DANH MỤC VIẾT TỪ VIẾT TẮTCác từ tiếng Anh FDI : Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài BCC : Business Co-operation Contract - Hợp đồng hợp tác kinh doanh BOT : Building
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÊ NGỌC MAI PHƯƠNG
PHÂN TÍCH NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO TỈNH AN GIANG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÊ NGỌC MAI PHƯƠNG
1100124
PHÂN TÍCH NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO TỈNH AN GIANG
4-2015
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Đầu tiên tôi xin gửi lời cám ơn đến Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Cần Thơ đã sắp xếp, bố trí giáo viên hướng dẫn, tạo điều kiện
về thời gian và cơ sở vật chất để tôi có thể thực hiện tốt đề tài này
Thứ hai, em xin chân thành cám ơn Cô Nguyễn Đinh Yến Oanh đã tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn ngành Cám ơn sự hướng dẫn, chỉ dạy tận tình của Cô trong thời gian qua đã giúp em sửa chữa những sai sót và hoàn thiện luận văn này
Thứ ba, xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè của tôi, cám ơn các bạn đã nhiệt tình giúp tôi góp ý cho đề tài này
Lời cảm ơn cuối cùng xin gửi đến gia đình vì đã động viên, ủng hộ tinh thần cho tôi khi tôi gặp khó khăn trong việc thực hiện luận văn này
Cần Thơ, ngày……tháng……năm……
Trang 4TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày……tháng……năm…… Sinh viên thực hiện
Lê Ngọc Mai Phương
Trang 5MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
1.2.1 Mục tiêu chung 1
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 1
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4.2 Phạm vi về không gian 2
1.4.3 Phạm vi về thời gian 2
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của vốn FDI 3
2.1.2 Những tác động của vốn FDI đối với nền kinh tế 5
2.1.3 Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào địa phương 12
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn FDI vào địa phương 14
2.1.5 Kinh nghiệm của một số nước châu Á và tỉnh khác tại Việt Nam trong thu hút vốn FDI 19
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 22
2.3 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 27
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN FDI TỈNH AN GIANG 31
3.1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – XÃ HỘI TỈNH AN GIANG 31
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 31
3.1.2 Đặc điểm xã hội 33
3.1.3 Kinh tế tỉnh An Giang 37
3.2 THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO TỈNH AN GIANG 38
3.2.1 Chính sách thu hút vốn FDI của tỉnh An Giang 38
3.2.2 Tổng quan hiệu quả sử dụng vốn FDI tại tỉnh An Giang 57
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO TỈNH AN GIANG 60
Trang 64.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ SỐ LIỆU CÁC BIẾN 60
4.2 KẾT QUẢ VÀ GIẢI THÍCH MÔ HÌNH 61
4.2.1 Kết quả mô hình hồi quy hoàn chỉnh 61
4.2.2 Giải thích mô hình 62
CHƯƠNG 5 CÁC GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI GIAI ĐOẠN 2015 - 2020 64
5.1 CƠ SỞ ĐỀ RA GIẢI PHÁP 64
5.1.1 Định hướng thu hút FDI của Chính phủ 64
5.1.2 Định hướng tỉnh An Giang thu hút FDI 65
5.2 GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT FDI TỈNH AN GIANG 65
5.2.1 Nâng cao tính cạnh tranh của môi trường đầu tư 65
5.2.2 Đào tạo nguồn nhân lực 68
5.2.3 Công tác xúc tiến đầu tư 68
CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
6.1 KẾT LUẬN 69
6.2 KIẾN NGHỊ 69
6.2.1 Đối với Sở Kế hoạch và Đầu tư 69
6.2.2 Đối với Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 73
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Trang Bảng 2.1 Danh sách biến và sự kỳ vọng 26 Bảng 3.1 Dân số tỉnh An Giang qua các năm 2000 -2013 34 Bảng 3.2 Lao động phân theo loại hình kinh tế và tỷ lệ lao động đã qua qua đào tạo phân theo thành thị, nông thôn 35 Bảng 3.3 Các chỉ số GDP cả nước, khu vực và tỉnh năm 2013 37 Bảng 3.4 Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế An Giang giai đoạn 2011 – 2013
37 Bảng 3.5 Xếp loại các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, năm 2013 38 Bảng 3.6 Kinh phí hỗ trợ các dự án xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN 40 Bảng 3.7 Chỉ sô PCI khu vực Đồng bằng sông Cửu Long 45 Bảng 3.8 Đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2013 46 Bảng 3.9 Số dự án, vốn đăng ký, vốn thực hiện của cả nước và An Giang từ năm
1988 - 1996 47 Bảng 3.10 Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cuối 12/2005 (lũy kế các dự án còn hiệu lực) 48 Bảng 3.11 Số dự án, vốn đầu tư, vốn thực hiện của tỉnh An Giang và Việt Nam giai đoạn 2006 -2013 (lũy kế) 49 Bảng 3.12 Số dự án, vốn đăng ký, vốn thực hiện của cả nước và An Giang từ năm
2006 -2013 52 Bảng 3.13 Hình thức đầu tư tại tỉnh An Giang 52 Bảng 3.14 Tình hình thu hút vốn FDI theo địa điểm đầu tư (lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2013) 54 Bảng 3.15 Thu hút vốn FDI phân theo địa giới hành chính tỉnh An Giang hiệu lực 31/12/2013 (lũy kế) 54 Bảng 3.16 Thu hút FDI theo lĩnh vực đầu tư (lũy kế các dự án hiệu lực đến ngày 31/12/2013) 55 Bảng 3.17 Thu hút FDI theo đối tác đầu tư (lũy kế các dự án còn hiệu lực đến năm 31/12/2013) 56 Bảng 3.18 Thu ngân sách khu vực FDI và tỉnh An Giang giai đoạn 2006 -2013 58 Bảng 3.19 Số lao động khu vực FDI và cả tỉnh An Giang giai đoạn 2006 – 2013
59 Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình Error! Bookmark not defined.2
Bảng 4.2 Kết quả ước lượng mô hình……… 63
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
TrangHình 3.1 Hình bản đồ hành chính tỉnh An Giang 31 Hình 3.2 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp 33 Hình 3.3 Chỉ số PCI tỉnh An Giang năm 2007 – 2013 45 Hình 3.4 Hình thức vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại An Giang những năm qua 53 Hình 3.5 Hệ số ICOR khu vực FDI, tỉnh An Giang và cả nước 57 Hình 3.6 Năng suất lao động của khu vực kinh tế tại An Giang 58
Trang 9DANH MỤC VIẾT TỪ VIẾT TẮT
Các từ tiếng Anh
FDI : Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài BCC : Business Co-operation Contract - Hợp đồng hợp tác kinh
doanh BOT : Building Operate Transfer - Hợp đồng xây dựng - kinh
doanh và chuyển giao BTO : Building Trasfer Operate - Hợp đồng xây dựng - chuyển
giao và kinh doanh
BT : Building Transfer - Hợp đồng xây dựng và chuyển giao PPP : Public – Private Partnership - Hợp tác công – tư
WTO : World Trade Organization - Tổ chức thương mại quốc tế USD : United States dollar - Đô la Mỹ
OLS : Ordinary least square - Phương pháp bình phương nhỏ
nhất TNCs : Transnational corporation - Các công ty xuyên quốc gia
R & D : Research & Development - Nghiên cứu và phát triển VIF : Variance inflation - Hệ số phóng đại phương sai
NGO : Non-gonernmental organization - Tổ chức phi chính phủ VCCI : Vietnam Chamber of Commerce and Industry - Phòng
thương mại và công nghiệp Việt Nam PCI : Provincial Competitiveness Index - Chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh ICOR : Incremental Capital-Output Ratio - Hệ số sử dụng vốn
WB : World Bank - Ngân hàng thế giới
GDP : Gross Domestic Investment - Tổng sản phẩm quốc nội IMF : International Monetary Fund - Qũy tiền tệ quốc tế
Các từ tiếng Việt
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
KCN : Khu công nghiệp
KTT : Khu kinh tế
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đối với những nước đang phát triển và tích lũy vốn nội bộ trong nền kinh tế còn ít như Việt Nam thì cần phải thu hút vốn từ bên ngoài cho đầu tư phát triển, trong đó việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một tất yếu khách quan Đây được coi là một lực đẩy nhằm giúp đất nước thoái khỏi “cái vòng luẩn quẩn” về kinh tế Thực tế cho thấy, thời gian vừa qua vốn FDI đã đang là một kênh bổ sung vốn rất quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế Những thành tựu đạt được trong việc thu hút nguồn vốn FDI thời gian qua đã tạo cho đất nước nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực cho các ngành công nghiệp như dầu khí, hóa chất, lắp ráp ô tô, công nghệ thông tin Bên cạnh đó, nguồn vốn FDI góp phần hình thành và phát triển hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất và đặt biệt gần đây là khu công nghệ cao Từ một nước nhập siêu, từ năm cuối 2012 trở lại đây, Việt Nam trở thành nước xuất siêu Có thể nói vốn FDI đã đóng góp nhiều mặt tích cực như giải quyết việc làm, chuyển giao công nghệ, năng cao quản lý và marketing,…
An Giang chỉ biết đến là tỉnh nông nghiệp hàng đầu vùng sông Cửu Long, “vựa lúa” của cả nước Hiện tại, tỉnh đang cải thiện xây dựng nhiều khu công nghiệp chế xuất, phát triển ngành dịch vụ du lịch,… Nhưng An Giang vẫn là một tỉnh nghèo, kinh tế chậm phát triển Việc thu hút vốn từ bên ngoài
để thúc đẩy kinh tế phát triển vẫn còn thấp, đặc biệt là từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong khi đó, với mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh
tế trong giai đoạn mới, tỉnh An Giang cần huy động một lượng vốn lớn từ bên ngoài Mặc dù đã ban hành và thực hiện nhiều chính sách, biện pháp để thu hút vốn FDI nhưng vẫn còn hạn chế và cần được quan tâm giải quyết Đặc biệt
là việc tìm ra nguyên nhân và tạo cơ chế thu hút vốn đầu tư nước ngoài Xuất
phát từ mục tiêu đó, tôi xin chọn đề tài “Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh An Giang giai đoạn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Mục tiêu số 1: Phân tích thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh An Giang giai đoạn 1988 – 2014
Trang 12(2) Mục tiêu số 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh An Giang giai đoạn 2000 – 2014
(3) Mục tiêu số 3: Đưa ra các giải pháp thu hút FDI trong giai đoạn 2015-2020
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tỉnh An Giang
1.4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Phân tích số liệu từ niên giám thống kê của tỉnh và cả nước; báo cáo về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Sở Kế hoạch & Đầu tư tỉnh An Giang, báo cáo kinh tế của tổ chức diễn đàn trong khu vực và cả nước
Trang 13CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của vốn FDI
2.1.1.1 Khái niệm về vốn FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign direct investment – FDI):
FDI là hình thức đầu tư rất phổ biến của đầu tư quốc tế, vì vậy có rất nhiều các định nghĩa của các tổ chức khác nhau:
Theo định nghĩa của OECD trong Detailed Benchmark Definition of Foreign Investment, Third edition, 1996: “đầu tư trực tiếp nước ngoài thể hiện mục tiêu đạt được lợi ích dài hạn của một nhà đầu tư vào một nền kinh tế Lợi ích dài hạn nghĩa là sẽ tồn tại mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp; và nhà đầu tư sẽ có một mức độ ảnh hưởng đánh kể trong quản
lý doanh nghiệp.”
Theo định nghĩa của IMF (Internationl Monetary Fund) trong Balance of payments manual, Fifth edition, 1993: “đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình đầu tư quốc tế mà nhà đầu tư nước này đặt lợi ích dài hạn trong các công việc đầu tư và kinh doanh ở doanh nghiệp tại một nước khác Mục tiêu của nhà đầu
tư là giành được một mức độ ảnh hưởng hiểu quả trong quản lý.”
