biến động qua các năm để

so sánh được sự thay đổi về chất lượng môi trường cũng như thay đổi về các giá trị kinh tế

Thứ hai, trên thực tế rất khó có được số liệu nền đầy đủ Vì vậy, thông thường khó có thể lượng hóa được giá trị kinh tế tổng thể của VQG Các nghiên cứu mặc dù

áp dụng cách tiếp cận giá trị tổng thể song cần nêu rõ những giá trị nào lượng hóa được và những giá trị nào không lượng hóa được trong phạm vi nghiên cứu của mình Thứ ba, để tiến hành lượng hóa giá trị kinh tế VQG, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên gia về sinh thái, chuyên gia kinh tế môi trường và các nhà quản lý Chuyên gia sinh thái giúp xác định số liệu nền của VQG về sinh thái, môi trường, đa dạng sinh học của VQG Trên cơ sở này, các chuyên gia kinh tế môi trường sẽ dùng các phương pháp, mô hình kinh tế để lượng hóa các giá trị Vai trò của nhà quản lý cũng rất quan trọng trong việc đưa ra các mục tiêu quản lý cần đạt được, các khó khăn tồn tại trong việc quản lý các VQG để từ đó các chuyên gia kinh tế môi trường thiết kế các kịch bản quản lý nhằm lượng hóa các giá trị phi sử dụng

Thứ tư, việc lựa chọn phương pháp lương giá nên dựa vào một số tiêu chí như

Ngày đăng: 09/12/2015, 09:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mối liên hệ giữa hệ sinh thái của các vườn quốc gia và hệ thống kinh tế - Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững
Hình 1 Mối liên hệ giữa hệ sinh thái của các vườn quốc gia và hệ thống kinh tế (Trang 19)
Hình 2: Mô hình hóa Tổng giá trị kinh tế của rừng - Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững
Hình 2 Mô hình hóa Tổng giá trị kinh tế của rừng (Trang 23)
Hình 3: Phân loại các phương pháp lượng hóa giá trị kinh tế của vườn quốc gia - Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững
Hình 3 Phân loại các phương pháp lượng hóa giá trị kinh tế của vườn quốc gia (Trang 25)
Hình 4: Lựa chọn phương pháp phù hợp để lượng hóa giá trị kinh tế của VQG - Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững
Hình 4 Lựa chọn phương pháp phù hợp để lượng hóa giá trị kinh tế của VQG (Trang 45)
Hình 5: Bản đồ Vườn quốc gia Tam Đảo - Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững
Hình 5 Bản đồ Vườn quốc gia Tam Đảo (Trang 47)
Hình 6: Các phương pháp xác định giá trị của vườn quốc gia Tam Đảo - Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững
Hình 6 Các phương pháp xác định giá trị của vườn quốc gia Tam Đảo (Trang 73)
Hình 7: Qui trình lượng hóa giá trị kinh tế của vườn quốc gia - Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững
Hình 7 Qui trình lượng hóa giá trị kinh tế của vườn quốc gia (Trang 74)
Bảng 12: Đặc điểm của vùng - Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững
Bảng 12 Đặc điểm của vùng (Trang 86)
Hình 9: Tỉ lệ các giá trị gián tiếp/ha tại thời điểm năm 2010 của vườn quốc gia - Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững
Hình 9 Tỉ lệ các giá trị gián tiếp/ha tại thời điểm năm 2010 của vườn quốc gia (Trang 95)
Hình 10: Bản đồ VQG Tam Đảo với các địa điểm khảo sát - Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững
Hình 10 Bản đồ VQG Tam Đảo với các địa điểm khảo sát (Trang 100)
Hình 11: Mối tương quan giữa mức tiền và tỷ lệ trả lời có sẵn lòng chi trả của du - Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững
Hình 11 Mối tương quan giữa mức tiền và tỷ lệ trả lời có sẵn lòng chi trả của du (Trang 104)
Hình 13: Mối tương quan giữa mức tiền và tỷ lệ trả lời có sẵn lòng chi trả của - Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững
Hình 13 Mối tương quan giữa mức tiền và tỷ lệ trả lời có sẵn lòng chi trả của (Trang 105)
Hình 15: Tỉ lệ của giá trị trực tiếp, gián tiếp, phi sử dụng/ha tại thời điểm năm - Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế các vườn quốc gia phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững
Hình 15 Tỉ lệ của giá trị trực tiếp, gián tiếp, phi sử dụng/ha tại thời điểm năm (Trang 115)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w