Điều tra công tác quản lý, vận chuyển, thu gom, công tác tuyên truyền vệ sinh môi trường và nhận thức của người dân về rác thải sinh hoạt
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1: Tính cấp thiết của đề tài:
Thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XVII " phát triển kinh tếnhanh và bền vững; Huy động đồng bộ các nguồn lực đầu tư phát triển công nghiệp,phát triển toàn diện nông nghiệp, nông dân , nông thôn; Thực hiện tốt các chính sách xãhội nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân; Mở rộng quan hệ đối ngoại, tíchcực chủ động hội nhập quốc tế; Đảm bảo quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chínhtrị - xã hội; Phấn đấu đến năm 2015, Hà Tĩnh trở thành Tỉnh có công nghiệp, nôngnghiệp và dịch vụ phát triển"
Đất nước ta hiện nay đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hóa và hiệnđại hóa, cùng với sự phát triển trên, quá trình đô thị hóa ở Việt Nam cũng đang pháttriển không ngừng cả về tốc độ lẫn quy mô, về số lượng lẫn chất lượng Bên cạnhnhững mặt tích cực, những tiến bộ vượt bậc nêu trên vẫn còn tồn tại những mặt tiêucực, những hạn chế mà bất kỳ một nước phát triển nào cũng phải đối mặt, đó là tìnhtrạng môi trường ngày càng bị ô nhiễm cụ thể là ô nhiễm về đất, nước, không khí vàtình trạng tài nguyên bị cạn kiệt cũng như hàng loạt các vấn đề môi trường khác cầnđược giải quyết, khống chế không chỉ đối với các thành phố trọng điểm mà vấn đề nàycũng trở nên trầm trọng ở các thị trấn, đòi hỏi cần được quan tâm sâu sắc và kịp thờigiải quyết một cách nghiêm túc, triệt để Mặt khác, quá trình thực hiện công nghiệp hóa,hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói chung và thị trấnNghèn nói riêng đã hình thành các khu, cụm công nghiệp, làng nghề, khu du lịch Vàtiến trình đô thị hóa ngày càng nhanh cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xãhội toàn tỉnh đặc biệt là thị trấn Nghèn lượng chất thải phát sinh ngày càng nhiều và đadạng
Thị trấn Nghèn nằm ở trung tâm huyện Can Lộc nơi có đường giao thông thuận
lợi, lại tiếp giáp với thành phố nên các cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp ngày càngđược mở rộng thu hút một lượng lớn lao động ở các tỉnh, huyện khác Dân số trong thịtrấn tăng lên nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng tăng theo Các chợ, quán xá, cácdịch vụ phục vụ người dân cũng ngày càng phong phú và đa dạng dẫn đến lượng rác
Trang 2thải tăng lên rất nhiều Tuy nhiên, điều đáng quan tâm ở đây là chưa có một giải pháp
cụ thể nào về việc xử lý các nguồn rác thải phát sinh này Việc xử lý chát thải rắn chưa
có quy hoạch tổng thể, công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn chưa đúng quyđịnh về quy trình kỹ thuật Ngoài ra cùng với sự phát triển kinh tế đời sống của ngườidân được cải thiện Mức sống của người dân nâng cao thì nhu cầu tiêu dùng các sảnphẩm xã hội càng cao, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng lượng rác thải sinh hoạt.Rác thải sinh hoạt phát sinh trong quá trình ăn, ở, tiêu dùng của con người, được thảivào môi trường ngày càng nhiều, vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường dẫnđến môi trường bị ô nhiễm Ô nhiễm môi trường không chỉ làm mất cảnh quan gây ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, ảnh hưởng đến an toàn vệ sinh, thực phẩm màcòn là nguyên nhân làm cho tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp gây thiệt hại về kinh
tế, sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, công tác quản lý chấtthải rắn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói chung và thi trấn Nghèn nói riêng bao gồm quyhoạch, thu gom, xử lý trong thời gian qua chưa được quan tâm đúng mức, bộc lộ nhiềuyếu kém trong quản lý và tổ chức thực hiện Bảo vệ môi trường, quản lý chất thải rắn đãtrở nên cấp thiết, cần có chủ trương, giải pháp đồng bộ để góp phần vào quá trình pháttriển kinh tế nhanh và bền vững hoàn thành mục tiêu mà đại hội Đảng Bộ Tĩnh đề raXuất phát từ thực trạng trên, nhằm tìm ra biện pháp quản lý, xử lý phù hợp góp phầngiảm thiểu ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt ở thị trấn Nghèn Vì thế, tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh”.
1.2 Mục đích nghiên cứu.
+ Điều tra số lượng, thành phần của rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn
+ Điều tra công tác quản lý, vận chuyển, thu gom, công tác tuyên truyền vệ sinh môitrường và nhận thức của người dân về rác thải sinh hoạt
+ Đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt nhằm góp phần giảm thiểu
ô nhiễm môi trường
1.3 Yêu cầu.
Trang 3+ Xác định được khối lượng và thành phần rác thải sinh hoạt hộ gia đình, lượng rác thải bìnhquân trên đầu người (kg/người/ngày) trên địa bàn thị trấn Nghèn.
+ Thống kê lượng rác thải sinh hoạt trung bình theo ngày (tấn/ ngày) ở từng tổ dân cưtrên địa bàn thị trấn
+ Đề xuất được các biện pháp quản lý, xử lý rác thải để đạt được hiệu quả tốt nhất
1.4: Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về hiện trạng rác thải sinh hoạt trên địa bàn
thị trấn Nghèn (nguồn phát sinh, thành phần, khối lượng rác) và hiện trạng quản lý rácthải tại đây (tình hình thu gom, vận chuyển, xử lý…)
- Phạm vi nghiên cứu: thị trấn Nghèn
+ Phạm vi nội dung.
Đề tài này tập trung nghiên cứu về thực trạng thu gom, vận chuyển và xử lý rác
thải sinh hoạt Đề tài không đề cập đến các chất thải mang tính độc hại và nguy hiểm + Phạm vi không gian.
Nghiên cứu này chỉ được thực hiện tại địa bàn thị trấn Nghèn - tỉnh Hà Tĩnh
+ Phạm vi thời gian.
Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 12 năm 2010 đến tháng 4 năm 2011
1.5: Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Thị trấn Nghèn
+ Đặc điểm điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý; địa hình, địa mạo; khí hậu, thủyvăn, các nguồn tài nguyên
+ Đặc điểm kinh tế, xã hội: Tốc độ tăng trưởng kinh tế; dân số, lao động, việclàm và thu nhập; sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạtầng xã hội
- Quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Nghèn:
+ Thực trạng phát sinh rác thải sinh hoạt của thị trấn: Thành phần rác thải sinhhoạt, lượng bình quân…
Trang 4+ Lượng rác thải của hộ gia đình (kg/người/ngày).
+ Điều tra công tác quản lý và xử lý rác thải trên địa bàn thị trấn: Hoạt độngquản lý, thu gom, thái độ của nhà quản lý, công nhân thu gom, các hộ gia đình…
+ Những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bànthị trấn hiện nay
- Đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải phù hợp với tình hình thực tếcủa thị trấn
1.6: Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp duy vật biện chứng làm tiền đề lý luận nhằm xem xét đánh giá thựctiễn của hiện trạng của việc thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải ở địa bàn thị trấnNghèn - tỉnh Hà Tĩnh
1.6.1: Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
+ Thu thập, tổng hợp tài liệu có liên quan như: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
của địa phương; Thu thập số liệu đã được công bố về hiện trạng rác thải sinh hoạt, côngtác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải Các số liệu này được thu thập qua các tài liệucủa UBND thị trấn Nghèn Tham khảo quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải
mà đội, tổ hoặc HTX môi trường đang thực hiện
+ Các số liệu thu thập thông qua các cơ quan của UBND thị trấn Nghèn
+Tìm hiểu qua sách báo, mạng internet…
1.6.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp( phương pháp điều tra và tổng hợp thống kê).
+ Phương pháp khảo sát thực địa để thấy được tình hình chung về thực trạng xảrác thải sinh hoạt của các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu cụ thể là thị trấn Nghèncũng như tình hình thu gom rác của đội vệ sinh môi trường ở đây và hệ thống hóa tàiliệu
+ Phỏng vấn bằng phiếu điều tra nhằm thu thập ý kiến của các hộ gia đình về tìnhhình quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn
+ Điều tra thu thập số liệu mới:
Trang 5Chọn mẫu điều tra: Để tiến hành đánh giá thực trạng tình hình thu gom rác thải ở thịtrấn Nghèn, tôi đã chọn ngẫu nhiên 60 hộ gia đình trong thị trấn để tiến hành điều tra Phương pháp điều tra: Việc thu thập số liệu được thực hiện bằng cách phỏng vấn trựctiếp thành viên trong gia đình với bảng hỏi được thiết kế và chuẩn bị sẵn cho mục đíchnghiên cứu
1.6.3 Phương Pháp chuyên gia:
+ Hình thức thực hiện phương pháp này thông qua các buổi gặp gỡ, trao đổi vàthảo luận với các cán bộ tại địa phương và giáo viên hướng dẫn nhằm tháo gỡ nhữngthắc mắc
1.6.4 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
+ Phương pháp phân tích thống kê, xử lý số liệu để phân tích các nhân tố ảnhhưởng, đánh giá thực trạng thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải trên địa bàn thị trấnNghèn - tỉnh Hà Tĩnh
+ Tổng hợp tất cả các số liệu thu thập được từ các phương pháp trên
+ Xử lý số liệu bằng Excel
1.6.5: Phương pháp hệ thống:
+ Phương pháp hệ thống nhằm khái quát định hướng mục tiêu và những giảipháp chủ yếu nhằm nhằm mục đích nâng cao hiệu quả quản lý rác thải sinh hoạt
1.7 :Ý nghĩa khoa học của đề tài:
Đề tài đã được cung cấp một số cơ sở khoa học phục vụ cho công tác thu gom, vậnchuyển, phân loại và xử lý CTR sinh hoạt cho thị trấn Nghèn - Tỉnh Hà Tĩnh, trong giaiđoạn hiện nay
Tìm ra giải pháp thích hợp cho công tác quản lý và xử lý CTR sinh hoạt trên địa bàn thịtrấn Nghèn - Tỉnh Hà Tĩnh, trên cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp tại thị trấnnhư đề xuất biện pháp phân loại CTR tại nguồn và xử lý CTR làm phân compost vànâng cao nhận thức của người dân
Trang 6- Thu gom hiệu quả, triệt để lượng CTR phát sinh hằng ngày, đồng thời phân loại, tái sửdụng CTR.