Luật đầu tư Việt Nam thì FDI – Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam bằng vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh thu lợi nhuận trên lãnh thổ Việt Nam
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: FDI là loại hình chuyển dịch tư bản từ nước này sang nước khác nhằm thu doanh lợi, trong đó chủ đầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý vào sử dụng vốn Tư bản chuyển dịch gọi là vốn đầu
tư quốc tế Dạng vốn: tiền, hiện vật hữu hình, vô hình, phương tiện khác…
2.1.1.2 Đặc điểm của vốn FDI
a) Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu tùy theo quy định của luật đầu tư từng nước Tùy thuộc vào tình hình kinh tế, mục tiêu thu hút và nhu cầu quản lý, các nước quy định các tỷ lệ góp vốn tối thiểu khác nhau IMF đưa ra một ngưỡng góp vốn tối thiểu là 10% tổng vốn đầu tư b) Quyền điều hành doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn của chủ đầu tư trong vốn pháp định Mức độ góp vốn càng cao thì mức độ ảnh hưởng của nhà đầu tư càng lớn Nếu góp 100% vốn pháp định thì nhà đầu tư toàn quyền quyết định hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc nhà đầu
tư nước ngoài tham gia vào quá trình điều hành quản lý doanh nghiệp giúp đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
c) Lợi nhuận của các nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được chia theo tỉ lệ góp vốn trên vốn pháp định sau khi đã
Trang 14nộp thuế cho nước sở tại và trả cổ tức nếu có Với FDI, các nhà đầu tư tự mình hạch toán lợi nhuận và chịu trách nhiệm về việc kinh doanh của mình do đó không để lại gánh nặng nợ nần cho kinh tế
d) FDI thường đi kèm với chuyển giao công nghệ Dù có hay không có chủ ý thì trong quá trình chuyển vốn vào một nước, nhà đầu tư cũng đem lại kèm theo dòng vốn đó máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất… Hơn nữa, để hoạt động có hiệu quả nhà đầu tư sẽ áp dụng những kinh nghiệm quản lý mới
và tăng cường đào tạo nhân lực Chính vì đặc điểm này mà các nước, đặc biệt
là các nước đang phát triển luông chú trọng thu hút FDI để nhanh chống thực hiện hiện đại hóa nền kinh tế
e) Vốn FDI là hình thức xuất khẩu tư bản nhằm thu lợi nhuận cao và các nhà đầu tư nước ngoài quyết định về quy mô và sử dụng vốn FDI Do các nhà đầu tư nước ngoài luôn hướng tới mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cao nên có thể gây ra nhiều thiệt thòi, tổn thất ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và mục tiêu thu hút vốn của nước nhận đầu tư
2.1.1.3 Các hình thức đầu tư vốn FDI khác
- BOT (Building Operate Transfer)
Là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một khoảng thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp
lý Hết thời hạn kinh doanh, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình
đó cho sở tại Đặc trưng của hình thức này là dự trên cơ sở pháp lý của hợp đồng, vốn đầu tư của nước ngoài, hình thức này có thành lập pháp nhân mới
có thể là loại hình doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc doanh nghiệp liên doanh Phạm vi áp dụng đối tượng hợp đồng là các công trình cơ sở hạ tầng đặc biệt trong lĩnh vực giao thông đường sắt, đường bộ, cảng biển, thủy điện…
-BTO (Building Trasfer Operate)
Là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho sở tại Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định
để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận
Hình thức này giống như hình thức BTO chỉ khác ở điểm sau khi xây dựng xong công trình được chuyển giao ngay cho nước sở tại, sau đó mới thực hiện kinh doanh
Trang 15- PPP (Public – Private Partnership)
Đây là hình thức hợp tác công – tư, PPP là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư nhằm xây dựng công trình, cung cấp dịch vụ với một số tiêu chí riêng Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ lập danh mục dự án ưu tiên đầu tư PPP hàng năm và tiến hành đấu thầu cạnh tranh
để lựa chọn nhà đầu tư nước ngoài đủ năng lực, kinh nghiệm nhất Đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao, nó sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà nước và người dân vì tận dụng được nguồn lực tài chính, quản lý từ nhà đầu tư, trong khi vẫn đảm bảo lợi ích cho người dân Mỗi dự án PPP sẽ được hai bên đóng góp theo tỷ lệ góp vốn nhất định, tỷ lệ đóng góp của các bên tùy vào quy định của từng nước và từng thời kỳ
Các hình thức BOT, BTO, BT, PPP rất phù hợp với các nước đang phát triển nơi mà cơ sở hạ tầng còn yếu kém và không có đủ vốn để xây dựng Như vậy, vốn FDI khi vào một nước nào đó thì có các hình thức như: Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (liên doanh, hoặc 100% vốn nước ngoài) ngoài ra còn có hình thức mua lại và sát nhập (M&A) tuy nhiên điều kiện thực hiện hình thức này còn phụ thuộc luật pháp ở từng nước
2.1.2 Những tác động của vốn FDI đối với nền kinh tế
FDI có vai trò to lớn đối với nước nhận đầu tư Theo Đinh Thị Lệ Trinh
(2013, Giáo trình Đầu tư Quốc tế, chương 6) thì FDI có những tác động tích
cực và tiêu cực như sau:
tư không chỉ nhập khẩu công nghệ đơn thuần, mà còn nắm vững cả kỹ năng quản lý vận hành, sửa chữa, mô phỏng và phát triển nó, nhanh chóng tiếp cận được với công nghệ hiện đại ngay cả khi nền tảng công nghệ quốc gia chưa được tạo lập đầy đủ
Thứ hai, tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực cho địa phương
Trang 16Thông qua vốn FDI sẽ tạo ra các doanh nghiệp mới hoặc làm tăng quy
mô các đơn vị hiện có từ đó tạo ra công ăn việc làm cho rất nhiều lao động, đặc biệt là các nước đang phát triển có luôn có nguồn lao động dồi dào, nhưng thiếu vốn để khai thác và sử dụng, sự xuất hiện của hàng loạt các doanh nghiệp FDI, lao động làm việc trong khu vực FDI cũng sẽ tiếp thu được nhiều
kỹ năng chuyên môn và quản lý Đội ngũ lao động quản lý sẽ tiếp thu được kỹ thuật quản lý tiên tiến, hiện đại ở các nước khác nhau trên thế giới, cách tiếp cận thị trường, khả năng đàm phán, xúc tiến thương mại, quản trị nhân lực… còn người lao động trong các doanh nghiệp sẽ tiếp thu được kỷ luật lao động, tác phong làm việc, cách thức sắp xếp và tổ chức công việc để hoàn thành sản xuất đúng thời gian và số lượng…
Ngoài ra còn làm tăng thu nhập cho người lao động bởi tiền lương trả từ các doanh nghiệp có vốn FDI thường lớn hơn các doanh nghiệp trong nước, từ
đó cải thiện được đời sống của người lao động Hơn nữa, các dự án FDI thường tổ chức các khóa đào tạo cho người lao động của dự án, trong đó có nhiều người được cử đi lao động của nước ngoài từ đó sẽ hình thành ở nước nhận đầu tư một lực lượng công nhân kỹ thuật lành nghề Đối với những cán
bộ quản lý, khi được tham gia các dự án, do yêu cầu của công việc sẽ trưởng thành hơn về năng lực quản lý để phù hợp với nền sản xuất hiện đại Như vậy, việc tham gia vào các dự án có vốn FDI sẽ tạo cho địa phương phát triển được nguồn nhân lực
Thứ ba, góp phần cải cách thủ tục hành chính và tăng tính minh bạch cho môi trường đầu tư
Ngoài xu hướng của các nước trên thế giới là hội nhập để phát triển thì
để thu hút nguổn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài các nước sở tại luôn phải
tự hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo
ra sự minh bạch và bình đẳng cho các nhà đầu tư để cho các nhà đầu tư nước ngoài có thể an tâm và nhanh chóng triển khai các cơ hội đầu tư Thực tế cho thấy rằng,với điều kiện các nhân tố khác không đổi thì cùng một nước nhưng khi có sự thay đổi về hành chính và sự minh bạch về môi trường đầu tư được cải thiện thì sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài hơn
Khi các nhà đầu tư nước ngoài triển khai các dự án đầu tư, định kỳ hoặc thường xuyên họ được gặp gỡ với các cơ quan quản lý của nước sở tại để trao đổi các vấn đề về thủ tục, chính sách tài chính, chính sách thuế… điếu này sẽ góp phần không nhỏ cho việc xây dựng các văn bản pháp luật phù hợp với thông lệ quốc tế, bảo đảm lợi ích cho nhà đầu tư, lợi ích của nước sở tại và lợi ích của cộng đồng
Thứ tư, thúc đầy xuất nhập khẩu
Đối với các nước đang phát triển thì có nhu cầu về ngoại tệ lớn để hiện đại hóa nền kinh tế Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần vào việc thúc đẩy xuất khẩu và thực tế là chiếm tỷ trọng cao trong tổng xuất khẩu của các nước đang phát triển, ở nước ta trong giai đoạn hiện nay tỷ lệ này chiếm hơn 50% và có xu hướng tăng trong thời gian sắp tới khi chúng ta hội nhập sâu và kinh tế thới giới Đặc biệt, thông qua mạng lưới tiêu thụ của các tập
Trang 17đoàn xuyên quốc gia hay các công ty đa quốc gia nhiều sản phẩm sản xuất tại nước ta đã tiếp cận được với thị trường của thế giới
Thứ năm, liên kết các ngành công nghiệp
Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực quản lý, kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Sự lan tỏa này có thể theo hàng dọc giữa các doanh nghiệp trong ngành dọc hoặc theo theo hàng ngang giữa các doanh cùng ngành Mặt khác, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cũng tạo động lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa, qua đó nâng cao được năng lực của các doanh nghiệp trong nước
Thứ sáu, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
Chính sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài, các thành phần kinh tế khác trong nước cũng tự phải hoàn thiện mình để tồn tại và phát triển Các nhà đầu tư nước ngoài với sức mạnh về tài chính, quản lý, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh lâu lâu năm… là đối thủ cạnh tranh lớn đối với các nhà đầu tư trong nước, là động lực khiến họ phải nhanh chóng tìm ra con đường, trước tiên là để tồn tại, đứng vững sau đó là phát triển trên mảnh đất của chính mình nếu không thì tự mình đào thải khỏi hoạt động kinh doanh Cùng với vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý tiên tiến và với mục tiêu lợi nhuận các nhà đầu tư nước ngoài phải sản xuất ra các sản phẩm được chấp nhận trên thị trường trong nước và quốc tế Điều này khiến cho hàng hóa của nước tiếp nhận đầu tư tiếp cận được với thị trường quốc tế
+ Các nhà đầu tư nước ngoài hạ thấp mức giá đầu ra thông qua các hợp đồng xuất khẩu do các công ty mẹ hoặc các đối tác liên kết với công ty mẹ + Các nhà đầu tư nước ngoài đẩy giá thông qua yếu tố đầu vào: tăng chi phí khấu hao tài sản cố định, tăng chi phí nguyên vật liệu, tăng chi phí quản lý, bán hàng
Trang 18+ Thông qua việc nâng giá trị vốn góp và chuyển giao công nghệ
