• Đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại hai địa điểm nghiên cứu là Thảo Cầm Viên Sài Gòn và Khu Du Lịch Văn Hoá Đầm Sen, góp phần vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học, đặc
Trang 1CHƯƠNG I GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là nước được thiên nhiên ưu đãi về sự phong phú, đa dạng của các
hệ sinh thái, đa dạng của các loài, đa dạng của tài nguyên di truyền, gọi chung là
đa dạng sinh học (ĐDSH) Các kết quả điều tra cho thấy, nước ta có khoảng 12.000
loài thực vật, trong đó đã định tên được khoảng 7.000 loài, 27 loài thú, 800 loài
chim, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 2470 loài cá, 5.500 loài côn trùng Tính
độc đáo của ĐDSH này là khá cao; 10% số loài thú, chim và cá của Thế giới tìm
thấy ở Việt Nam, hơn 40% số loài thực vật thuộc loài đặc hữu, không tìm thấy ở nơi
nào khác ngoài Việt Nam
Về giá trị kinh tế, các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản thực
chất là khai thác từ nguồn ĐDSH, ước tính hàng năm đem lại cho đất nước khoảng
2 tỷ USD Nhiều nơi nhất là miền núi nguồn lương thực - thực phẩm nguồn thuốc
chữa bệnh và mọi thu nhập chủ yếu đều dựa vào khai thác ĐDSH
Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh dân số nước ta, việc diện tích rừng bị thu hẹp,
việc khai thác quá mức tài nguyên sinh vật biển và áp dụng rộng rãi các giống mới
trong sản xuất nông nghiệp đã dẫn tới sự thu hẹp hoặc mất đi các hệ sinh thái,
dẫn tới nguy cơ tiêu diệt 28% loài thú, 10% loài chim, 21% loài bò sát và lưỡng cư
Trên thực tế tốc độ suy giảm ĐDSH của Việt Nam nhanh hơn nhiều so với các
quốc gia khác trong khu vực
Nhận thức được các giá trị to lớn về kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội của
ĐDSH đối với sự phát triển hiện tại và tương lai của cả loài người, thấy được trách
nhiệm nặng nề về việc phải bảo vệ ĐDSH, Việt Nam đã và đang ra sức bảo tồn đa
dạng sinh học với nhiều hình thức khác nhau
Với tốc độ đô thị hoá nhanh chóng ở Thành Phố Hồ Chí Minh như hiện nay,
thì việc bảo tồn các loài động, thực vật là rất cần thiết và quan trọng Nếu như
Trang 2Rừng ngập mặn Cần Giờ là “lá phổi xanh của Thành phố” thì Thảo Cầm Viên và
Công Viên Văn Hoá Đầm Sen là nơi quy tụ các loài động, thực vật quý hiếm, đang
có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam và trên thế giới, như: Voọc vá chân đen, Sói
lửa, Báo gấm, Mèo gấm, Sếu đầu đỏ, Trĩ sao v.v… Bảo tồn ĐDSH tại hai địa điểm
này không chỉ tạo cảnh quan cho môi trường đô thị mà còn duy trì và phát triển các
loài có nguy cơ tuyệt diệt, bên cạnh đó giáo dục cho người dân về vai trò của
ĐDSH cũng như ý thức về bảo vệ các loài động, thực vật và môi trường sống
Việc khảo sát, thu thập số liệu về tài nguyên đa dạng sinh học tại một địa
điểm, để từ đó tìm ra biện pháp bảo tồn và phát triển hợp lý là một trong những
việc làm thiết thực của công tác bảo tồn đa dạng sinh học Vì có như vậy chúng ta
mới xác định được những biến động của loài theo thời gian, sự tăng hay giảm số
lượng liên quan đến môi trường sống và điều kiện chăm sóc Đây là lý do em chọn
đề tài: “Khảo sát tài nguyên đa dạng sinh học tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn và
Khu Du Lịch Văn Hoá Đầm Sen Đề xuất biện pháp bảo tồn”
1.2 Mục đích nghiên cứu
• Khảo sát, điều tra hiện trạng tài nguyên đa dạng sinh học tại Thảo Cầm
Viên Sài Gòn và Khu Du Lịch Văn Hoá Đầm Sen
• Đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại hai địa điểm nghiên
cứu là Thảo Cầm Viên Sài Gòn và Khu Du Lịch Văn Hoá Đầm Sen,
góp phần vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học, đặc biệt là bảo tồn
các loài động, thực vật quý hiếm đang trong tình trạng bị tuyệt chủng,
nhằm mục đích cân bằng sinh thái và phát triển bền vững
1.3 Mục tiêu của đề tài
• Phản ánh được hiện trạng tài nguyên đa dạng sinh học tại Thảo Cầm
Viên Sài Gòn và Khu Du Lịch Văn Hoá Đầm Sen, để từ đó đề ra biện
pháp bảo tồn hợp lý
• Lên danh sách các loài động, thực vật quý hiếm, đang trong tình trạng
bị tuyệt chủng để nhằm có những giải pháp bảo tồn, chăm sóc phù hợp,
Trang 3góp phần vào bảo tồn đa dạng sinh học ở Thành phố Hồ Chi Minh nói
riêng và Việt Nam nói chung
• Đề tài nghiên cứu mang tính thiết thực, khả thi có thể áp dụng trong
thực tế Qua việc bảo tồn đa dạng sinh học kết hợp với công tác tuyên
truyền nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng phải bảo vệ các
loài, từ đó phát huy vai trò của cộng đồng, của các tổ chức cá nhân
tham gia vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học, tạo tiền đề cho sự phát
triển trong tương lai
• Tạo cơ sở cho việc phối hợp quản lý và giải quyết đồng bộ các vấn đề
môi trường chung của Thành phố và các khu vực lân cận
1.4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi nghiên cứu đề tài ở hai địa điểm : Thảo Cầm Viên Sài Gòn và
Khu Du Lịch Văn Hoá Đầm Sen thuộc Thành phố Hồ Chí Minh
1.5 Nội dung của đề tài
• Khảo sát tài nguyên đa dạng sinh học gồm các loài động vật và thực vật
tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn
• Khảo sát tài nguyên đa dạng sinh học gồm các loài động vật và thực vật
tại Khu Du Lịch Văn Hoá Đầm Sen
• Đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại Thảo Cầm Viên Sài
Gòn và Khu Du Lịch Văn Hoá Đầm Sen
1.6 Phương pháp nghiên cứu
1.6.1 Phương pháp luận
Bảo tồn đa dạng sinh học có hai mục tiêu: một là tìm hiểu những tác động
tiêu cực do các hoạt động của con người gây ra đối với các loài, quần xã và các
hệ sinh thái, hai là xây dựng các phương pháp tiếp cận để hạn chế sự tuyệt diệt
của các loài và nếu có thể được, cứu các loài đang bị đe doạ bằng cách đưa
chúng hội nhập trở lại các hệ sinh thái đang còn phù hợp đối với chúng
Trang 4Nghiên cứu về đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học cũng như
nghiên cứu môi trường sinh thái là phải nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài,
yếu tố môi trường và xã hội tác động đến sự tồn tại và phát triển của chúng
Hình 1: Sơ đồ thể hiện mối tương tác nhau giữa các lĩnh vực với sinh học
bảo tồn
Đã có rất nhiều các công ước Quốc tế, các nghị định cũng như quy định về
việc bảo tồn tài nguyên ĐDSH, nhưng công tác tìm kiếm, phát hiện các loài và
tổng hợp số lượng các loài có phần hạn chế nên gây cản trở trong việc đề ra
những giải pháp để bảo tồn và phát triển chúng Do đó, trên cơ sở khảo sát,
tổng hợp số lượng các loài gắn với những điều kiện môi trường sống và những
đặc điểm các loài để từ đó đề ra giải pháp thích hợp nhằm mục đích bảo tồn và
phát triển chúng
Những ý tưởng và phương pháp tiếp cận mới
Địa sinh học
Sinh thái học
Các nghiên cứu về môi trường
- Kinh tế môi trường
- Đạo đức môi trường
- Luật môi trường
Sinh học tiến hoá
Di truyền học
Sinh học phân tử
Xã hội học
Phân loại học
Những nghiên cứu khác về sinh
học,
vật lý và xã hội học
Nông nghiệp Quản lý ngư nghiệp Rừng
Quy hoạch sử dụng đất Quản lý các quần thể sinh vật nuôi
- Vườn thực vật Quản lý các vùng tự nhiên
- Công viên
- Khu dự trữ săn bắn
- Các nơi cư trú Phát triển bền vững Quản lý động vật hoang dã và những hoạt động quản lý tài nguyên khác
Kinh nghiệm thực tế và những yêu cầu nghiên cứu
Trang 51.6.2 Phương pháp cụ thể