- Nâng cao hiệu quả quản lý CTR và xử lý rác thải, góp phần giảm chi phí vận chuyển
và xử lý, cải thiện môi trường và sức khoẻ cộng đồng
Phần 2: Nội dung nghiên cứu
- Chương1: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Rác thải là những vật chất ở dạng rắn do các hoạt động của con người và động vậttạo ra Những “sản phẩm” này thường ít được sử dụng hoặc ít có ít, do đó nó là “sảnphẩm” ngoài ý muốn của con người Rác thải có thể ở dạng thành phẩm, được tạo ratrong hầu hết các giai đoạn sản xuất và trong tiêu dùng
1.1.2 Rác thải sinh hoạt
"Trong quá trình sinh hoạt của con người, một bộ phận vật chất không còn hoặckhông có giá trị sử dụng nữa gọi là rác thải sinh hoạt
Rác thải sinh hoạt là những chất thải có liên quan đến các hoạt động của conngười, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trungtâm dịch vụ, thương mại Rác thải sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ,thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sửdụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rauquả v.v
1.1.3 Quản lý chất thải
Trang 7Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sửdụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải Cũng theo nghị định59/2007/NĐ-CPđịnh nghĩa về quản lý CTR như sau:
Hoạt động quản lý CTR bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xâydựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sửdụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối vớimôi trường và sức khỏa con người
1.2 Nguồn gốc, phân loại, thành phần rác thải
1.2.1:Nguồn gốc phát sinh CTR:
Khối lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng do tác động của sự gia tăng dân số,
sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi tính chất tiêu dùng trong các đô thị và cácvùng nông thôn Trong đó các nguồn chủ yếu phát sinh chất thải bao gồm:
- Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt)
- Từ các trung tâm thương mại, các công sở, trường học, công trình công cộng
- Từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, các hoạt động xây dựng
- Từ các làng nghề v v
Hình 1 Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải
1.2.2: Phân loại CTR:
Chính quyền địa phương
Trang 8Rác thải được thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo các cách sau:
- Theo vị trí hình thành: người ta phân biệt ra rác thải trong nhà, rác thải ngoàinhà, rác thải trên đường, chợ…
- Theo thành phần hóa học và đặc tính vật lý: người ta phân biệt theo các thànhphần vô cơ, hữu cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, da, giẻ vụn, cao su, chấtdẻo…
- Theo mức độ nguy hại:
+ Rác thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại, rác thảisịnh hoạt dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các rác thải phóng xạ, các rác thảinhiễm khuẩn, lây lan… có thể gây nguy hại tới con người, động vật và gây nguy hại tớimôi trường Nguồn phát sinh ra rác thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, côngnghiệp và nông nghiệp
+ Rác thải không nguy hại: là những loại rác thải không có chứa các chất và hợpchất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần
1.2.3:Thành phần CTR:
Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính chất tiêudùng, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác Thông thường thành phần của rác thảibao gồm các hợp phần sau: Chất thải thực phẩm, giấy, catton, vải vụn, sản phẩm vườn,
gỗ, thủy tinh, nhựa, bụi tro, cát đá, gạch vụn…
Bảng 1: Thành phần rác thải sinh hoạt ở một số vùng năm 2000
Trang 9Tỷ trọng (tấn/m3) 0,42 0,43 0,45 0,50 0,50
(Nguồn: Báo cáo kết quả khảo sát của CEETIA, 2001)
1.2.4: Tính chất CTR:
Chất thải rắn sinh hoạt tồn tại ở mọi dạng vật chất như rắn, lỏng, khí, ta có thể xác
định khối lượng, thể tích rỏ ràng Một số chất thải tồn tại dưới dạng khó xác định nhưnhiệt, phóng xạ, bức xạ Dù tồn tại dưới dạng nào thì tác động gây ô nhiễm của chấtthải là do các thuộc tính lý học, hóa học, sinh học của chúng trong dó thuộc tính hóahọc là quan trọng nhất, bởi vì trong những điều kiện nhất định các chất hóa học có thểphản ứng với nhau hoặc tự chuyển đổi sang dạng khác để tạo ra chất mới và dĩ nhiên là
có thể hình thành những chất gây ô nhiễm nghiêm trọng hơn sẽ gây ra hiện tượng "cộnghưởng ô nhiễm" sẽ rất nguy hiểm
1.3: Ô nhiễm môi trường chất thải rắn
1.3.1: CTR gây ô nhiễm môi trường đất:
+ Rác thải sinh hoạt nằm rải rác khắp nơi không được thu gom đều được lưu giữlại trong đất, một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon, hydrocacbon…nằm lại trong đất làm ảnh hưởng tới môi trường đất: thay đổi cơ cấu đât, đất trở nên khôcằn, các vi sinh vật trong đất có thể bị chết
+ Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa… đổ xuống đất làm cho đất bị đóngcứng, khả năng thấm nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa
1.3.2 CTR gây ô nhiễm nguồn nước – cản trở dòng chảy:
+ Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa rác rơi vãi sẽ theodòng nước chảy, các chất độc hòa tan trong nước, qua cống rãnh, ra ao hồ, sông ngòi,gây ô nhiễm nguồn nước mặt tiếp nhận
+ Rác thải không thu gom hết ứ đọng trong các ao, hồ là nguyên nhân gây mất vệsinh và ô nhiễm các thủy vực Khi các thủy vực bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều rác thì cónguy cơ ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật, do hàm lượng oxy hòa tan trong nướcgiảm, khả năng nhận ánh sáng của các tầng nước cũng giảm, dẫn đến ảnh hưởng tới khảnăng quang hợp của thực vật thủy sinh và làm giảm sinh khối của các thủy vực
Trang 10+ Ở các bãi chôn lấp rác chất ô nhiễm trong nước rác là tác nhân gây ô nhiễmnguồn nước ngầm trong khu vực và các nguồn nước ao hồ, sông suối lân cận Tại cácbãi rác, nếu không tạo được lớp phủ bảo đảm hạn chế tối đa nước mưa thấm qua thìcũng có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt.
1.3.3: CTR gây ô nhiễm môi trường không khí:
+ Tại các trạm bãi trung chuyển rác xen kẽ khu vực dân cư là nguồn gây ô
nhiễm môi trường không khí do mùi hôi từ rác, bụi cuốn lên khi xúc rác, bụi khói, tiếng ồn và các khí thải độc hại từ các xe thu gom, vận chuyển rác.
+ Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn vấn đề ảnh hưởng đến môi trường khí là mùihôi thối, mùi khí metan, các khí độc hại từ các chất thải nguy hại
1.3.4: Giảm mỹ quan đô thị:
- Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý, thu gomkhông hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ thiên… đều lànhững hình ảnh gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan đườngphố, thôn xóm
- Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người dân chưacao Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra long lề đường và mương rãnh vẫn còn rấtphổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tác quản lý và thu gom vẫn chưađược tiến hành chặt chẽ
1.3.5: CTR gây ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng:
- Tác hại của rác thải lên sức khỏe con người thông qua ảnh hưởng của chúng lêncác thành phần môi trường Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác động đến sức khỏe conngười thông qua chuỗi thức ăn
- Tại các bãi rác, nếu không áp dụng các kỹ thuật chôn lấp và xử lý thích hợp, cứ
đổ dồn rồi san ủi, chôn lấp thông thường, không có lớp lót, lớp phủ thì bãi rác trở thànhnơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch bệnh, chưa kể đến chất thải độchại tại các bãi rác co nguy cơ gây các bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể người khi tiếpxúc, đe dọa đến sức khỏe cộng đồng xung quanh
Trang 11- Rác thải còn tồn đọng ở các khu vực, ở các bãi rác không hợp vệ sinh là nguyênnhân dẫn đến phát sinh các ổ dịch bệnh, là nguy cơ đe dọa đến sức khỏe con người.Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (WHO), tỷ lệ người mắc bệnh ung thư ở cáckhu vực gần bãi chôn lấp rác thải chiếm tới 15,25 % dân số Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnhngoại khoa, bệnh viêm nhiễm ở phụ nữ do nguồn nước ô nhiễm chiếm tới 25 %.
1.4: Các phương pháp xử lý và tiêu huỷ CTR.
1.4.1: Phương pháp chôn lấp: Chôn lấp hợp vệ sinh là biện pháp tiêu hủy chất
thải được áp dụng rộng rải trên thế giới Theo công nghệ này, chất thải rắn công nghiệp
và chất thải nguy hại dạng rắn hoặc sau khi đã cố định ở dạng viên được đưa vào các hốchôn lấp có ít nhất hai lớp đốt chống thấm, có hệ thống thu gom nước rò rỉ để xử lý, có
hệ thống thoát khí, có giêngs khoan để giám sát khả năng ảnh hưởng đến nước ngầm Phương pháp này có chi phí thấp và được áp dụng phổ biến ở các nước đang pháttriển Việc chôn lấp được thực hiện bằng cách dùng xe chuyên dụng chở rác tới các bãi
đã xây dựng trước Sau khi rác được đổ xuống, xe ủi san bằng, đầm nén trên bề mặt và
đổ lên một lớp đất, hàng ngày phun thuốc diệt ruồi muỗi, rắc vôi bột… theo thời gian,
sự phân hủy của vi sinh vật làm cho rác trở nên tơi xốp và thể tích của bãi rác giảmxuống Việc đổ rác lại được tiếp tục cho đến khi bãi rác đầy thì chuyển sang bãi rácmới Hiện nay việc chôn lấp rác thải sinh hoạt được sử dụng chủ yếu ở các nước đangphát triển nhưng phải tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường một cách nghiêmngặt Việc chôn lấp rác có xu hướng giảm dần, tiến tới chấm dứt ở các nước đang pháttriển
Các bãi chôn lấp rác phải cách xa khu dân cư lớn hơn 5km, giao thông thuận lợi,nền đất phải ổn định, không gần nguồn nước ngầm và nguồn nước mặt Đáy của bãi rácnằm trên tầng đất sét hoặc được phủ các lớp chống thấm bằng màn địa chất Ở các bãichôn lấp rác cần phải thiết kế khu thu gom và xử lý nước rác trước khi thải vào môitrường Việc thu khí ga để biến đổi thành năng lượng là một cách để tận dụng từ rácthải rất hữu ích Việc xây dựng hố chôn lấp phải theo đúng các quy chuẩn thiết kế vềkích thước, độ dốc, các lớp chống thấm đáy và vách, xử lý nước rò rỉ, khí gas để tăngcường hiệu quả sử dung hố chôn lấp chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại
Trang 12thường kết hợp với cố định và hóa rắn chất thải trước khi chôn thông qua việc đưa thêmnhững chất liệu khác vào chất thải để làm thay đổi tính chất vật lý, tăng sức bền, giảm
độ hòa tan
- Ưu điểm của phương pháp:
+ Công nghệ đơn giản, rẻ tiền và phù hợp với nhiều loại rác thải
+ Chi phí vận hành bãi rác thấp
- Nhược điểm của phương pháp:
+ Chiếm diện tích đất tương đối lớn
+ Không được sự đồng tình của người dân khu vực xung quanh
+ Nguy cơ gây ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí) cao
+ Tìm kiếm xây dựng bãi rác mới là việc làm khó khăn
1.4.2: Phương pháp đốt rác: Đốt là quá trình oxy hóa chất thải ở nhiệt độ cao.