+ Cơ chế giá nội bộ trong các giao dịch giữa các doanh nghiệp trong cùng một tập đoàn kinh tế hoặc nhóm các công ty trong nước
+ Điều chỉnh cơ cấu trị giá hàng hóa nhập khẩu và dịch vụ đi kèm để giảm thiểu tổng số thuế phải nộp cả ở khâu nhập khẩu và kinh doanh nội địa
Thứ hai, có thể dẫn đến mất cân đối trong đầu tư
Các nhà đầu tư nước ngoài vì chạy theo mục tiêu của mình nên họ thường đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực nhiều khi không trùn khớp với mong muốn của nước nhận đầu tư sở tại làm cho mục tiêu thu hút bị ảnh hưởng nếu không có cơ chế và những quy hoạch hữa hiệu sẽ dẫn đến tình trạng đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên sẽ bị khai thác quá mức, các nhà đầu tư nước ngoài còn làm cho cơ chế kinh tế bị méo mó, chậm được cải thiện và tích tụ nguy cơ mất ổn định chung của đời sống kinh tế xã hội quốc gia như khi dòng vốn FDI rút đột ngột, sa thải công nhân hàng loạt…
Thứ ba, gây những tiêu cực về lao động, về tài chính cho nước nhận đầu
sẽ chuyển lãi về nước từ đầu tư, ưu đãi thuế và từ các hoạt động khác Nhiều nhà đầu tư, ưu đãi thuế và các hoạt động khác Nhiều nhà đầu tư nước ngoài còn nợ thuế, vay ngân hàng tại nước sở tại với khối lượng vốn lớn sau đó bí bỏ trốn khỏi nước đầu tư
Thứ tư, có thể bị du nhập của những công nghệ lạc hậu trên thế giới
Các nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng sự yếu kém trong kiểm định và trong quản lý công nghệ của nước sở tại để du nhập các công nghệ lạc hậu nhưng với giá đắt đỏ gây sự lãng phí lớn cho sự dỡ bỏ, thay thế hoặc khắc phục những hậu quả về sau Tại nước ta trong thời gian qua, đã có nhiều dự án mang vào nhiều thiết bị và công nghệ lạc hậu đã gây ảnh hưởng đến môi trường và lợi ích cộng đồng, bị nhân dân và chính quyền địa phương lên tiếng Khi nhà đầu tư nước ngoài đưa vào những công nghệ lạc hậu thì họ vẫn thu được lợi nhuận không những chịu ảnh hưởng về mặt kinh tế mà còn ảnh hưởng đến môi trường và các lợi ích khác trong tương lai Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu không những làm cho công nghệ ngày càng lạc hậu, khả năng sản xuất kém đi mà cho nước tiếp nhận còn thêm gánh nặng phải nuôi dưỡng và dỡ bỏ những công nghệ này
Thứ năm, có nguy cơ làm tăng sự phá sản của những cơ sở kinh tế trong nước và các ngành nghề truyền thống, mất bình đẳng cạnh tranh
Trang 19Tình trạng các tranh chấp lao động trong khu vực có vốn FDI là khó tránh khỏi, đặc biệt là ở những thời điểm doanh nghiệp mới bắt đầu hoạt động, hoặc khi doanh nghiệp khó khăn về sản xuất kinh doanh Một số chủ doanh nghiệp trả công cho người lao động bằng với mức lương tối thiểu, yêu cầu tăng ca nhiều khiến tiền lương không đủ tái sản xuất sức lao động, làm phát sinh mâu thuẫn giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, dẫn đến tình trạng đình công, bãi công đình trệ sản xuất làm thiệt hại cho cả hai bên
Thứ sáu, mất đi nhiều việc làm truyền thống và chưa coi trọng đúng mức
về đào tạo cho người lao động
Các nhà đầu tư nước ngoài đã tạo ra nhiều công ăn việc làm cho nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển như nước ta, nơi mà dân số trẻ lực lượng lao động dồi dào thì việc tạo cho người lao động một nơi làm việc
có thu nhập ổn định lại là vô cùng tốt Trên thực tế, trong nhiều năm qua khu vực FDI đã tạo ra nhiều triệu lao động trực tiếp và gián tiếp Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động của khu vực FDI cũng đã làm mất đi nhiều ngành nghề nông nghiệp từ đó đã làm mất đi nhiều việc làm trong các lĩnh vực truyền thống
Thứ bảy, ảnh hưởng đối với môi trường tự nhiên và khai thác lãng phí tài nguyên
- Gây ô nhiễm môi trường: Có thể nói là một trong những tác động tiêu cực nhất của khu vực FDI đối với nước nhận đầu tư là những ảnh hưởng về môi trường Đặc biệt là tình hình “xuất khẩu” ô nhiễm môi từ các nước phát triển sang nước đang phát triển thông qua FDI ngày càng gia tăng Các nước đang phát triển có nguy cơ trở thành những nước có mức “nhập khẩu” ô nhiễm
từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển thông qua FDI ngày càng gia tăng Các nước đang phát triển có nguy cơ trở thành những nước có mức
“nhập khẩu”ô nhiễm cao, nhiều nhất là Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam…
- FDI ảnh hưởng tới đa dạng sinh thái: bên cạnh những đóng góp quan trọng cho ngành du lịch thì sự đầu tư quá lớn và liên tục gia tăng trong những năm gần đây Nguy cơ ảnh hưởng xấu đến đa dạng sinh học, tài nguyên nước, thủy sản, khí hậu và gia tăng ô nhiễm các lưu vực sông, gây tàn phán môi trường tự nhiên chú trọng đến việc khai thác tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là các tài nguyên không tái tạo được như khoáng sản, khai thác mỏ… Các khu công nghiệp mở rộng làm diện tích rừng bị thu hẹp, cuộc sống, nơi cư trú của các động vật hoang dã, thực vật đã bị xáo trộn, phá hủy Trong khi đó, vấn đề bảo vệ môi trường vẫn đang là thách thức lớn đối với Việt Nam hiện nay
2.1.2.3 Phương pháp đánh giá tác động FDI đối với nền kinh tế
Theo Đinh Thị Lệ Trinh (2013, Giáo trình Đầu tư Quốc tế, chương 6) và Phạm Lê Thông (2014, Giáo trình Kinh tế phát triển), có các chỉ tiêu đánh giá
tác động FDI đối với nền kinh tế:
(1) Giá trị gia tăng (VA) của khu vực FDI
Đây là chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng phản ánh thu nhập của nhà nước, người lao động và thu nhập từ các đơn vị kinh tế trong đó:
Trang 20- Thu nhập từ người lao động bao gồm: tiền lương và các khoản có tính chất lương, trả công lao động, trích bảo hiểm xã hội…
- Thu nhập từ các đơn vị kinh tế bao gồm: lợi tức vốn sản xuất góp vốn, lợi tức kinh doanh, khấu hao doanh nghiệp để lại…
- Thu nhập củ nhà nước bao gồm: các loại thuế phải nộp ngân sách
(2)Mức đóng góp của khu vực FDI vào tăng trưởng kinh tế cho cả nước
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đóng góp của khu vực FDI vào tăng trưởng kinh tế của cả nước, tỷ lệ này cao hay thấp thể hiện mức độ đóng góp nhiều hay ít của khu vực FDI đối với nền kinh tế Khi khu vực FDI đóng góp nhiều hay ít vào GDP thì đó cũng chính là khu vực này đã tác động nhiều hay
ít đến tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên hay giảm đi của nền kinh tế của năm nay so với năm trước đi hoặc thời kỳ này so với thời kỳ trước GDP hay GNP, GNI là các chỉ tiêu được dùng để đo lường sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia và trong đó có sự đóng góp của khu vực kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài
(3) Tỷ lệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế khu vực FDI
Mô hình Harrod-Dormar:
FDI VA
I ICOR
D
=Trong đó:
I: Vốn đầu tư thực hiện trong kỳ
FDI
VA
D : Mức tăng của giá trị gia tăng kỳ sau sao với kỳ trước
Đây là chỉ tiêu phản ánh tỷ số giữa quy mô đầu tư tăng thêm với mức gia tăng tăng thêm hay suất đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị sản lượng tăng thêm
Đối với từng lĩnh vực, hệ số ICOR càng nhỏ thì hiệu quả của việc đầu tư càng lớn và ngược lại Tuy nhiên, hệ số ICOR không phải là chỉ tiêu so sánh giữa các ngành, chẳng hạn hệ số ICOR của công nghiệp thường cao hơn nhiều
so với nông nghiệp nhưng không phải vì thế mà nói rằng hiệu quả đầu tư nông nghiệp cao hơn của công nghiệp
Trong trường hợp ICOR không đổi, mức tăng của VA phụ thuộc vào vốn đầu tư, hoặc khi vốn đầu tư càng bé thì giá trị tăng thêm càng lớn Đối với một nền kinh tế, hệ số ICOR phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế, mức độ tiêu tốn vốn đối với các ngành, các vùng lãnh thổ cũng như phụ thuộc vào chính sách kinh tế nói chung
Trang 21(4)Năng suất lao động khu vực FDI
HL: Năng suất lao động của khu vực FDI
k : số lao động khu vực FDI
Chỉ tiêu này phản ánh năng suất lao động của khu vực FDI hay chỉ tiêu này còn được gọi là hiệu suất sử dụng lao động của khu vực FDI, chỉ tiêu này phản ánh 1 lao động tại khu vực FDI thì tạo ra được bao nhiêu giá trị gia tăng cho nền kinh tế, thông thường được tính cho 1 năm hoặc là tính cho trung bình năm của cả một thời kỳ Trên cơ sở so sánh khu vực FDI với khu vực khác hoặc trong tổng thể nền kinh tế, từ đó đánh giá được hiệu suất lao động của khu vực nào tốt hơn Chỉ tiêu này rất quan trọng, để biết trình độ phát triển của khu vực, địa phương, quốc gia… và so sánh với nhau Mức tăng năng suất lao động do đầu tư phát triển thì ngoài chịu ảnh hưởng từ những yếu tố như công nghệ, chế độ lương, trình độ lao động… thì còn có yếu tố đầu tư phát triển
(5) Thu ngân sách khu vực FDI/Tổng thu ngân sách nhà nước
Trong một đồng vốn ngân sách nhà nước thì khu vực FDI đã đóng góp được bao nhiêu, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ là mức độ đóng góp của khu vực FDI càng lớn
(6) Số lao động làm việc khu vực FDI và tỷ số lao động khu vực FDI/Tổng lao động
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ thu hút lao động tại khu vực FDI, nếu khu vực FDI thu hút càng nhiều lao động tại địa phương thì càng tốt, càng tạo ra nhiều việc làm cho người lao động Với địa phương thiếu vốn nhưng có nguồn lao động dồi dào lại tăng thêm hàng năm thì một trong những mong muốn đối với nhà đầu tư là tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động Đối với lao động khu vực FDI, để đánh giá toàn diện việc sử dụng lao động khu vực này
ta nên sử dụng thêm chỉ tiêu:
- Vốn FDI thực hiện trên một lao động khu vực FDI
- Một lao động khu vực FDI tạo ra được bao nhiêu đơn vị giá trị gia tăng
(7) Đóng góp của vốn FDI vào sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần có vốn đầu tư Tuy nhiên, có vốn đầu tư chưa đủ vì nếu không bố trí hợp lý thì không thể tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế được, với một cơ cấu vốn đầu tư hợp lý sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch cấu kinh tế theo hướng hợp lý
Đối với các địa phương, cơ cấu kinh tế thường được đo lường bởi cơ cấu GDP theo ngành kinh tế, thể hiện ở tỷ trọng của ba nhóm ngành là công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Với xu hướng phát triển kinh tế như nước ta hiện nay thì tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ ngày càng cao, tỷ
Trang 22trọng của khu vực nông nghiệp ngày càng giảm Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chính là chuyển dịch cơ cấu của tỷ trọng ba nhóm ngành này