1.6.2.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu
• Tham khảo các tài liệu về ĐDSH và bảo tồn đa dạng sinh học như: Báo cáo
hiện trạng môi trường quốc gia 2005 - Chuyên đề đa dạng sinh học, sách, tạp
chí về ĐDSH và bảo tồn đa dạng sinh học
• Thu thập số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, đặc điểm địa
chất, chế độ thủy văn, hiện trạng đa dạng sinh học của Thành phố Hồ Chí
Minh dựa vào các nghiên cứu trước và Website có liên quan
• Tham khảo tài liệu nội bộ của Thảo Cầm Viên Sài Gòn và Khu Du Lịch
Văn Hoá Đầm Sen, để tìm kiếm và thu thập các thông tin liên quan đến đề
tài
• Đề tài còn sử dụng Sách đỏ Việt Nam, Động vật chí, Thực vật chí để tra
khảo tên khoa học các loài động thực vật và xem chúng đang ở trong tình
trạng nguy cấp nào
• Ngoài ra, đề tài cũng đã kế thừa các công trình nghiên cứu sẵn có để làm
phong phú cho nội dung nghiên cứu
Tất cả các tài liệu thu thập được khi đi điều tra, khảo sát sẽ được xây dựng
thành hệ thống dữ liệu của đề tài
1.6.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Đề tài đã tiến hành khảo sát thực địa tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn và Khu
Du Lịch Văn Hoá Đầm Sen bao gồm việc quan sát, ghi chép, chụp ảnh để thu
thập bổ sung các thông tin liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài
1.6.2.3 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp nghiên cứu được áp dụng nhiều
trong các lĩnh vực khoa học khác nhau Khi áp dụng phương pháp này, đề tài
đã thu thập những số liệu, vấn đề có liên quan đến mức độ đa dạng sinh học
trong nhiều thời điểm khác nhau và ở nhiều khu vực khác nhau để so sánh,
đánh giá được diễn biến đa dạng sinh học
Trang 61.6.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Đề tài dùng phần mềm máy tính Excel để tổng hợp số lượng thực vật, động
vật tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn và Khu Du Lịch Văn Hoá Đầm Sen
Trang 7CHƯƠNG II CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Các điều kiện tự nhiên
km Trung tâm Thành Phố (TP) cách biển 50 km theo đường chim bay
Phía Bắc giáp Bình Dương, Tây Ninh Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía
Nam giáp biển Đông Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền
Giang
2.1.2 Khí hậu
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo
mà đặc trưng cơ bản là có lượng bức xạ dồi dào, một nền nhiệt độ cao, tương đối
ổn định trong năm và có sự phân hoá mưa, gió theo mùa khá rõ rệt Nhìn chung,
đặc điểm khí hậu Tp Hồ Chí Minh khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc
biệt là các loại cây trồng nhiệt đới, do đó đặc điểm ĐDSH khá phong phú
Các yếu tố khí hậu cơ bản gồm có:
Nhiệt độ: Nhiệt độ ở Tp Hồ Chí Minh tương đối ôn hoà, đây là đặc trưng
của khí hậu các tỉnh Nam Bộ Nhiệt độ nóng nhất vào tháng 4 và mát nhất
vào tháng 12 Số liệu quan trắc nhiều năm cho thấy tại Tp Hồ Chí Minh
- Nhiệt độ trung bình năm là : 25 -270C
- Nhiệt độ cao nhất trung bình : 33,8 -37,90C
- Nhiệt độ thấp nhất trung bình : 25,6 -29,30C
Trang 8- Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối : 40 C (tháng 4/1912)
- Nhiệt độ thấp tuyệt đối : 13,80C (tháng 1/1937)
- Tổng nhiệt độ cao nhất : 9.677,40C/năm
Điều dáng lưu ý đối với nhiệt độ là sự giao động nhiệt độ trong ngày Biên độ
nhiệt đạt đến 100C/ngày đêm Vì vậy, mặc dù ban ngày trời nắng nóng, ban đêm
vào sáng sớm vẫn có sương Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển cây trồng và
xanh tốt quanh năm
Nhiệt độ không khí trung bình ngày trong năm ở nội thành Tp.Hồ Chí Minh cao
hơn các nơi khác trong khu vực địa bàn kinh tế phía Nam 1-1,50C
Độ ẩm : Độ ẩm trung bình ngày trong cả năm là 70 - 80% Số liệu thống kê
từ năm 1952-1988 cho thấy độ ẩm bình quân hàng tháng dao động từ 62%
đến 84% Các tháng mùa mưa độ ẩm khá cao: 80-90% Các tháng mùa khô
60-75% Ban ngày độ ẩm không khí xuống thấp từ 1-2 giờ chiều và tăng lên
từ 3-7 giờ sáng
Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi trung bình 3-5 mm/ngày Mùa khô lượng bốc
hơi khá cao, từ 100-180 mm/tháng Cán cân nước tự nhiên bị thiếu hụt
nghiêm trọng trong mùa khô
Lượng mưa: Thành phố có 2 mùa mỗi năm: Mùa khô và mùa mưa Mùa
mưa thường bắt đầu từ tháng 5 hàng năm và chấm dứt vào tháng 10 Mùa khô
bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau Ơû giữa mùa khô thường có hạn
ngắn kéo dài 5 đến 10 ngày Lượng mưa vào mùa mưa chiếm 80-85% tổng
lượng mưa hàng năm Mưa lớn tập trung vào tháng 6 và tháng 9, trung bình từ
250-330 mm/tháng, cao nhất lên tới 683 mm Mưa ở Tp Hồ Chí Minh mang
tính mưa rào nhiệt đới: Đến nhanh, kết thúc nhanh, thường cơn mưa trung bình
kéo dài từ 1-3 giờ Cường độ mưa khá lớn (0.8-1.5 mm/phút) Mưa lớn gây
ngập lụt đường phố và những nơi thấp trũng với độ ngập sâu từ 20-80
Gió: Hai hướng gió chủ đạo tại Tp.Hồ Chí Minh là Tây-Tây Nam và
Bắc-Đông Bắc Gió Tây-Tây Nam thay đổi vào mùa mưa(từ tháng 6 -10) với
Trang 9vận tốc trung bình 3,6 m/s Gió Bắc-Đông Bắc thay đổi vào các tháng từ tháng
11 đến tháng 2 với vận tốc trung bình 2,4 m/s Tốc độ gió trung bình năm tại
Tp.Hồ Chí Minh là 2,5 m/s Gió thường thổi mạnh vào trưa sang chiều
Bão: Chu kỳ bão bao gồm cả áp thấp nhiệt đới tại Tp.Hồ Chí Minh được
thống kê từ năm 1952 -1988 như sau:
3 cơn bão trong năm 4% thời gian kể trên
3 cơn bão trong năm 16% thời gian kể trên
3 cơn bão trong năm 20% thời gian kể trên
Không có bão 62,4% thời gian kể trên
Như vậy có thể nhận thấy, tại khu vực Tp.Hồ Chí Minh hầu như không có
bão Hàng năm tại khu vục chỉ chịu ảnh hưởng của một số cơn bão xảy ra
ngoài khơi hoặc tại một số tỉnh miền trung Trong những ngày đó thường
không có gió nhưng thường có mưa lớn
2.1.3 Nguồn nước và thuỷ văn
Hệ thống sông rạch thành phố có tổng chiều dài 7.955 km, mật độ dày và
phân bố chằng chịt ở khu vực Cần Giờ, Nhà Bè Tổng diện tích nước mặt 33.814
ha Đây là thuận lợi lớn cho việc cung cấp nước tưới, điều hoà dòng chảy trong
mùa mưa, nuôi trồng thuỷ sản nhưng cũng thường xuyên gây gập úng trên 40.000
ha ven sông rạch
TP.Hồ Chí Minh chịu tác động của hệ thống sông rạch sau:
Sông Đồng Nai: Bắt nguồn từ Tây Nguyên, do sông Đa Nhim và sông Đa
Dung hợp thành, lưu vực khoảng 23.000 km Đoạn chảy qua Tp.Hồ Chí Minh để ra
biển dài khoảng 35 km (không tính đoạn hợp lưu từ Nhà Bè) Ơû khu vực Đồng Nai,
do địa hình bị phân cách mạnh, có xu hướng cao phía Bắc và thấp dần về phía Nam
nên các hệ thống sông chính của lưu vực đều có xu hướng dòng chảy Bắc- Nam và
Tây Bắc- Đông Nam
Sông Sài Gòn: Bắt đầu từ vùng Hớn Quản, qua Thủ Dầu Một tới Sài Gòn dài
khoảng 200 km, có nhiều chi lưu làm giảm hậu quả lũ lụt
Trang 10Quá trình xâm nhập mặn trên các sông Đồng Nai, Sài Gòn được cải thiện liên
tục nhờ sự vận hành và khai thác các hồ chứa nước ở thượng nguồn, điều tiết lượng
chảy và tăng lượng xả trong các tháng mùa khô, đặc biệt là các tháng 3,4,5 trên
sông Sài Gòn có công trình hồ chứa nước Dầu Tiếng, trên sông Đồng Nai có công
trình thuỷ điện Trị An, hai công trình này góp phần điều tiết dòng chảy Lưu lượng
xả trong mùa khô làm cho vùng thấp ven sông Đồng Nai và Sài Gòn được ngọt hoá
khoảng 20.000 ha
Sông Nhà Bè: Chảy ra biển qua hai ngả: Sông Soài Rạp và sông Lòng Tàu
