1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các hợp chất quang hoạt và đồng phân quang học

18 13,6K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 802,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên nhờ sự xuất hiện các phương pháp vật lý như phổ hồng ngoại, phổ phân cực, phổ cộng hưởng từ hạt nhân, nhiễu xạ tia X,...các nghiên các nghiên cứu về hóa học lập thể đã cho ta n

Trang 1

Cấu trúc không gian của phân tử ảnh hưởng đến tính chất của một chất Hóa học lập thể là ngành chuyên nghiên cứu về cấu trúc không gian của các phân tử, ảnh hưởng không gian của phân tử đến tính chất của các chất cũng như nghiên cứu về hướng không gian trong các phản ứng hóa học Lịch sử phát triển của hóa học lập thể gắn liền với lịch sử phát triển của hóa học hữu cơ Các nghiên cứu về hóa học lập thể mới đầu chỉ giới hạn trong hóa học lập thể cấu hình nhưng sau đó các vấn đề của hóa học lập thể ngày càng phức tạp, đặc biệt do sự phát triển của học thuyết về cấu dạng và phân tích cấu dạng, về hóa học lập thể của phản ứng, về sự tổng hợp định hướng lập thể và chọn lựa lập thể Tuy nhiên nhờ sự xuất hiện các phương pháp vật lý như phổ hồng ngoại, phổ phân cực, phổ cộng hưởng từ hạt nhân, nhiễu xạ tia X, các nghiên các nghiên cứu về hóa học lập thể đã cho ta nhiều hiểu biết mới về sự phụ thuộc của các tính chất và những đặc tính tinh vi về sự phân bố không gian của các nguyên tử trong phân tử, trong việc giải thích cơ chế của nhiều phản ứng

Hóa học lập thể có ý nghĩa thực tế rất lớn đặc biệt trong lĩnh vực hóa học các hợp chất thiên nhiên, trong tổng hợp các hợp chất quang hoạt với cấu hình định sẵn cần cho y học và sinh học, nhất là những nhóm hợp chất có hoạt tính cao như prostaglandin, pheromon Tính chất của các chất polime tổng hợp phụ thuộc rất nhiều vào cấu tạo không gian của chúng Hiện nay việc điều chế các polime có dạng lập thể xác định là một trong những phương pháp quan trọng nhất để tăng phẩm chất của các vật liệu nhân tạo

Sự tiến bộ nhanh chóng của hóa học lập thể - từ việc tổng hợp được urê của Wohler năm 1828, đến các công trình tổng hợp của Kolbe năm 1840; của Berthelot năm 1850 đã đặt nền tảng khoa học cho hóa học hữu cơ và dẫn đến việc xây dựng một cơ sở lý thuyết cho khoa học hóa hữu cơ

Hóa học lập thể, đặc biệt là các đồng phân quang học và các hợp chất quang hoạt có ý nghĩa thực

tế to lớn và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực quan trọng Vì vậy, tôi chọn tìm hiểu đề tài về “các hợp chất quang hoạt và đồng phân quang học”.

Vì nhiều lý do nên đề tài chắc còn nhiều thiếu sót, mong thầy và các bạn đọc đóng góp ý kiến, để

đề tài của tôi hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn.

Trang 2

PHẦN NỘI DUNG

Cơ sở vật lý của vấn đề quang hoạt

Ánh sáng là một sĩng điện từ mà phương dao động luơn thẳng gĩc với phương truyền sĩng Các dao động của ánh sáng thường thẳng gĩc với phương truyền sĩng và hướng ra xung quanh theo mọi mặt phẳng trong khơng gian Ánh sáng phân cực phẳng là ánh sáng mà vectơ điện trường của tất cả sĩng ánh sáng đều hướng theo một phương, cĩ nghĩa là cùng nằm trên một mặt phẳng, mặt phẳng này gọi là mặt phẳng phân cực