Công nghệ này rất phù hợp để xử lý chất thải rắn công nghiệp và chất thải rắn nguy hạihữu cơ như cao su, nhựa , giấy, da, cặn dầu, dung môi, thuốc bảo vệ thực vật và đặc biệt
là chất thải y tế trong những lò đốt chuyên dụng hoặc công nghiệp như lò nung ximăng Theo các tài liệu kỹ thuật thì khi thiết kế lò đốt chất thải phải đảm bảo 4 yều cầu
cơ bản: cung cấp đủ oxy cho quá trình nhiệt phân bằng cách đưa vào các buồng đốt mộtlượng không khí dư; Khí dư sinh ra trong quá trình cháy phải được duy trì lâu trong lòđốt dủ để đốt cháy hoàn toàn ( thông thường ít nhất là 4 giây); Nhiệt độ phải đủcao( thông thường cao hơn 10.000oc) ; Yêu cầu trộn lẫn tốt với các khí cháy- xoáy Phương pháp này chi phí cao, chi phí để đốt một tấn rác cao hơn gấp 10 lần Côngnghệ đốt rác thường sử dụng ở các quốc gia phát triển vì phải có một nền kinh tế đủmạnh để bao cấp cho việc thu đốt rác sinh hoạt như là một dịch vụ phúc lợi xã hội toàndân Tuy nhiên việc đốt rác sinh hoạt bao gồm nhiều chất thải khác nhau sinh khói độc
và dễ sinh khí dioxin nếu không giải quyết tốt việc xử lý khói Năng lượng phát sinh khiđốt rác có thể tận dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc cho ngành công nghệ nhiệt và phátđiện Mỗi lò đốt phải được trang bị một hệ thống xử lý khí thải tốn kém nhằm khốngchế ô nhiễm không khí do quá trình đốt gây ra
Trang 131.4.3: Phương pháp ủ sinh học: Ủ sinh học (compost) là quá trình ổn định sinh
hóa các chất hữu cơ để hình thành các chất mùn, với thao tác sản xuất và kiểm soát mộtcách khoa học tạo môi trường tối ưu đối với quá trình
Quá trình ủ hữu cơ từ rác hữu cơ (sản xuất phân bón hữu cơ) là một phương pháptruyền thống được áp dụng phổ biến ở các quốc gia đang phát triển trong đó có ViệtNam Quá trình ủ được coi như quá trình lên men yếm khí mùn hoặc hoạt chất mùn.Sản phẩm thu hồi là hợp chất mùn không mùi, không chứa vi sinh vật gây bệnh và hạt
cỏ Trong quá trình ủ oxy sẽ được hấp thụ hàng trăm lần và hơn nữa so với bể aeroten.Quá trình ủ áp dụng với chất hữu cơ không độc hại, lúc đầu là khử nước, sau là xử lýcho đến khi nó thành xốp và ẩm Độ ẩm và nhiệt độ được kiểm tra thường xuyên và giữcho vật liệu ủ luôn ở trạng thái hiếu khí trong suốt thời gian ủ Quá trình tự tạo ra nhiệtriêng nhờ quá trình oxy hóa các chất thối rữa Sản phẩm cuối cùng là CO2, nước và cáchợp chất hữu cơ bền vững như: lignin, xenlulo, sợi
1.4.5: Phương pháp xử lý rác bằng công nghệ ép kiện: Phương pháp ép kiện
được thực hiện trên cơ sở toàn bộ rác thải tập trung thu gom vào nhà máy Rác đượcphân loại bằng phương pháp thủ công trên băng tải, các chất trơ và các chất có thể tậndụng được như: kim loại, nilon, giấy, thủy tinh, nhựa… được thu hồi để tái chế Nhữngchất còn lại sẽ được băng tải chuyền qua hệ thống ép nén rác bằng thủy lực với mụcđích làm giảm tối đa thể tích khối rác và tạo thành cac kiện với tỷ số nén rất cao
Hình 2 :Sơ đồ công nghệ xử lý rác bằng phương pháp ép kiện
Băng tải rác
Phân loại
Máy
ép
Băng tải thải vật ệp
Các khối
kiện sau khi
Kim
lo i ại Thủy tinh Giấy
Nhự a
Trang 14(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ, Quản lý chất thải rắn đô thị, 2001)
1.4.6: Phương pháp xử lý rác bằng công nghệ Hydrome: Đây là một công
nghệ mới lần đầu tiên được áp dụng ở Mỹ (2/1996) Công nghệ Hydromex nhằm xử lýrác đô thị (kể cả rác độc hại) thành các sản phẩm phục vụ ngành xây dựng, vật liệu,năng lượng và sản phẩm dùng trong nông nghiệp hữu ích Bản chất của công nghệHydromex là nghiền nhỏ rác sau đó polime hóa và sử dụng áp lực lớn để nén, định hìnhcác sản phẩm Rác thải được thu gom (rác hỗn hợp, kể cả rác cồng kềnh) được chuyển
về nhà máy, không cần phân loại và đưa vào máy cắt nghiền nhỏ, sau đó đưa đến cácthiết bị trộn bằng băng tải Chất thải lỏng pha trộn trong bồn phản ứng, các phản ứngtrung hòa và khử độc thực hiện trong bồn Sau đó chất thải lỏng từ bồn phản ứng đượcbơm vào các thiết bị trộn: chất lỏng và rác thải kết dính với nhau sau khi cho thêmthành phần polime hóa vào Sản phẩm ở dạng bột ướt được chuyển đến máy ép cho rasản phẩm mới Các sản phẩm này bền, an toàn với môi trường
Hình 3:Sơ đồ xử lý rác theo công nghệ Hydrom
Trang 151.4.7: Xử lý rác bằng công nghệ Seraphi: Ban đầu rác thải được đưa tới nhà
máy và đổ xuống nhà tập kết nơi có hệ thống phun vi sinh khử mùi cũng như ozone diệt
vi sinh vật độc hại Tiếp đến, băng tải sẽ chuyển rác tới máy xé bông để phá vỡ mọi loạibao gói Rác tiếp tục đi qua hệ thống tuyển từ (hút sắt thép và các kim loại khác) rồi lọtxuống sàng lồng
Sàng lồng có nhiệm vụ tách chất thải mềm, dễ phân huỷ, chuyển rác vô cơ (kể cảbao nhựa) tới máy vò và rác hữu cơ tới máy cắt Trong quá trình vận chuyển này, mộtchủng vi sinh ASC đặc biệt, được phun vào rác hữu cơ nhằm khử mùi hôi, làm chúngphân huỷ nhanh và diệt một số tác nhân độc hại Sau đó, rác hữu cơ được đưa vàobuồng ủ trong thời gian 7-10 ngày Buồng ủ có chứa một chủng vi sinh khác làm rácphân huỷ nhanh cũng như tiếp tục khử vi khuẩn Rác biến thành phân khi được đưa rakhỏi nhà ủ, tới hệ thống nghiền và sàng Phân trên sàng được bổ sung một chủng vi sinhđặc biệt nhằm cải tạo đất và bón cho nhiều loại cây trồng, thay thế trên 50% phân hoáhọc Phân dưới sàng tiếp tục được đưa vào nhà ủ trong thời gian 7-10 ngày
Do lượng rác vô cơ khá lớn nên các nhà khoa học tục phát triển hệ thống xử lýphế thải trơ và dẻo, tạo ra một dây chuyền xử lý rác khép kín Phế thải trơ và dẻo đi qua
hệ thống sấy khô và tách lọc bụi tro gạch Sản phẩm thu được ở giai đoạn này là phếthải dẻo sạch Chúng tiếp tục đi qua tổ hợp băm cắt, phối trộn, sơ chế, gia nhiệt bảo tồnrồi qua hệ thống thiết bị định hình áp lực cao Thành phẩm cuối cùng là ống cống panel,cọc gia cố nền móng, ván sàn, cốp pha
Cứ 1 tấn rác đưa vào nhà máy, thành phẩm sẽ là 300-350 kg seraphin (chất thải vô
cơ không huỷ được) và 250-300kg phân vi sinh Loại phân này hiện đã được bán trênthị trường với giá 500 đồng/ kg
Như vậy, qua các công đoạn tách lọc - tái chế, công nghệ seraphin làm cho rácthải sinh hoạt được chế biến gần 100% trở thành phân bón hữu cơ vi sinh, vật liệu xâydựng, vật liệu sản xuất đồ dân dụng, vật liệu cho công nghiệp Các sản phẩm này đãđược cơ quan chức năng, trong đó có Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng kiểmđịnh và đánh giá là hoàn toàn đảm bảo về mặt vệ sinh và thân thiện môi trường Với
Trang 16công nghệ seraphin, Việt Nam có thể xoá bỏ khoảng 52 bãi rác lớn, thu hồi đất bãi rác
để sử dụng cho các mục đích xã hội tốt đẹp hơn
1.5 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả và kết quả quản lý chất thải rắn
Qua 5 năm thực hiện "Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công
nghiệp Việt Nam đến năm 2020" ban hành kèm theo Quyết định số 152/1999/QĐ-TTgngày 10 tháng 7 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ, công tác quản lý chất thải rắn đôthị và khu công nghiệp đã từng bước đi vào nề nếp, tình hình môi trường đô thị đangdần được cải thiện Tỷ lệ thu gom chất thải rắn trong cả nước ngày càng tăng; Các bãichôn lấp hợp vệ sinh đã và đang tiếp tục được xây dựng bằng nhiều nguồn vốn khácnhau; Chất thải y tế và công nghiệp độc hại ở một số đô thị cũng đã được thu gom và
xử lý; Một số công nghệ mới nhằm tận thu chất thải rắn được nghiên cứu và ứng dụng;một số khu công nghiệp, khu chế xuất đã có những dự án hoặc kế hoạch xử lý chất thảirắn Nhờ vậy, diện mạo các đô thị đã có chuyển biến tích cực, tạo tiền đề tốt cho việcthực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa Sau đây là các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả và kết quả của quản lý CTR:
1.5.1: Công tác thu gom chất thải rắn:
Ở Việt Nam lượng chất thải rắn thu gom chỉ mới đạt khoảng 70% và chủ yếu tậptrung ở nội thị; Tại nhiều đô thị, khu công nghiệp chất thải nguy hại không được phânloại riêng, còn chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt; Phần lớn các đô thị, khu côngnghiệp chưa có bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh và vận hành đúng quy trình nênảnh hưởng tới đời sống của nhân dân Việc lựa chọn địa điểm chôn lấp hoặc khu xử lýchất thải rắn tại các đô thị gặp nhiều khó khăn do không được sự ủng hộ của người dânđịa phương; Công nghệ xử lý chất thải rắn chưa được chú trọng nghiên cứu và chưahoàn thiện; Các công trình xử lý chất thải rắn hiện còn manh mún, phân tán, khép kíntheo địa giới hành chính nên việc đầu tư, quản lý kém hiệu quả, lãng phí đất đai; Côngtác quản lý nhà nước về thu gom chất thải rắn ở các cấp còn thiếu và yếu Nguyên nhânchủ yếu của những yếu kém trên trước hết là do nhận thức tầm quan trọng của công tác