Sông Soài Rạp đổ ra cửa Soài Rạp dài 59 km, tốc độ chảy tương dối chậm, lòng
sông tương đối cạn Sông Lòng Tàu đổ ra vịnh Gành Rái dài 56 km, rộng trung
bình, lòng sông sâu
Ngoài các sông kể trên, thành phố còn có hệ thống sông rạch chằng chịt, nhất
là các huyện phía nam như: Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ Các kênh rạch này
đóng vai trò trong việc tiêu thoát nước, giao thông vận tải… những kênh rạch chính
là: Kênh Bến Nghé, kênh Tẻ, kênh Đôi, kênh Ngang, kênh Tàu Hủ, kênh Tham
Lương, kênh Nhiêu Lộc, kênh Xáng, kênh An Hạ, rạch Thị Nghè, rạch Chợ Đệm,
rạch Cần Giuộc
Với mạng lưới sông rạch như vậy và chế độ bán nhật triều không đều của
Biển Đông đã tạo nên sự phức tạp trong chế độ thuỷ văn, thuỷ lực vùng cửa sông
Đồng Nai, Sài Gòn Tuy nhiên nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển
giao thông đường thuỷ và phát triển thuỷ sản
Các vùng ngập nước ở Tp.Hồ Chí Minh tập trung ở phía Nam trung tâm thành
phố Tại huyện Thủ Đức, vùng Đông Nam là vùng đất thấp, nhiều sông rạch Quận
Tân Bình trong khu vực tứ giác dọc theo kinh cầu An Hạ, mùa nắng bìa bưng cạn
khô, nhưng khoảng giữa sình lầy Huyện Bình Chánh trong khu vực tứ giác vùng
Tân Nhật là vùng sình lầy quanh năm
Trang 112.1.4 Địa hình
Có thể chia địa hình thành phố làm 4 dạng chính:
- Vùng đồi gò cao lượn sóng, độ cao thay đổi từ 4-32 m, phân bố phần
lớn ở các huyện Củ Chi, Hóc Môn, một phần ở Thủ Đức, Bình Chánh Điều kiện
nước tưới hạn chế Nguồn nước mặt chủ yếu trong mùa mưa Trữ lượng nước
ngầm tầng nông kém, chỉ thuận lợi cho các loại cây lâm nghiệp, cao su, điều, cây
ăn trái, đồng cỏ chăn nuôi Vùng có độ cao dưới 10m có thể trồng rau màu
- Vùng đất bằng thấp, độ cao xấp xỉ 2-4 m, điều kiện tiêu thoát nước
tương đối thuận lợi, phân bố ờ Thủ Đức, Hóc Môn, Quận 12, nằm dọc theo sông
Sài Gòn và nam Bình Chánh, chiếm khoảng 15% diện tích Nguồn nước tưới
tương đối thuận lợi, có thể phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi
- Vùng trũng thấp, đầm lầy phía Tây Nam, độ cao phổ biến từ 1-2m phân
bố dọc theo kênh An Hạ, Lê Minh Xuân, Tân Nhựt, Tam Tân, Thái Mỹ, kéo dài
từ các huyện Bình Chánh đến Củ Chi, khu vực Nhà Bè, Quận 7, vùng bưng Quận
2, Quận 9 và bắc Cần Giờ chiếm khoảng 34% diện tích.Đất bị nhiễm mặn nhiễm
mặn theo mùa, thường bị ngập nước theo thuỷ triều
- Vùng trũng thấp độ cao phổ biến từ 0-1m, chịu ảnh hưởng của thuỷ
triều hàng ngày, ước tính chiếm khoảng 12% diện tích Nguồn nước bị nhiễm mặn
trên 8 tháng/1năm Hiện đang xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên rừng ngập mặn
và khu sinh quyển thế giới
2.1.5 Địa chất và thổ nhưỡng
Đất đai thành phố phát triển trên 2 trầm tích Pleixtoxen và Holoxen
Trầm tích Pleixtoxen: Còn gọi là trầm tích phù sa cổ, chiếm toàn bộ địa hình
đồi gò và triền, được tạo thành cách nay hàng chục vạn năm
Trầm tích Holoxen: Còn gọi là trầm tích phù sa trẻ, tạo thành cách nay khoảng
5.000 năm, có nguồn gốc biển, sông biển, sông, vũng, vịnh, đầm lầy
Trang 12Thành Phố Hồ Chí Minh có đặc điểm của vùng đất Châu Thổ, phần nội
thành nằm trên phù sao cổ, được phủ bởi phù sa mới (Thủ Đức, Hóc Môn, Bình
Chánh Ngoại thành chủ yếu là đất phù sa
2.1.6 Thảm thực vật
Thảm thực vật nó phản ánh tổng hợp các điều kiện tự nhiên vùng đó cho
nên tìm hiểu quy luật phân bố các quần xã thực vật sẽ giúp chúng ta nắm được đặc
điểm môi trường vùng nghiên cứu
2.1.6.1 Các thảm thực vật nguyên thuỷ
Sài Gòn xưa khi con người mới đến khai phá là một vùng hoang vu, cây cối
rậm rạp, sinh cảnh phong phú, khác biệt tuỳ địa hình cao thấp, tính chất đất, nước
của từng khu vực đã tồn tại các HST thực vật chính sau:
2.1.6.1.1 Hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới
Hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới phân bố ở những nơi có địa hình cao, phát
triển trên đất đỏ feralite và đất xám có nguồn gốc trầm tích phù sa cổ Đây là kiểu
rừng kín rậm cây lá rộng, nửa thường xanh, trong đó ưu thế là các loại cây họ Sao
Dầu (Dipterocarpacede) là họ đặc hữu của khu vực Aán Độ – Mã Lai, mà phần lớn
là các loại cây thường xanh hỗn giao với các cây của họ Đậu (Leguminosae) có gỗ
cứng, gỗ quý (Afzelia, Dalbergia, Pterocarphu) và nhiều loại Bằng Lăng
(Lagerstroemia spp) rụng lá trơ cành trong mùa khô Những kiểu rừng kín rậm này
là mục tiêu của cuộc chiến tranh hoá học của Mỹ đã sử dụng những chất diệt cỏ
làm rụng lá, với nồng độ cao, rải đi rải lại nhiều lần nhằm phá huỷ tán rừng
2.1.6.1.2 Hệ sinh thái rừng úng phèn, nước lợ
Thảm thực vật gồm một số quần hợp chính:
- Dừa lá phân bố theo kênh rạch, vùng cửa sông, nhiều khi lan rộng thành
những khu rừng dừa lá bạt ngàn
- Bần, bình bát… phân bố trên các loại đất có nguồn gốc sông biển, vừa
nhiễm mặn, vừa nhiễm phèn
- Bàng, lác… phân bố trên đất phèn nặng
Trang 13- Rừng tràm phân bố trên các đầm lầy chua phèn, tầng sình phèn dày, ngập
nước thường xuyên
2.1.6.1.3 Hệ sinh thái rừng ngập mặn
Rừng Sác Gia Định là một trong các khu rừng ngập tiêu biểu của miền Nam
trước chiến tranh Hệ sinh thái khá phong phú trong đó Đước Vẹt (Rhizophoraceae)
là họ chiếm ưu thế có 10 loài : 3 loài Đước, 3 loài Vẹt, 2 loài Dà, 1 loài Trang mọc
thành quần hợp thuần loại ở các bãi bùn mới bồi; có 3 loài Mắm mọc thành các
quần hợp Mắm thuần loại hay mọc hỗn giao với Bần Đắng; còn Bần chua là cây
nước lợ ở cửa sông mọc ở ven sông rạch và càng vào sâu trong nội địa là những
rừng Dừa nước ờ vùng ngập hàng ngày; còn trên những đất rắn chắc thì có rừng
Chà Là phát triển, trên những vùng trũng thấp mà nước triều chỉ tràn ngập trong
những con nước lớn thì hình thành những trảng cỏ Ráng mênh mông, có nhiều nơi
còn điểm những cây Giá, Mắm, Cóc, Vẹt, Dù… Loài cây chủ yếu là Đước, Sú, Vẹt,
Giá Dà, Mắm, Bần…
2.2.6.2 Các thảm thực vật hiện nay
Do sự tác động của con người đã làm cho thảm thực vật tự nhiên của vùng
này bị tàn phá nghiêm trọng Sinh cảnh phong phú của rừng nhiệt đới trước đây
không còn thấy trên địa bàn thành phố mà chỉ gặp vết tích tại một vài nơi quanh
các đền chùa trong vùng đồi gò các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Thủ Đức Bên cạnh
đó là thảm cây bụi thứ sinh, trảng cỏ và một số loại cây phụ sinh khác Sự chặt phá
bừa bãi đã biến rừng rậm rạp thành đồi trọc làm cho đất bị xói mòn, thoái hoá, kiệt
màu Rừng tái sinh được biến thành những bãi đất trống với một số cây chịu hạn,
khẳng khiu, già cỗi Trên vùng đồi gò, thực vật tự nhiên, phổ biến hiện nay có
mua, hà thủ ô, cỏ may, cỏ tranh…
Vùng bưng trũng Tây Nam Thành phố ven sông Sài Gòn – Đồng Nai có
sông rạch chằng chịt, các loài thực vật thích nghi với môi trường chua phèn nước lợ
tồn tại khá phong phú trên các bưng phèn, thực vật đặc trưng có năng, lác,
đưng…Vùng nước lợ có dừa nước, chuối nước, ôrô, mái
Trang 14Vùng ngập mặn Cần Giờ bị huỷ diệt trong chiến tranh nay cũng đã được
phục hồi Rừng sác Cần Giờ có một diện tích khá lớn (trên 33.000 ha)
2.3 Hiện trạng kinh tế – xã hội
2.3.1 Dân số và mật độ dân cư
Dân số thành phố (năm 2003) là 5.630.192 người, trong đó nội thành 12
quận là 3.673.595 người, nội thành mở rộng 5 quận : 897.281 người, ngoại thành 5
Huyện: 1.059.316 người Mật độ dân cư toàn thành phố : 2687 người/km2, nội