ánh sáng thường ánh sáng phân cực phẳng

Ánh sáng phân cực phẳng cĩ thể được tạo nên bởi ánh sáng thường chiếu qua một kính phân cực, chẳng hạn kính Nicol

Cĩ một số chất hữu cơ cĩ khả năng làm quay mặt phẳng ánh sáng phân cực khi cho ánh sáng phân cực đi qua Khả năng đĩ gọi là tính quang hoạt, cịn những chất cĩ khả năng đĩ gọi là chất quang hoạt Nếu một chất làm quay mặt phẳng phân cực theo chiều kim đồng hồ được gọi là chất quay phải Nếu một chất làm quay mặt phẳng phân cực ngược chiều kim đồng hồ được gọi là chất quay trái Giá trị

độ quay mặt phẳng phân cực được diễn tả bằng gĩc quay và dấu (+) đứng trước diễn tả chiều quay phải, dấu (-) đứng trước diễn tả chiều quay trái

Để đo khả năng làm quay mặt phẳng mặt phẳng phân cực (độ quay cực) của các chất quang hoạt người ta dùng phân cực kế ghi lấy gĩc quay Đọc và so sánh giá trị quay tương ứng khi cĩ và khơng

cĩ mẫu chất đựng trong ống

Đối với một chất quang hoạt người ta thường dùng đại lượng độ quay cực riêng [α] Độ quay cực riêng của một chất trong dung dịch được tính theo cơng thức:

α là gĩc quay quan sát được đối với một dung dịch cĩ bề dày l dm

Độ dài sĩng của ánh sáng, t nhiệt độ tại thời điểm đo

Cấu hình tuyệt đối của một hợp chất cĩ thể xác định bằng tia X Trước kia khi biết được cấu hình tuyệt đối của một số chất hoạt động quang học, cấu hình của một chất khác cĩ thể được xác định bằng mối tương quan hĩa học với chất đã biết cấu trúc

Trang 3

Đồng phân quang học

Đồng phân quang học là những hợp chất có công thức cấu tạo phẳng giống nhau nhưng khác nhau về cấu trúc không gian do trong phân tử có yếu tố không trùng vật ảnh, hay phân tử có sự bất đối xứng Những đồng phân này chỉ khác nhau về tính hoạt động quang hoạt, nghĩa là khả năng quay mặt phẳng phân cực khác nhau

Các yếu tố đối xứng phân tử

Tính chất của một phân tử nào đó có thể được xác định bằng sự có mặt hay không có những yếu

tố đối xứng cơ bản Quan trọng nhất là những yếu tố đối xứng sau:

3.1 Mặt phẳng đối xứng

Mặt phẳng đối xứng (thường ký hiệu m) là mặt phẳng chia vật ra làm hai phần mà phần này là ảnh của phần kia trong gương Phân tử có mặt phẳng đối xứng nếu sau khi chiếu vào mặt phẳng thì ảnh

sẽ trùng với nó:

H H Cl

Cl H

H H Cl

Cl H

H

3.2 Tâm đối xứng

Tâm đối xứng (i) là điểm mà trên đường thẳng đi qua điểm đó có thể gặp được những điểm tương đương ở khoảng cách như nhau hoặc là điểm mà khi quay phân tử đối xứng điểm đó thu được ảnh trùng với vật ban đầu

Thường một vật có thể có nhiều mặt phẳng đối xứng, nhưng thường chỉ có một tâm đối xứng

b

a

a'

b' i

3.3 Trục đối xứng

Trục đối xứng (thường gọi là trục C) là trục đi qua vật mà nếu quay xung quanh trục một góc xác định bằng thì thu được cấu trúc trùng với cấu trúc ban đầu Bậc của trục phụ thuộc vào giá trị của n Trục bậc 1 khi quay 360o, trục bậc 1 với n = 1, trục C2 – 180o với n = 2,