vệ sinh môi trường của một số cơ quan quản lý các cấp, các doanh nghiệp và một bộphận nhân dân còn nhiều hạn chế, chưa quan tâm đúng mức, thiếu biện pháp thiết thực
Trang 17để khuyến khích phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn;chưa xây dựng được quy hoạch tổng thể quản lý chất thải rắn thống nhất trên quy môtoàn quốc và các chương trình, kế hoạch ưu tiên đầu tư; hệ thống các văn bản quy phạmpháp luật chưa đầy đủ, thiếu cơ chế, chính sách để khuyến khích phát triển công tác thugom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn, cơ chế phân công, phân cấp, phối hợp trong quản
lý nhà nước về chất thải rắn chưa rõ ràng và chưa đề cao trách nhiệm cụ thể của từng
Bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương; đầu tư cho công tác quản lý chất thải rắnchưa được chú trọng; công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý trách nhiệm của các tổ chức,
cá nhân vi phạm không nghiêm
1.5.2: Công tác về phí dịch vụ:
Phí dịch vụ môi trường là một dạng phí phải trả khi sử dụng một số dịch vụ môitrường Mức phí tương ứng với chi phí cho dịch vụ môi trường đó Bên cạnh đó, phídịch vụ môi trường còn có mục địch hạn chế việc sử dụng quá mức các dịch vụ môitrường".Có hai dạng dịch vụ môi trường chính và theo đó 2 dạng phí dịch vụ môitrường là dịch vụ cung cấp nước sạch, xử lý nước thải và dịch vụ thu gom chất thải rắn
Phí dịch vụ thu gom chất thải rắn và rác thải: Chất thải rắn ở đây được hiểu là rác thải
sinh hoạt, rác thải dịch vụ thương mại, kể cả chất thải đô thị độc hại Dịch vụ liên quanđến chất thải rắn sẽ có tác dụng tích cực không chỉ riêng cho môi trường mà cho cả pháttriển kinh tế Chính vì thế việc xác định giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chấtthải rắn phải được nghiên cứu, xem xét kỹ trên cơ sở vừa đảm bảo bù đắp được chi phíthu gom, vận chuyển xử lý vừa gián tiếp khuyến khích các hộ gia đình giảm thiểu rácthải Việc xác định mức phí của dịch vụ môi trường có thể thuận lợi khi cân nhắc, phântích các chi phí cần thiết và dựa trên trọng lượng hoặc thể tích của rác thải
- Tiếp cận theo khối lượng rác thải thì các hộ gia đình phải có thùng đựng rácriêng đặt ở một vị trí cố định và việc trả phí phải hoàn toàn tự nguyện trên cơ sở khốilượng rác thải sản sinh ra hàng ngày hoặc hàng tuần
- Tiếp cận khác là theo số lượng người trong một gia đình, căn cứ vào số người, ví
dụ 3 người một suất phí dịch vụ môi trường v.v để xác định mức phí dịch vụ môi
Trang 18trường phải nộp Theo cách này có thể không được công bằng nhưng thuận lợi hơn, tuynhiên không khuyến khích được các hộ gia đình giảm thiểu rác thải.
1.5.3: Chỉ tiêu bền vững các mô hình: để đánh giá xem mô hình đang được sử
dụng hiện nay có phù hợp với điều kiện hiện nay hay trong tương lai hay không? Cầnphải bỏ ra chi phí để mô hình hoạt động hiệu quả hay cần có sự trợ cấp giúp cho môhình hiệu quả hay không? từ đó dự báo trong thời gian tới các mô hình đang được sửdụng có đem lại hiệu quả hay phù hợp trong tương lai hay không?
Nhằm đẩy mạnh hiệu quả quản lý nhà nước vê nâng cao chất lượng dịch vụ thugom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn, cải thiện chất lượng môi trường sống đáp ứngyêu cầu ngày càng cao của xã hội, tạo cơ sở vững chắc cho việc thực hiện thành côngChiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm2020
2 Cơ sở thực tiến
1.6: Tình hình quản lý rác tại Việt Nam và Hà Tĩnh:
1.6.1: Tình Hình quản lý rác tại Việt Nam
1.6.1.1: Phát sinh rác thải ở Việt Nam
Theo số liệu điều tra năm 2007 của Tổng cục Môi trường (Cục Bảo vệ Môitrường trước đây) chất thải rắn sinh hoạt trong cả nước phát sinh khoảng 17 triệu tấn,trong đó rác thải sinh hoạt tại đô thị khoảng 6,5 triệu tấn (năm 2008 là 7,8 triệu tấn theobáo cáo của Bộ Xây dựng) Ngoại trừ một số ít địa phương như Hà Nội, Thừa Thiên -Huế, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng đang thí điểm phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồntheo dự án 3R, còn lại hầu hết rác thải sinh hoạt vẫn là một mớ tổng hợp các chất hữu
cơ từ các gia đình cho tới nơi xử lý
Điều đáng lo ngại là tới thời điểm này, việc xử lý chất thải rắn vẫn chưa đi theohướng tái chế như mong muốn Khoảng 70% chất thải sinh hoạt đô thị được thu gom vàkhoảng 80% số chất thải này vẫn được xử lý theo cách chôn lấp Còn rác thải nông thônthì hầu như được đổ bừa bãi ra ven làng, ao hồ, bãi sông, bãi tạm hoặc tự đốt Hội Xây
Trang 19dựng Việt Nam cảnh báo, trong số 91 bãi rác lớn trên cả nước chỉ có 17 bãi hợp vệ sinh,chiếm khoảng 15%
Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang có xu thếphát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10% Tỷ lệ tăng cao tậptrung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số
và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý(17,3%), Hưng Yên (12,3%)
Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại
IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinhdoanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y tế Chất thảinguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ítnhưng chưa được xử lý triệt để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH đô thị phátsinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Tuy chỉ có 2
đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm)chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các đô thị
Bảng 2 Lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007 ng CTRSH phát sinh các ô th Vi t Nam ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007 đô thị Việt Nam đầu năm 2007 ị Việt Nam đầu năm 2007 ệp đô thị Việt Nam đầu năm 2007ầu năm 2007 u n m 2007 ăm 2007
STT Loại đô thị Lượng CTRSH bình quân trên
đầu người (kg/người/ngày)
Lượng CTRSH đô thị phát sinh
Trang 20(Nguồn: kết quả khảo sát năm 2006, 2007 và báo cáo của các địa phương)
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùngĐông Nam bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm (chiếm37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến làcác đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh CTRSH đô thị là 1.622.060tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc bộ có lượng phát sinhCTRSH đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thịthuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350tấn/năm (chiếm 3,68%) Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TP Hồ ChíMinh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSH phát sinh ítnhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng 20tấn/ngày; TP Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã Hà Giang37,1 tấn/ngày
Bảng 3: Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam đầu năm 2007
STT Đơn vị hành chính Lượng CTRSH bình quân
người(kg/người/ngày)
Lượng CTRSH đô thị phátsinh
Trang 218 Đồng bằng sông Cửu Long0,61 2.136 779.640
Nguồn: kết quả khảo sát năm 2006, 2007 và báo cáo của các địa phương
Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt và
đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III có tỷ lệphát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầungười đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày
Tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị phát triển
du lịch như TP Hạ Long 1,38kg/người/ngày; TP Hội An 1,08kg/người/ngày; TP ĐàLạt 1,06kg/người/ngày; TP Ninh Bình 1,30kg/người/ngày Các đô thị có tỷ lệ phát sinhCTRSH tính bình quân đầu người thấp nhất là TP Đồng Hới (Tỉnh Quảng Bình) chỉ0,31kg/người/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 0,35kg/người/ngày; Thị xã Kon Tum0,35kg/người/ngày; Thị xã Cao Bằng 0,38kg/người/ngày Trong khi đó tỷ lệ phát sinhbình quân đầu người tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là0,73kg/người/ngày
Theo số liệu của Bộ Xây dựng , tính đến năm 2009 tổng lượng chất thải rắn sinhhoạt đô thị phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 21.500 tấn/ngày Dự báo của BộXây dựng và Bộ TN&MT cho biết, đến năm 2015, khối lượng chất thải rắn sinh hoạtphát sinh từ các đô thị ước tính khoảng 37 nghìn tấn/ngày và năm 2020 là 59 nghìn tấn/ngày cao gấp 2 - 3 lần hiện nay Như vậy, với lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị giatăng nhanh chóng và các công nghệ hiện đang sử dụng không thể đáp ứng yêu cầu dođiều kiện Việt Nam mật độ dân số cao, quỹ đất hạn chế, việc xác định địa điểm bãichôn lấp khó khăn, không đảm bảo môi trường và không tận dụng được nguồn tàinguyên từ rác thải Việc áp dụng các công nghệ mới hạn chế chôn lấp chất thải rắn