thành: 25.761 người/km2, ngoại thành:641 người/km2
2.3.1.1 Nội thành:
Bảng 1: Diện tích và dân số nội thành TP.Hồ Chí Minh
STT Các quận Diện tích(km2) Dân số (người) Mật độ dân cư
Trang 15Số liệu bảng 1 cho thấy:
Quận 5 có mật độ dân cư cao nhất, gấp gần 2 lần mật độ dân cư toàn vùng
(49.601/25.761); thấp nhất là quận Tân Bình, bằng 0.68 mật độ trung bình vùng
(17.686/25.761) và mật độ dân cư lớn nhất gấp 6 lần mật độ dân cư nhất Bốn quận
Gò Vấp, Tân Bình, Bình Thạnh, quận 8 có mật độ dân cư nằm dưới trị số trung bình
toàn vùng Mật độ dân cư cao hơn rất nhiều so với các thành phố lớn khác trên thế
giới
2.3.1.2 Nội thành mở rộng:
Bảng 2: Diện tích và dân số nội thành mở rộng TP.Hồ Chí Minh
STT Các quận Diện tích(km2) Dân số (người) Mật độ dân cư
Nguồn : Chi Cục thống kê TP.Hồ Chí Minh, năm 2003
Số liệu bảng 2 cho thấy:
Ngoài quận Thủ Đức, do có thị trấn Huyện lỵ cũ nên là điểm tập trung đông dân cư
từ trước (5.186 người/km2), các quận còn lại chưa thể hiện rõ là vùng đô thị, mật độ
dân cư còn thấp nhất là quận 9 (1.446 người/km2) và cao nhất là quận 12 (4.318
km2)
2.3.1.3 Ngoại thành
2.3.1.3.1 Huyện Cần Giờ
Nằm ở phía Đông Nam Thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố
khoảng 50km theo đường chim bay, có đường bờ biển dài hơn 20km theo hướng
Trang 16Tây Nam – Đông Bắc, bao gồm 7 xã: Cần Thạnh, Long Hoà, Thạnh An, Lý Nhơn,
Tam Thôn Hiệp, An Thới Đông, Bình Khánh, được bao bọc trong vùng các cửa
sông Lòng Tàu, Cái Mép, Gò Gia, Thị Vải, Soài Rạp, Đồng Tranh Tổng diện tích
của Huyện Cần Giờ là 704.22km2, dân số 64.183 người, dân cư thưa thớt, bình quân
91 người/km2 Các điểm dân cư hiện hữu vẫn mang tính chất dân cư nông thôn
Việc phân bố dân cư không đồng đều, chủ yếu tập trung ở 2 xã là Cần Thạnh và
Bình Khánh
2.3.1.3.2 Huyện Củ Chi
Huyện Củ Chi là địa bàn cửa ngõ phía Bắc của thành phố Hồ Chí Minh cách
trung tâm TP Hồ Chí Minh khoảng 40km Huyện có diện tích khoảng 434,5km2 –
vào loại lớn thứ 2 (huyện Cần Giờ có diện tích lớn nhất) so với 21 quận Huyện
khác, có dân số 265.857 người, mật độ trung bình 612 người/km2 Huyện Củ Chi có
những nét đặc thù riêng của một Huyện ngoại thành, có tiềm năng to lớn về đất
đai, có điều kiện thuận tiện về giao thông thuỷ bộ, có sông Sài Gòn ở phía Đông
chạy từ Bắc đến Nam Tuy nhiên mức độ đô thị hoá của Huyện còn kém hiện nay
Củ Chi là một huyện nông nghiệp, giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng còn
khá cao trong cơ cấu kinh tế
2.3.1.3.3 Huyện Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè
Diện tích 3 huyện: dân số, mật độ dân cư trung bình, cao nhất là Hóc Môn,
thấp nhất là Nhà Bè
Bảng 3: Diện tích và dân số ngoại thành TP.Hồ Chí Minh
STT Các quận Diện tích(km2) Dân số (người) Mật độ dân cư
Trang 17Nguồn : Chi Cục thống kê TP.Hồ Chí Minh, năm 2003
2.3.2 Hiện trạng sử dụng đất
Đất nông nghiệp: Tổng diện tích là 91.573 ha, trong đó chiếm diện tích
nhiều nhất là Huyện Củ Chi với 33.155 ha Chỉ có 9/17 quận nội thành là còn đất
dành nông nghiệp Thấp nhất là quận Tân Bình với diện tích là 186 ha
Chiếm diện tích nhiều nhất trong đất đất nông nghiệp là đất trồng cây hàng
năm (64.659 ha) và đất ruộng lúa, lúa màu (51.252 ha), ít nhất là đất cỏ dành cho
chăn nuôi chỉ có 274 ha, chủ yếu tập trung ở Củ Chi
Đất lâm nghiệp: có diện tích là 34.933 ha Ngoài quận 9 có khoảng 25 ha
rừng trồng và rừng sản xuất, thì các quận nội thành không có rừng Chiếm diện tích
lớn nhất là Cần Giờ với 33.279 ha Còn lại phân bố ở 3 huyện ngoại thành là Củ
Chi (528 ha), Bình Chánh (1.041 ha) và Hóc Môn (60ha)
Đất khu dân cư: Tập trung ở khu vực nội thành, trung tâm các xã Huyện
ngoại thành có diện tích 18.224 ha, tăng 4,83 ha so với năm 1995
Đất chuyên dùng: Cho xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, làm muối… chiếm
26.119 ha, tăng 7,114 ha so với năm 1995
Đất chưa sử dụng: Bao gồm cả sông suối chiếm 39.902 ha
2.4 Hiện trạng cảnh quan môi trường đô thị và nông thôn
Sài Gòn – Thành Phố Hồ Chí Minh đã từng là “hòn ngọc Viễn Đông” với hệ
thống giao thông, kênh rạch không gian công cộng… Được quy hoạch và phát triển
khá ấn tượng tuy nhiên cho đến nay cảnh quan đã bị phá vỡ Nguyên nhân cơ bản
là do quá trình đô thị hoá với sự tăng trưởng hỗn loạn của mô hình nhà ống riêng lẻ
cho dân (hộ gia đình) tự xây dựng từ hơn 10 năm nay
Phần lớn nhà xây dựng tự phát cao, thấp, lồi lõm, kiến trúc cổ đan xen với
kiến trúc hiện đại, vỉa hè trước nhà được sử dụng làm nơi kinh doanh, buôn bán tạo
nên bộ mặt đô thị rất xấu, khó thay đổi Mật độ xây dựng quá cao, 60-70% diện
Trang 18tích mặt bằng, cao nhất là quận 5 (78,24%) và quận 1 (77,32%) Bốn quận ven:
Quận 8, Gò Vấp, Bình Thạnh và Tân Bình, mật độ xây dựng thấp hơn bình quân
28,6% Cảnh quan thành phố có sự tương phản sâu sắc giữa các khu phố nhà cửa,
đường phố được xây dựng quy mô đẹp đẽ với những khu phố chật chội, ẩm thấp
Không gian dành cho các mảng xanh đô thị phát triển rất ít Cây xanh thiếu
hoặc có nhưng không liên tục do không có lề đường để trồng cây hoặc đường phố
đang quá trình chỉnh trang, mở rộng Số lượng công viên có diện tích lớn hơn 10ha
rất ít, ít không gian trống Khu vực ven kênh rạch ít cây xanh nhưng nhiều nhà ổ
chuột và quá nhiều công trình xây dựng lấn chiếm, ngoại trừ một số kênh rạch như
Nhiêu Lộc đang thời kỳ cải tạo Khu vực nội thành mở rộng, có nhiều cây xanh ven
kênh rạch hơn nhưng phần lớn là các loài mọc tự nhiên, kém giá trị cảnh quan
Đối với ngoại thành, cảnh quan nông thôn trong những năm qua có nhiều sự
thay đổi Quá trình đô thị hoá đã biến đổi cảnh quan thiên nhiên, làm phá vỡ cảnh
quan văn hoá nông thôn mất dần cây cỏ thiên nhiên, vườn cây ăn trái Đồng thời
xuất hiện nhiều đường xá, xuất hiện các kiểu nhà phố bê tông, nhà biệt thự vườn,
nhà một gian một chái; xu thế nhà bán kiên cố và kiên cố tăng dần; xuất hiện
nhiều chợ búa, xí nghiệp, cơ quan Nếu như trước đây, đa phần khu vực này còn là
cảnh quan văn hoá với hệ sinh thái kinh tế – xã hội nông thôn phát triển thì ngày
nay, con nguời đã làm thay đổi cấu trúc, chức năng của hệ và đang điều khiển hệ
trở thành cảnh quan văn hoá đô thị của hệ thống sinh thái kinh tế – xã hội đô thị
vùng ven
2.5 Kết luận
Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh tăng rất
nhanh, gây áp lực đối với hệ thống hạ tầng cơ sở và làm chất lượng môi trường suy
giảm Các chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, chất thải y tế…đã làm cho
không chỉ khu vực phạm vi đô thị bị ô nhiễm mà còn lan ra các vùng lân cận Một
số ngành công nghiệp như chế biến nông sản, khai thác dầu khí, lọc dầu, hóa
dầu…là những ngành gây ô nhiễm tiềm tàng Môi trường nước sông cũng bị ô
Trang 19nhiễm Nguồn gây ô nhiễm chủ yếu vẫn là các nguồn thải từ hàng ngàn cơ sở công
nghiệp ở các KCN ( Khu công nghiệp) và hàng chục ngàn cơ sở công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp ngoài KCN trong lưu vực Đồng Nai Chất lượng không khí suy
giảm do khí thải của các nhà máy, các phương tiện giao thông Nhiều chỉ tiêu đã
vượt quá các giới hạn cho phép trong đó nồng độ bụi ở TP.Hồ Chí Minh thường
xuyên cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 – 2,8 lần
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung đông dân cư nhất trong cả nước, bao