Cl

H

Cl Cl

Trong phân tử có trục liên hợp C nếu sau khi quay xung quanh trục rồi chiếu vào mặt phẳng thẳng góc với trục thì thu được vật trùng với chất ban đầu:

Trang 4

C C H

Cl

Cl

H

Cl

H

H

Cl

H

Cl

Cl

H

Ngồi các yếu tố đối xứng trên cịn dùng nhĩm đối xứng, trong 15 nhĩm cĩ ba nhĩm quan trọng

cĩ tính khơng trùng vật ảnh gọi là nhĩm C1, Cn và nhĩm D2 Ta hay gặp nhĩm C1, trong đĩ phân tử khơng cố yếu tố đối xứng nào, chẳng hạn đối với cacbon liên kết với bốn nhĩm thế khác nhau, khơng cĩ yếu tố đối xứng nào gọi là cacbon bất đối, hoặc nhĩm Cn trong phân tử cĩ trục n lẻ hoặc một trục bậc n với vài trục C2 và nhĩm D2 dùng trong tính quang học của các đồng phân cấu dạng

Phân tử bất đối cĩ một nguyên tử cacbon bất đối

Trong phân tử cĩ một nguyên tử C liên kết với 4 nhĩm thế hồn tồn khác nhau Hiện nay nguyên tử C này được gọi là trung tâm lập thể

4.1 Đối quang hay enantiomer

Hai phân tử cĩ cấu hình khác nhau mà chất này là ảnh của chất kia trong mặt phẳng gương gọi là một cặp đối quang (nghịch quang) hay enantiomer Hai chất này khơng chồng khít lên nhau được tuy chúng cĩ tính chất vật lý và hĩa học giống nhau Hai chất này chỉ khác nhau về cấu hình, hai cấu hình này ngược nhau:

O

Khác nhau về cấu dạng, giống nhau về cấu hình không phải là enantiomer

Khác nhau về cấu hình là enantiomer

Hai enantiomer hay hay đối quang là hai đồng phân lập thể của nhau, cĩ cấu hình ngược nhau nên hướng quay mặt phẳng ánh sáng phân cực ngược nhau nhưng cĩ cùng giá trị tuyệt đối (vì cùng cấu trúc của trung tâm bất đối xứng) Cịn những đồng phân lập thể khác cĩ cấu hình khác nhau về ảnh và vật trong mặt phẳng gương là đồng phân quang học của nhau, khơng phải là enantiomer của nhau mà đồng phân đi-a của nhau, thường gặp trong những phân tử cĩ hai hay nhiều trung tâm bất đối xứng

4.2 Biến thể raxemic

Biến thể raxemic là một tập hợp đẳng phân tử (equimolar) hai chất đối quang, trị số quay cực của tập hợp này bằng khơng vì cĩ sự bù trừ nhau giữa hai dạng D và L Biến thể raxemic thường được ký hiệu là DL hoặc ( )

4.2.1 Sự tạo thành biến thế raxemic

− Phương pháp trộn lẫn

Trộn kỹ các lượng bằng nhau của hai chất đối quang

Trang 5

− Phương pháp tổng hợp

− Phương pháp raxemic hóa

4.2.2 Tính chất của các biến thể raxemic

Ở trạng thái khí, lỏng cũng như dung dịch, biến thể raxemic là một hỗn hợp của những lượng bằng nhau gần như lý tưởng của các phân tử đối quang Biến thể raxemic có cùng nhiệt độ sôi như chất đối quang tinh khiết, chiết suất và tỉ trọng ở trạng thái lỏng là giống nhau cũng như phổ hồng ngoại ở trạng thái lỏng và dung dịch là trùng nhau

Tuy nhiên sự đồng nhất này không thể áp dụng đối với trạng thái rắn (tinh thể) Trong biến thể raxemic rắn, ngoài lực tương tác giữa các phân tử (-) quay trái, giữa các phân tử quay phải (+) còn có lực tương tác giữa các phân tử (+) và (-) Kết quả là ở trạng thái rắn thường gặp sự khác biệt về một số tính chất giữa biến thể raxemic và chất đối quang tinh khiết Có 3 trường hợp khác biệt sau:

Các hỗn hợp raxemic: là một hỗn hợp cơ học tinh thể riêng rẽ của các chất đối quang còn gọi là

conglomerat Tính chất của nó giống tính chất của các đối quang tinh khiết Tuy nhiên, nhiệt độ nóng chảy của hỗn hợp raxemic thấp hơn nhiệt độ nóng chảy của các chất đối quang tinh khiết, còn độ tan của hỗn hợp raxemic lại cao hơn Trên giản đồ nhiệt độ nóng chảy, điểm ơtecti là điểm ứng với nhiệt độ nóng chảy thấp nhất, ở đó tỉ lệ giữa hai chất đối quang là 50:50

Các hợp chất raxemic: Là trường hợp biến thể raxemic mà chỉ có một loại tinh thể được tạo

thành từ cả hai dạng chất đối quang có số lượng phân tử bằng nhau Hợp chất raxemic là một loại hợp chất riêng biệt, chúng khác biệt với các đối quang về tính chất vật lý như nhiệt độ nóng chảy, độ tan

Nhiệt độ nóng chảy của hợp chất raxemic có thể cao hơn hoặc thấp hơn các đối quang tinh khiết

Các dung dịch raxemic rắn: Là loại biến thể raxemic mà sự phân bố của các phân tử không

theo một trật tự sắp xếp nào tạo thành dung dịch raxemic rắn Những dung dịch rắn như vậy về tất cả các phương diện đều giống chất đối quang, kể cả nhiệt độ nóng chảy và độ tan hoặc có sự khác biệt rất

100% (-) 50% (-) 0% (-)

0% (+) 50% (+) 100% (+)

Độ tan

0% (+) 50% (+) 100% (+) 100% (-) 50% (-) 0% (-) Nhiệt độ nóng chảy

Giản đồ nhiệt độ nóng chảy và độ tan của các hỗn hợp raxemic

Giản đồ nhiệt độ nóng chảy và độ tan của hợp chất raxemic

0% (+) 50% (+) 100% (+)

Độ tan

0% (+) 50% (+) 100% (+) 100% (-) 50% (-) 0% (-) Nhiệt độ nóng chảy

100% (-) 50% (-) 0% (-)

Trang 6

Dựa vào giản đồ nóng chảy và độ tan ta có thể phân biệt ba dạng biến thể raxemic nói trên Khi thêm một trong các đối quang tinh khiết vào hỗn hợp raxemic thì làm tăng nhiệt độ nóng chảy của hỗn hợp raxemic nhưng trong trường hợp các hợp chất raxemic nhiệt độ nóng chảy sẽ bị giảm khi thêm chất đối quang tinh khiết Còn đối với dung dịch raxemic rắn thì chỉ làm thay đổi nhiệt độ nóng chảy một ít

mà thôi

Ngoài ra ta có thể phân biệt các dạng raxemic bằng cách xác định tế bào tinh thể cơ bản nhờ chụp ảnh bằng tia X Tế bào tinh thể của hợp chất raxemic có chứa những lượng bằng nhau của các phân tử của hai dạng đối quang còn tế bào cơ bản của hỗn hợp raxemic hoặc dung dịch raxemic rắn chỉ gồm các phân tử của một đối quang mà thôi

4.3 Tính không trùng ảnh vật (chirality)

Tính không trùng ảnh - vật là sự không chồng khít của ảnh và vật của nó trong mặt phẳng gương Hai chất là không trùng ảnh vật khi hai chất đó ở dạng enantiomer với nhau Tính không trùng vật - ảnh

là điều kiện cần và đủ cho sự tồn tại của enantiomer

Phân tử không trùng vật - ảnh (chiral) khi phân tử đó không có yếu tố đối xứng nào nên còn gọi

là phân tử bất đối xứng, ngược lại, phân tử có một yếu tố đối xứng nào đó gọi là trùng ảnh - vật (achiral) hay đối xứng