Ngoài các chỉ tiêu trên, còn có một số chỉ tiêu khác như mức độ lan tỏa công nghệ và mức độ đóng góp của khu vực có vốn FDI vào việc hình thành lực lượng lao động kỹ thuật và góp phần giao lưu văn hóa, hình thành các mối quan hệ chính trị quốc tế khác
2.1.3 Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào địa phương
2.1.3.1 Khái niệm và quan điểm trong thu hút vốn FDI vào địa phương
Vốn FDI là sự di chuyển vốn quốc tế gắn liền với sự chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý… khía cạnh trực tiếp được thể hiện ở việc tham gia điều hành trực tiếp của nhà đầu tư nước ngoài tạo dòng vốn này có lợi thế cao hơn so với hìn thức đầu tư gián tiếp nếu xét từ khía cạnh tăng tài sản, công nghệ và năng lực quản lý Do đó, các địa phương thiếu vốn, thiếu năng lực và những kỹ năng quản lý đặc biệt khuyến khích dòng vốn này Tuy nhiên, việc thu hút vốn FDI phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế chung của từng địa phương, từng vùng và cả nước Thu hút vốn FDI vào địa phương đó chính
là việc áp dụng các biện pháp, chính sách để các nhà đầu tư nước ngoài đem vốn đến đầu tư trực tiếp bằng các hình thức khác nhau phù hợp với lợi ích chung của cà nhà đầu tư và địa phương tiếp nhận
Những vấn đề liên quan đến thu hút vốn FDI vào địa phương được đặt ra
đó là:
- Thu hút vốn FDI có phù hợp với quy hoạch ngành, định hướng phát triển của vùng lãnh thổ và địa phương
- Đưa lại lợi ích gì cho địa phương
- Có làm tổn hại đến môi trường sinh thái, ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân dân
2.1.3.2 Chính sách thu hút vốn FDI vào địa phương
- Chính sách liên quan đến cơ cấu ngành kinh tế tại địa phương
Các địa phương đều có thế mạnh nhất định đồng thời cũng có điểm yếu riêng trong thu hút FDI, những điểm mạnh điểm yếu này tạo ra cơ hội và cũng làm cho địa phương gặp phải nhiều thách thức Các địa phương căn cứ và tình hình thực tế và định hướng chung để từ đó khuyến khích phát triển ngành nào
và hạn chế ngành nào, vùng nào cần thu hút… đây chính là căn cứ để các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn ngành, vùng để đầu tư trong phạm vi địa phương
- Chính sách về hình thức đầu tư, góp vốn và quy hoạch tại địa phương
Để tạo điều kiện thu hút vốn FDI nước sở tại phải có những quy định về góp vốn, hình thức đầu tư và định hướng đầu tư nhằm giúp cho các nhà đầu tư việc cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được chuyển đổi hình thức cơ hội đầu tư Tuy nhiên, trong trường hợp cho phép chuyển đổi nước sở tại cần có
Trang 23những quy định chặt chẽ để cho cả nước nhận đầu tư và bên nước ngoài đều
có lợi
Đối với việc góp vốn của các bên, phải quy định rất chặt chẽ nhất là các loại vốn góp không phải bằng tiền như góp vốn bằng công nghệ, bằng đất đai… bởi việc quản lý vốn này rất phức tạp Xây dựng quy định góp vốn phải đảm bảo công bằng, hợp lý và đúng giá trị của các bên tham gia, thực sự mang lại lợi ích cho cả nhà đầu tư cũng như địa phương nhận đầu tư
Cơ cấu đầu tư nước ngoài ở từng địa phương được hình thành tùy thuộc vào định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội cho chính quyền địa phương đó đề ra Quy hoạch đầu tư phát triển tại địa phương sẽ là cơ sở cho các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm và có chiến lược đầu tư phù hợp, tránh được các rủi ro trong hoạt động đầu tư tại địa phương
- Chính sách về thuế, phí, lệ phí
Một chính sách thuế thông thoáng, thuận lợi phù hợp với thông lệ quốc
tế sẽ tạo sự tin tưởng và yên tâm đầu tư nước ngoài Trong quá trình đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiệc các nghĩa vụ tài chính đối với nước nhận đầu tư thông qua việc nộp các loại thuế, phí, lệ phí cho Nhà nước, đây là những loại chi phí sẽ làm tăng thêm chi phí kinh doanh, làm giảm lợi nhuận của các nhà đầu tư nước ngoài Vì vậy, các nhà đầu tư nước ngoài thường tìm đến nơi chịu mức thuế, phí, lệ phí thấp Địa phương tìm cách đưa ra những ưu đãi nhất định về thuế, phí, lệ phí nhằm tạo cơ hội thu hút đầu tư như: ưu đãi vế thuế thu nhập doanh nghiệp cho các nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợp đầu tư vào địa phương có thể nộp ít hoặc không nộp trong những năm đầu tư vào địa phương có thể nộp ít hoặc không nộp trong những năm đầu mới hoạt động và chỉ tăng dần trong những năm sau đó, ưu đãi về phí và các loại lệ phí trong quá trình kinh doanh tại địa phương Đối với một số hàng hóa nhập khẩu
để tạo tài sản cho đầu tư có thể miễn thuế với một số máy móc, thiết bị nhất định…
- Chính sách về đất đai
Địa phương tạo những phần đất sạch, thuận lợi ở nhiều vị trí sẽ là cơ sở
đề thu hút FDI Ngoài ra, thủ tục liên quan đến việc cấp đất, cấp giấy phép xây dựng phải nhanh chóng thuận tiện không làm mất nhiều thời gian ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng và sản xuất kin doanh của các nhà đầu tư nước ngoài, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng phải nhất quán và phù hợp với thực trạng đất đảm bảo lợi ích của các bên liên quan Ngoài ra, để thu hút vốn FDI vào địa phương cũng cần có những chính sách ưu đãi về đất đai như trong trường hợp bồi thường giải phóng, các nhà đầu tư có thể ứng trước để trả tiền sau đó địa phương sẽ có hình thức hỗ trợ lại bằng hình thức khác Mặt khác, giá thuê đất có thể cho các nhà đầu tư thuê với mức thấp nhất theo khung quy định…
- Chính sách về lao động
Muốn thúc đẩy thu hút vốn FDI các địa phương phải chuẩn bị nguồn nhân lực nhằm đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư Đào tạo và phát triển
Trang 24nguồn nhân lực có chuyên môn cao là việc làm cần thiết và các địa phương không nên coi đây là vấn đề riêng của nhà đầu tư Chất lượng và giá cả sức lao động sẽ ảnh hưởng đến hoạt động thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, thực tế cho thấy các nhà đầu tư có xu hướng di chuyển đầu tư đến những vùng, địa phương có giá nhân công rẻ, dồi dào và chất lượng lạ đáp ứng đươc yêu cầu
Sự biến động giá cả, số lượng lao động tại địa phương cũng là một trong những lý do làm cho các nhà đầu tư nước ngoài di chuyển đi hoặc mang vốn đầu tư
- Chính sách hỗ trợ về đầu tư
Hỗ trợ về đầu tư là một trong những biện pháp nhằm thu hút vốn FDI vào các địa phương Tuy nhiên, việc ban hành các chính sách hỗ trợ phải phù hợp với các quy định chung và không trái với quy định của pháp luật Nhà nước cho phép Để thu hút các nhà đầu tư, địa phương sử dụng một số chính sách hỗ trợ như hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề cho lao động làm việc trong khu vực FDI, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, về giải phóng mặt bằng…
- Về thủ tục hành chính
Để thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài các địa phương phải không ngừng đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng “một cửa, một đầu mối” Việc cải tiến phải theo hướng tiếp tục đơn giản hóa và giảm bớt các thủ tục không cần thiết, kiên quyế xử lý nghiên khắc các trường hợp nhũng nhiễu, cứa quyền, tiêu cực của các bộ công thức Tăng cường phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý Nhà nước của Trung ương các hoạt động liên quan đến đầu tư nước ngoài, phân rõ quyền hạn và trách nhiệm của từng cơ quan trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh
- Chính sách xúc tiến thu hút vốn đầu tư
Để thu hút vốn FDI vào địa phương, phải chủ động tiến hành các hoạt động xúc tiến với các nhà đầu tư nước ngoài Thông qua hoạt động xúc tiến, các địa phương sẽ cung cấp các cho các nhà đầu tư nước ngoài những hình ảnh, lợi thế, ưu đãi… Từ đó là, cơ sở cho nhà đầu tư thích hợp với địa phương
là nhân tố quan trọng trong hoạt động thu hút vốn FDI Thực tế cho thấy, những địa phương làm tốt hoạt động này sẽ kêu gọi được nhiều nhà đầu tư nước ngoài hơn Để hoạt động xúc tiến thu hút vốn FDI vào địa phương tốt, phải tiến hành xây dựng, cập nhật tài liệu và sử dụng công cụ quảng bá phù hợp như đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, các mạng thông tin điệ tử, tiến hành tổ chức các hội nghị trong và ngoài nước, trực tiếp gặp gỡ thường xuyên đối thoại với các nhà đầu tư để đưa ra các chính sác xúc tiến phù hợp với chiến lược của địa phương trong từng giai đoạn và sử dụng các công cụ, phương pháp xúc tiến đúng và đến được nhà đầu tư nước ngoài cần thu hút
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào địa phương
2.1.4.1 Lý thuyết liên quan thu hút FDI
Trang 25Hầu hết các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài xoay quanh lý thuyết chiết trung về sản xuất quốc tế, mô hình OLI của John Dunning (1980) Học thuyết này kế thừa rất nhiều những
ưu điểm của các học thuyết khác về FDI
Dunning đã tổng hợp các yếu tố chính của nhiều công trình khác nhau lý giải về FDI và đề xuất có 3 điều kiện cần thiết để một doanh nghiệp có động
cơ tiến hành đầu tư trực tiếp: lợi thế về sở hữu, điều kiện và nội bộ hóa Cách tiếp cận này được biết dưới tên mô hình OLI Lợi thế về sở hữu của một doanh nghiệp có thể là một sản phẩm hoặc một quy trình sản xuất mà có ưu thế hơn hẳn các doanh nghiệp khác hoặc các doanh nghiệp khác không thể tiếp cận Các lợi thế về địa điểm bao gồm không chỉ các yếu tố nguồn lực, mà còn có cả yếu tố kinh tế và xã hội, như dung lượng và cơ cấu thị trường, khả năng tăng trưởng của thị trường và trình độ phát triển, môi trường văn hóa, pháp luật chính trị và thể chế Tiếp đến là lợi thế về nội bộ hóa sản xuất, được hiểu là việc một công ty thực hiện và kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất một sản phẩm từ khâu nguyên liệu đầu vào cho đến việc bán sản phẩm Từ nền tảng của lý thuyết Dunning, hàng loạt các nghiên cứu đã tiến hành phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam cả cấp quốc gia lẫn cấp tỉnh, vùng Các nghiên cứu hầu như tập trung vào tiềm năng thị trường, lao động, cơ sở hạ tầng, chính sách chính phủ và tác động tích lũy
Sự hội tụ trong kinh tế là giả thuyết cho rằng các nền kinh tế kém hơn
sẽ có khả năng tăng trưởng một tốc độ nhanh hơn so với các nền kinh tế phong phú hơn Cuối cùng tất cả các nền kinh tế sẽ hội tụ về bình quân đầu người thu nhập Các nước đang phát triển có tiềm năng để phát triển với một tốc độ nhanh hơn so với các nước phát triển Vốn FDI có thể được coi như là một kênh hiệu quả cho hội tụ Vốn FDI tăng cường phổ biến công nghệ trong đó kết hợp việc làm, kiến thức và kỹ năng quản lý
2.1.4.2 Nhân tố từ môi trường kinh tế vĩ mô
a) Chiến lược thu hút vốn để phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