gồm cư dân đến từ các địa phương khác trong cả nước, do đó việc giáo dục cho
người dân kiến thức về thiên nhiên, động vật, cây cỏ… có tác dụng to lớn trong
công tác bảo tồn đa dạng sinh học
Về sinh thái cảnh quan, giữa thành thị và vùng ven còn tồn tại nhiều sự khác
biệt Đó là sự khác biệt giữa một nơi từ lâu đã được đô thị hóa hoàn toàn và một
nơi là nông thôn đang trong quá trình đô thị hoá, giữa nơi có mật độ dân cư rất cao,
bình quân 26.761 người/km2 – cao hơn mật độ khuyến cáo của thế giới (10.000
người/km2) với một nơi mật độ dân cư rất thấp, chỉ 641 người/km2; giữa một nơi
mà không khí, đất, nước đã bị ô nhiễm nặng nề với nơi môi trường còn trong lành
Và đặc biệt là giữa một nơi thiếu đất để phát triển mảng xanh với một nơi còn tồn
tại nhiều mảng xanh có ý nghĩa môi trường đối với Thành phố
Vai trò của đa dạng sinh học trở nên quan trọng và cần thiết khi môi trường
Thành phố ngày càng bị ô nhiễm và tốc độ đô thị hoá ngày càng cao Việc giữ gìn
và phát triển đa dạng sinh học là một trong các vấn đề cần thiết phải quan tâm
hàng đầu trong bối cảnh hiện nay
Trang 20CHƯƠNG III TỔNG QUAN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC
3.1 Khái niệm về đa dạng sinh học
3.1.1 Đa dạng sinh học
Theo Công ước Đa dạng sinh học, khái niệm "Đa dạng sinh học"
(biodiversity, biological diversity) có nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh
vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: Các hệ sinh thái trên cạn, trong đại
dương và các hệ sinh thái thủy vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái
mà các sinh vật là một thành phần, thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau
trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái
Một số định nghĩa khác về Đa dạng sinh học:
- Tính đa dạng của sự sống dưới mọi hình thức, mức độ và mọi tổ hợp, bao
gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái [FAO]
- Tính đa dạng và sự khác nhau của tất cả động vật, thực vật và vi sinh vật
trên trái đất, có thể được phân thành 3 cấp: đa dạng di truyền (biến thiên
trong loài), đa dạng loài, và đa dạng sinh cảnh (Overseas Development
Administration, 1991)
- Tính đa dạng của sinh vật ở mọi cấp độ, từ những biến dị di truyền trong
cùng một loài đến sự đa dạng của các loài, giống/chi, họ và thậm chí cả
các mức phân loại cao hơn; bao gồm cả đa dạng hệ sinh thái, gồm cả các
quần xã sinh vật trong các sinh cảnh cụ thể và các điều kiện vật lý mà
chúng sinh sống trong đó (Wilson, 1992)
- Là toàn bộ đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng sinh thái, cũng như
những tác động tương hỗ giữa chúng, trong một vùng xác định, tại một thời
điểm xác định (Di Castri, 1995)
Trang 213.1.2 Đa dạng loài
Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy tại
một khu vực nhất định tại một vùng nào đó
Đa dạng loài là tất cả sự khác biệt trong một hay nhiều quần thể của
một loài cũng như đối với quần thể của các loài khác nhau
Đa dạng sinh học toàn cầu thường được hiểu là số lượng các loài thuộc
các nhóm phân loại khác nhau trên toàn cầu Ước tính đến thời điểm này
đã có khoảng 1,7 triệu loài đã được xác định; còn tổng số loài tồn tại trên
trái đất vào khoảng 5 triệu đến gần 100 triệu Theo như ước tính của công
tác bảo tồn, có khoảng 12,5 triệu loài trên trái đất Nếu xét trên khái niệm
số lượng loài đơn thuần, thì sự sống trên trái đất chủ yếu bao gồm côn
trùng và vi sinh vật
Bảng 4: Sự phong phú thành phần loài sinh vật ở Việt Nam
Nhóm sinh vật
Số loài đã được xác định ở Việt Nam (VN)
Số loài có trên thế giới (TG)
Tỷ lệ (%) giữa VN/TG
220.000 5%
- Rêu (Moss) 1.030 22.000 4,6%
- Nấm lớn (Fungi) 826 50.000 1,6%
Trang 223 Động vật không
xương sống ở
5 Động vật không
xương sống ở đất
( Soil invertebrate)
Khoảng 1.000
30.000 3,3%
6 Giun sán ký
sinh ở gia súc
Nguồn : Cục Bảo vệ Môi trường Viện Sinh Thái và Tài Nguyên sinh vật,
Cục Bảo vệ và Phát triển Nguồn lợi Thuỷ sản Phạm Bình Quyển, 2005
3.1.3 Đa dạng di truyền
Đa dạng di truyền là sự đa dạng về thành phần gen giữa các cá thể
trong cùng một loài và giữa các loài khác nhau; là sự đa dạng về gen có
thể di truyền được trong một quần thể hoặc giữa các quần thể
Đa dạng di truyền là biểu hiện sự đa dạng của các biến dị có thể di
truyền trong một loài, một quần xã hoặc giữa các loài, các quần xã Xét
Trang 23cho cùng, đa dạng di truyền chính là sự biến dị của sự tổ hợp trình tự của
bốn cặp bazơ cơ bản, thành phần của axit nucleic, tạo thành mã di truyền
Tập hợp các biến dị gen trong một quần thể giao phối cùng loài có được
nhờ chọn lọc Mức độ sống sót của các biến dị khác nhau dẫn đến tần suất
khác nhau của các gen trong tập hợp gen Điều này cũng tương tự trong
tiến hoá của quần thể Như vậy, tầm quan trọng của biến dị gen là rất rõ
ràng: Nó tạo ra sự thay đổi tiến hoá tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo
Ước tính cứ 109 gen khác nhau phân bố trên sinh giới thì có 1 gen
không có đóng góp đối với toàn bộ đa dạng di truyền Đặc biệt, những gen
kiểm soát quá trình sinh hóa cơ bản, được duy trì bền vững ở các đơn vị
phân loại khác nhau và thường ít có biến dị, mặc dù những biến dị này nếu
có sẽ ảnh hưởng nhiều đến tính đa dạng của sinh vật Đối với các gen duy
trì sự tồn tại của các gen khác cũng tương tự như vậy Hơn nữa, một số lớn
các biến dị phân tử trong hệ thống miễn dịch của động vật có vú được quy
định bởi một số lượng nhỏ các gen di truyền
3.1.4 Đa dạng hệ sinh thái
Đa dạng hệ sinh thái là tất cả mọi sinh cảnh, mọi quần xã sinh vật và
mọi quá trình sinh thái khác nhau, cũng như sự biến đổi trong từng hệ sinh
thái
Đa dạng hệ sinh thái thường được đánh giá qua tính đa dạng các loài
thành viên Nó có thể bao gồm việc đánh giá độ phong phú tương đối của
các loài khác nhau cũng như các kiểu dạng của loài Trong trường hợp thứ
nhất, các loài khác nhau càng phong phú, thì nói chung vùng hoặc nơi cư
trú càng đa dạng Trong trường hợp thứ hai, người ta quan tâm tới số lượng
loài trong các lớp kích thước khác nhau, tại các dải dinh dưỡng khác nhau,
hoặc trong các nhóm phân loại khác nhau
Trang 243.1.4.1 Đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái nước ngọt
Các thuỷ vực nước ngọt là nơi cư trú của rất nhiều loài cá, lưỡng cư,
động vật không xương sống, thực vật thuỷ sinh, và các vi sinh vật Ước
tính, chỉ riêng sông Amazon đã có 3000 loài cá, chỉ ít hơn 25% tổng số loài
thú trên toàn trái đất Đa dạng sinh học nước ngọt là ít được biết đến nhất
trên trái đất Các nhà khoa học tin rằng, chẳng hạn Thái Lan có thể có
khoảng 1000 loài cá nước ngọt, nhưng chỉ khoảng 475 loài được ghi nhận
hiện nay
Ngày nay, đa dạng sinh học nước ngọt đang bị đe doạ nghiêm trọng,
đây là một chỉ số đầy ấn tượng về tính trạng các hệ sinh thái nước ngọt của
trái đất Tất cả các loài cá bản địa trong các lưu vực ở Mexico đã bị tuyệt
diệt Một cuộc khảo sát gần đây ở Malaysia cho thấy chỉ còn chưa tới một
nửa trong số 266 loài cá được biết trước đây của nước này Tại Singapore,
18 trong số 53 loài cá nước ngọt được ghi nhận năm 1934 đã không còn
xuất hiện trong các nghiên cứu toàn diện của 30 năm sau ở Đông Nam
nước Mỹ, 40-50% các loài ốc sên nước ngọt đã tuyệt chủng hoặc bị đe doạ