Trang 22nhằm tiết kiệm quỹ đất, đảm bảo môi trường và tận dụng nguồn tài nguyên từ rác thải làcấp bách
Tỷ lệ phần trăm các chất có trong rác thải không ổn định, rất biến động theo mỗiđịa điểm thu gom rác, phụ thuộc vào mức sống và phong cách tiêu dùng của nhân dân ởmỗi địa phương Tính trung bình, tỷ lệ thành phần các chất hữu cơ chiếm 45% - 60%tổng lượng chất thải, tỷ lệ thành phần nilông, chất dẻo chiếm từ 6 - 16%, độ ẩm trungbình của rác thải từ 46 % - 52%
1.6.1.2 Quản lý, xử lý rác thải tại Việt Nam
1.6.1.2.1 Quản lý rác thải tại Việt Nam
Quản lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam, nhất là tại các thành phố như Hà Nội,thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng… đang là thách thức lớn đối với các nhàquản lý Tốc độ tăng rác thải không chỉ vì dân số đô thị tăng, sản xuất, dịch vụ tăng, màcòn vì mức sống của người dân đang ngày một tăng lên Tỷ lệ thu gom chất thải sinhhoạt ở các quận nội thành đạt khoảng 95%, còn các huyện ngoại thành tỷ lệ này chỉ đạt60%; Lượng CTR công nghiệp được thu gom đạt 85-90% và chất thải nguy hại mới chỉđạt khoảng 60-70%
Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động thu gom rác thải chủ yếu dựa vào kinhphí bao cấp từ ngân sách nhà nước, chưa huy động được các thành phần kinh tế thamgia, tính chất xã hội hoá hoạt động thu gom còn thấp, người dân chưa thực sự chủ độngtham gia vào hoạt động thu gom cũng như chưa thấy rõ được nghĩa vụ đóng góp kinhphí cho dịch vụ thu gom rác thải
Có thể nói, hiện nay trên địa bàn của các đô thị nhỏ vẫn chưa có hệ thống thugom, vận chuyển chất thải rắn một cách có hệ thống xuyên suốt toàn tỉnh, mà tuỳ theoyêu cầu bức xúc của các huyện, thị và mỗi địa phương, hình thành một xí nghiệp côngtrình công cộng hoặc đội vệ sinh để tiến hành thu gom rác thải sinh hoạt và một phầnrác thải công nghiệp tại các khu trung tâm nhằm giải quyết yêu cầu thu gom rác hàngngày
Theo nghiên cứu của URENCO thì Ở nhiều nước đang phát triển trên thế giới, chiphí cho công tác quản lý CTR đô thị chiếm xấp xỉ 20% tổng chi ngân sách đô thị Ở
Trang 23nước ta, các nhà chuyên môn đánh giá, tổng chi cho quản lý CTR cũng chiếm khoảng6,7% tổng chi phí ngân sách đô thị Tuy nhiên vẫn có từ 5 - 7% lượng chất thải sinhhoạt hàng ngày chưa được thu gom, xử lý Hơn nữa, các biện pháp xử lý rác thải hiệnnay vẫn chủ yếu là chôn lấp Nhưng bãi rác Nam Sơn cũng chỉ xử lý được khoảng1.603 tấn/ngày (xử lý bằng phương pháp chôn lấp).Các nhà khoa học đã đưa ra nhiềugiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTR ở Hà Nội, trong đó việc đầu tư sản xuấtphân compost từ chất thải được đặt lên hàng đầu.
Tại các thành phố, việc thu gom và xử lý chất thải đô thị thường do Công ty Môitrường đô thị (URENCO) đảm nhận Tuy nhiên đã xuất hiện các tổ chức tư nhân thamgia công việc này Việc thu gom chất thải rắn sinh hoạt và quét dọn đường phố thườnglàm vào ban đêm để tránh nắng nóng ban ngày và tắc nghẽn giao thông URENCO chobiết, trung bình mỗi ngày công ty thu gom hơn 2.000 tấn rác thải, trong đó, thành phầnrác hữu cơ nếu được phân loại tốt sẽ tận dụng được tới 40%
1.6.1.2.2 Xử lý rác thải tại Việt Nam
Việc xử lý chất thải rắn đô thị cho đến nay chủ yếu vẫn là đổ ở các bãi thải lộthiên không có sự kiểm soát, mùi hôi và nước rác là nguồn gây ô nhiễm cho môi trườngđất, nước và không khí Theo báo cáo của sở khoa học công nghệ và môi trường cáctỉnh, thành và theo kết quả quan trắc của 3 vùng, mới chỉ có 32/64 tỉnh, thành có dự ánđầu tư xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh, trong đó 13 đô thị đã được đầu tư xây dựng.Tuy nhiên, trừ bãi chôn lấp chất thải rắn tại Khu Liên hợp Xử lý chất thải Nam Sơn, HàNội và bãi chôn lấp chất thải rắn tại thành phố Huế đang hoạt động trong sự tuân thủcác yêu cầu đảm bảo môi trường một cách tương đối, còn các bãi khác, kể cả bãi chônlấp rác thải hiện đại như Gò Cát ở thành phố Hồ Chí Minh, cũng đang ở trong tình trạnghoạt động không hợp vệ sinh
Hoạt động tái chế, giảm lượng chất thải sinh hoạt được tập trung chủ yếu vào đầu
tư xây dựng các nhà máy chế biến rác thành phân hữu cơ Tuy nhiên do chưa có nhữngkhảo sát chi tiết về khả năng chấp thuận của cộng đồng đối với sản phẩm phân vi sinh,
Trang 24đồng thời do kỹ năng phân loại trong quá trình sản xuất của các nhà máy này còn thấp,nên hiệu quả hoạt động của các nhà máy này chưa cao.
Theo số liệu của Bộ Xây dựng, gần đây, đã có một số công nghệ trong nước đượcnghiên cứu, phát triển với nhiều ưu điểm như khả năng phân loại rác tốt hơn, đặc biệt là
đã tái chế, tái sử dụng được phần lớn lượng chất thải, đáp ứng các tiêu chuẩn môitrường như công nghệ SERAPHIN, ANSINH-ASC và MBT-CD.08 với sản phẩm làphân hữu cơ, các sản phẩm nhựa tái chế và viên nhiên liệu, đã được triển khai áp dụngtại Nhà máy xử lý rác Đông Vinh (Nghệ An), Nhà máy xử lý rác Sơn Tây, (Hà Nội);Nhà máy xử lý rác Thủy Phương (TT-Huế); Nhà máy xử lý rác Đồng Văn (Hà Nam),bước đầu đã đạt kết quả nhất định Tuy nhiên, các công nghệ trong nước đều do doanhnghiệp tư nhân tự nghiên cứu phát triển nên việc hoàn thiện công nghệ cũng như triểnkhai ứng dụng trong thực tế còn gặp một số khó khăn
Vì vậy, vừa qua, Bộ Xây dựng đã xây dựng Chương trình xử lý chất thải rắn sinhhoạt áp dụng công nghệ hạn chế chôn lấp giai đoạn 2009 - 2020, với quan điểm kết hợpđầu tư của Nhà nước và khuyến khích, huy động các thành phần kinh tế tham gia đầu tưtrong lĩnh vực xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị, đảm bảo đáp ứng mục tiêu đến năm
2020 các địa phương đều được đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý chất thải rắn sinhhoạt áp dụng công nghệ xử lý hạn chế chôn lấp, đặc biệt đối với các khu xử lý chất thảirắn có tính chất vùng bằng các nguồn vốn khác nhau nhằm giải quyết triệt để vấn đềbức xúc về ô nhiễm môi trường do chất thải rắn sinh hoạt đô thị trong toàn quốc
Giai đoạn 2009 đến 2015 sẽ có 85% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phátsinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường, trong đó khoảng 60% được tái chế, tái
sử dụng, sản xuất phân hữu cơ hoặc đốt rác thu hồi năng lượng Giai đoạn 2016 đến
2020 sẽ có 90% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh được thu gom và xử
lý đảm bảo môi trường, trong đó 85% được tái chế, tái sử dụng, sản xuất phân hữu cơhoặc đốt rác thu hồi năng lượng
Việc thực hiện Chương trình xử lý chất thải rắn sinh hoạt áp dụng công nghệ hạnchế chôn lấp giai đoạn 2009 - 2020 có ý nghĩa to lớn đối với nước ta trong giai đoạnhiện nay nhằm phát huy mọi nguồn lực tham gia giải quyết những bức xúc về chất thải
Trang 25rắn, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác quản lý chất thải rắn trong cảnước
1.6.2: Tình hình quản lý rác ở Hà Tĩnh
1.6.2.1: Thực trạng về công tác quản lý CTR trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh:
* Công tác phân loại, thu gom chất thải rắn: Theo thống kê năm 2010, tổng
dân số trên toàn địa bàn tỉnh Hà tĩnh 1.244.544 người, trong đó dân số nông thôn chiếm85%, tốc độ gia tăng dân số 0,778%, mật độ dân số trung bình 217 người/ km2 , lượngchất thải rắn theo định mức; đô thị loại III, IV là 0,9kg/ người/ ngày, đô thị loai V là0,8kg/người/ ngày; Khu vực nông thôn là 0,4- 0,6 kg/người/ ngày Cùng với sự gia tăngdân số, kinh tế, đô thị hóa tăng nhanh dẫn dến khối lượng chất thải rắn phát sinh từ các
đô thị trên địa bàn tỉnh ngày một tăng (khu vực nông thôn tăng 0,5%/ năm, đô thị tăng1-1,5%/năm)
Bảng 4: Dân số tại các huyện, thành phố, thị xã
Đơn vị hành chính Số đơn vị cấp xã Diện tích tự nhiên
( Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010)
- Chất thải rắn sinh hoạt: Việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại các hộ gia đìnhchưa được thực hiện Các hộ gia đình ở xa đường giao thông được công ty dịch vụ môitrường, HTX môi trường thu gom về khu xử lý tập trung của huyện, thành phố, thị xã
Trang 26Trên toàn tĩnh hiện có 29 đơn vị tham gia vào hoạt động thu gọm, vận chuyển, xử lýCTR gồm 15 hợp tác xã, 9 đội, 4 công ty TNHH, 2tổ vệ sinh ( trong đó Hương Sơn 2HTX; Hương Khê 1 HTX; Đức Thọ 1HTX, 1 tổ, 1 đội; Nghi Xuân 4 HTX; Can Lộc 3đội và 1 công ty; Kỳ Anh 1 HTX, 1 công ty; Thành Phố Hà Tĩnh gồm 1 công ty; Thị XãHồng Lĩnh 1 công ty; Vũ Quang 1 tổ vệ sinh môi trường) với tổng số 399 lao động thugom.