Chiến lược thu hút vốn để phát triển kinh tế của một quốc gia nói chung
và của quốc gia đối với vùng kinh tế nói riêng là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến việc thu hút vốn FDI vào địa phương Chiến lược này thể hiện tập trung ở một số điểm như: Mở cửa thu hút vốn bên ngoài hay không, giai đoạn nào thì nên tập trung nguồn vốn trong nước hay ngoài nước, đối với nguồn vốn ngoài nước thì nên lực chọn tập trung vào nguồn nào như đi vay thương mại, ODA hay vốn FDI… định hướng các lĩnh vực thu hút, tiêu chuẩn để xác định phương hướng lực chọn dự án đầu tư của nước ngoài… việc định hướng chiến lược thu hút có ý nghĩa quan trọng, thiết lập các điều kiện để thu hút cho phù hợp Các địa phương khác nhau ngoài chiến lược thu hút tổng thể của quốc gia
sẽ có định hướng, chính sách và mục tiêu riêng để thu hút vốn FDI phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
b) Độ mở của kinh tế quốc tế của quốc gia tiếp nhận
Với xu thế toàn cầu, mức độ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn cá quốc gia hoạt động trong mối quan hệ mở và cũng không có quốc gia nào cô lập
Trang 26khép kín lại phát triển tốt được Hợp tác cùng tồn tại và phát triển là xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế giới ngày nay Hợp tác trong kinh tế quốc tế là đem lại lợi ích trước hết quốc gia, dân tộc mình nhằm phát triển đất nước mình nhưng đồng thời cũng giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia mình với quốc gia khác Tham gia quan hệ kinh tế quốc tế các nước có cơ hội trao đổi thương mại quốc tế, hợp tác quốc tế về kinh tế và khoa học công nghệ, hợp tác đầu tư quốc tế, các dịch vụ thu ngoại tệ…Các mối quan hệ kinh tế quốc tế của một quốc gia vừa là hệ quả của chiến lược huy động vốn của quốc gia đó, vừa là cơ hội để kiếm tìm đối tác đầu tư
c) Sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô
Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô như ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội là điều kiện hết sức quan trọng để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ rất hạn chế khi tham gia đầu tư vào những nước có môi trường kinh tế vĩ mô kém ổn định vì khi đầu tư vào những nơi này sẽ tạo
ra những rủi ro kinh doanh mà các nhà đầu tư không thể lường trước được Khi có sự bất ổn về môi trường kinh tế vĩ mô, rủi ro tăng cao thì các dòng vốn FDI trên thế giới sẽ chững lại và vốn đầu tư sẽ di chuyển đến những nơi an toàn và có mức sinh lời cao hơn, ngay cả khi đã đầu tư rồi mà có sự bất
ổn nhất là bất ổn về chính trị thì các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tìm mọi cách để rút lui vốn
d) Hệ thống pháp luật của nước tiếp nhận vốn FDI
Hệ thống pháp luật của nước sở tại bao gồm các luật liên quan đến hoạt động đầu tư như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Bảo vệ môi trường…
và các văn bản hướng dẫn luật, các quy định về hoạt động đầu tư với người nước ngoài, các văn bản về quản lý Nhà nước trong hoạt động đầu tư… chính
là hành lang pháp lý đảm bảo sự an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài Hệ thống pháp luật được xây dựng theo hướng thông thoáng, đầy đủ chặt chẽ là
cơ sở tạo môi trường đầu tư thuận lợi Hoạt động FDI liên quan đến nhiều chủ thể tham gia và có yếu tố nước ngoài vì vậy các văn bản ngoài yếu tố đồng bộ, chặt chẽ, tránh chồng chéo gây khó hiểu, còn phải phù hợp với thông lệ quốc
tế Các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư và một nước nào đó thì họ sẽ quan tâm đến cá nhân họ khi đầu tư được bảo vệ như thế nào, tài sản của họ có được đạm bảo không, các quy định chuyển phần lợi nhuận về nước họ ra làm sao… Mặt khác, hệ thống pháp luật không chỉ tạo đều kiện thuận lợi cho các nhà đầu
tư nước ngoài mà còn có chức năng ngăn cản những tác động tiêu cực mà các nhà đầu tư cố tình vi phạm ảnh hưởng đến lợi ích cộng động, an ninh quốc gia
và tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà đầu tư Đồng thời với việc xây dựng hệ thống pháp luật, phải xây hệ thống chính sách kinh tế liên quan đến đầu tư nước ngoài thực sự mềm dẻo, hấp dẫn cũng là điều kiện quan trọng để thu hút vốn FDI như: chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, chính sách quản lý ngoại tệ, chính sách thương mại, chính sách ưu đãi về tài chính, chính sách ưu đãi về thuế…
2.1.4.3 Nhân tố nội tại của địa phương tiếp nhận vốn FDI
a) Sự phát triển cơ sở hạ tầng tại địa phương
Trang 27Sự phát triển cơ sở hạ tầng là một điều kiện vật chất hàng đầu để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn FDI Cơ sở hạ tầng bao gồm mạng lưới giao thông, mạng lưới thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp năng lượng, cấp thoát nước, các công trình công cộng phục vụ sản xuất kinh doanh như cản biển, sân bay,… cơ sở hạ tầng tốt là một trong các yếu tố quan trọng giúp các nhà đầu tư nước ngoài giảm các chi phí gián tiếp trong sản xuất kinh doanh và có thể triển khai các hoạt động đầu tư
b) Lợi thế so sánh của địa phương
Địa phương muốn phát triển kinh tế cần có nhiều yếu tố và điều kiện khác nhau, ngoài các yếu tố về cơ sở hạ tầng được xây dựng cần có thêm các điều kiện khác như: vị trí địa lý thuận lợi, địa chất nơi đó ổn định, quy mô thị trường rộng lớn, nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ, nguồn tài nguyên phong phú…
c) Chất lượng nguồn nhân lực tại địa phương
Một trong những yếu tố xã hội quan trọng của thu hút vốn FDI là chất lượng nguồn nhân lực và giá cả sức lao động Đây là một trong những yếu tố rất cần thiết để các nhà đầu tư lập kế hoạch kinh doanh Một nhà đầu tư muốn
mở một nhà máy thì trên phương diện nguồn nhân lực nhà đầu tư sẽ chọn khu vực có thể đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng của lao động, ngoài ra giá cả sức lao động là một trong những chỉ tiêu đánh giá của nhà đầu tư Chất lượng lao động là một lợi thế cạnh tranh đối với các nhà đầu tư vào lĩnh vực
có hàm lượng công nghệ cao hay có sử dụng nhiều công nghệ hiện đại Ngoài
ra, yếu tố văn hóa cũng ảnh hưởng tới yếu tố lao động như sự cần cù, tín kỷ luật, ý thức trong lao động…Tuy nhiên, để có lực lượng lao động tốt thì lại phụ thuộc vào hệ thống giáo dục, đào tạo, chất lượng đào tạo nghề…
d) Thủ tục hành chính liên quan đến FDI tại địa phương
Thủ tục hành chính là một yếu tố rất quan trọng góp phần tạo nên sự thành công của việc thu hút vốn FDI Thủ tục hành chính càng đơn giản, gọn nhẹ, rõ ràng thì sức hút của môi trường đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài càng lớn Thủ tục hành chính ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động đầu tư, nếu thủ tục hành chính không được quan tâm dễ tạo ra hiện tưởng nhũng nhiễu, tiêu cực từ đó làm tăng chi phí kinh doanh, làm mất lòng tin của nhà đầu tư nước ngoài Ngoài quy trình thực hiện chung, cách thực hiện thủ tục hành chính của mỗi địa phương là khác nhau, vì vậy có những nơi nhà đầu tư gặp rất nhiều khó khăn trong việc xin cấp phép đầu tư, đăng ký kinh doanh…
e) Năng lực và tư tưởng nhận thức của lãnh đạo, hoạt động của cơ quan xúc tiến tại địa phương
Tư tưởng nhận thức, thái độ của lãnh đạo các địa phương cũng là yếu tố tác động mạnh đến thu hút vốn FDI vào địa phương đó Nếu lãnh đạo của địa phương thấy được vai trò của vốn FDI thì sẽ có những ưu tiên, tạo môi trường điều kiện thuận lợi, chủ động trong việc tìm đối tác đầu tư nước ngoài phù hợp
để thu hút được các nguồn vốn FDI về địa phương của mình Hoạt động có
Trang 28hiểu quả của các cơ quan xúc tiến đầu tư tại các địa phương là rất quan trọng
và là một trong những nhân tố quan trọng để thu hút vốn FDI
2.1.4.4 Nhân tố liên quan đến các nhà đầu tư nước ngoài
Việc quyết định bỏ vốn vào đầu tư một thị trường mới là một kế hoạch
dự tính lâu dài, nó chịu ảnh hưởng rất lớn bởi nội tại của người chủ đầu tư
a) Môi trường kinh tế thế giới
Do đặc tính của FDI là hết sức nhạy cảm với các biến động của môi trường kinh tế quốc tế, đây là nhân tố khách quan tác động đến các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các nước Khi nền kinh tế thế giới có sự ổn định sẽ tác động tích cực đến sự di chuyển các dòng vốn đầu tư nước ngoài, làm cho quá trình thu hút đầu tư của các nước thuận lợi hơn rất nhiều, ngược lại khi môi trường kinh tế thế giới không ổn định, tình trạng lạm phát cao, suy thoái kinh
tế diễn ra nhiều nơi thì sẽ rất khó khăn cho các nước nhận đầu tư
b) Hướng dịch chuyển của dòng vốn FDI quốc tế
Nếu quốc gia nằm trong khu vực mà dòng vốn FDI đang hướng tới thì khả năng tiếp nhận vốn FDI của quốc gia hay địa phương đó là thuận lợi và ngược lại khi các quốc gia nằm ngoài vùng dịch chuyển của dòng vốn FDI thì
sẽ rất kho cho các quốc gia thu hút được nguồn vốn này Đón bắt được xu hướng dịch chuyển FDI trên thế giới là một yếu tố quan trọng để chính quyền địa phương đưa ra các chính sách phù hợp để tiếp nhận dòng vốn FDI chuyển
vê
c) Chiến lược đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài
Trên thế giới hiện nay bị chi phối nhiều bởi các nhà đầu tư lớn đó chính
là MNCs, TNCs và nhà đầu tư đến từ các nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… Những nhà đầu tư nước ngoài này có tiềm lực tài chính mạnh, có nhiều kinh nghiệm trong đầu tư quốc tế, có uy tín kinh doanh… chiến lược kinh doanh của họ có xu hướng đầu tư vào các ngành công nghệ cao, ngành chế tác, sử dụng lao động có tay nghề và vào khu vực có nhiều triển vọng trong kinh doanh Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các nước đang phát triển đã từng bước giảm dần những hạn chế như nới lỏng các chính sách thương mại, chính sách tài chính, tiền tệ làm cho các dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển thuận lợi hơn
d) Tiềm lực tài chính, năng lực kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài
- Tiềm lực tài chính của các nhà đầu tư nước ngoài
Tiềm lực tài chính của các nhà đầu tư nước ngoài là một trong những yếu
tố quyết định đến khả năng thực hiện các hoạt động đầu tư của họ, với việc các quốc gia tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi và có nhiều cơ hội để kinh doanh nhưng nếu không có khả năng tài chính thì các nhà đầu tư nước ngoài cũng không thể thực hiện đầu tư được Đối với nước nhận đầu tư, trước khi cấp phép đầu tư cũng phải thẩm định năng lực tài chính của nhà đầu tư nhằm đảm bảo dự án được triển khai đúng như đăng ký, điều này giúp nước sở tại hạn