do việc ngăn sông hoặc kênh đào hoá các dòng sông Thậm chí trên phạm
vi một lục địa, tỷ lệ mất đi của các loài cũng rất cao ở Bắc Mỹ, 1/3 loài cá
nước ngọt bản địa đã bị tuyệt diệt hoặc bị đe doạ ở các mức độ khác nhau
Bảng 5 : Một số hệ sinh thái chính ở Việt Nam
Hệ sinh thái trên cạn
Rừng nguyên sinh ĐDSH giàu, hệ sinh thái
bền vững
Rừng thứ sinh ĐDSH trung bình, hệ sinh
thái tương đối bền vững Rừng nghèo kiệt ĐDSH nghèo, hệ sinh thái
Trang 25Trảng cát ven biển ĐDSH nghèo, hệ sinh thái
kém bền vững, nhạy cảm
Núi đất ĐDSH trung bình, hệ sinh
thái tương đối bền vững
kém bền vững
Hệ sinh thái nông nghiệp ĐDSH nghèo, hệ sinh thái
kém bền vững Đô thị và khu công
ngiệp
ĐDSH rất nghèo, hệ sinh thái kém bền vững
Hệ sinh thái ở nước ( đất ngập nước và biển)
Nước chảy ( suối, sông) ĐDSH trung bình, hệ sinh
thái tương đối bền vững
Hồ, mặt nước lớn ĐDSH trung bình, hệ sinh
thái tương đối bền vững
Ao, mặt nước nhỏ ĐDSH nghèo, hệ sinh thái
nhạy cảm
Bán ngập nước ĐDSH nghèo, hệ sinh thái
nhạy cảm
Nước lợ, cửa sông ĐDSH giàu, hệ sinh thái
nhiều biến động Biển ven bờ ĐDSH giàu, hệ sinh thái
Trang 26nhiều biến động
Biển sông ĐDSH trung bình, hệ sinh
thái bền vững Thuỷ vực ngầm, hang
3.1.4.2 Đa dạng sinh học trong các môi trường biển
Tính đa dạng của các hệ sinh thái biển, từ các rừng ngập mặn cấu trúc phức
tạp cho tới các tầng nước giữa của đại dương có vẻ không có gì đặc trưng, có thể
so sánh được với tính đa dạng trên đất liền
Các rạn san hô, giống như những rừng nhiệt đới, nổi bật nhờ sự đa dạng loài
đáng kinh ngạc Những rạn san hô có độ phong phú loài cao nhất được tìm thấy ở
một vệt kéo dài từ Đông Nam Á đến Rạn Great Barrier, ngoài khơi đông bắc
Australia
Hơn 700 loài san hô được tìm thấy ở vùng này
Vùng Indo-West-Pacific có nhiều hơn 16% con số ước tính 19.000 loài cá
nước ngọt và nước mặn của thế giới
Rạn Great Barrier, hệ thống rạn san hô lớn nhất thế giới, bao phủ diện tích
349.000 km2 và chỉ chiếm 1/10 của 1% diện tích đáy đại dương, nhưng có:
♦ Gần 8% (1500) số loài cá của thế giới
♦ Nhiều hơn 700 loài san hô
♦ Hơn 4000 loài thân mềm
♦ 252 loài chim làm tổ và sinh sản trên các đảo san hô, 5 loài rùa biển sống
ở các rạn san hô, một số loài cá voi và cá heo có cuộc sống liên quan đến rạn san
hô này
Trang 27MTX.VN
Trang 283.1.4.3 Đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái rừng nhiệt đới
Các rừng rậm nhiệt đới có hơn một nửa số loài của thế giới, mặc dù chỉ
chiếm 7% bề mặt đất của trái đất
Thực vật
Thông tin đầy đủ nhất hiện có về rừng nhiệt đới là các thông tin về
các loài thực vật Vùng tân nhiệt đới (trung và nam Mỹ) ước tính có
khoảng 86.000 loài thực vật có mạch, vùng nhiệt đới và nửa khô hạn châu
Phi có 30.000 loài, vùng Madagascar có 8200 loài, vùng nhiệt đới Châu Á
gồm cả New Guinea và vùng nhiệt đới Austrailia có khoảng 45.000 loài
Xét chung, vùng nhiệt đới chiếm 2/3 con số ước tính 250.000 loài thực vật
có mạch của thế giới Theo số liệu của Alwyn Gentry, Norman Myers ước
tính rằng 2/3 số loài thực vật nhiệt đới được tìm thấy ở các rừng nhiệt đới
ẩm (các rừng rậm rụng lá và thường xanh) Như vậy, khoảng 45% các loài
thực vật mạch gỗ của thế giới được tìm thấy trong các rừng rậm nhiệt đới
Động vật có xương sống
Tỷ lệ số loài động vật có xương sống ở cạn tìm thấy trong các rừng
nhiệt đới có thể so sánh với con số này của thực vật Số loài chim của rừng
nhiệt đới ước tính là 2600, trong đó 1300 loài tìm thấy ở vùng tân nhiệt đới,
400 loài ở vùng nhiệt đới châu Phi, 900 loài ở vùng nhiệt đới Châu Aù Con
số này xấp xỉ 30% tổng số loài toàn cầu Tỷ lệ này thấp hơn so với thực
vật, nhưng không bao gồm các loài chim tìm thấy ở rừng nhiệt đới mà
không hoàn toàn phụ thuộc vào nơi cư trú này Bruce Beehler cho rằng
78% các loài chim không phải ở biển của New Guinea là tồn tại ở các rừng
mưa, mặc dù nhiều loài có thể cũng sống ở cả những nơi cư trú khác nữa
Động vật không xương sống
Độ phong phú tương đối của các loài động vật không xương sống
trong rừng nhiệt đới hầu hết vẫn chưa được biết chắc chắn Cho tới gần
đây, tính đa dạng tương đối của nhóm động vật chân khớp của vùng nhiệt
Trang 29đới so với vùng ôn đới vẫn được coi là tương tự đối với những nhóm sinh
vật đã biết như thực vật có mạch hoặc chim Tuy nhiên, khám phá của
Terry Erwin về độ phong phú rất lớn của các loài bọ cánh cứng trong tán
rừng của một rừng nhiệt đới ẩm đã cho thấy độ phong phú tương đối của
động vật chân khớp trong vùng nhiệt đới là lớn hơn rất nhiều Khoảng 30
triệu loài động vật chân khớp, chiếm 96% tổng số loài trên trái đất, có thể
tồn tại trong các rừng nhiệt đới
3.2 Tầm quan trọng của đa dạng sinh học
3.2.1 Giá trị sinh thái và môi trường
Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất, trong đó có
loài người Các hệ sinh thái đảm bảo sự chu chuyển của các chu trình địa
hoá, thuỷ hoá( thuỷ vực): Oâxy và các nguyên tố cơ bản khác như cacbon,
nitơ, photpho Chúng duy trì sự ổn định và màu mỡ của đất, nước ở hầu hết
ccá vùng trên trái đất, làm giảm nhẹ sự ô nhiễm, giảm nhẹ thiên tai Gần
đây, khái niệm các dịch vụ của hệ sinh thái được đưa ra trên cơ sở các
thuộc tính, chức năng của chúng được con người sử dụng
3.2.1.1 Bảo vệ tài nguyên đất và nước
Các quần xã sinh vật đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ rừng
đầu nguồn, đặc biệt thảm thực vật có thể làm nhẹ mức độ hạn hán, lũ lụt
cũng như duy trì chất lượng nước Việc huỷ hoại thảm rừng do khai thác
gỗ, do khai hoang làm nông nghiệp, ngư nghiệp cũng như các hoạt động
kháccảu con người trong quá trình phát triển kinh tế sẽ làm cho tốc độ xói
mòn đất, sạt lở đất, hoang mạc hoá đất đai tăng lên rất nhanh Đất bị suy
thoái khiến thảm thực vật khó có thể phục hồi càng gia tăng các tảhm hoạ
thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán… hoặc gây ô nhiễm môi truường đất và
nước
Trang 30MTX.VN
Trang 313.2.1.2 Điều hoà khí hậu
Quần xã thực vật có vai trò quan trọng trong việc điều hoà khí hậu địa
phương, khí hậu vùng và cả khí hậu toàn cầu: Tạo bóng mát, khuếch tán
hơi nước, giảm nhiệt độ không khí khi thời tiết nóng nực, hạn chế sự mất
nhiệt khi khí hậu lạnh giá, điều hoà nguồn khí ôxy và cacbonic cho môi
trường trên cạn cũng như dưới nước thông qua khả năng quang hợp…
3.2.1.3 Phân huỷ các chất thải
Các quần xã sinh vật, đặc biệt là các loài nấm và vi sinh vật có khả
năng hấp phụ, hấp thụ và phân huỷ các chất ô nhiễm như kim loại nặng,
thuốc trừ sâu và các chất thải nguy hại khác
3.2.2 Giá trị kinh tế
Theo một số tài liệu, ĐDSH trên toàn cầu có thể cung cấp cho con
người một giá trị tương đương 33.000 tỷ USD/ mỗi năm Trong Kế hoạch
hành động ĐDSH của Việt Nam(1995) cũng ước tính, hàng năm việc khai
thác tài nguyên nông, lâm nghiệp và thuỷ sản của Việt Nam có giá trị
tương đương tỷ USD
Theo cục thống kê Việt Nam, năm 2003 nghành nông nghiệp đóng góp
một tỷ lệ đáng kể trong Tổng sản phẩm quốc nội(GDP) gần 21%, nghành
lâm nghiệp chiếm tỷ lệ gần 1,1% GDP, nghành thuỷ sản chiếm tỷ lệ hơn
4% GDP
Giá trị kinh tế của rừng ngập mặn(RNM) theo Ronnback (1999), mỗi
năm 1 ha RNM có thể tạo ra 13-756 kg tôm thuộc họ tôm he có giá trị
91-5292 USD, 13-64 kg cua bể với số tiền tương ứng là 475-713 USD, 500-979