- Chất thải rắn từ các làng nghề: CTR từ các làng nghề hầu hết vẩn thu gomchung cùng với CTR sinh hoạt và các loại CTR khác rồi đưa đi chôn lấp tại các khu xử
lý CTR tập trung của huyện, thành phố, thị xã
- Chất thải rắn từ các khu công nghiệp: Chất thải rắn từ các khu sản xuất nôngnghiệp chủ yếu được bắt nguồn từ 3 lĩnh vực sản xuất nông nghiệp sau:
+ Chất thải rắn từ công tác, thu hoạch mùa màng: CTR phát sinh từ các hoạtđộng sản xuất nông nghiệp chủ yếu là vỏ, thân, lá, gốc rể Các loại rau trồng sau các vụmùa thu hoạch bao gồm rơm rạ, vỏ trái cây Tỷ lệ rơm rạ chiếm 80-85% Người dânthường sử dụng cách tái sử dụng chất thải làm chất đốt hoặc đốt rơm rạ ngay tại đồng.Như vậy chất thải nông nghiệp tại các hộ được tái sử dụng gần như 100%, không phải
đổ bỏ ra bãi chôn lấp CTR
+ Chất thải rắn từ chăn nuôi gia súc: Bao gồm phân gia súc, gia cầm, xác độngvật chết Chất thải chăn nuôi được các hộ gia đình thu gom và ủ phân để bón ruộng + Chất thải rắn từ nuôi trồng thủy sản: Là các vật liệu thô (chủ yếu là hữu cơ)được loại bỏ trong quá trình sản xuất, thức ăn thừa, các loại rong biển, tảo, các phầnloại bỏ trong quá trình chế biến
- Chất thải rắn công nghiệp: Hiện nay các khu công nghiệp đang bắt đầu có dự
án xây dựng, các khu xử lý CTR đã được quy hoạch tập trung trong khu công nghiệp
- Chất thải rắn có nguy cơ độc hại: bao gồm chủ yếu là các đồ nhựa, chai, lọ nhưng hiện nay trên địa bàn chỉ có 3 cơ sở thực hiện tái chế, tái sử dụng
- Chất thải rắn các khu du lịch: CTR từ dịch vụ du lịch được thu gom chung cùngvới CTR sinh hoạt và các loại CTR khác rồi đưa đi chôn lấp tại các khu xử lý CTR tậptrung của huyện, thành phố, thị xã
Trang 27- Chất thải rắn y tế, các bệnh viện, trung tâm y tế, trạm xá được xử lý đốt bằng lòthủ công.
* Công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn ở các huyện, thành phố, thị xã:
- Thành phố Hà Tĩnh: Có 16 đơn vị hành chính gồm 10 phường và 6 xã, do công
ty quản lý công trình đô thị thành phố Hà Tĩnh quản lý, thu gom và xử lý rác Tổnglượng chất thải rắn thu gom được 63.5 tấn/ ngày chiếm tỷ lệ thu gom khoảng 88% Chủyếu là chôn lấp và đốt Vị trí bãi chôn lấp chất thải rắn tại Đập Chùa, phường Tây Yênvới diện tích 2,2ha và thời gian sử dụng bãi xử lý CTR đến cuối tháng 12/2010 phảiđóng cửa Hiện nay UBND tỉnh Hà Tĩnh đã phê duyệt dự án xây dựng nhà máy chếbiến rác công suât 120 tấn/ ngày đáp ứng xử lý chất thải rắn cho TP.Hà Tĩnh và cáchuyện lân cận UBND thành phố đang phối hợp với các ngành xác định thống nhất, vịtrí khu xử lý CTR để đưa dây chuyền, máy móc, thiết bị nhà máy chế biến CTR vàohoạt động
- Thị xã Hồng lĩnh: Có 6 đơn vị hành chính gồm 1 xã và 5 phường, do công tyquản lý dịch vụ công trình công cộng đô thị thị xã Hồng Lĩnh quản lý, thu gom và xử lýrác Tổng lượng CTR thu gom được 30 tấn/ ngày chiếm tỷ lệ thu gom khoảng 92%.Chủ yếu là chôn lấp và đốt vị trí bãi chôn lấp CTR của thị xã tại phường Nam Hồngvới diện tích 4,0 ha dự kiến thời gian hoạt động đến năm 2015
- Huyện nghi Xuân: Có 19 đơn vị hành chính gồm 2 thị trấn và 17 xã Nhưngchỉ có hai thị trấn và 3 xã thành lạp tổ tự quản thu gom, xử lý rác Tổng lượng CTR thugom được 27 tấn/ ngày chiếm tỷ lệ thu gom khoảng 34% Chủ yếu là chôn lấp và đốt vịtrí bãi chôn lấp CTR của huyện ở thôn 11, xã Xuân Thành với diện tích 2ha, dự kiếnthời gian hoạt động đến năm 2013
- Huyện Đức Thọ: Có 28 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn và 27 xã Nhưng chỉ
có 7 xã thành lập tổ đội môi trường thu gom CTR về bãi rác tập trung Tổng lượng CTRthu gom được 12tấn/ ngày chiếm tỷ lệ thu gom khoảng 14.5% lượng rác này đượcHTX môi trường vận chuyển về bãi rác Phượng Thành có diện tích 3,0ha thuộc địa bàn
xã Tùng Ảnh chôn lấp và đốt trong vườn nhà
Trang 28- Huyện Vũ Quang: Có 12 đơn vị hành chính gồm 11xã và 1 thị trấn NHung chỉ
có thị trấn Vũ Quang, xã Đức Lĩnh, xã Đức Bồng thành lập tổ môi trường tổ chức thugom rác thải, các xã còn lại thì các hộ gia đình tự thu gom và xử lý trong vườn nhà.Tổng lượng CTR thu gom được 3 tấn/ ngày chiếm tỷ lệ thu gom khoảng 12% Hiện nay
ở huyện Vũ Quang chưa có khu xử lý CTR mà chỉ thu gom đổ tập trung bãi đất trống
Rú Động Đung với diện tích 1,0ha xử lý chủ yếu là đốt
- Huyện Hượng Khê: Có 22 đơn vị hành chính gồm 21 xã và 1 thị trấn Nhưngchỉ có thị trấn thành lập HTX môi trường tổ chức quản lý, thu gom xử lý rác với sốngười lao đọng trục tiếp là 16 Tổng lượng CTR thu gom được 7.5 tấn/ ngày chiếm tỷ lệthu gom khoảng 9.0% Chủ yếu là chôn lấp và đốt Vị trí bãi chôn lấp CTR của thị trấntại khối 14 với diện tích 0.43ha, dự kiến thời gian hoạt động đến năm 2012
- Huyện Thạch Hà: Có 31 đơn vị hành chính gồm 30 xã và 1 thị trấn Nhưng chỉ
có thị trấn thành lập HTX môi trường tổ chức quản lý, thu gom quản lý, thu gom và xử
lý rác với số người lao động trực tiếp là 4 Tổng lượng CTR thu gom được 1.5 tấn/ ngàychiếm tỷ lệ thu gom khoảng 1.4% Chủ yếu là chôn lấp và đốt Vị trí bãi chôn lấp CTRtại đại bàn xã Thạch Thanh, cách trung tâm thị trấn khoảng 3km về phía Tây Thực chấtđây là bãi rác tạm bợ, CTR được chôn lấp vào đát tự nhiên, thậm chí còn dổ bừa bãi ráctrên đường gây mát cảnh quan và sức khỏe con người
- Huyện Lộc Hà: Có 13 đơn vị hành chính gồm 12 xã và 1 thị trấn Nhưng chỉ có
xã Thạch Kim thành lập HTX môi trường tổ chức quản lý, thu gom quản lý, xử lý rác
từ các hộ gia đình, hộ kinh doanh, đơn vị trên địa bàn CTR được tập kết về bãi tập kếtđất trống gần nghĩa địa hoặc rừng phòng hộ ven biển Thạch Kim gây mất cảnh quan.Còn các xã khác thì hộ dân tự cho gom rồi chôn lấp trong vườn Tổng lượng CTR phátsinh khoảng 9.5tấn/ ngày chiếm tỷ lệ thu gom khoảng 13.5%
- Huyện Cẩm xuyên: Có 27 đơn vị hành chính gồm 25 xã và 2 thị trấn Nhưng chỉ
có 8/27 xã thành lập tổ, đội môi trường hoặc HTX môi trường tổ chức quản lý, thugom và xử lý rác Tổng lượng CTR thu gom được 31 tấn/ ngày chiếm tỷ lệ thu gomkhoảng 26.5% Vị trí bãi chôn lấp CTR tại địa bàn thôn 4 xã Cầm Quan với diện tích
Trang 292ha, thời gian sử dụng còn lại ,dự kiến đến năm 2025; Bãi rác Thiên Cầm 2.2ha thờigian sử dụng còn lại ,dự kiến đến năm 2025.