Nguyên tử C lai hóa sp3 liên kết với 4 nhóm nguyên tử khác nhau thì sẽ có đối quang, phân tử không còn yếu tố đối xứng nào nên C là trung tâm không trùng ảnh - vật (chiral), còn gọi là C bất đối (C*) Khi có hai hay nhiều nhóm thế giống nhau, phân tử có yếu tố đối xứng là trùng ảnh - vật (achiral)

H

HO

CF3

CH3

H

OH

CF3

H3C

Chiral

CH2CH3

achiral

4.4 Cấu hình tương đối và tuyệt đối

Mỗi chất hoạt động quang học có một trị số quay cực riêng, chiều quay trái ký hiệu bằng dấu (-), quay phải bằng dấu (+) Dấu không có liên quan đến cấu hình của chất

Có thể biểu diễn tính không trùng vật - ảnh bằng cấu hình của chính nó: cấu hình tương đối và tuyệt đối

Cấu hình tương đối được xác định theo quy tắc Fischer Quy tắc Fischer đã chọn andehit glyxeric làm chất chuẩn

(+) andehit glyxeric có cấu hình D, còn đối quang của nó có (-) andehit glyxeric có cấu hình L

CHO C

CH2OH

OH H

CHO

CH2OH

OH H

D (+) - andehit glyxeric

CHO C

CH2OH

H HO

CHO

CH2OH

H HO

L (-) - andehit glyxeric

Cấu hình tương đối của chất khác dựa vào chất chuẩn andehit glyxeric

Trang 7

Hợp chất dãy D có cấu hình giống D – andehit glyxeric, còn dãy L giống cấu hình của L – andehit glyxeric

Ngoài quy tắc Fischer người ta còn dùng cấu hình tuyệt đối Cahn-Ingold-Predlog, còn gọi là hệ thống R-S: Nếu trung tâm bất đối có 4 nhóm thế a, b, c và d có tính hơn cấp là a > b > c > d, sự phân bố các nhóm thế như thế nào để cho nhóm thế nhỏ nhất d nằm ở xa người quan sát thì thứ tự phân bố ba nhóm thế còn lại (a, b, c) xác định cấu hình: Nếu thứ tự giảm dần độ hơn cấp của các nhóm thế a, b, c theo chiều kim đồng hồ thì ta có cấu hình R (rectus, tiếng Latinh nghĩa là bên phải); nếu ngược chiều kim đồng hồ ta có cấu hình S (sinister – nghĩa là bên trái)

d a

b c

R

d

a

b c

d a

S

d

a

b c

Các ký hiệu cấu hình tuyệt đối được đặt trong dấu ngoặc trước tên hợp chất là (R) hay (S), còn raxemic là (R,S) Cấu hình R-S không cho biết góc quay cực, cần phải xác định theo thực nghiệm Danh pháp R-S và Fischer không có liên quan trực tiếp

Để thuận tiện Epling đưa ra cách gọi tên R-S dựa vào công thức Fischer mà không cần chuyển về công thức không gian 3 chiều:

- Nếu nhóm thế nhỏ nhất nằm trên đường nằm ngang thì thứ tự giảm dần độ hơn cấp của các nhóm thế còn lại theo chiều kim đồng hồ là cấu hình S, ngược chiều kim đồng hồ là cấu hình R

- Nếu nhóm thế nhỏ nhất trên đường thẳng đứng thì ngược lại, theo chiều kim đồng hồ là R, ngược chiều kim đồng hồ là S