kg ốc, so với giá trị tương đương là 140-274 USD
Giá trị kinh tế của ĐDSH có thể nêu khái quát về các mặt sau đây:
- Giá trị được tính ra tiền do việc khai thác, sử dụng mua bán hợp lý
các tài nguyên ĐDSH
Trang 32- ĐDSH đảm bảo cơ sở cho an ninh lương thực và phát triển bền vững
của đất nước, đảm bảo ccá nhu cầu về ăn, mặc của nhân dân, góp phân
xoá đói giảm nghèo
- ĐDSH cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản:
mía đường, bông vải, cây lấy dầu, cây lấy sợi, thuốc lá, cói, hạt điều…
- ĐDSH góp phần nâng cao độ phì nhiêu của đất, qua đó làm tăng giá
trị nông sản
3.2.3 Giá trị xã hội và nhân văn
- Tạo nhận thức, đaọ đức và văn hoá hưởng thụ thẫm mỹ công bằng
của người dân Qua các biểu hiện phong phú nhiều dáng vẻ, nhiều hình
thù, nhiều màu sắc, nhiều kết cấu, nhiều hương vị của thế giới sinh vật con
người trở nên hiền hoà, yêu cái đẹp
- ĐDSH góp phần đắc lực trong việc giáo dục con người, đặc biệt là đối
với thế hệ trẻ, lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước
- ĐDSH là yếu tố chống căng thẳng, tạo sự thoải mái cho con người
Điều này đặc biệt có giá trị trong thời đại công nghiệp, trong cuộc sống
hiận đại căng thẳng và đầy sôi động
- ĐDSH góp phần tạo ổn định xã hội thông qua việc bảo đảm an toàn
lương thực, thực phẩm, thoả mãn các nhu cầu của người dân về đầy đủ các
chất dinh dưỡng, về ăn mặc, nhà ở, tham quan du lịch và thẫm mỹ
3.3 Nguyên nhân của sự suy giảm đa dạng sinh học
3.3.1 Mất và phá huỷ nơi cư trú
Thường là kết quả trực tiếp do các hoạt động của con người và sự tăng
trưởng dân số, là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm loài, quần thể
và hệ sinh thái Một trong những hoạt động chính ở đây là phá rừng đã
làm mất nơi ở của nhiều loài động vật và thực vật
Trang 33Tình hình trên thế giới :
Vào năm 1980, rừng che phủ khoảng 3.600 triệu ha, chiếm gần 28%
bề mặt trái đất (không tính vùng Groenland và Châu Nam Cực)
Khoảng 2.150 triệu ha được tìm thấy ở các nước đang phát triển, trong
đó 1.935 triệu ha ở các nước nhiệt đới và 1.450 triệu ha ở các nước công
nghiệp hóa Mười năm sau, rừng trên thế giới chỉ còn 3.400 triệu ha,
mất khoảng gần 6% so với năm 1980, tỉ lệ che phủ của rừng trên hành
tinh là 26% so với 28% của 10 năm trước
Trong 200 triệu ha rừng mất đi, 154 triệu ha ở các nước nhiệt đới
(trung bình khoảng 11,4 triệu ha mỗi năm) và 36 triệu ha ở các nước công
Nguồn: Theo FAO, 2002
Theo Ryan thì: Nạn phá rừng là nguyên nhân tuyệt chủng mỗi ngày
của ít nhất một loài chim, một loài hữu nhũ hoặc một loài thực vật Có
ít nhất 500.000 động vật không xương sống khó tránh khỏi nguy cơ
tuyệt chủng vì môi trường nhiệt đới ẩm của chúng bị phá hoại
Trang 343.3.2 Khai thác quá mức (Tình trạng lạm phát)
Săn bắn quá mức, đánh cá quá mức, hoặc thu hoạch quá mức một
loài hoặc một quần thể có thể dẫn tới sự suy giảm của loài hoặc quần thể
đó
3.3.3 Sự thay đổi trong thành phần hệ sinh thái
Chẳng hạn như mất hoặc suy giảm của một loài có thể dẫn đến sự
suy giảm đa dạng sinh học Ví dụ, nỗ lực loại trừ chó sói châu Mỹ ở miền
nam California dẫn đến việc giảm sút các quần thể chim hót trong vùng
Khi quần thể chó sói châu Mỹ giảm sút, quần thể con mồi của chúng,
gấu trúc Mỹ, sẽ tăng lên Do gấu trúc Mỹ ăn trứng chim, nên khi số
lượng chó sói ít hơn thì số lượng gấu trúc ăn trứng chim lại nhiều lên, kết
quả là số lượng chim hót sẽ ít đi
3.3.3 Sự nhập nội các loài ngoại lai
Có thể phá vỡ toàn bộ hệ sinh thái và ảnh hưởng đến các quần thể
động vật hoặc thực vật bản địa Những kẻ xâm chiếm này có thể ảnh
hưởng bất lợi cho các loài bản địa do quá trình sử dụng các loài bản địa
làm thức ăn, làm nhiễm độc chúng, cạnh tranh với chúng hoặc giao phối
với chúng
Trường hợp Lục bình (Eichhornia crassipes)
Loài thực vật này có nguồn gốc từ Nam Mỹ, đã được du nhập vào
Florida vào khoảng những năm 1880 Đây là loài cỏ cực xấu cho môi
trường dưới nước hay trên cạn
Trong vòng vài năm, loài này đã che phủ 1 diện tích mặt nước lên
đến 125.000 acre ở Floride
Tỉ lệ tăng trưởng của chúng được xem là lớn nhất trong tất cả các
loài được biết hiện nay: quần thể lục bình có thể gia tăng gấp đôi trong
vòng 12 ngày
Trang 35Hơn nữa, chúng còn ngăn cản sự lưu thông, cản trở việc câu cá và
bơi lội, và ngăn cản sự thâm nhập ánh sáng và oxy vào trong nước Lục
bình làm suy giảm độ đa dạng sinh học trong các thủy vực nước ngọt
Loài này đã xuất hiện ở Châu Phi từ đầu thế kỷ 20 và người ta đã cảnh
báo về sự hiện diện của chúng ở châu thổ sông Nil và ở Natal, Nam Phi
cũng như ở Zimbabwe vào năm 1937
3.3.5 Gia tăng dân số
Đe dọa lớn nhất đối với đa dạng sinh học là số lượng và tốc độ gia tăng
dân số của loài người Ngày lại ngày, ngày càng nhiều người, đòi hỏi ngày càng
nhiều không gian sống, tiêu thụ ngày càng nhiều tài nguyên và tạo ra ngày
càng nhiều chất thải trong khi dân số thế giới liên tục gia tăng với tốc độ đáng
báo động
Sự gia tăng dân số loài người sẽ làm giảm đa dạng sinh học theo các hướng
sau:
♦ Gây biến đổi nơi cư trú do sự phát triển nông nghiệp, đô thị, công
nghiệp, và khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên
♦ Gây ô nhiễm đất, nước, và không khí
♦ Khai thác quá mức các nguồn tài nguyên làm giảm cả về kích cỡ và đa
dạng di truyền của các quần thể loài thương mại, chẳng hạn như cá
♦ Nhập nội các loài ngoại lai làm phá huỷ các nguồn tài nguyên đất, nước
và đôi khi còn đem đến cả những dịch bệnh cùng với những loài này Ngoài
ra, chúng có thể cạnh tranh với những loài động, thực vật bản địa về thức ăn
và nơi cư trú Một số loài động vật, như mèo và cáo, còn trực tiếp tiêu diệt các
loài bản địa
♦ Gây ra sự ấm toàn cầu do tăng phát thải lượng cacbon dioxit và các khí
khác vào khí quyển, chúng làm biến đổi các hệ sinh thái tự nhiên ở mọi nơi
Một trong các nguyên nhân của việc tăng mức cacbon dioxit là do đốt các
nhiên liệu có nguồn gốc cacbon như than, dầu và gas
Trang 363.3.6 Ô nhiễm môi trường
Hiện nay chất lượng môi trường nhiều nơi, nhiều lúc đã đến mức báo
động Nhiều thành phần môi trường bị suy thoái, tình trạng ô nhiễm do các
nguồn thải khác nhau ( nước thải, khí thải, chất thải rắn) là nguyên nhân đe
doạ đến đa dạng sinh học, gây chết, làm giảm số lượng cá thể, gián tiếp làm
huỷ hoại nơi cư trú và môi trường sống của các loài sinh vật hoang dã
Việc tiếp nhận nước thải với hàm lượng dinh dưỡng cao đã gây sự phú
dưỡng của hầu hết các hồ và cac khu dân cư, đô thị Sự phú dưỡng đã gây hiện
tượng nở hoa thực vật nổi ở các hồ nội địa là nhóm tảo lam tấm (Microcystis
spp), là loại tảo độc nguy hại tới môi trường sống của nhiều loại động vật thuỷ
sinh và chất lượng nước Vùng nước ben biển, hiện tượng thuỷ triều đỏ, thuỷ
triều xanh thường xảy ra là hhệ quả của sự gia tăng các nguồn thải giàu dinh
dưỡng từ các hạot động kinh tế vùng ven biển
3.4 Chiến lược bảo tồn của các vườn thú trên thế giới
3.4.1 Vai trò các Vườn thú trong việc bảo tồn
• Action 4.2 thuộc “ Chăm sóc trái đất” (1991) kêu gọi “ hãy kết hợp
việc bảo tồn trong thiên nhiên (in-situ) và ngoài nơi sinh sống các loài động
vật (ex-situ) để duy trì các loài và các nguồn tài nguyên về gien” Các vườn
thú có vai trò chủ yếu trong việc bảo quản các quần thể động vật ở bên ngoài
nơi sinh sống của chúng, và kêu gọi cộng đồng các Vườn thú triển khai “
Chiến lược bảo tồn các Vườn thú”
• Action 71 thuộc “ Chiến lược đa dạng sinh học toàn cầu” kêu gọi “
củng cố sự hợp tác giữa các cơ quan bảo tồn nhằm mở rộng vai trò bảo tồn ở
bên ngoài nơi sinh sống của các loài động vật, và phục hồi lại nơi sinh sống
Action 71 cũng tuyên bố: “ Các Vườn thú cũng tiếp tục đóng vai trò quan
trọng trong việc phục hồi các loài bị tuyệt chủng (extinct) trong thiên nhiên”
và “ các nơi trưng bày các loài động vật thuỷ sinh (aquaria) cũng có vai trò
ngày càng tăng trong việc bảo tồn thiên nhiên”
Trang 37• Các bộ sưu tập của Vườn thú gồm nhiều cá thể của các loài đang bị
đe doạ nghiêm trọng hoang dã, và ngay cả một số trường hợp các loài hoàn
toàn biến mất Vì thế, Vườn thú nắm giữ các chất liệu sống có tầm quan trọng
quyết định cho sự sinh tồn các loài này Các mẫu vật nuôi này đại diện cho
một phần quan trọng của tập hợp gien còn lại, với biện pháp kỹ thuật sinh học
cho sinh sản có thể sử dụng trong tương lai để bổ sung vào quần thể ngoài
hoang dã hay tạo một quần thể hoàn toàn mới
• Các Vườn thú thế giới kết luận, các Vườn thú hãy sử dụng tiềm năng,
chỉ có mình có, vào các mục tịeu bảo tồn, khởi sự bằng các chương trình
nghiên cứu của Vườn thú hay tạo các điều kiện thuận lợi cho việc khảo cứu,
bảo tồn của các Viện, trường Đại học, các tổ chức bảo vệ thiên nhiên hay các
cơ quan tương tự Các sở thú làm đúng chức năng của mình cũng dùng tất cả
các kiến thức tích luỹ được hỗ trợ việc bảo tồn thiên nhiên
3.4.2 Mục tiêu bảo tồn của các vườn thú
♦ Hỗ trợ tích cực bằng các chương trình cộng tác, bảo tồn quần thể các loài
đang bị nguy cơ tuyệt chủng trong thiên nhiên và tại các Vườn thú qua đó
bảo tồn môi trường sống, sinh cảnh và các hệ sinh thái
♦ Hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để có thêm các kiến thức khoa học có
lợi cho việc bảo tồn, đóng góp kiến thức và kinh nghiệm cho cộng đồng
bảo tồn
♦ Làm cho công chúng cũng như chính quyền có ý thức hơn về sự cần thiết
của việc bảo tồn, sự bền vững của các nguồn tài nguyên thiên nhiên và
tạo một thế cân bằng mới giữa con người và thiên nhiên
3.5 Các hình thức bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam
Để ngăn ngừa sự suy thoái đa dạng sinh học, Việt Nam đã tiến hành công
tác bảo tồn đa dạng sinh học khá sớm Hai hình thức bảo tồn ĐDSH phổ biến
được áp dụng ở Việt Nam là: Bảo tồn nội vi hay nguyên vị (Insitu
conservation) và bảo tồn ngoại vi hay chuyển vị (Exsitu conservation)
Trang 383.5.1 Biện pháp bảo tồn nguyên vị ( In-situ)
Bảo tồn nguyên vị bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích
bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện
tự nhiên Tuỳ theo đối tượng bảo tồn để áp dụng các hình thức quản lý thích
hợp Thông thường bảo tồn nguyên vị được thực hiện bằng cách thành lập các
khu bảo tồn và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp
Bảo tồn nội vi là hình thức bảo tồn chủ yếu ở Việt Nam trong thời gian
vừa qua Kết quả của phương pháp bảo tồn này thể hiện rõ rệt nhất là đã xây
dựng và đưa vào hoạt động một hệ thống rừng đặc dụng
Hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước sớm quan tâm đến vấn đề bảo tồn tài
nguyên đa dạng sinh học
Ngày 7 tháng 7 năm 1962, Vườn quốc gia Cúc Phương là Khu bảo tồn (
KBT) đầu tiên được thành lập ở miền Bắc Thời gian đầu gọi là khu “rừng
cấm” Cúc Phương, đây là khu bảo tồn thiên nhiên đối với hệ động thực vật
trên núi đá vôi nằm tiếp giáp ở vùng sinh thái đồng bằng Bắc bộ và Tây Bắc
Ở miền Nam, năm 1965, Phạm Hoàng Hộ và Phùng Trung Ngân đã đề
nghị và được chính phủ Sài Gòn quyết định thành lập 10 khu bảo vệ vùng
thấp: Côn Đảo, Châu Đốc, Bảo Lộc, Rừng cấm săn bắn Đức Xuyên (Buôn Ma
Thuột), đảo Hoang Loan và Mũi Dinh Vùng núi cao có 3 khu: Chư Yang Sin
(2405m), Đỉnh Lang Bian (2183m) và Bạch Mã-Hải Vân (1450m) Theo số
liệu của IUCN (1974) miền Nam Việt Nam có 7 khu bảo tồn với diện tích
753.050 ha (Cao Văn Sung- Hệ thống các khu bảo vệ thiên nhiên ở Việt Nam
-1994)
Sau ngày thống nhất đất nước hệ thống các KBT được dần dần mở rộng,
bổ sung và hoàn thiện cả về quy mô diện tích, và hệ thống quản lý bảo vệ Hệ
thống các KBT của Việt Nam hiện nay có 211 khu, bao gồm :
Trang 39- Các KBT rừng (Khu rừng đặc dụng) thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn đang quản lý 128 KBT ( Đã được Chính phủ công nhận)
♦ Các khu bảo tồn biển do Bộ Thủy sản đề xuất 15 KBT
♦ Khu bảo tồn đất ngập nước do Bộ Tài nguyên và môi trường đề xuất 68
KBT
Các KBT đất ngập nước và trên biển hiện mới chỉ mới đề xuất, nhưng
chưa có quyết định phê duyệt chính thức
Bảng 7: Phân loại hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam
Nguồn: Số liệu thống kê đến 10/2006- Cục Kiểm lâm và Viện Điều tra quy hoạch
rừng
Trong 128 KBT rừng hiện nay có 30 Vườn quốc gia (VQG), 48 Khu dữ
trữ thiên nhiên, 12 khu bảo tồn loài và sinh cảnh, 38 khu bảo vệ cảnh quan,
với tổng diện tích 2.400.092 ha, chiếm gần 7,24% diện tích tự nhiên trên đất
liền của cả nước
Một số vấn đề tồn tại trong bảo tồn nội vi hiện nay
♦ Hệ thống các KBT có nhiều KBT có diện tích nhỏ, tính liên kết yếu
nên hạn chế đến các hoạt động bảo tồn trên phạm vi khu vực rộng
♦ Ranh giới các KBT phần lớn chưa được phân định rõ ràng trên thực
địa, các hoạt động xâm lấn, vi phạm trong các KBT còn xẩy ra
Trang 40♦ Nguồn ngân sách cho bảo tồn còn hạn chế, chủ yếu dựa vào nguồn
ngân sách Nhà nước, các khu bảo tồn thuộc địa phương quản lý có nguồn ngân
sách rất hạn chế cho các hoạt động bảo tồn, chưa có chính sách cụ thể để xã
hội hóa công tác bảo tồn
♦ Một số chính sách về KBT còn thiếu, như chính sách đầu tư, quản lý
vùng đệm…
Chúng ta còn lẫn lộn trong việc sắp xếp các VQG và khu bảo tồn thiên
nhiên, cho VQG là quan trọng hơn về mặt bảo tồn Do vậy trong một thời gian
dài, vì thấy VQG được quan tâm và đầu tư nhiều hơn nên các tỉnh và thành
phố đều muốn chuyển các khu bảo tồn của mình thành VQG Nên trên thực tế
nhiều VQG chưa đáp ứng được các mục tiêu về bảo tồn
♦ Do hệ thống phân chia và quan niệm có sự sai khác nên trong chính
sách quản lý hiện nay chủ yếu vẫn là bảo vệ nghiêm ngặt, chưa gắn kết được
quan điểm hiện đại về bảo tồn là vừa bảo tồn, vừa phát triển
3.5.2 Bảo tồn ngoại vi (Ex- situ)
Bảo tồn ngoại vi bao gồm các vườn thực vật (VTV), vườn động vật, các
bể nuôi thuỷ hải sản, các bộ sưu tập vi sinh vật, các bảo tàng, các ngân hàng
hạt giống, bộ sưu tập các chất mầm, mô cấy Các biện pháp gồm di dời các
loài cây, con và các vi sinh vật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của
chúng Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô
tính hay cứu hộ trong trường hợp: 1) nơi sinh sống bị suy thoái hay huỷ hoại
không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, 2) dùng để làm vật liệu cho
nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức
cho cộng đồng Tuy công tác bảo tồn ngoại vi còn tương đối mới ở Việt Nam,
nhưng trong những năm qua, công tác này đã đạt được một số thành tựu nhất
định
- Bước đầu hình thành mạng lưới các VTV, vườn sưu tập, các lâm phần bảo
tồn nguồn gen cây rừng, các vườn động vật trên toàn quốc và dần đi vào hoạt