- Huyện Can Lộc: Có 23 đơn vị hành chính gồm 22 xã và 2 thị trấn Nhưng chỉ
có 3/27 xã thành lập tổ đội môi trường hoặc HTX môi trường tổ chức quản lý, thu gom
và xử lý rác là thị trấn Nghèn, xã Thiên Lộc, xã Tùng Lộc Tổng lượng CTR thu gomđược 50 tấn/ ngày chiếm tỷ lệ thu gom khoảng 40% Chủ yếu là chôn lấp và đốt vị tríbãi chôn lấp CTR tại xứ Đồng Kênh thị trấn Nghèn diện tích 2ha
- Huyện Kỳ Anh: có 33 đơn vị hành chính gồm 32xã và 1 thị trấn do công ty cổphần xây dựng quản lý môi trường đô thị Kỳ Anh thu gom, vận chuyển về bãi xử lý.Tổng lượng CTR thu gom được 74.6 tấn/ ngày chiếm tỷ lệ thu gom khoảng 54.5%.Chủ yếu là chôn lấp và đốt Vị trí bãi chôn lấp CTR tại ngoại thị trấn Kỳ Anh với diệntích 1ha
- Huyện Hương Sơn: Có 32 đơn vị hành chính gồm 30xã và 2 thị trấn Nhưngchỉ có 5 xã, 2 thị trấn thành lập tổ, đội môi trường hoặc HTX môi trường tổ chức quản
lý, thu gom và xử lý rác và áp dụng bãi chôn lấp với quy mô vừa xã Sơn Châu(khuvực Rú Nen), xã Sơn Bình (khu vực Đá Dựng), xã Sơn Hà (khu vực Cồn Lác), xã SơnHòa (khu vực trước chợ Gôi), Xã Sơn Tây (xóm Hà Chua, xóm Hồ Sen), thị trấn PhốChâu (khối 15), thị trấn Tây Sơn (khối 6) Tổng lượng CTR thu gom được 17tấn/ ngàychiếm tỷ lệ thu gom khoảng 29% Chủ yếu là chôn lấp và đốt
1.6.2.2: Hiện trạng quản lý rác tại Hà Tĩnh:
- Về quy hoạch các khu xử lý chất thải rắn.
Ngày 09/12/2008 UBND tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định số 3531/ QĐ-UBND vềviệc phê duyệt quy hoạch các khu xử lý chất thải rắn cho các đô thị tỉnh Hà Tĩnh đếnnăm 2015 và định hướng đến năm 2020 trong đó có 4 địa điểm với vị trí, quy mô, côngsuất dự kiến theo từng giai đoạn và phạm vi phục vụ như sau:
Bảng 5: Quy hoạch các khu x lý CTR ử lý CTR
tấn/ ngày)
Phạm vi phục vụ
Trang 30Đến 2015 từ 2015-
2020
Văn,Thạch Hội, Thạch Hà
Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên
Nghi xuân
Đức Thọ, Can Lộc
Đối với hai huyện Hương Khê và Vũ Quang, do lượng CTR phát sinh chưa lớn,mức độ đô thị hóa còn thấp, mật độ dân cư chưa cao nên áp dụng giải pháp chôn lấphợp vệ sinh Sau năm 2015, khi điều kiện kinh tế của các địa phương dọc trục đường
Hồ Chí Minh phát triển, sẽ đầu tư xây dựng nhà máy chế biến tại xã Đức Bồng, Huyện
Vũ Quang để xử lý CTR cho huyện Vũ Quang và vùng phụ cận dọc đường Hồ ChíMinh thuộc các huyện Hương Khê, Hương Sơn, vùng thượng Đức Thọ, với công suất100-120 tấn / ngày
- Công tác xử lý CTR: Đến thời điểm này toàn tỉnh có 6 địa phương có khu xử lý
CTR được đầu tư theo công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh gồm: Thành Phố Hà Tĩnh, Thị
xã Hồng Lĩnh, Thị Trấn Thiên Cầm, thị trấn Xuân Thành, xã Cầm Quan và thị trấn TâySơn Ngoài ra, CTR ở các đô thị khác đều được đổ, chôn lấp tự nhiên hoặc không đảmbảo quy trình chôn lấp hợp vệ sinh Tình trạng ô nhiễm môi trường tại các bãi rác hiệnnay đang là một trong những vấn đề gây búc xúc
Thống kê trên địa bàn tỉnh chỉ có thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh và một sốhuyện như Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Nghi Xuân, Can Lộc có cách thức thu gom là: Xe rác
Trang 31đi thu gom dọc theo các dãy phố và ngõ của khu vực phục vụ vào những thời điểm địnhtrước trong ngày, hộ gia đình phải mang rác của họ đổ trực tiếp vào xe rác đưa về trạmtrung chuyển hoặc bãi xử lý rác tập trung Hoặc tại mỗi dãy phố và ngõ của khu vực đặtnhững thùng rác di động cho các hộ gia đình đổ vào Các thùng rác ở trạm trung chuyểnđược xe cơ giới thu gom về bãi xử lý CTR tập trung Tại một số huyện khác, do điềukiện kinh phí hạn chế nên tùy theo khả năng, các địa phương đưa ra hình thức tổ chứcthu gom , xử lý, quản lý khác nhau.
Một số xã tự thành lập tổ thu gom CTR tại thôn, xóm CTR được chuyển về bãichôn lấp của xã bằng xe thô sơ hoặc xe công nông Các bãi chôn lấp CTR của các xãđều do xã chủ động lấy diện tích đất từ quỹ đất 5%, không được đền bù, không có đơn
vị chuyên nghiệp vận hành quản lý Việc thu gom CTR tại các xã chưa được tổ chứcđồng bộ, thống nhất, mang tính tự phát, mô hình rất đa dạng
Bảng 6: Các khu xử lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Tên huyện TP, TX Hiện tại Dự kiến
15 thị trấn Phố Châu
Xây dựng mối 2 bãi chôn lấp có tính chất liên vùng, liên xã
Nâng cấp 01 khu chế biến, tái chế CTR
ở khu kinh tế quốc dân cửa khẩu Cầu Treo
Trang 32Xây dựng mới 2 bãi chôn lấp xử lý có tính chấtliên vùng, liên xã
- Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Tỉnh
Bảng 7: Kh i l ối lượng CTR sinh hoạt trên địa bàn Tỉnh ượng CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007 ng CTR sinh ho t trên ại đô thị Việt Nam đầu năm 2007ị Việt Nam đầu năm 2007 a b n T nh àn Tỉnh ỉnh
Dân số( người)
Khối lượng(tấn/ ngày)
số( (người)
Khối lượng(tấn/ ngày)TP.Hà
Trang 33- Những mặt được: Một số địa phương đã chủ động trong việc kêu gọi,
lựa chọn xây dựng các bãi xử lý CTR tập trung Chủ động thành lập các hợp tác xã, tổđội môi trường tập trung thu gom, vận chuyển chất thải rắn nhưng chỉ mới giải quyếtđược ở thị trấn, thị tứ của các huyện hoặc các phường của thành phố, thị xã
+ Ở các xã chủ động trích quỹ đất xây dựng các bãi chôn lấp, giải quyếttrước mắt khi chưa có quy hoạch và cơ chế hỗ trợ ngân sách
+ Các tổ chức, đoàn thể như mật trận nông dân, phụ nữ, đoàn thanh niên trong thời gian qua đã tích cực trong việc thu gom, xử lý rác
+ Đã tích cực vận động nhân dân để đóng góp kinh phí phục vụ cho côngtác thu gom xử lý chất thải rắn mặc dù số lượng đóng góp còn thấp và nguồn kinh phícòn hạn hẹp
- Những tồn tại, yếu kém
+ Trên địa bàn Tỉnh lượng chất thải rắn chưa được phân loại trước khi đưa
đi xử lý Mặt khác công nghệ xử lý còn lạc hậu chỉ mới chôn lấp nhưng hầu như chưađúng quy cách, trang thiết bị lạc hậu, chế độ người lao động còn thấp
+ Lượng CTR sinh hoạt thu gom được chiếm tỷ lệ còn thấp so với thực tế
Trang 34+ Chất thải rắn công nghiệp thu gom từ các nhà máy, khu công nghiệp đạt75-80%, tuy nhiên CTR từ các nhà máy độc lập hầu như chưa được thu gom.