4.5 Hợp chất có một nguyên tử C bất đối

Do trong phân tử có 4 nhóm thế khác nhau cùng gắn trực tiếp với nguyên tử C nên phân tử không còn tồn tại các yếu tố đối xứng của một tứ diện đều và do vậy trở nên bất đối xứng, là nguyên nhân gây nên tính quang hoạt và làm lệch hướng của ánh sáng phân cực Hai dạng hợp chất có sự sắp xếp trong không gian đối xứng nhau như ảnh và vật qua gương sẽ tạo thành cặp đồng phân quang học đối quang Cặp đối quang này làm quay mặt phẳng ánh sáng phân cực một góc có giá trị như nhau nhưng có chiều quay đối nghịch nhau Hiện nay người ta có khuynh hướng thay từ “cacbon bất đối” bằng từ “trung tâm lập thể” vì nguyên tử cacbon là trung tâm của một tứ diện không đối xứng, còn chính nguyên tử cacbon thì không bao giờ bất đối cả

Cách biểu diễn: có thể biểu diễn bằng công thức tứ diện, công thức phối cảnh, công thức chiếu Fischer và có thể gọi tên theo danh pháp D-L hoặc danh pháp R-S

Trang 8

H

OH

CH2OH

CHO

CH2OH

CHO

CH2OH

CHO

CH2OH

H HO

Cấu hình R D-Glixeraldehit

Cấu hình R

L-Glixeraldehit

Ví dụ:

Cấu hình S

Phân tử bất đối cĩ nhiều nguyên tử C bất đối

Rất nhiều hợp chất tự nhiên như gluxit, aminoaxit, steroit, ankaloit, tecpen, mà trong phân tử cĩ chứa hai hoặc nhiều nguyên tử cacbon bất đối cĩ nghĩa là cĩ nhiều trung tâm lập thể Vì thế việc nghiên cứu hĩa học lập thể của loại hợp chất cĩ nhiều cacbon bất đối rất quan trọng do ý nghĩa thực tiễn của nĩ

Ở những hợp chất cĩ nhiều nguyên tử cacbon bất đối thì số đồng phân khơng gian cĩ thể tăng lên rất nhanh, nếu hợp chất cĩ chứa một cacbon bất số đồng phân quang học là 2 thì ở hợp chất cĩ 2 cacbon bất đối số đồng phân quang học là 4 và khi cĩ 3 cacbon bất đối thì sẽ là 8,

Ví dụ: 2-Clo-3-iodobutan cĩ các đồng phân:

CH3

CH3

CH3

CH3

H I

H Cl

CH3

CH3

CH3

CH3

H I

Cl H

cặp đối quang erythro 2-clo-3 - iodobutan

cặp đối quang threo 2-clo-3 - iodobutan

Nhĩm chức đặc trưng ở C bất đối cĩ số thứ tự lớn nhất ở phía bên phải của đường thẳng đứng trên cơng thức chiếu Fischer ta gọi là D, ngược lại ta cĩ cấu hình đồng phân L Ở đây ta thấy danh pháp D-L khơng lột tả được cách sắp xếp của nguyên tử Clo đính ở C số 2 Thiếu sĩt này cĩ thể khắc phục nhờ danh pháp cấu hình R-S của Cahn-Ingold-Predlog:

Trang 9

CH3

CH3

CH3

H I

H Cl

CH3

CH3

CH3

CH3

H I

Cl H

(2S,3R)

-2-clo-3 - iodobutan

(2R,3R)

2-clo-3 - iodobutan

(2S,3S)

2-clo-3 - iodobutan

(2R,3S)

-2-clo-3 - iodobutan

- Đồng phân đia: đồng phân đia là những đồng phân quang học nhưng không đối quang Với ví

dụ: 2-clo-3-iodobutan ta có những đồng phân đia như sau: (2S,3R) và (2S,3S); (2R,3R) và (2S,3R); (2S,3S) và (2R,3S);

- Đồng phân mezo: Trường hợp chất có nhiều C bất đối nhưng trong phân tử vẫn tồn tại những

yếu tố đối xứng, tức là có những C bất đối giống nhau, chẳng hạn trường hợp axit tactric:

COOH

COOH

COOH

COOH

OH H

H HO

COOH

COOH

COOH

COOH

H HO

H HO

Axit (+)-tactric(1) Axit (-)-tactric(2) (3)Axit mezotactric(4)

Hai công thức (3) và (4) là dạng mezo không quang hoạt, phân tử tồn tại hai trung tâm bất đối giống nhau nhưng đối xứng nhau trong phân tử vì vậy gây ảnh hưởng góc quay cực giống nhau nhưng trái chiều nhau, khả năng quay phải của C bất đối thứ nhất được bù hoàn cho khả năng quay trái của C bất đối thứ hai; vì thế đồng phân mezo không quang hoạt Đồng phân mezo có những tính chất khác với các đồng phân đối quang

Ta có thể khái quát hóa cách tính số đồng phân lập thể như sau:

a/ Khi có n nguyên tử C bất đối nối với những nhóm thế khác hẳn nhau, thì số đồng phân là: (n: số nguyên tử C bất đối)

b/ Khi số nguyên tử C bất đối trong phân tử là số lẻ và có hai nguyên tử C bất đối nối với những nhóm thế giống nhau, số đồng phân lập thể là:

(n: số nguyên tử C bất đối)

c/ Khi số nguyên tử C bất đối trong phân tử là số chẵn và có hai nguyên tử C bất đối nối với những nhòm thế giống nhau, số đồng phân lập thể là:

(n: số nguyên tử C bất đối)

Hợp chất vòng no có nhiều C bất đối

Khi phân tử vòng no có hai hoặc nhiều nhóm thế thì các nguyên tử C chứa nhóm thế liền trở nên bất đối, phân tử không có tính đối xứng và như thế sẽ có đồng phân quang học

Ví dụ: -Vòng có hai nhóm thế: 3 đồng phân quang học

Trang 10

Cl

Cl

Cl

Cl Cl

mezo 1,2-dicloxiclopentan

Nếu trong vòng có nhiều nhóm thế thì số đồng phân quang học sẽ tăng lên Tùy theo vị trí của các nhóm thế trong phân tử sẽ tạo nên một số yếu tố đối xứng và vì thế sẽ xuất hiện đồng phân mezo cho nên số đồng phân quang học bị giảm đi

Hợp chất đa vòng có các bon bất đối

Campho là dẫn xuất Bixyclo xeton quan trọng nhất của nhóm Camphan Campho có hai C bất đối

lẽ ra có thể có 4 đồng phân quang học Nhưng thực tế chỉ tồn tại ở hai dạng (1) và (2) trong đó vòng 6 cạnh ở dạng thuyền, còn vòng 6 cạnh ở dạng ghế thực tế không tồn tại vì sức căng quá lớn, công thức (3) và (4)

O

(3)

O

(4) Như vậy ở hợp chất vòng no do yêu cầu tồn tại những cấu tạo dạng vòng có tính bền mà số đồng phân quang học có thể bị giảm đi

Phân tử bất đối không có nguyên tử C bất đối

Hiện nay người ta đã phân biệt được nhiều dạng động phân lập thể khác nhau đều mang yếu tố không trùng vật-ảnh

8.1 Yếu tố không trùng vật ảnh là một nguyên tử trong phân tử

Nguyên tử trở thành một trung tâm lập thể khi nguyên tử này liên kết với các nhóm thế khác nhau và có thể là:

− Nguyên tử Cacbon

− Các nguyên tử khác như: Si, P, S

Ví dụ ở các hợp chất sau: metyl- -naphtyl-phenylsilan (3); o-anisylmetylphenylphotphin (4); metyl-p-tolylsunfoxit (5) Trong các hợp chất (4) và (5), các nhóm thế phân bố xung quanh trung tâm lập thể theo hình tháp hợp với cặp electron tự do được xem như là nhóm thế thứ tư tạo thành một tứ diện không đối xứng

Ngày đăng: 08/12/2015, 18:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w