Trang 29chế các nhà đầu tư nước ngoài đã xin được giấy phép đầu tư nhưng không có vốn để triển khai các dự án, thậm chí rút vốn không triển khai được gây thiệt hại kinh tế nước sở tại
- Năng lực kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài
Lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng mà các nhà đầu tư nước ngoài muốn hướng tới, lợi nhuận từ việc đầu tư lại phụ thuộc vào năng lực kinh doanh của chính nhà đầu tư Mặc dù mọi hoạt động liên quan đến hoạt động kinh doanh đều do chính các nhà đầu tư chịu trác nhiệm, nếu hoạt động kinh doanh tốt thì lợi nhuận đó thuộc về họ trong trường hợp bị lỗ thì nhà đầu tư chính là người thiệt thòi nhưng khi nước nhận đầu tư đánh giá được năng lực kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài thì đó chính là cơ sở để tìm được các nhà đầu tư tốt Các nhà đầu tư này với năng lực kinh doanh tốt, khả năng tạo ra lợi nhuận cao chính là cơ sở để họ tiếp tục mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đóng góp nhiều cho sự phát triển kinh tế và cũng tạo ra nhiều tác động lao tỏa tích cực thúc đẩy, lôi cuốn các nhà đầu tư nước ngoài khác
2.1.5 Kinh nghiệm của một số nước châu Á và tỉnh khác tại Việt Nam trong thu hút vốn FDI
2.1.5.1 Kinh nghiệm của Malaysia
Trong các nước đang phát triển, Malaysia được đánh giá là nước thành công trong thu hút vốn FDI để thực hiện công nghiệp hóa Xuất phát điểm là một nước công nghiệp lạc hậu, đa sắc tộc, tích lũy nội địa thấp nên Malaysia luôn coi trọng nguồn vốn FDI đối với sự phát triển kinh tế đất nước vì coi đây
là yếu tố then chốt để thực hiện công nghiệp hóa Xuất phát từ điểm như vậy, Malaysia luôn tích cực cải thiện môi trường đầu tư của mình để thu hút vốn FDI Nhờ đó, dòng vốn FDI đổ vào Malaysia ngày càng nhiều và đã góp phần
to lớn tạo ra sự tăng trưởng “thần kỳ” của nền kin tế trong nhiều năm qua Nhờ vào chính sách đầu tư thông thoáng, đầu tư nước ngoài của Malaysia năm
1991 đạt 6,4 tỷ USD và đến năm 1996 chiếm hơn 1/2 tồng số vốn đầu tư trong
cà nước Các nước đầu tư lớn nhất vào Malaysia là Nhật, Đài Loan tương ứng đạt 7,02 tỷ USD và 2,29 tỷ USD Theo UNCTAD, thu hút FDI của Malaysia năm 2005 là 3,97 tỷ USD, năm 2006 là 6,05 tỷ USD và đến năm 2007 là 8,4 tỷ USD cho thấy tốc độ thu hút nguồn vốn FDI của Malaysia là cao, năm 2008 Malaysia đã thu hút FDI tới 7,3 tỷ USD Nhưng đến năm 2009 do tác động của khủng hoảng tiền tệ tín dụng thế giới, nước này chỉ thu hút gần 2 tỷ USD FDI Năm 2010, kinh tế Malaysia khởi sắx với mức tăng GDP 5%, nên FDI đổ vào tăng lên 9,1 tỷ USD và đến năm 2013 mặc dù kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn nhưng Malaysia vẫn thu hút 16,02 tỷ USD FDI
Kinh nghiệm thu hút vốn FDI của Malaysia tập trung vào:
- Malaysia đã xây dựng một hệ thống chính trị ổn định và đoàn kết dân tộc cao mặc dù Malaysia là một quốc gia đa sắc tộc
- Có kế hoạch phát triển kinh tế ngắn hạn và dài hạ với mục tiêu rõ ràng Kiểm soát chặt chẽ các nguồn vốn đầu tư ngắn hạn nhằm để các nhà đầu tư ngắn hạn ở Malaysia ước tính được chính xác chi phí đầu tư tại Malaysia
Trang 30Đồng thời điều chỉnh tỷ lệ sở hữu nhằm khuyến khích và ổn định môi trường đầu tư dài hạn
- Đối với vấn đề sở hữu và đảm bảo vốn FDI, để tăng lòng tin cho các nhà đầu tư nước ngoài, chính phủ Malaysia cam kết không tịch thu hoặc quốc hữa hóa đối với tài sản hợp pháp của người nước ngoài và không đòi bên nước ngoài phải điều chỉnh tỷ lệ góp vốn trong các dự án đã được cấp phép Đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư nước ngoài chuyển lợi nhuận, vốn và các tài sản khác của mình về nước Những cam kết này được ghi rõ trong các hiệp định bảo đảm đầu tư và các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần của Malaysia
- Khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, các dự án đầu tư lớn, công nghệ cao và hướng vào xuất khẩu Malaysia đã trở thành một trong những trung tâm sản xuất hàng điện tử lớn nhất thế giới, thời gian qua do thiếu hụt lao động trong nước nên chính phủ nước này đã đưa ra một số tiêu chí đối với việc cấp phép đầu tư như vốn đầu tư trên lao động phải lớn hơn 18.300 USD thì mới được coi là dự án ít sử dụng lao động… điều này cho thấy Malaysia đã chủ động trong việc điều chỉnh hoạt động đầu tư phù hợp với thực tế
2.1.5.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Thu hút nguồn vốn FDI tại Trung Quốc có thể chia làm ba giai đoạn:
1979 – 1991 giai đoạn thử nghiệm, 1992 – 2000 giai đoạn tiếp nhận đầu tư nước ngoài quy mô lớn và có hệ thống, giai đoạn sau gia nhập WTO Họ đạt được những thành tựu nhất định Theo thống kê WB sau hơn 25 năm thực hiện chính sách thu hút vốn FDI, nguồn FDI vào Trung Quốc đã tăng lên từng năm,
từ 3 tỷ USD năm 1990 lên 40 tỷ USD năm 2000, năm 2011 là 124 tỷ và đến năm 2013 là 158,2 tỷ USD Ngày nay, Trung Quốc đã trở thành một trong những quốc gia thu hút vốn FDI lớn nhất thế giới, hiệu quả của nguồn vốn FDI là khá cao Với 1 triệu USD vốn nước ngoài, Trung Quốc đã sử dụng được 117 lao động, doanh thu xuất khẩu đạt 342.000 USD, thu ngân sác được 53.000USD Trong tỷ trọng tăng trưởng kinh tế hàng năm của Trung Quốc những năm qua, có khoảng 4 – 5% thuộc về nguồn vốn bên ngoài, đã đóng góp hơn 30% cho sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc
Thành công trong thu hút nguồn vốn FDI tại Trung Quốc có được là do:
- Trung Quốc không có Luật Đầu tư chung cho cho đầu tư nước ngoài
mà chỉ quy định các hình thức đầu tư nước ngoài phù hợp và được thể chế hóa bằng các luật riêng rẽ nhằm mục đích giúp các nhà đầu tư có thể lựa chọn cho mình hình thức đầu tư thích hợp nhất
- Trung Quốc cho phép các nhà đầu tư nước ngoài linh động chuyển đổi hình thức đầu tư, điều này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp FDI có cơ hội tìm kiếm và sửa đổi hình thức đầu tư phù hợp nhất Tuy nhiên, Trung Quốc cũng có những quy định rất chặt chẽ về việc chuyển đổi các hình thức đầu tư
để các bên tham gia đều có lợi và song song tạo điều kiện để cơ quan quản lý FDI giám sát tốt các hoạt động FDI
Trang 31- Trung Quốc quy định rất chặt chẽ về góp vốn FDI không phải bằng tiền, việc quản lý vốn này rất phức tạp như về quy định giá và mức độ hiện đại của công nghệ nhưng Trung Quốc lại quy định rất thoáng về việc chỉ dựa vào thỏa thuận giữa các bên trên nguyên tắc công bằng và hợp lý hoặc được xác định bởi bên thứ ba theo sự thỏa thuận của các bên để tính giá trị các loại vốn góp Trung Quốc đã đưa ra hàng loạt các yêu cầu khác phải đáp ứng để đảm bảo việc góp vốn này thực sự mang lại lợi ích cho nước chủ nhà như đảm bảo các máy móc đó thực sự cần thiết cho nền kin tế, có khả năng tăng suất lao động, khả năng tạo ra sản phẩm mới thiết yếu cho tiêu dùng trong nước…
- Trung Quốc cho phép các dự án FDI được quyền thế chấp quyền sử dụng đất để thế chấp vay vốn Việc thế chấp này phải đăng ký với sở địa chính
là cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Trung Quốc ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng và đô thị trong khu vực này, cho phép các địa phương sử dụng các biện pháp phù hợp để thu hút FDI như: khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài liên doanh với doanh nghiệp trong nước đang bị thua lỗ, các vùng khó khăn được miễn tiền thuê đất và cho phép thành lập doanh nghiệp liên doanh với thời hạn 99 năm
2.1.5.3 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương
Tỉnh Bình Dương bước vào xây dựng và phát triển công nghiệp ở điểm xuất phát thấp là một tỉnh thuần nông, gần như chưa có cơ sở hạ tầng về công nghiệp Thực tế đó bắt buộc tỉnh Bình Dương phải có bước đột phá, đi tắt đón đầu Lực đẩy từ công nghiệp đã làm thay đổi toàn bộ diện mạo của tỉnh Bình Dương như một điều kỳ diệu Giai 1996 – 1997, Bình Dương chỉ mới sơ khai
2 KCN Sóng Thần, Việt Nam – Singapore thì đến nay, đã có tới 31 KCN được hình thành với tổng diện tích quy hoạch 9.286 ha, trong đó đã có 26 KCN đi vào hoạt động chính thức Tổng vốn đầu tư hạ tầng KCN trên 8 tỷ đồng và trên 160 triệu USD Ngoài ra, tỉnh Bình Dương còn có 8 cụm công nghiệp Công nghiệp phát triển kéo theo nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước ồ ạt đổ vào tỉnh Bình Dương đã thu hút thêm 900 triệu USD vốn FDI gồm trên 80 dự
án mới và 172 dự án đang hoạt động; nâng tổng số dự án của tỉnh lên 2.154 với tổng vốn 15.754 triệu USD Vậy kinh nghiệm đã tạo nên sự thành công trong thu hút FDI của tỉnh Bình Dương:
- Nhờ sự kết hợp cả 3 yếu tố: vị trí địa lý, đường lối chính sách của Đảng
và Nhà nước, con người Bình Dương năng động, đoàn kết mà hạt nhân là đội ngũ cán bộ giàu năng lực Công việc giải tỏa đền bù là vấn đề rất khó khăn tại các địa phương nhưng ở tỉnh Bình Dương việc giải tỏa và chục nghìn ha đất để xây dựng cơ sở hạ tầng đường giao thông, KCN được nhân dân hoàn toàn ủng
hộ Sự nhất trí kết hơp sự ủng hộ của lãnh đạo và người dân với việc tạo điều kiện mời gọi nhà đầu tư trong ngoài nước, thu hút nhân tài, các nhà khoa học…
- Tỉnh Bình Dương có cơ sở hạ tầng KCN được đầu tư bài bản để phục
vụ thu hút đầu tư Với kết cấu hạ tầng xã hội tương đối phát triển so với các địa phương trong khu vực, tỉnh Bình Dương có khả năng kết nối thuận lợi các tuyến giao thông quan trọng trong vùng như đường Xuyên Á từ cửa khẩu Mộc
Trang 32Bài, cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất cùng các khu đô thị lớn trong vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ như Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh Chính vì vậy, các KCN đều thành công
và thu hút rất nhiều dự án vào sản xuất – kinh doanh, góp phần đưa công nghiệp tỉnh phát triển nhanh và ổn định Chính từ hạ tầng các KCN tốt đã đưa tỉnh Bình Dương trở thành điểm sáng trong tốp đầu thu hút đầu tư, hơn 10 năm trở lại đây, vốn FDI vào tỉnh ngày càng tăng, trở thành địa phương hấp dẫn với các nhà đầu tư đến từ châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore…
Trong lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, cơ chế “Một cửa” được tỉnh Bình Dương quán triệt sâu sắc Ban Quản lý KCN và Sở Kế hoạch & Đầu tư
là 2 cơ quan cấp phép đầu tư Nếu dự án không thuộc thẩm quyền của tỉnh thì lãnh đạo của tỉnh sẽ phối hợp với nhà đầu tư cùng đến các cơ quan Trung ương để giải quyết Hàng tháng, lãnh đạo tỉnh có chương trình cùng cán bộ đầu ngành tỉnh xuống với các doanh nghiệp để tìm hiểu động viên, giải quyết khó khăn, “coi khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp là khó khăn vướng mắc của tỉnh” Ngày lễ, Tết, không chỉ doanh nghiệp đến thăm tỉnh, mà tỉnh đến thăm doanh nghiệp, tổ chức ngày Tết doanh nghiệp hàng năm để khen thưởng, biểu dương doanh nghiệp hoàn thành tốt kế hoạch Ngay cả trong những trường hợp yếu tố tâm lý như số giấy phép, biển số xe, ngày khởi công… nhà đầu tư cần số tốt, ngày tốt, tỉnh cũng sẵn sàng tạo điều kiện Yếu tố tâm lý đơn giản, như là một cách tiếp thị đầu tư; đôi khi còn hiệu quả hơn những chuyến công du nước ngoài tốn kém mà ra về tay không Các nhà đầu tư không những yên tâm mà còn tuyên truyền, vận động thêm bạn cùng đầu tư, đối tác đến tỉnh Bình Dương
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các đơn vị trên địa bàn tỉnh An Giang gồm có:
Sở kế hoạch đầu tư, Sở Công thương, Cục thuế, Trung tâm xúc tiến đầu
tư và thương mại du lịch, Hiệp hội các doanh nghiệp, niên giám Tổng cục thống kê, VCCI, UBND các huyện
Thu thập từ các tài liệu giáo trình, các văn bản pháp luật: Luật đầu tư, Luật đất đai, Luật doanh nghiệp, Ngoài ra lấy số liệu tham khảo khác từ: tạp chí, sách báo, thông tin từ các website: tổng cục thống kê, báo đầu tư, tạp chí phát triển kinh tế,
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Trang 33- Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư qua hệ số ICOR, tỷ lệ thu ngân sách, đóng tạo việc làm của khu vực vốn FDI
D : chênh lệch tăng giảm của các chỉ tiêu kinh tế
+ Phương pháp so sánh tương đối 100 %
+ Phương pháp chỉ số
+ Phương pháp tổng hợp đồ thị
+ Đánh giá hiệu quả vốn đầu trực tiếp nước ngoài qua chỉ tiêu hệ số ICOR, giải quyết việc làm, giảm nghèo, phúc lợi xã hội, tiến bộ xã hội, -Mục tiêu số 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI tại tỉnh
An Giang
a) Một số giả thuyết ban đầu
Theo Mai Văn Nam (2008), phân tích hồi quy nghiên cứu mối quan hệ phụ thuộc của một biến (gọi là biến phụ thuộc hay biến được giải thích) với một hoặc nhiều biến khác (được gọi là biến độc lập hay biến giải thích) nhằm ước lượng và dự báo giá trị trung bình của biến phụ thuộc với các giá trị đã biết của biến độc lập
Chúng ta cần xây dựng hàm hồi quy tuyến tính cho một tổng thể, nhưng
vì trong thực tế phần lớn chúng ta chỉ có một mẫu ngẫu nhiên được lấy ra từ một tổng thể nên không thể xây dựng hàm hồi quy cho một tổng thể Phương pháp ước lượng (ước lượng các tham số) là phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS), nghĩa là sao cho bình phương chênh lệch giữa giá trị ước lượng biến phụ thuộc và giá trị thực của nó là nhỏ nhất Từ đó, ta thu được giá trị ước lượng của các hệ số Để có thể thực hiện theo phương pháp này, cần phải
có một số giả thuyết ban đầu:
Trang 34Giải thuyết 1: Mô hình tổng thể tuyến tính với các hệ số
u X X
, ,
Giải thuyết 5: Phương sai của sai số là thuần nhất, phương sai là một hằng số
2 3
2 1
b) Lựa chọn biến cho mô hình
Để có thể xây dựng mô hình hồi quy, ta cần chọn lọc ra những nhân tố nổi bật và xác định những biến có thể hiện rõ ràng nhất những đặc trưng của nhân tố để làm đại diện cho nhân tố đó và đưa vào mô hình hồi quy Điều này giúp cho mô hình hồi quy đáng tin cậy hơn Thông qua lược khảo một số tài liệu (trang 27) có liên quan đến đề tài nghiên cứu, ta có thể nhận thấy một số nhân tố nổi bật sau:
Trang 35nhiều vốn đăng ký FDI vào các nước Châu Á Các tác động của sự cởi mở thương mại có liên quan đến các loại hình đầu tư nước ngoài theo Asiedu (2002) Còn theo thuyết chảy thuế quan của Busse và Hefeneker (2005), FDI ngang có thể bị thu hút bởi các rào cản thương mại, đồng thời bảo vệ sản phẩm của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại thị trường trong nước với hàng nhập khẩu tương tự của đối thủ cạnh tranh Mặc khác, công ty đa quốc gia tham gia đầu tư theo định hướng xuất khẩu (FDI dọc) có thể thích đầu tư vào
nền kinh tế mở Ta đặt tên biến tổng giá trị xuất nhập khẩu
- Nhân tố cơ sở hạ tầng
Chất lượng của cơ sở hạ tầng là quan trọng đối với sự phát triển sản xuất
và thương mại của một quốc gia Theo nghiên cứu của ODI (1997), cơ sở hạ tầng nghèo nàn có thể vừa là trở ngại vừa mang tính cơ hội đầu tư nước ngoài Với đa số quốc gia thu nhập thấp, cơ sở hạ tầng nghèo nàn được xem như một trong các hạn chế chính của phát triển Nhưng các nhà đầu tư nước ngoài cũng xem đó như là cơ hội đầu tư và mang lại lợi nhuận nếu chính phủ của nước tiếp nhận đầu tư FDI cho phép họ tham tham gia vào lĩnh vực hạ tầng Còn theo Nguyễn Minh Chiến và các cộng sự của ông (2012) cho thấy tỉnh thành
có cơ sở hạ tầng tốt hơn thu hút nhều FDI hơn Trong nghiên cứu về nhân tố này, Asiedu (2002), Nguyễn Văn Bổn và Nguyễn Minh Tiến (2014) chọn số lượng thuê bao điện thoại trên 1000 dân là tiêu chuẩn đo lường Asiedu (2002), kết luận cơ sở hạ tầng có ý nghĩa nhưng Nguyễn Văn Bổn và Nguyễn Minh Tiến (2014) không thấy biến này có ý nghĩa Mặc khác, Nguyễn Thị Tường Anh và Nguyễn Hữu Tâm (2013) thấy rằng sự phát triển nhanh chóng của công nghệ viễn thông, điện thoại không còn là một chỉ số đo lường hiểu quả cơ sở hạ tầng nữa, họ sử dụng lưu lượng hàng hóa vận chuyển đường bộ trên 1000 dân Còn trong mô hình nghiên cứu, sử dụng tiêu chuẩn đo lường
khối lượng hàng hóa luân chuyển của tỉnh Ta đặt tên biến là lưu lượng hàng
hóa vận chuyển trên 1000 dân
- Tham nhũng
Tham nhũng là các chi phí không chính thức mà các nhà đầu tư phải trả trong quá trình làm thủ tục hay đang hoạt động cho cán bộ Nhà nước có quyền
sử dụng các quy định địa phương để trục lợi Việc cải thiện tham nhũng được
dự theo chỉ số thành phần PCI là chỉ số chi phí không chính thức Việt Nam là đất nước có chỉ số tham nhũng cao xếp 116/177 trên thế giới và xếp thứ 7 Đông Nam Á Tỉnh An Giang cũng là một trong những tỉnh có chỉ số chi phí không chính thức rất cao (nguồn VCCI, 2014) Nguyễn Quốc Việt và các cộng
sự (2014) cho thấy giảm tham nhũng lại tác động tiêu cực đến việc thu hút FDI của các tỉnh thành trong nước Tham nhũng gây ra phiền hà, mất lòng tin, tốn thêm những khoản chi phí khác hoặc gây thiệt hại cho doanh nghiệp Điểm của chỉ số chi phí không chính thức tăng chứng tỏ tỉnh làm giảm tham nhũng
Ta đặt tên biến cải thiện tham nhũng
c) Mô hình cụ thể cho nghiên cứu này là
u X X
X
Y = b0+b1* 1+b2* 2 +b3* 3+
Trang 36- Trong đó Y là biến phụ thuộc FDI, X1, X2, X3 lần lượt là các biến độc lập trong mô hình bao gồm tổng giá trị xuất nhập khẩu, lưu lượng hàng hóa vận chuyển trên 1000 dân, cải thiện tham nhũng
-bi( =i 1 , 3 )là hệ số của các biến tương ứng
-b0 là hệ số bị chặn
- u là đại lượng không giải thích được bởi mô hình (gọi là sai số)
Các hệ số bi trong mô hình chính là hệ số của các biến độc lập đối với biến phụ thuộc Các hệ số này phản ánh sự thay đổi giá trị của các biến phụ thuộc theo sự thay đổi giá trị của biến độc lập
d) Sự kỳ vọng về các biến
Dự trên cơ sở lược khảo các nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Toàn (2010), Nguyễn Quốc Việt và các cộng sự (2014), Nguyễn Thị Tường Anh và Nguyễn Hữu Tâm (2013), Asiedu (2002), ta có kỳ vọng về mối quan hệ giữa các biến độc lập và phụ thuộc
+
Niên giám thống kê tỉnh
+
Niên giám thống kê tỉnh
An Giang
Cải thiện
tham nhũng X3
Điểm chỉ số chi phí không chính thức càng tăng thì việc cải thiện tham nhũng có hiệu quả (tham nhũng giảm) tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn FDI
+
Phòng thương mại công nghiệp VCCI
Nguồn: tác giả tự tổng hợp
Trong quá trình phân tích hồi quy đa biến với các biến độc lập nêu trên,
để đưa ra mô hình đúng nghiên cứu cũng thực hiện kiểm định các lỗi sai trong
mô hình như kiểm định bỏ sót biến, hiện tượng đa cộng tuyến, hiện tượng phương sai sai số thay đổi và kiểm định hiện tượng tương quan Sử dụng phần mềm Stata:
- Đánh giá kiểm định Durbin – Watson để phát hiện hiện tượng tương quan
Trang 37- Tham khảo hệ số phóng đại phương sai (VIF) để phát hiện hiện tượng
ra giải pháp nâng cao thu hút vốn FDI vào tỉnh An Giang
2.3 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Nguyễn Thị Tường Anh và Nguyễn Hữu Tâm, 2013 Nghiên cứu định lượng về cá nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
các tỉnh thành của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Tạp chí kinh tế đối
ngoại, Đại học Ngoại thương, số 57-2013 Nghiên cứu đề xuất mô hình phân
tích: FDI = f(Thị trường, Lao động, Cơ sở hạ tầng, Chính sách chính phủ, Tác
động tích lũy) Sử dụng phương pháp ước lượng OLS điểm kiểm định mô hình
từ số liệu 57 tỉnh thành trong cả nước đoạn 2001-2010 Nghiên cứu cho thấy rằng những thay đổi trong quyết định lựa chọn đầu tư, tiến tới thị trường mới, tốc độ dân số tăng cao, nguồn lao động rẻ và sẵn sàng chấp nhận những hạn chế cơ sở hạ tầng Ngoài ra, việc hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn luôn là nhân tố quan trọng Chính sách chính phủ, cụ thể là chính sách đất đai, cung ứng dịch vụ công và hỗ trợ đào tạo lao động là những nhân tố cho thấy ảnh hưởng mạnh đến FDI
Nguyễn Mạnh Toàn, 2010 Các nhân tố tác động đến việc thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một địa phương của Việt Nam Tạp chí khoa
học và công nghệ, Đại học Kinh tế Đà Nẵng, số 5(40).2010 Sau khi nghiên
cứu tổng quan các vấn đề lý luận và thực hiện phỏng vấn các nhà đầu tư nước ngoài, tác giả đã xác định được tám nhân tố: cơ sở hạ tầng kỹ thuật, những ưu đãi hỗ trợ, lợi thế về chi phí, thị trường tiềm năng, nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng xã hội; phân thành bốn nhóm: kinh tế, tài nguyên, cơ sở hạ tầng, chính sách Sau đó nghiên cứu lập 300 bản câu hỏi điều tra đã được gởi đến các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tại ba thành phố: Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh để khảo sát Sử dụng phương pháp thống kê mô tả Kết quả điều tra cho thấy một số nhân tố được đánh giá là quan trọng hơn các nhân tố khác Trong đó, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, sự ưu đãi và hỗ trợ của chính quyền địa phương, chi phí hoạt động thấp
là những nhân tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng mang tính quyết định khi nhà đầu tư nước ngoài xem xét lựa chọn địa điểm đầu tư tại Việt Nam
Nguyễn Văn Bổn và Nguyễn Minh Tiến, 2014 Các nhân tố quyết định
dòng vốn ở các nước Châu Á Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ,
phần D: khoa học Chính trị, Kinh tế và Pháp luật: 31 (2014): 124-131 Nghiên cứu sử dụng hai phương pháp ước lượng GMM và PMG với dữ liệu thống kê
từ Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IFM) của 11 quốc gia đang phát triển ở Châu Á: Bangladesh, Cambodia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Pakistan, Philipphines, SriLanka, Thái Lan, Việt Nam
Trang 38trong giai đoạn 1990 – 2011 với các biến: đầu tư trực tiếp nước ngoài (dòng vốn đầu tư FDI ròng, thể hiện dạng phần trăm GDP), quy mô thị trường (thu nhập bình quân đầu người), lao động (phần trăm lao động trong dân số), thâm hụt ngân sách (phần trăm chi tiêu chính phủ trong tổng GDP), độ mở thương mại (tổng giá trị xuất nhập khẩu), cơ sở hạ tầng (số thuê bao cố định), lạm phát (phần trăm thay đổi chỉ số giá tiêu dùng) Nghiên cứu đưa ra kết luận quy
mô thị trường, lực lượng lao động và độ mở thương mại là những nhân tố quyết định có ý nghĩa dương ở cả hai phương pháp Ngoài ra phương pháp PMG còn cho thấy thâm hụt ngân sách có tác động âm lên dòng vốn FDI Nguyễn Quốc Việt và các cộng sự, 2014 Đánh giá tác động của chất lượng thể chế cấp tỉnh tới khả năng thu hút FDI vào các địa phương tại Việt
Nam Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế và Kinh doanh, tập
30, số 1 (2014) 53-62 Nghiên cứu chỉ ra các thực trạng chất lượng thể chế cấp tỉnh thông các đánh giá số liệu PCI năm 2010 (VCCI) đưa ra giả thuyết về tác động của thể chế cấp tỉnh tới việc thu hút FDI tại các địa phương Việt Nam,
đó là: (i) môi trường thể chế tốt tạo động lực thúc đẩy thu hút FDI,(ii) giữa hai loại thể chế, thể chế thực thi (chính thức) tác động tới thu hút FDI mạnh
mẽ hơn các thể chế hỗ trợ (phi chính thức) Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng mô hình kinh tế lượng theo OLS bằng phần mềm Stata để đo lường tác động của chất lượng thể chế cấp tỉnh đến thu hút FDI Nghiên cứu lựa chọn mẫu quan sát 20 tỉnh thành trên cả nước, có PCI theo xếp hạng từ cao xuống thấp tính theo năm 2006-2010 Mô hình độ trễ là hai năm với các biến độc lập: chi phí gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai, tính minh bạch, chi phí thời gian, chi phí không chính thức, tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, đào tạo lao động, thiết chế pháp lý, chính sách phát triển kinh tế tư nhân Kết quả cho thấy rằng không phải tất cả các biến thể chế đều tác động tới khả năng thu hút FDI, theo giai đoạn 2006-2010 các loại thể chế thực thi là tính minh bạch, tiếp cận đất đai tác động tính cực đến FDI; hai biến thể chế chi phí thời gian, chi phí không chính thức ngược chiều với khả năng thu hút FDI
Lê Tuấn Lộc và Nguyễn Thị Tuyết, 2013 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài: Trường hợp nghiên
cứu điển hình tại TP Đà Nẵng Tạp chí phát triển và hội nhập Đại học Quốc
gia thành phố Hồ Chí Minh, Kinh tế - Luật, số 11 (21) tháng 07-08/2013 Sau
khi tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước về các nhân tố thu hút FDI trong và ngoài nước, tác giả đưa ra ra các chỉ tiêu gồm 8 nhóm: chất lượng nguồn nhân lực (nguồn lao động dồi dào, số lao động có tay nghề và lao động
có trình độ cao); lợi thế chi phí (chi phí lao động, chi phí thuê mướn mặt bằng, chi phí điện nước, cước phí vận chuyển); cơ sở hạ tầng (hệ thống giao thông,
hệ thống cấp điện ổn định, hệ thống cấp thống bưu chính ngân hàng thuậnlợi);
sự hình thành cụm ngành (các doanh nghiệp cung ứng đầu vào và các dịch vụ
có liên quan; ngành nghề khác chia sẻ về hoạt động kinh sản xuất, công nghệ, quan hệ khách hàng; các định chế tài chính, giáo dục, nghiên cứu; những tổ chức này phải gần nhau về mặt địa lý); công tác quản lý hỗ trợ địa phương (sự sẵn lòng và kỹ năng phục vục của các bộ công chức); chính sách ưu đãi đầu tư (thuế, chi phí thuê mặt bằng); vị trí địa lý và tài nghiên thiên nhiên (vị trí địa
lý thuận lợi, tài nguyên phong phú, có nhiều cảnh quan thiên nhiên); sự hài
Trang 39lòng của nhà đầu tư (hiệu quả kinh doanh, tăng trưởng kinh doanh, tăng trưởng lợi nhuận, tiếp tục mở rộng kinh doanh) Nghiên cứu tiến hành điều tra
120 doanh nghiệp có vốn đầu trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng sau đó thu thấp và phân tích số liệu Thông qua mô hình phân tích khám phá nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài (IFE, EFE) và phân tích hồi quy bội từ phần mềm SPSS 16, các tác giả nhận diện các yếu tố và các mức độ ảnh hưởng: (1) nhóm nhân tố cơ sở hạ tầng; (2) nhóm nhân tố về công tác quản lý
và hỗ trợ của chính quyền địa phương; (3) nhóm nhân tố về sự hình thành và phát triển của cụm ngành; (4) nhóm nhân tố về chất lượng nguồn nhân lực; (5) nhân tố về vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên
Trần Thị Lan Thảo, 2006 Giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài để phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2006 –
2010 Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu gởi phiếu khảo sát đánh giá về mức ảnh hưởng của các yếu tố bên trong đến khả năng thu hút FDI đến các chuyên gia am hiểu về lĩnh vực thu hút đầu tư, đồng thời gởi phiếu khảo sát đến các doanh nghiệp FDI ở tỉnh nhằm lấy ý kiến đánh giá của các nhà đầu tư nước ngoài Thông qua mô hình phân tích khám phá nhân tố bên trong, nhân tố bên ngoài (IFE, EFE), hình thành ma trận SWOT Sau đó, nghiên cứu đưa ra kết luận về các nhân tố tác động chủ yếu đến việc thu hút FDI trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long theo mức độ khác nhau: (1) nguồn cung cấp thông tin cho doanh nghiệp, (2) các chính sách,
sự giúp đỡ của lãnh đạo tỉnh trong quá trình xây dựng dự án, (3) cơ sở hạ tầng đảm bảo cho đầu tư phát triển, (4) chất lượng lao động, (5) mạng lưới lưu thông hàng hóa thuận tiện
Nguyễn Đình Chiến, Hồ Tú Linh, Zhang Ke Zhong, 2012 FDI tại Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung Việt Nam: mối quan hệ hai chiều với
GDP, sự cạnh tranh giữa các tỉnh thành, và ảnh hưởng của luật pháp Tạp chí
khoa học Đại học Huế, tập 72B, số 3, năm 2012 Nghiên cứu sử dụng phương
pháp phân tích mô tả và phân tích thực nghiệm Nhóm tác giả đưa ra các giả thiết: (1) Liệu có mối quan hệ chặt chẽ giữa FDI và GDP tại vùng Bắc Trung
bộ và Duyên hải miền Trung Việt Nam hay không? (2) Liệu có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa 14 tỉnh thành của khu vực này trong việc thu hút FDI hay không? (3) Nhân tố nào ảnh hưởng mạnh đến khả năng thu hút FDI của tỉnh thành trong khu vực nghiên cứu? (4) Những quy định về luật pháp có ảnh hưởng đến việc thu hút FDI ở 14 tỉnh thành nghiên cứu hay không? Sử dụng
số liệu thứ cấp từ niên giám thống kê giai đoạn 2000 -2012 của 14 tỉnh thành vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung; và kiểm định giả thiết bằng việc áp dụng phần mềm Eviews6 Nghiên cứu đưa đến kết luận: (1) FDI và GDP ở vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung có mối quan hệ chặt chẽ
Cả hai đều góp phần quan trọng và tích cực trong việc giải thích lẫm nhau tại các tỉnh thành có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn (2) Không có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa 14 tỉnh thành trong vùng nghiên cứu vì tỉnh thành có PCI càng cao thì càng thu hút được ít FDI (3) Khả năng tiếp cận thông tin và chất lượng cơ sở hạ tầng ảnh hưởng mạnh đến khả năng thu hút FDI của 14 tỉnh thành (4) Sau khi Luật Đầu tư chung và Luật Doanh nghiệp thống nhất ra
Trang 40đời năm 2005 và sau khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007, lượng vốn đăng
ký FDI đã tăng nhanh tại vùng nghiên cứu
Asiedu, 2002 The determinants of FDI in developing countries Nghiên
cứu sử dụng dữ liệu 71 quốc gia (32 quốc gia cận Sahara và 39 quốc gia không phải nước Châu Phi) trong giai đoạn 1988 – 1997, theo phương pháp OLS
Trong đó, mô được phân tích là: FDI = f(Cơ sở hạ tầng, Cở mở thị trường, Rủi
ro chính trị, Kích thước thị trường, tỷ lệ lạm phát, Tốc độ tăng trưởng GDP) Kết quả cho thấy, sự cởi mở thị trường thương mại tác động tích cực dòng vốn FDI Trong khi đó, phát triển cơ sở hạ tầng có tác động tích cực đối với dòng vốn FDI ở các nước không thuộc Châu Phi, nhưng nó không có tác động đáng
kể đối với tiểu vùng Sahara Châu Phi Nghiên cứu cho thấy rằng cùng một chính sách không thể có hiệu quả trong các vùng khác nhau
Mahmood và Ehsanullah, 2011 The impact of macroeconomic variables
in Pakistan Nghiên cứu sử dụng chuỗi dữ liệu từ 1972 – 2005 và phương
pháp hồi quy OLS Mô hình được phân tích là: FDI = f(Dân số, GDP, dân chủ,
tỷ giá thực, Sản lượng xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Số lượng học sinh trường trung học) Kết quả cho thấy sự tăng trưởng dân số, tổng sản phẩm sản xuất, dân chủ và số lượng học sinh trung học có tác động tích cực đến đầu tư trực tiếp nước ngoài Ngược lại, tỷ giá hối đối thực, sản lượng xuất khẩu và thuế nhập khẩu có tác động tiêu cực đến dòng vốn FDI
Zekiwos Gichamo, 2012 Determinants of Foreign Direct Investment
Inflows to Sub-Saharan Africa: a panel data analysis Luận văn thạc sĩ, Đại
học Södertörns Nghiên cứu sử dụng dữ liệu 14 nước Châu Phi ở tiểu vùng Sahara giai đoạn 1986 – 2010 Theo phương pháp hồi quy OLS Mô hình phân tích các biến độc lập: mở cửa thương mại (giá trị xuất nhập khẩu trên GDP), tổng sản phẩm trong nước, GDP bình quân đầu người, tăng rưởng GDP, số thuê bao điện thoại, tổng sản lượng, lạm phát, hệ số tích lũy Kết quả cho thấy, việc mở cửa thương mại, tổng sản phẩm trong nước, tổng vốn cố định, lạm phát và tụt hậu của FDI là những yếu tố quyết định chính của dòng vốn FDI đến tiểu vùng Saharan Ổn định kinh tế vĩ mô là rất cần thiết để thu hút FDI ở khu vực này Các tác dụng tích tụ có tác động tích cực đến dòng vốn FDI vì họ
có xu hướng đầu tư vào nơi đã có nhiều công ty đầu tư trước hơn là đầu tư vào nơi mà không ai đầu tư trước đó Đặc biệt, các chính sách tương tự không hẳn
có hiệu quả giống nhau cho tất cả các vùng
Như vậy các nghiên cứu trước đó ở trong và ngoài nước đã chứng minh rằng các nhân tố tác động đến thu hút nhà đầu tư nước ngoài bao gồm: sự ổn định kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực, công tác quản lý
và hỗ trợ của chính quyền địa phương, các chính sách ưu đãi đầu tư, quy mô
và tiềm năng của thị trường, sự hình thành cụm ngành, nhân tố tích lũy Để nhận diện mô hình phù hợp với thực tế An Giang, nghiên cứu áp dụng việc phân tích định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua việc xây dựng mô hình hồi quy bằng các số liệu thực tế thu thập qua 15 năm từ 2000 đến năm 2014