+ Chất thải rắn thu gom được hầu hết được chôn lấp tự nhiên, đốt hoặc bừabãi lấn chiếm sang các khu vực xung quanh
+ Ý thức của người dân và các cơ sở kinh doanh chưa cao nên chất thảiđược xã bừa bãi
+ Bãi chôn lấp thành phố đã gần hết công suất Sự cần thiết cấp bách phảixây dựng một khu xử lý CTR khác
+ Một số bãi rác hiện nay gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và mất mỹquan, không đảm bảo vệ sinh
- Nguyên nhân
+ Nguyên nhân khách quan: Tỉnh Hà Tĩnh có điểm xuất phát thấp lại đang
trong quá trình đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế, quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, hình thành mới các khu dân cư, các khu, cụm công nghiệp nên dân số tăng, đờisống nhân dân được cải thiện dẫn đến lượng chất thải rắn phát sinh trên các huyện,thành phố, thị xã cũng tăng theo
+ Nguyên nhân chủ quan:
Chưa có kế hoạch tổng thể quản lý CTR tại các địa phương
Kinh phí dành cho công tác quản lý CTR còn hạn chế
Các cơ quan chức năng cũng như đơn vị thu gom, xử lý CTR chưa xâydựng cơ chế quản lý CTR và có biện pháp tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ môitrường cho cộng đồng dân cư
Bãi chôn lấp chưa được đầu tư xây dựng đảm bảo đúng quy đinh an toàn
vệ sinh môi trường
Sự vào cuộc của chính quyền địa phương và cả hệ thống chính trị chưaquyết liệt, nhận thức của nhân dân về tác hại của ô nhiễm môi trường còn thấp
1.6.4: Phương hướng xây dựng cơ chế quản lý chất thải từ nay đến
2020
Trang 35- Mục tiêu: Đến năm 2020, toàn tỉnh Hà Tĩnh giải quyết đồng bộ cơ bản vấn đề
thu gom, xử lý CTR trên địa bàn, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái môitrường Nhanh chóng khắc phục những tồn tại, yếu kém, ngăn chặn tình trạng mất vệsinh trong thu gom, vận chuyển, xử lý CTR, cải thiện và nâng cao chất lượng môitrường, bảo đảm phát triển bền vững của Tỉnh nhà Phấn đấu để mọi người dân đượcsống trong môi trường có chất lượng đạt tiêu chuẩn do nhà nước quy định, góp phầnxây dựng đời sống văn minh, hiện đại
+ Nhiệm vụ giai đoạn 2012-2015:
Hoàn thành điều chỉnh Bổ sung quy hoạch quản lý CTR trên địa bàn toàntỉnh Hà Tĩnh
Tiến hành xây dựng các khu xử lý CTR có cấp huyện, thành phố, thị xã hoặcliên vùng theo quy hoạch điều chỉnh, bổ sung được phê duyệt
Xây dựng kiện toàn cơ chế, mô hình quản lý, thu gom, xử lý chất thải rắncho các huyện, thành phố, thị xã
Tiến hành xây dựng 70% trạm trung chuyển tại các xã thuộc các huyện Xây dựng và đưa vào sử dụng hệ thống xử lý rác thải y tế các bệnh viện Trang bị phương tiện phù hợp đẻ thực hiện công tác thu gom và vận chuyểnchất thả rắn của các xã về khu xử lý tập trung của huyện, thành phố, thị xã
Xã hội hóa toàn bộ khâu thu gom và vận chuyển CTR tại các thị trấn, các xãcủa các huyện
Đến năm 2015, xây dựng công sở dữ liệu và hệ thống quan trắc CTR trênđịa bàn tỉnh
Trang 36+ Đến năm 2015 phấn đấu đạt được các chỉ tiêu:
100% tổng lượng CTR sinh hoạt đô thị phát sinh được thu gom và xử lý bảođảm môi trường, trong đó 60% được tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng lượng hoặc sảnxuất phân hữu cơ
50% tổng lượng CTR xây dựng phát sinh tại các đô thị được thu gom, xử lý,trong đó 30% được thu hồi để tái sử dụng, hoặc tái chế
30% bùn bể phốt của thành phố và 10% của các đô thị còn lại được thu gom
và xử lý đảm bảo môi trường
Giảm 40% khối lượng túi nilon sử dụng tại các siêu thị và trung tâm thươngmại so với năm 2010
50% các đô thị có công trình tái chế CTR thực hiện phân loại tại hộ gia đình 80% Tổng lượng CTR công nghiệp không nguy hại phát sinh được thu gom
và xử lý đảm bảo môi trường, trong đó 70% được thu hồi để tái sử dụng và tái chế .60% % Tổng lượng CTR nguy hại phát sinh tại các khu công nghiệp được xử
lý đảm bảo môi trường
100% Lượng CTR y tế được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường
40% Lượng CTR phát sinh tại các điểm dân cư nông thôn và 50% tại cáclàng nghề được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường
100% Các bãi rác gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số64/ 2003/ QĐ- TTg ngày 22/04/2003 của Thủ Tướng Chính Phủ được xử lý
+ Nhiệm vụ sau năm 2015:
Xây dựng 100% trạm trung chuyển tại các xã
Cung cấp đầy đủ phương tiện phù hợp phục vụ cho công tác thu gom CTR
từ xã về bãi tập trung cấp huyện hoặc liên vùng
Xã hội hóa toàn bộ khâu phân loại, thu gom, vận chuyển CTR ở cấp xã
+ Đến năm 2020 đạt được các chỉ tiêu:
100% Các đô thị có công trình tái chế CTR thực hiện phân loại tại hộ giađình
Trang 37.100% Tổng lượng CTR sinh hoạt đô thị phát sinh được thu gom và xử lýbảo đảm môi trường, trong đó 90% được tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng lượng hoặcsản xuất phân hữu cơ.
90% Tổng lượng CTR xây dựng phát sinh tại các đô thị được thu gom, xử
lý, trong đó 30% được thu hồi để tái sử dụng, hoặc tái chế
.100% Bùn bể phốt của thành phố và 10% của các đô thị còn lại được thugom và xử lý đảm bảo môi trường
Giảm 85% khối lượng túi nilon sử dụng tại các siêu thị và trung tâm thươngmại so với năm 2010
100% Tổng lượng CTR công nghiệp không nguy hại phát sinh được thugom và xử lý đảm bảo môi trường, và nguy hại được thu gom và xử lý đảm bảo môitrường
- Tổng hợp các hình thức quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Bảng 8: Tổng hợp các hình thức quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Huyện, thành phố,
thị xã
Hình thức quản lý
Phạm vi phục vụ
Năng lực tỷ lệ thu gom(%)
TP.Hà Tĩnh công ty QLCT
đô thị Hà Tĩnh thu gom
Trên địa bàn thành phố
Bãi rác đập Chùa, phường Văn Yên
88
TX.Hồng Lĩnh Công ty quản
lý dịch vụ công trình công cộng đô thị
Trên địa bàn thị xã và một
số vùng xã lân cận
Bãi rác Nam Hồng- Hồng Lĩnh
92
H.Hương Sơn - HTX môi
trường(MT)
- Tổ,Đội môi trường
Trên địa bàn thị xã và một số vùng
xã lân cận
Bãi rác ở khối phố
6 thị trấn Tây sơn, khối phố
15 thị trấn Phố châu
29
H.Đức Thọ - HTX MT
- Tổ, Đội môi
Trên địa bàn thị xã và một
Bãi rác Phượng Thành
14.5
Trang 38trường số vùng xã lân
cận
chưa có bãi rác
H Vũ Quang - HTX môi
trường
- Tổ, Đội môitrường
Trên địa bàn thị xã và một số vùng
xã lân cận
Chưa có bãi rác
12
H Nghi Xuân - HTX môi
trường
- Tổ, Đội môitrường
Trên địa bàn thị xã và một số vùng xã lân cận
Bãi rác ở xãXuân Thành
34
H Can Lộc - HTX môi
trường
- Tổ, Đội môitrường
Trên địa bàn thị xã và một
số vùng xã lân cận
Bãi rác thị trấn Nghèn
Bãi rác ở khối 14 thị trấn
9.0
H Thạch Hà - HTX môi
trường
- Tổ, Đội môi trường
Trên địa bàn thị xã và một
số vùng xã lân cận
Bãi rác ở xã Thạch Thanh
1.4
H cẩm Xuyên - HTX môi
trường
- Tổ, Đội môitrường
Trên địa bàn thị xã và một số vùng
xã lân cận
- Bãi rác thôn
14 xã Cẩm Quan
- Bãi rác Thiên Cầm
26.5
H.Lộc Hà - HTX môi
trường
- Tổ, Đội môitrường
Trên địa bàn thị xã và một số vùng
xã lân cận
Chưa có bãi rác xử lý
13.5
H Kỳ Anh - Công ty Trên địa bàn Bãi rác xử 54.5
Trang 39dịch vụ môi trường đô thị Kỳ Anh
- Tổ, đội,HTX
thị xã và một số vùng
xã lân cận
lý ngoại thị, thị trấn
Kỳ Anh
1.6.5: Những mô hình thành công và kinh nghiệm trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt
1.6.5.1: Những mô hình thành công:
Mô hình quản lý tư nhân: Mô hình này được thực hiện trên hoạch toán kinh
doanh độc lập với mục tiêu là đạt được lợi ích trong hoạt động thu gom và vận chuyểnrác thải sinh hoạt, tuy nhiên cần phải giám sát kết quả đạt được trong thu gom và vậnchuyển của các đơn vị đó Vậy những đơn vị như thế nào thì được gọi là tư nhân Đó là
tổ thu gom rác dân lập, hợp tác xã thu gom vận chuyển Để xem mô hình hoạt động cóphù hợp với địa phương thì ta cần phải phân tích xem ưu và nhược điểm của mô hình
Ưu điểm:
- Huy động được các nguồn vốn đóng góp trong dân và tạo việc làm cho ngườidân dịa phương dần dần tiến tới xóa bỏ bao cấp trong khâu thu gom, vận chuyển đượcbao cấp bởi nguồn ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương Với phương châm "người được hưởng dịch vụ phải trả chi phí cho người cung cấp" sẽ làm thay đổi tưtưởng ỷ lại vào nhà nước Người sử dụng dịch vụ ngày càng đòi hỏi người cung cấpphải cung cấp với chất lượng tốt hơn, đa dạng hơn do vậy chất lượng môi trường sẽđược cải thiện hơn
-Tăng tỷ lệ thu gom rác trong các ngõ, xóm, hạn chế tình trạng mất vệ sinh trongcác khu dân cư, hạn chế được việc người dân xã rác xuống sông, ao, hồ
- Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân địa phương tạo điều kiện đểngười dân tự làm chủ và có trách nhiệm với môi trường sống của mình
- Do huy động được các nguồn vốn từ dân nên nhà nước không phải bỏ kinh phí
để mua sắm thiết bị thu gom, vận chuyển
Trang 40- Giảm bớt được chi phí quản lý bởi quản lý tư nhân có bộ máy quản lý tinh gọngiảm bớt được chi phí quản lý trung gian Điều này phù hợp với chính sách tinh giảmbiên chế của nhà nước.
- Phát huy được tính cạnh tranh tích cực trong cơ chế thị trường
Nhược điểm:
- Vì lợi nhuận nên thường không thưc hiện đầy đủ các quy trình thu gom, vậnchuyển như cắt bớt công đoạn, các xe chở quá tải, mua xe cũ có chất lượng thấp khôngđảm bảo an toàn giao thông
- Nếu quản lý thiếu chặt chẽ và phối hợp không đồng bộ sẽ dẫn đến tình trạng lộnxộn trong khâu thu gom, vận chuyển như: Thu không đúng giờ, tập kết không đúngđiểm, để rác tồn động qua ngày
- Cần phải có những quy định bắt buộc các tổ chức và cá nhân đảm bảo công tácthu gom, vận chuyển rác thải trong những dịp lễ tết, những ngày mùa bão, đảm bảochống các hiện tượng tiêu cực
- Không phổ biến kịp thời được các quy định của nhà nước, của ngành cho đốitượng lao động
- Khâu quản lý tài chính dễ sai sót, thêm một công việc cho quản lý cấp huyện
Mô hình quản lý dân lập: Do không có đủ diều kiện xây dựng các công trình vệ
sinh đúng quy cách nên dân vẫn tùy tiện thải chất thải( kể cả chất thải rắn lẫn chất thảilỏng) ra môi trường, trước tình hình đó Ban cán sự, ban chỉ huy được sự chỉ đạo củađảng ủy, UBND phường cho thực hiện đề án " hỗ trợ cải tạo điều kiện vệ sinh môitrường trong khu dân cư" nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng dân cư trong khối có môitrường sống trong lành hơn
Mô hình quản lý nhà nước: Ở Việt Nam mô hình quản lý nhà nước được áp
dụng phổ biến nhất, hoạt động dưới dạng các doanh nghiệp công ích, chịu sự quản lýcủa các sở, ban ngành, UBND địa phương Hoạt động với mục đích là đạt hiệu quả xãhội trong việc thu gom, vận chuyển rác thải
- Về tổ chức quản lý: