1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh ninh bình hiện nay

113 634 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 752,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu Tôn giáo, tín ngưỡng là một đề tài rộng lớn về nội dung, phạm vi, góc độ,… từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này như: GS Đặng Nghiêm Vạn 200

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ MINH THẢO

CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO Ở TỈNH NINH BÌNH

HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

Hà nội - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Triết học Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới

TS Nguyễn Thanh Xuân, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đồng thời tôi cũng xin cảm ơn Ban Tôn giáo tỉnh Ninh Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm luận văn

Tác giả luận văn

Lê Thị Minh Thảo

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi và chưa được công bố, tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Lê Thị Minh Thảo

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Phong chức bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc 58

Bảng 2.2 Đào tạo, bồi dưỡng chức sắc 58 Bảng 2.3 Công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 70

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO 8

1.1 Một số vấn đề lý luận 8 1.2 Tình hình kinh tế, xã hội và tôn giáo của tỉnh Ninh Bình 32

Chương 2THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT

ĐỘNG TÔN GIÁO Ở TỈNH NINH BÌNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT

RA HIỆN NAY 49

2.1 Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Ninh Bình 49 2.2 Bài học kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra từ công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình 77 2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo 85

KẾT LUẬN 99 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI nhân loại đã chứng kiến hàng loạt các xung đột, chiến tranh rải rác khắp các châu lục, từ châu Á, châu Phi, cho đến châu Mỹ Nhưng một điều đặc biệt là các cuộc xung đột đó đều liên quan đến vấn đề tôn giáo và sắc tộc gây lo lắng cho cộng đồng quốc tế

Có thể nói, hiện nay niềm tin tôn giáo trên thế giới có xu hướng phục hồi trở lại và phát triển một cách mạnh mẽ, đó là dấu hiệu cho thấy sự thay đổi trong đời sống tâm lý của con người

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, đồng thời là một thực thể xã hội ra đời ra đời từ hàng ngàn năm lịch sử và là vấn đề còn tồn tại lâu dài Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa xã hội, tâm lý, lối sống, phong tục tập quán và an ninh trật tự của nhiều quốc gia dân tộc Do vậy hoạt động tôn giáo cần phải đặt dưới sự quản lý của nhà nước, nói một khác là, bất cứ nhà nước thế tục nào cũng đều thực hiện sự quản lý của mình đối với các hoạt động tôn giáo, nếu có khác thì chỉ khác nhau về hình thức, cách thức và mức độ quản lý mà thôi

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, có lịch sử ngàn năm văn hiến, tín ngưỡng, đã trở thành một bộ phận đặc sắc của đạo đức và văn hóa truyền thống Với sự hội tụ của nhiều tôn giáo, cùng với tín ngưỡng, tôn giáo bản địa giữa các tôn giáo có sự hòa hợp lẫn nhau Tuy nhiên vấn đề tôn giáo là vấn đề phức tạp và nhạy cảm, các thế lực thù địch luôn coi vấn đề tôn giáo là một vấn đề quan trọng trong chiến lược diễn biến hòa bình nhằm can thiệp vào đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta gây mất ổn định hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Nhưng kẻ thù có thực hiện được điều đó hay không

Trang 8

còn tùy thuộc vào sự nỗ lực chủ quan của Đảng, nhà nước, và nhân dân Việt Nam Qua các giai đoạn cách mạng, Đảng và nhà nước ta luôn xác định công tác tôn giáo có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân

Trong cách mạng dân tộc dân chủ, chính sách “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào sự nghiệp đoàn kết toàn dân kháng chiến thắng lợi Trong cách mạng xã hội chủ

nghĩa, năm 1990, Bộ chính trị ra Nghị quyết 24 về công tác tôn giáo cũng đã xác định: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu

c ầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù

h ợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”

Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nhìn chung các tổ chức tôn giáo đã xây dựng đường hướng lãnh đạo, hoạt động theo pháp luật, các tôn giáo được nhà nước công nhận đã hành đạo gắn bó với dân tộc, tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng cuộc sống tốt đời đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước Các cấp các ngành đã chủ động, tích cực thực hiện các chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước

ta

Những năm gần đây, sinh hoạt tôn giáo có phần phát triển, nhà thờ, đình chùa, miếu mạo, thánh thất được tu sửa và tôn tạo, xây cất lại, in ấn kinh sách, đào tạo chức sắc,… Số người tham gia các hoạt động tôn giáo gia tăng Bên cạnh xu hướng hành đạo cùng dân tộc, thuần túy tôn giáo, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật cũng đã xuất hiện hoạt động tôn giáo không bình thường, vi phạm một số quy định chung của Nhà nước, lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để

Trang 9

hành nghề mê tín dị đoan Ngoài ra, một số người lợi dụng tự do tín ngưỡng tiến hành hoạt động chống đối chính quyền, kích động tín đồ tạo điểm nóng tôn giáo gây mất ổn định chính trị Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta xác định phải tăng cường công tác quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo, một mặt vừa đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân, mặt khác phải cảnh giác chống âm mưu lợi dụng tôn giáo của kẻ địch

Ninh Bình là tỉnh có truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời, cùng với tín ngưỡng bản địa, Ninh Bình còn là sự du nhập của hai tôn giáo lớn đó là Phật giáo và Công giáo Các tôn giáo trong tỉnh nhìn chung chấp hành tốt chính sách pháp luật, không có điểm nóng về tôn giáo xảy ra, các chức sắc tín đồ giáo phấn khởi hành đạo và thực hiện tốt phương châm sống: “Tốt đời đẹp đạo” đã góp phần tích cực và đạt được những kết quản khả quan trên lĩnh vực kinh tế - xã hội Song cũng vẫn còn hiện tượng “vượt rào” tách khỏi sự quản

lý của nhà nước trong một số lĩnh vực như: xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự,

lễ hội, tranh chấp, khiếu kiện về vấn đề đất đai

Trong những năm qua, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình đã có nhiều tiến bộ, đạt được những kết quả nhất định Nhưng bên cạnh đó cũng còn một số bất cập: một bộ phận cán bộ Đảng viên nhận thức về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo còn hạn chế, sự phối hợp giữa các cấp các ngành liên quan còn chưa đồng bộ thiếu tập trung Đặc biệt, việc thực hiện chức năng quản lý của nhà nước đối với tôn giáo của chính quyền ở nhiều lúc nhiều nơi, nhất là ở cơ sở còn vướng mắc, công tác xây dựng, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo còn chưa được quan tâm đúng mức

Để khắc phục tình trạng trên, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Ninh Bình đã quan tâm và tăng cường chỉ đạo công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Một mặt nhằm nâng cao nhận thức về tín ngưỡng, tôn

Trang 10

giáo và vai trò của nó trong đời sống tinh thần của nhân dân và trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà, mặt khác để thực hiện đầy đủ, nghiêm túc đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo

và hoạt động tôn giáo chống mọi âm mưu lợi dụng tôn giáo chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Từ tình hình đó, tôi chọn đề tài: “Công tác quản lý nhà nước đối với

triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học

2 Tình hình nghiên cứu

Tôn giáo, tín ngưỡng là một đề tài rộng lớn về nội dung, phạm vi, góc độ,… từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này như: GS Đặng Nghiêm Vạn (2003), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt

Nam, Nxb CTQG; GS.TS Đỗ Quang Hưng (2005), Vấn đề tôn giáo trong

cách m ạng Việt Nam - lý luận và thực tiễn, Nxb Lý luận chính trị; Nguyễn

Văn Kiệm (1997), Tôn giáo và đời sống hiện đại, Nxb Viện thông tin khoa học xã hội; Nguyễn Thanh Xuân (2005), Một số tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội; Mai Thanh Hải (1998) Tôn giáo thế giới và Việt Nam, Nxb Công an nhân dân; Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ (2003), Tư tưởng Hồ

Chí Minh v ề tôn giáo và công tác tôn giáo, Nxb Tôn giáo; PGS.TS Ngô Hữu Thảo - chủ nhiệm đề tài (1998), Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo trong

th ời kỳ mở rộng giao lưu quốc tế và phát triển kinh tế thị trường định hướng

xã h ội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, đề tài khoa học cấp bộ; PGS.TS Hoàng Minh Đô - Chủ nhiệm đề tài (2002), Đạo tin lành ở Việt Nam - Thực trạng, xu

h ướng phát triển và những vấn đề đặt ra hiện nay trong công tác lãnh đạo,

qu ản lý, thuộc đề tài độc lập cấp nhà nước,…

Về vấn đề liên quan trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước đối với

hoạt động tôn giáo có các đề tài sau: Ban Tôn giáo Chính phủ (2005), Tập bài

Trang 11

gi ảng tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở

Vi ệt Nam; Nxb Tôn giáo; Bùi Đức Luận (chủ biên) (2005), Quản lý hoạt động

tôn giáo – c ơ sở lý luận và thực tiễn, Nxb Tôn giáo, Hà Nội; TS Nguyễn Hữu Khiển (2001), Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều kiện

xây d ựng nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện nay, Nxb CAND; TS Trần Minh Thư (2005), Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là một

yêu c ầu khách quan; cùng nhiều bài viết về công tác quản lý nhà nước về tôn

giáo đăng trên Tạp chí Công tác tôn giáo,…

Nhìn chung những công trình trên đã đề cập nhiều khía cạnh khác nhau,

đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm của vấn đề tôn giáo và quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Các nhận định, đánh giá của những công trình đó

sẽ được tác giả kế thừa có chọn lọc làm nguồn tài liệu tham khảo cho đề tài luận văn này

Ở tỉnh Ninh Bình có một số công trình khoa học nghiên cứu về tôn giáo

như: Nguyễn Phú Lợi (2001), Tìm hiểu tổ chức giáo hội công giáo cơ sở ở địa

ph ận Phát Diệm, tỉnh Ninh Bình (luận văn thạc sĩ tôn giáo); Lê Anh Thơ

(2006), Quản lý nhà nước đối với hoạt động của tôn giáo- Công giáo ở huyện

Kim S ơn, tỉnh Ninh Bình hiện nay (luận văn thạc sĩ triết học); Đáng chú ý có

các công trình nghiên cứu của các tác giả Phan Đại Doãn – Nguyễn Quang

Ngọc (chủ biên), Về một số làng Công giáo ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình đầu thế kỷ XIX, Nxb CTQG, 1994; Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên), Làng Công

giáo L ưu Phương (Ninh Bình) từ năm 1829 đến năm 1945, Nxb KHXH,

1997; Nguyễn Hồng Dương - Thượng tọa Thích Thọ Lạc (đồng chủ biên)

(2010), Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê trong công cuộc dựng nước và giữ

n ước, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Hầu hết các công trình tập trung nghiên

cứu tôn giáo, ít đề cập đến tình hình công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Ninh Bình nói chung Tuy nhiên, những kết quả của các

Trang 12

nghiên cứu nói trên đã là những tài liệu quý để tôi kế thừa thực hiện tốt đề tài Hướng đề tài mà tôi lựa chọn, sẽ góp sức vào một vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn không chỉ trước mắt mà còn lâu dài đối với công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Mục đích: Đánh giá thực trạng tình hình tôn giáo và công tác quản lý

nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh

Nhiệm vụ: Để đạt được mục tiêu đó, đề tài tập trung giải quyết nhiệm

vụ cơ bản sau:

- Khái quát một số vấn đề lý luận về tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo;

- Thực trạng tình hình tôn giáo ở Ninh Bình;

- Tìm hiểu thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình, những vấn đề cần giải quyết;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong tình hình mới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động

tôn giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: đề tài chỉ nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

- Về thời gian: đề tài tiến hành nghiên cứu trong giai đoạn từ khi thực

hiện công cuộc đổi mới đất nước, nhưng tập trung chủ yếu từ năm 2000 đến

nay

Trang 13

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và thực tiễn: Luận văn được thực hiện trên cơ sở

phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo và quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình thời gian qua

Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện luận văn này tác giả dựa trên

cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng một số phương pháp cụ thể như: phương pháp lịch sử và logic, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh

6 Đóng góp và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

- Trên cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, bước đầu luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề cấp bách đang đặt ra trong quản

lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản có tính khả thi góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để xây dựng chủ trương, biện pháp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập tại trường chính trị tỉnh

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn gồm 2 chương và 5 tiết

Trang 14

Chương 1 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO

1.1 Một số vấn đề lý luận

Qua các giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định công

tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng Quản lý nhà nước

đối với hoạt động tôn giáo là yêu cầu khách quan của công tác tôn giáo Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác tôn giáo đều nhấn mạnh đến vai trò của lĩnh vực công tác này Gần đây, Nghị quyết số 25 – NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo

tiếp tục khẳng định cần “Tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo” [28,

tr.340]

Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về tôn giáo và hoạt động tôn giáo, về mặt lý luận cần nhận thức thống nhất một số vấn đề cơ bản sau đây:

1.1.1 Những khái niệm cơ bản

* Khái niệm quản lý:

Hoạt động quản lý xuất hiện từ rất lâu, nhưng thuật ngữ “quản lý” cho

đến nay vẫn có nhiều cách hiểu Tùy từng mục tiêu nghiên cứu khác nhau, dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đưa ra những quan điểm khác nhau về quản lý Có quan điểm coi quản lý là tiến trình bao gồm các khâu lập

kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong

tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau của tổ chức để đạt mục tiêu

đã định trước Cũng có quan điểm cho rằng quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định

Trang 15

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, song thuật ngữ quản lý đều được các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà quản lý thống nhất ở hai nội dung:

Th ứ nhất, quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích của

chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý

Th ứ hai, mục tiêu quản lý là nhằm làm cho đối tượng quản lý hoạt động

(vận hành) phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã định ra từ trước

Nói đến quản lý trước hết đó là sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý Sự tác động này không phải mang tính đơn lẻ, tự phát mà nó mang tính tổ chức, tính mục đích rõ ràng Mục đích mà chủ thể quản lý đặt ra là hướng đối tượng quản lý hoạt động phù hợp với ý chí của mình

Từ hai nội dung trên, có thể đưa ra khái niệm về quản lý: “Quản lý là

s ự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý

nh ằm đạt được mục tiêu đã đặt ra từ trước [46, tr.8]

* Khái ni ệm quản lý nhà nước:

Hoạt động quản lý xuất hiện từ rất lâu và bao gồm nhiều loại, trong đó quản lý xã hội là một dạng quản lý đặc biệt Quản lý xã hội xuất hiện từ khi lao động của con người bắt đầu được xã hội hóa Quản lý xã hội là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành

vi hoạt động của con người phù hợp với ý chí của nhà quản lý và quy luật khách quan Quản lý xã hội do nhiều chủ thể tiến hành, khi nhà nước xuất hiện, những công việc quản lý xã hội quan trọng nhất do nhà nước đảm nhiệm

Hiện nay, khái niệm quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa:

- Ngh ĩa rộng: Là dạng quản lý xã hội của nhà nước, sử dụng quyền lực

nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và các hành vi hoạt động của con

Trang 16

người do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành

để thực hiện các chức năng nhà nước đối với xã hội

- Ngh ĩa hẹp: Là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước với

chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp) [46, tr.9]

* Khái ni ệm tôn giáo:

Theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tôn giáo là một hình thái ý thức

xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan Qua hình thức phản ánh của tôn giáo, những sức mạnh tự phát trong tự nhiên và xã hội đều trở thành thần bí “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua là sự phản ánh hư ảo – vào trong đầu óc của con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [51, tr.22] Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo dựa trên những luận điểm chủ yếu của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, vừa là sự vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển vào điều kiện Việt Nam và thời đại Trên cơ sở quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đề ra những chủ truơng, chính sách pháp luật, một mặt thể hiện tự do tín ngưỡng của nhân dân, mặt khác chống lại âm mưu lợi dụng tôn giáo chống phá nước ta của các thế lực thù địch

Hiện nay ở Việt Nam, khái niệm tôn giáo chưa được giải thích cụ thể, tuy nhiên, tùy cách tiếp cận mà đưa ra cách hiểu khác nhau về tôn giáo Về phương diện quản lý nhà nước, tôn giáo được hiểu là một cộng đồng người có chung niềm tin vào thế lực siêu nhiên, huyền bí, có hệ thống giáo lý hay một giáo chủ, có một kết cấu là tổ chức giáo hội

Trang 17

* Khái niệm hoạt động tôn giáo: Điều 3, Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn

giáo đã khẳng định: “Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, quản lý tổ chức của tôn giáo” [37, tr.346]

Việc truyền bá giáo lý, giáo luật (còn gọi là truyền đạo) là tuyên truyền

những lý lẽ về nguồn gốc sự ra đời, luật lệ của tổ chức tôn giáo Thông qua hoạt động truyền giáo, niềm tin tôn giáo của tín đồ được củng cố, luật lệ trong tôn giáo của tín đồ được thực hiện Đối với những người chưa phải tín đồ, hoạt động truyền giáo giúp họ hiểu, tin theo tôn giáo và thông qua hoạt động truyền đạo để phát triển thêm số lượng tín đồ

Thực hành giáo luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo) là hoạt động của tín

đồ, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo thể hiện sự tuân thủ giáo luật, thỏa mãn đức tin tôn giáo của cá nhân tôn giáo hay cộng đồng tín đồ

Hoạt động quản lý tổ chức tôn giáo (còn gọi là quản đạo) nhằm thực

hiện quy định của giáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo

Trong các hoạt động trên, việc phân định ranh giới giữa hoạt động truyền đạo với hoạt động hành đạo cũng chỉ là tương đối, có không ít trường hợp trong hoạt động hành đạo có truyền đạo

* Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

Từ các khái niệm quản lý, quản lý nhà nước, tôn giáo, hoạt động tôn giáo, có thể đưa ra khái niệm về quản lý nhà nước đối với tôn giáo theo hai nghĩa như sau:

- Nghĩa rộng: Là quá trình dùng quyền lực nhà nước của các cơ quan

nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh, hướng các quá trình tôn giáo và hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật và đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý

Trang 18

- Nghĩa hẹp: Là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện

pháp lụât của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp) để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật [46, tr.11]

1.1.2 Yêu cầu khách quan, mục tiêu và nguyên tắc của công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

* Yêu cầu khách quan

Quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là công việc tất yếu của nhà nước, trong đó có nhà nước Việt Nam

Trong quá trình quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo có một số quan điểm cho rằng, hoạt động tôn giáo là hoạt động mang tính chất nội bộ của tôn giáo, nhà nước không cần phải quản lý, điều chỉnh vì nếu nhà nước quản lý thì sẽ không còn tự do tôn giáo Tuy nhiên, hoạt động tôn giáo không chỉ thuần tuý nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của tín đồ, chức sắc, nhà tu hành, mà còn liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội Ví dụ như việc xây dựng nơi thờ tự, không chỉ đơn thuần là việc củng cố, phát triển cơ

sở vật chất của giáo hội, mà còn liên quan đến những quy định của Nhà nước

về đất đai, quy hoạch, xây dựng; hoạt động in ấn kinh bổn, sản xuất đồ dùng việc đạo liên quan đến những quy định về văn hoá, xuất bản; hoạt động quan

hệ với các tổ chức, cá nhân tôn giáo nước ngoài liên quan đến chính sách, pháp luật trên lĩnh vực đối ngoại, xuất nhập cảnh của nhà nước, Mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và mọi công dân liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội đều phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước Tôn giáo và hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng ở bất kỳ quốc gia nào cũng không thể đứng ngoài pháp luật của quốc gia đó Thực tiễn hiện nay cho thấy,

ở đâu có hoạt động tôn giáo thì đều có sự can thiệp, quản lý của nhà nước

Trang 19

Tuy nhiên sự quản lý, điều chỉnh của nhà nước ở mức độ nào thì có sự khác nhau, còn tùy thuộc vào từng nhà nước Bên cạnh đó, yêu cầu của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo không chỉ xuất phát từ ý chí của nhà nước mà còn xuất phát từ thực tiễn khách quan của sự hình thành, tồn tại, phát triển và những ảnh hưởng của tôn giáo trong lịch sử, trong đời sống xã hội hiện tại và tương lai

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, đồng thời là thực thể xã hội, tôn giáo luôn biến động, phản ánh sự biến đổi của lịch sử nhân loại Tôn giáo

ra đời và tồn tại đều liên quan đến những yếu tố từ kinh tế - xã hội Thừa nhận những thực tế khách quan này, một mặt, nhà nước cần tăng cường quản lý các hoạt động của tôn giáo để tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và

pháp luật theo phương châm tốt đời, đẹp đạo, mặt khác, cần tôn trọng và bảo

đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân

Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội của nhiều quốc gia Tôn giáo cũng có nhiều chức năng đối với xã hội như: chức năng thế giới quan, chức năng liên kết cộng đồng, chức năng đền bù hư ảo “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”, chức năng điều chỉnh hành vi, đạo đức của con người Thực hiện các chức năng này, tôn giáo đáp ứng yêu cầu tinh thần của con người, đoàn kết những người bị áp bức trong cuộc đấu tranh chống lại những bất công của xã hội, khuyên răn con người hướng thiện, làm điều tốt, tránh điều

xấu Vì vậy, trong Nghị quyết số 24 – NQ/TW về tăng cường công tác tôn

giáo trong tình hình m ới, Đảng ta đã chỉ ra rằng: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu

cầu của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” [12, tr.2]

Trang 20

Bên cạnh đó, tôn giáo cũng mang những hạn chế, tiêu cực như: hạn chế trong việc nhận thức thế giới quan Ngoài ra, tôn giáo cũng thường bị kẻ xấu lợi dụng vì mục đích chính trị đen tối Tôn giáo có khả năng liên kết con người trong cùng một cộng đồng cùng tín ngưỡng, nhưng cũng có thể đẩy người ta đến chỗ nghi kị, đối đầu, hận thù, và xung đột gây nên những thảm họa cho nhân loại

Để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của tôn giáo, nhà nước cần phải quản lý và tăng cường công tác quản lý tôn giáo, để các hoạt động tôn giáo diễn ra phù hợp với ý chí của nhà nước, phù hợp với sự phát triển chung của xã hội và nhu cầu tâm linh của quần chúng

Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, cần thiết phải tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, xuất phát từ những lý

do sau:

lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tôn giáo Trong lĩnh vực này, ngay sau ngày giành độc lập, khai s inh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Điều 10, chương II, mục B (Quyền lợi và Nghĩa vụ) viết: “Mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”

Trong những năm gần đây, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn

đề tôn giáo ngày càng chứa đựng những nội dung mới và cụ thể: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, Đảng và Nhà nước ta chủ trương và thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân” [52, tr.236]

Đồng thời, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định rõ: “Công dân có quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Nhà nước

Trang 21

bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật” [50, tr.1]

Quán triệt những quan điểm chỉ đạo của Đảng, công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo cần phải được tăng cường để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước

ta trong thời gian vừa qua cho thấy, chính quyền và đội ngũ cán bộ có trách nhiệm ở một số nơi chưa nhận thức đúng và quán triệt đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề tôn giáo Trong quản

lý có nơi còn chủ quan, nóng vội và đơn giản khi giải quyết những vấn đề liên quan đến tôn giáo, dẫn đến vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; có nơi lại thụ động, buông lỏng quản lý dẫn đến việc một số hoạt động tôn giáo lấn lướt chính quyền, kỷ cương, phép nước không được giữ nghiêm

Chính vì vậy, cần phải tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, để một mặt khắc phục được những lệch lạc, phiến diện trong công tác quản lý, mặt khác vừa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và góp phần làm cho các hoạt động của tôn giáo theo đúng pháp luật

quản lý hoạt động xã hội nói chung và hoạt động tôn giáo nói riêng, hiện nay trước yêu cầu xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật và trước yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước về quản lý các hoạt động tôn giáo đang đặt ra cấp thiết

Ngày nay nhà nước ta đang tiến hành đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội đã được luật hóa một cách cụ thể Trong đó, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo được Đảng và Nhà nước ta xác định là những chính sách xã hội quan

Trang 22

trọng, có tính đặc thù, vì vậy cải cách hệ thống pháp luật quản lý các hoạt động tôn giáo là một yêu cầu khách quan

Hệ thống luật pháp về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam Hiện nay hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động tôn giáo ở nước ta đã có những bước phát triển đáng

kể, ngày càng hoàn thiện, cơ bản đáp ứng được yêu cầu bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Cụ thể là từ khi có Nghị quyết 24 –

NQ/TW năm 1990 của Bộ chính trị Về tăng cường công tác tôn giáo trong

tình hình m ới ra đời, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản luật nhằm quản

lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Đặc biệt, năm 2004, Pháp lệnh Tín

ng ưỡng, tôn giáo, được ban hành, đây là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý

cao nhất về quản lý và điều chỉnh mọi hoạt động trong lĩnh vực tôn giáo Bên cạnh đó, những quy định pháp lý liên quan đến hoạt động tôn giáo còn nằm trong những quy định của văn bản pháp luật về dân sự, về đất đai, về bảo tồn bảo tàng, về xây dựng,… Đó là những cơ sở pháp lý để nhà nước ta thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo và là những minh chứng cụ thể đấu tranh với các thế lực thù địch vu cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, vi phạm nhân quyền, góp phần ngăn chặn hành vi lợi dụng tôn giáo

Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, hệ thống pháp luật về tôn giáo đang trong quá trình hoàn thiện nên chưa bao quát hết được một số nội dung những hoạt động tôn giáo, chưa có tính cụ thể, đó là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng lúng túng của các cấp chính quyền trong công tác quản lý hoạt động tôn giáo ở cơ sở Vì vậy, trước yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và trước yêu cầu của công tác tôn giáo hiện nay, việc xây dựng hệ thống pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo cần tiếp tục được củng cố và hoàn thiện

Trang 23

Thứ tư, xuất phát từ âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch triệt

để lợi dụng các sơ hở, thiếu sót của ta trong việc quản lý nhà nước đối với tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo

Lợi dụng mở cửa, hội nhập, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục chống phá sự nghiệp đổi mới của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Tôn giáo tiếp tục là một trong những con bài quan trọng để chúng lợi dụng chống phá cách mạng, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo với những người không có tín ngưỡng, tôn giáo, thực hiện

âm mưu diễn biến hòa bình Trong âm mưu diễn biến hoà bình chống Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, kích động chống đối, nhằm làm mất ổn định chính trị - xã hội, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của ta Điều đáng chú ý là mỗi khi Nhà nước ta bổ sung hoặc ban hành văn bản pháp luật mới về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bảo đảm phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, thì họ lại dấy lên chiến dịch xuyên tạc,

vu cáo Nhà nước Việt Nam bóp nghẹt tự do tôn giáo, đòi phải bãi bỏ những văn bản pháp luật đó Họ đòi tôn giáo phải độc lập và không chịu sự quản lý

của Nhà nước Họ tâng bốc, ca ngợi tự do tôn giáo ở các nước tư bản: "Tôn

giáo được tự do hoạt động, không chịu sự quản lý của Nhà nước" Đây không

chỉ là luận điệu cố tình xuyên tạc công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở nước ta, mà còn kích động, nhằm làm cho dư luận ngộ nhận rằng, việc Nhà nước ta ban hành các văn bản pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo là đi ngược lại sự tiến bộ xã hội, tạo phản ứng tiêu cực trong một bộ phận chức sắc, nhà tu hành và quần chúng tín đồ

Từ những thực tế như trên, đòi hỏi chúng ta phải tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, qua đó nhằm đáp ứng nhu cầu tín

Trang 24

ngưỡng, tôn giáo chính đáng của nhân dân, mặt khác phải luôn cảnh giác chống lại âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch

Tất nhiên, tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo không đồng nhất với việc hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Mà thông qua tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, thì những hoạt động tôn giáo chính đáng, hợp pháp sẽ được Nhà nước bảo hộ, những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để thực hiện hành vi trái pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật

ta đối với tôn giáo

+ Mục tiêu cụ thể

bảo đảm được quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, bảo đảm cho các hoạt động tôn giáo được diễn ra bình thường theo quy định của pháp luật của Nhà nước

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của

con người đã được Công ước Quốc tế Về các quyền dân sự và chính trị của

Liên hợp quốc ghi nhận Nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo là một nhu cầu còn tồn tại lâu dài cùng với sự phát triển của xã hội loài người, chừng nào mà những nguồn gốc làm nảy sinh nó chưa giải quyết được

Trang 25

Trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định và bảo đảm quyền tự do tín

ngưỡng, tôn giáo của công dân Năm 1945, chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên

ngôn độc lập ở quảng trường Ba Đình lịch sử, ngay trong phiên họp đầu tiên

của Hội đồng lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu: “Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống…”; “Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết” [41, tr.130]

Trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, và Hiến pháp 1992 (sửa đổi) đều ghi nhận: “Công dân có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo nào” Ngày nay Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật” [29, tr.122]

Cùng với bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, phải bảo đảm cho các tổ chức, cá nhân tôn giáo được thực hiện các hoạt động tôn giáo và hành đạo một cách thuận lợi Để đảm bảo quyền này, Pháp lệnh Tín, ngưỡng tôn giáo đã quy định: “người có tín ngưỡng, tín đồ được tự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt, phục vụ lễ hội, lễ nghi tôn giáo và học tập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo” [37, tr.349-350]

Trong quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo cần phân biệt rõ mặt chính trị và tư tưởng trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo Mặt tư tưởng thể hiện tín ngưỡng tôn giáo thuần túy Mặt chính trị thể hiện sự lợi dụng tôn giáo

để chống lại sự nghiệp đấu tranh cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội của những phần tử phản động đội lốt tôn giáo Giải quyết vấn đề này vừa phải khẩn trương kiên quyết vừa phải thận trọng và có sách lược đúng Bên cạnh

Trang 26

đó cũng cần xác định được những hành vi lợi dụng tự do tín ngưỡng để hành nghề mê tín dị đoan thiệt hại về của cải cũng như ảnh hương đến đời sống tinh thần của người dân Do đó, cần phải đề ra những biện pháp quản lý phù hợp, tránh những hành động can thiệp vào công việc nội bộ của tôn giáo mà vẫn quản lý được các hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường theo đúng pháp luật Ngoài ra, trong các hoạt động tôn giáo, cần yêu cầu các tổ chức tôn giáo, tín

đồ, chức sắc, nhà tu hành chấp hành tốt các quy định của pháp luật Mọi hành

vi lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật đều bị phê phán, nghiêm cấm và xử

lý theo đúng quy định của nhà nước

được những mặt tích cực, khắc phục được những mặt hạn chế tiêu cực của tôn giáo đối với sự phát triển của xã hội

Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo phải phát huy được những yếu tố tích cực thể hiện trong giáo lý, giáo luật của tôn giáo Tôn giáo không

chỉ là việc đạo mà còn là việc đời, nó cũng quan tâm đến con người bằng cách

không chỉ nhằm thỏa mãn khát vọng nhận thức của họ mà còn đề ra các quy tắc, chuẩn mực điều chỉnh hành vi của tín đồ Ngoài những đóng góp vào nền đạo đức xã hội, tôn giáo còn có nhiều tương đồng với đạo đức xã hội, bởi lẽ mọi tôn giáo đều chủ trương khuyến thiện, trừ ác Vì vậy, nó có những vai trò nhất định trong việc hình thành đạo đức cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Chúa Giê Su dạy: Đạo đức là bác ái, Phật Thích ca dạy: Đạo đức là

từ bi, Khổng tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa” [51, tr.173] Người còn chỉ rõ khát vọng cao cả của các tôn giáo là: “Mục tiêu cao cả của Phật Thích Ca và Chúa Giê Su đều giống nhau: Thích Ca và Giê su đều muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng, tự do và thế giới đại đồng” [51, tr.173] Tính hướng thiện, từ bi, bác ái, vì con người của tôn giáo phải được khơi dậy trong ứng xử giữa con người với con người trong xã hội Tạo điều kiện cho tổ chức,

Trang 27

cá nhân tôn giáo tham gia cùng nhà nước và xã hội để giải quyết những vấn

đề của xã hội như: xã hội hóa hoạt động giáo dục, y tế, cứu trợ thiên tai, từ thiện nhân đạo Thông qua quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, phải giúp cho quần chúng từng bước xóa bỏ được những nhận thức lệch lạc về thế giới và con người, những luật lệ khắt khe của tôn giáo

được mục tiêu: đoàn kết đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không

có tín ngưỡng, tôn giáo, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Tôn giáo với bản chất, chức năng của mình có khả năng nhất định trong việc tạo ra sự liên kết xã hội chặt chẽ, củng cố tăng cường tính cộng đồng Sự cố kết, gắn bó của các tín đồ theo cùng một đạo là một trong những nét đặc trưng nổi bật của tôn giáo Mặt tích cực đó cần phát huy, chính sách đúng đắn hướng sự cố kết cộng đồng và khả năng liên kết xã hội của tôn giáo vào xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân Đặc biệt khi tình cảm tôn giáo biến thành tình cảm dân tộc, thành tâm lý, tập quán chung của cộng đồng sẽ góp phần tạo ra nội lực đoàn kết dân tộc chống lại sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai, là một động lực để xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Tuy nhiên sự cố kết cộng đồng trong một tôn giáo của các tín đồ cũng dễ dẫn đến nguy cơ chia rẽ, cục bộ, có thể làm rạn nứt xã hội giữa người theo đạo với người không theo đạo, giữa các tín đồ của tôn giáo khác nhau Đảng ta nhận định: “Tình hình hoạt động tôn giáo còn có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định” [51, tr.252] Vì vậy chính sách tôn giáo phù hợp đúng đắn sẽ tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, không để xảy ra tình trạng sự cố kết cộng đồng trong một tôn giáo, nhưng lại dẫn đến biệt lập, ảnh hưởng xấu đến đoàn kết toàn dân tộc Mục tiêu đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo luôn là bài học quan trọng, truyền thống quý báu, là tiền đề của mọi thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc

Trang 28

và trong công cuộc đổi mới đất nước Một đất nước đa dân tộc, nhiều tôn giáo như nước ta thì vấn đề đoàn kết càng trở nên quan trọng Muốn thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, giai cấp tầng lớp,… phải thống nhất được

“điểm tương đồng” làm cơ sở cho việc tăng cường đại đoàn kết Một khi thống nhất được “điểm tương đồng” thì tinh thần yêu nước được phát huy Không thống nhất “điểm tương đồng” thì không thể củng cố được khối đại đoàn kết toàn dân

“Điểm tương đồng” của đại đoàn kết có cội nguồn sâu xa của truyền thống lịch sử dân tộc, của tinh thần yêu nước của mọi con người Việt Nam Đồng bào dù theo tôn giáo hay không theo tôn giáo nào cũng đều có lòng yêu quê hương đất nước tha thiết, tình cảm gắn bó với mảnh đất mà mình sinh sống Đó là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết và xác định “điểm tương đồng” trong mỗi giai đoạn lịch sử Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh là mẫu số chung, là

“điểm tương đồng” lớn nhất của nhân dân ta, và đoàn kết dân tộc chính là động lực chủ yếu để chúng ta đạt được điều đó, như lời dạy của Bác Hồ:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”

Trong công tác tôn giáo, mục tiêu đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo càng quan trọng, vì tôn giáo luôn là một trong những công cụ, phương tiện được các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước lợi dụng nhằm thực hiện âm mưu chia rẽ người theo đạo và không theo đạo, nhằm thực hiện

âm mưu diễn biến hòa bình ở nước ta

tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động tôn giáo

Trong thực tế, tổ chức, cá nhân tôn giáo là một bộ phận của xã hội được nhà nước thừa nhận Vì vậy, hoạt động tôn giáo phải đặt dưới sự quản lý của

Trang 29

nhà nước và phải tuân thủ những quy định của nhà nước Mọi hành vi nhằm biến các tổ chức tôn giáo thành lực lượng đối trọng với nhà nước, thoát ly khỏi sự quản lý của nhà nước đều là bất hợp pháp Hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật của nhà nước, đều bị xử lý theo đúng pháp luật

Khi vai trò của nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo được tăng cường hiệu lực, thì hiệu quả của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

sẽ được nâng cao, các quy định của nhà nước được các tổ chức và cá nhân tín

đồ tôn giáo tự giác thực hiện nghiêm chỉnh, triệt để

* Nguyên t ắc quản lý

Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo không ngoài mục đích bảo đảm cho hoạt động tôn giáo diễn ra trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật vì lợi ích chung, trong đó có lợi ích của đồng bào có đạo và lợi ích của các tổ chức tôn giáo

Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo có một số nguyên tắc chính như sau:

Một là, nguyên tắc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi

công dân

Đảng và Nhà nước ta coi tự do tín ngưỡng là một nguyện vọng tha thiết với đồng bào có đạo, bởi vậy đi đôi với việc cải thiện đời sống cho nhân dân, Đảng và Nhà nước ta cũng tôn trọng tự do tín ngưỡng của đồng bào các tôn giáo

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (11-1946), Cương lĩnh của Đảng Lao động Việt Nam (3-1951), Sắc lệnh số 234/SL, ban hành chính sách tôn giáo, do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 14 - 6 - 1955 đều khẳng định: “Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng, quyền theo hoặc không theo một tôn giáo nào” [41, tr.137]

Trang 30

Sự nghiệp đổi mới đất nước từ 1986 đến nay đã thu được những thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực, trong đó có sự đổi mới tư duy về vấn đề tôn giáo Những quan điểm, Nghị định, chỉ thị,… phù hợp với tình hình tôn giáo trên thực tiễn Chỉ thị 37 – CT/TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới của

Bộ Chính trị ngày 02/07/1998 đã khẳng định:

“Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Mọi công dân đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo và người không theo đạo, cũng như giữa các tôn giáo khác nhau” [37, tr.325- 326]

Trong Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo cũng đã khẳng định:

“Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau [37, tr.344-345] Vì vậy, không phân biệt nghĩa vụ và quyền lợi của công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo Mọi công dân theo hoặc không theo tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng mọi quyền lợi công dân, đồng thời có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân Đây là nguyên tắc và cũng là nội dung quan trọng của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

Tuy nhiên, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là vô giới hạn,

vì quyền của người này, cộng đồng này khi vượt qua giới hạn nào đó có thể vi phạm vào quyền chính đáng của người khác, cộng đồng khác Tự do theo nghĩa chân chính của nó là tự do của người này, cộng động này không vi phạm và không ảnh hưởng đến tự do của người khác, cộng đồng khác:

Trang 31

Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác [51, tr.264]

Vì những lý do trên, nhà nước có trách nhiệm quản lý và điều chỉnh các hoạt động của cá nhân và tổ chức tôn giáo sao cho những hoạt động ấy diễn ra trong khuôn khổ của pháp luật, không ảnh hưởng đến hoạt động chung của xã hội

Hai là, nguyên tắc về tính thống nhất giữa sinh hoạt tôn giáo và bảo

t ồn các giá trị văn hóa

Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bao giờ cũng thể hiện qua sinh hoạt vật chất của con người Niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo được vật chất hóa trong đời sống xã hội thể hiện qua kinh sách, luật lệ, lễ nghi Các cơ sở thờ tự của tôn giáo thường là nơi thờ phụng của các tín đồ tôn giáo, đồng thời cũng là nơi gìn giữ văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Những công trình kiến trúc, những tác phẩm hội họa, điêu khắc, những bản nhạc, bài ca, trang phục đến bày biện, trang trí thực hiện các lễ nghi tôn giáo,… đều thể hiện nét văn hóa đặc trưng của từng tôn giáo cụ thể Vì vậy, sự tồn tại của tôn giáo cũng có nghĩa là sự bảo lưu văn hóa Việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc không thể không quan tâm đến sinh hoạt tín ngưỡng dân gian và tôn giáo truyền thống mà nhân dân ta đã lưu giữ qua nhiều đời nay

Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị văn hóa đích thực, vẫn có những hiện tượng phản văn hóa có trong tôn giáo Những hủ tục cũ trỗi dậy, mê tín

dị đoan gia tăng, thương mại hóa trong tôn giáo phát triển, những hiện tượng

Trang 32

ấy vẫn trà trộn vào sinh hoạt tôn giáo lành mạnh Nhà nước cần quản lý hoạt động tôn giáo để vừa giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, vừa loại bỏ dần những hiện tượng phản văn hóa trong tôn giáo

Ba là, nguyên tắc bảo đảm những hoạt động tôn giáo vì lợi ích chính đáng và hợp pháp của tín đồ

Những hoạt động tôn giáo vì lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân được khuyến khích Mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, ảnh hưởng tiêu cực đến nền văn hóa lành mạnh của dân tộc

và hoạt động mê tín dị đoan, đều bị lên án và xử lý vi phạm theo luật định

1.1.3 Chủ thể và khách thể trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

* Ch ủ thể quản lý

Chủ thể quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo được hiểu theo hai nghĩa:

Ngh ĩa rộng: Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo đó là

các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống lập pháp (Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp), các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp (Chính phủ và

Ủy ban nhân dân các cấp), các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống tư pháp (Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân)

Ngh ĩa hẹp: Chủ thể quản lý nhà nước trực tiếp đối với hoạt động tôn

giáo chỉ gồm các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp (Chính phủ và

Ủy ban nhân dân các cấp)

Trước đây, trong quản lý cũng như trong hoạt động thực tiễn, khi xác định chủ thể quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo người ta thường hiểu nghĩa hẹp, coi nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo chỉ là quá trình

Trang 33

chấp hành và điều hành theo Hiến pháp và pháp luật của hệ thống cơ quan hành pháp để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi trong hoạt động tôn giáo diễn ra trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Với quan niệm như vậy sẽ không thấy và phát huy được vai trò của hệ thống cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Trước yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, cần phải phát huy, đề cao vị trí, vai trò của các cơ quan này trong quản lý hoạt động tôn giáo

* Khách th ể quản lý:

Khách thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo chính là hoạt động tôn giáo của tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành

+ Tổ chức tôn giáo: là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống

giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, có tôn giáo được tổ chức thành một

hệ thống thống nhất từ Trung ương đến cơ sở như Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam, nhưng có tôn giáo trong quá trình phát triển do nhiều nguyên nhân bị tách ra thành nhiều hệ phái khác nhau, mỗi hệ phái tạo thành một tổ chức giáo hội hoạt động độc lập như Cao Đài, đạo Tin Lành,…

Trong mỗi tổ chức tôn giáo, tổ chức bộ máy được sắp xếp, tổ chức khác nhau Hệ thống tổ chức, bộ máy của tổ chức tôn giáo được quy định trong hiến chương, điều lệ của tổ chức và được nhà nước công nhận

Tổ chức tôn giáo có chức năng điều hành hoạt động của tôn giáo Trong mối quan hệ nội bộ của tổ chức, có tổ chức tôn giáo có quan hệ hành chính đạo rất chặt chẽ, cấp dưới phục tùng cấp trên Trong mối quan hệ với Nhà nước và xã hội, tổ chức tôn giáo (giáo hội) là đại diện cho tôn giáo để

Trang 34

giải quyết các công việc có quan hệ đến tôn giáo Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận đều thể hiện đường hướng hành đạo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, hoạt động tôn giáo cơ bản tuân thủ pháp luật

Đa số các tổ chức tôn giáo có mối liên hệ đồng đạo với tổ chức tôn giáo nước ngoài (đạo Công giáo, đạo Hồi, đạo Tin Lành, đạo Phật)

+ Tín đồ: là người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo với số lượng tín đồ chiếm khoảng 20% dân số cả nước Đặc điểm này cho thấy tôn giáo vẫn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Quản lý nhà nước phải thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm cho nhân dân thực hiện nhu cầu đó

Đồng bào tín đồ các tôn giáo vừa là công dân của đất nước, vừa là tín

đồ của một tôn giáo nhất định Là công dân, họ có mọi quyền và nghĩa vụ như mọi công dân khác Là tín đồ, họ có niềm tin tôn giáo sâu sắc, có tình cảm, có đời sống tâm linh ở nhiều mức độ khác nhau và họ có quyền và nghĩa vụ nhất định do giáo hội quy định, họ phải hành đạo theo giáo luật Đây chính là đặc điểm quan trọng mà chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo cần nắm vững, phải tạo điều kiện cho đồng bào tín đồ thực hiện được cả hai nghĩa

dựng đất nước với mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân

ch ủ, văn minh Đây là đặc điểm rất tích cực của đồng bào tín đồ Trong quản

Trang 35

lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo phải phát huy được những điểm tích cực, khơi dậy những truyền thống quý báu trong đồng bào, coi đó là một yếu tố quan trọng góp phần phát huy nội lực để xây dựng đất nước

Bên cạnh đại đa số đồng bào tín đồ có tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc sâu sắc, thì vẫn còn một số tín đồ do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong hoạt động tôn giáo còn chưa tuân thủ pháp luật, bị các thế lực thù địch lợi dụng, nghe theo kẻ xấu tham gia các vụ gây rối trật tự công cộng Đây là đặc điểm cần hết sức lưu ý trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Vì vậy, trong quản lý cần bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; thường xuyên chăm lo phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho đồng bào có đạo, phải lấy việc nắm dân làm then chốt, không được kỳ thị, không tạo cơ hội cho kẻ thù lợi dụng Đồng thời không quên và thường xuyên đề cao cảnh giác trước các âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch trong đồng bào có đạo

+ Chức sắc, nhà tu hành:

- Chức sắc là tín đồ có chức vụ, phẩm sắc trong tôn giáo

- Nhà tu hành là tín đồ tự nguyện thực hiện thường xuyên nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tin theo

- Chức sắc, nhà tu hành, trước hết là tín đồ thuộc một tổ chức tôn giáo nhất định, vì vậy họ cũng có những đặc điểm chung của một tín đồ Song khác với tín đồ, đặc biệt là đội ngũ chức sắc, họ là những người được tổ chức tôn giáo lựa chọn, đào tạo cơ bản nên trình độ, năng lực của họ khá cao, được

tổ chức tôn giáo phong chức, phong phẩm, bầu cử, suy cử

Trong quan hệ với tín đồ, họ là những người rất gần gũi với tín đồ, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của tín đồ, chia sẻ buồn vui cùng tín đồ, rất

có uy tín và là người nắm “phần hồn” của tín đồ Vị trí, vai trò của họ có ảnh hưởng rất sâu sắc trong quần chúng tín đồ

Trang 36

Trong quan hệ với Nhà nước, chức sắc, nhà tu hành, là những người đại diện cho tổ chức tôn giáo để giải quyết các công việc liên quan đến tôn giáo

1.1.4 Những nội dung và phương pháp quản lý của nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

* N ội dung cơ bản

Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo gồm nhiều công việc:

- Xây dựng chiến lược, kế hoạch dài hạn, năm năm và hằng năm thuộc lĩnh vực tôn giáo;

- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;

- Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;

- Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;

- Quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo;

- Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo;

- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động tôn giáo;

Tất cả những công việc trên có mối liên hệ mật thiết với nhau, để làm tốt công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo cần chú trọng thực hiện tốt tất cả các công việc này

* N ội dung cụ thể

Nội dung cụ thể về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo gồm nhiều lĩnh vực như sau:

- Công nhận tổ chức tôn giáo;

- Quản lý hoạt động tổ chức tôn giáo;

- Quản lý về bồi dưỡng, đào tạo của các tổ chức tôn giáo;

Trang 37

- Quản lý việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử trong tôn giáo;

- Quản lý các chương trình mục vụ thường xuyên, đột xuất của tôn giáo;

- Quản lý về đại hội, hội nghị và một số việc thuộc hành chính đạo của

tổ chức tôn giáo;

- Quản lý việc sửa chữa, xây dựng cơ sở vật chất của tôn giáo, kinh doanh, xuất nhập khẩu kinh sách tôn giáo và đồ dùng việc đạo;

- Quản lý hoạt động từ thiện xã hội của các tổ chức, cá nhân tôn giáo;

- Quản lý các hoạt động quốc tế của tổ chức, cá nhân tôn giáo

* Ph ương pháp quản lý

Phương pháp quản lý là cách thức mà các cơ quan nhà nước sử dụng để tác động vào đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý Để thực hiện các mục tiêu trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo đã đề cập trên đây, có thể kể tới một số phương pháp cơ bản sau đây:

- Phương pháp giáo dục, thuyết phục

Nếu như trong quản lý hành chính nhà nước nói chung, mệnh lệnh hành chính (mệnh lệnh – phục tùng) là phương pháp chủ yếu, thường được sử dụng, thì phương pháp giáo dục, thuyết phục có thể coi là phương pháp hàng đầu quyết định đến hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Phương pháp này được khẳng định tại Nghị quyết số 25-NQ/TƯ

ngày 12/3/2003 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX Về công tác

tôn giáo: “Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng”

- Phương pháp hành chính

Là phương pháp tác động trực tiếp của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng các mệnh lệnh hành chính buộc đối tượng quản lý phải phục

Trang 38

tùng Trong quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo phương pháp này cũng hết sức cần thiết

- Phương pháp kinh tế

Thực chất của phương pháp này là dùng những lợi ích vật chất để tác động vào đối tượng quản lý, qua đó hướng hoạt động của đối tượng quản lý phù hợp với ý chí của nhà quản lý

- Phương pháp cưỡng chế

Các quyết định quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành đều phải được tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc thực hiện nghiêm chỉnh Trường hợp họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo những quyết định quản lý phải bị xử lý theo pháp luật Cưỡng chế là phương pháp quan trọng để đảm bảo hiệu lực của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

Ngoài các phương pháp quản lý cơ bản trên đây, trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo các cơ quan Nhà nước còn sử dụng một số phương pháp khoa học khác như phương pháp thống kê, điều tra xã hội học, phương pháp kế hoạch hóa,… để phục vụ công tác quản lý

1.2 Tình hình kinh tế, xã hội và tôn giáo của tỉnh Ninh Bình

1.2.1 Một số nét khái quát về tỉnh Ninh Bình

* Điều kiện tự nhiên

Tỉnh Ninh Bình nằm ở cực Bắc đồng bằng Bắc bộ, phía Đông giáp tỉnh Nam Định, phía Đông Bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Tây Nam giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Tây và Tây Bắc giáp với Hòa Bình, phía Đông Nam giáp vịnh Bắc

Bộ Trung tâm tỉnh là thành phố Ninh Bình cách thủ đô Hà Nội 93 km về phía Nam Ở vị trí điểm mút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng, Ninh Bình bao gồm cả ba loại địa hình Vùng đồi núi bán sơn địa ở phía Tây Bắc bao gồm các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp; vùng đồng bằng

Trang 39

ven biển ở phía Đông Nam thuộc 2 huyện Kim Sơn và Yên Khánh Xen giữa

2 vùng lớn là vùng chiêm trũng chuyển tiếp Ninh Bình có bờ biển dài 18km

Bờ biển Ninh Bình hàng năm được phù sa bồi đắp lấn ra trên 100m

Ninh Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa: mùa nóng, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10; mùa lạnh, khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.700-1.800 mm; nhiệt độ trung bình 23,5 °C; số giờ nắng trong năm: 1.600-1.700 giờ; độ ẩm tương đối trung bình: 80-85% Diện tích: 1.400 km², dân số (điều tra dân số 01/04/2009): 898.459 người với mật độ dân số 642 người/km

Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Ninh Bình là: 138.907,3 ha Trong

đó, đất nông nghiệp: 96.705,0 ha; đất lâm nghiệp: 28.851,6 ha; đất nuôi trồng thủy sản: 5.815,1 ha; đất phi nông nghiệp: 30.479,3 ha; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng: 5.095,2 ha; đất chưa sử dụng: 11.723,0 ha [19, tr.16]

Diện tích đất rừng chiếm 20,8% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, trong

đó có có một phần Vườn Quốc gia Cúc Phương- vườn quốc gia đầu tiên tại Việt Nam (khu rừng đặc dụng nằm trên địa phận ranh giới ba tỉnh: Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa) Vườn quốc gia này có hệ động thực vật phong phú đa dạng mang đặc trưng rừng mưa nhiệt đới

Về giao thông, Ninh Bình là một điểm nút giao thông quan trọng, có cả đường bộ, đường sắt, đường thủy Tất cả các huyện, thành phố, thị xã đều có đường quốc lộ đi qua: Quốc lộ 1A xuyên Việt đi qua các huyện Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô, thành phố Ninh Bình và thị xã Tam Điệp với tổng chiều dài gần 40 km; quốc lộ 10 nối từ Quảng Ninh qua các tỉnh duyên hải Bắc bộ: Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định tới thành phố Ninh Bình đi các huyện Yên Khánh, Kim Sơn; Quốc lộ 12B nối thị xã Tam Điệp, Nho Quan với đường

Hồ Chí Minh, tỉnh Hoà Bình và Vĩnh Phúc; Quốc lộ 45 nối Nho Quan với Thanh Hóa

Trang 40

Về giao thông đường sắt Ninh Bình có trục đô thị Tam Điệp – Ninh Bình nằm trên tuyến đường sắt Bắc-Nam Trên địa bàn tỉnh có các ga Ninh Bình, ga Cầu Yên, ga Ghềnh và ga Đồng Giao Theo quy hoạch xây dựng mới, đường sắt cao tốc Bắc Nam đặt ga chính ở Ninh Bình

Về giao thông đường thủy Ninh Bình có hệ thống sông hồ dày đặc với các con sông chảy liên tỉnh như: sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Càn và hệ thống các sông nội tỉnh như: sông Vạc, sông Vân, sông Bôi, sông Lạng, sông Bến Đang và các hồ lớn như hồ Đồng Thái, hồ Yên Quang, hồ Yên Thắng đem lại nguồn lợi đáng kể về tưới tiêu, giao thông và khai thác thuỷ sản Cảng Ninh Phúc là cảng sông cấp I quốc gia Ngoài ra có cảng Ninh Bình, cảng Cầu Yên, cảng Non Nước, cảng Bình Minh và cảng Phát Diệm

* Tình hình kinh t ế

Ninh Bình có vị trí quan trọng của vùng cửa ngõ miền Bắc và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Đây là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hoá giữa khu vực châu thổ sông Hồng với Bắc Trung Bộ, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với vùng rừng núi Tây Bắc Thế mạnh kinh tế nổi bật của Ninh Bình

là các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch

Trong những năm gần đây kinh tế Ninh Bình liên tục tăng trưởng ở mức

2 con số, năm 2005 chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp thứ 41/42, năm 2006 vươn lên xếp thứ 18/64, năm 2007 xếp thứ 24/64, năm 2008 xếp 23/63, liên tục đứng thứ 5 ở miền Bắc Trong khi diện tích và dân số tỉnh chỉ đứng thứ 56/64 và 43/64 “Cơ cấu kinh tế trong GDP năm 2010: công nghiệp - xây dựng: 40,9%;

Nông, lâm - ngư nghiệp: 15,8%; Dịch vụ: 35,3%.” [31, tr.2]

Ninh Bình có tiềm năng và thế mạnh phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng với số lượng nhà máy sản xuất xi măng nhiều trong đó nổi bật là các doanh nghiệp xi măng The Vissai, xi măng Hệ Dưỡng (công suất 3,6 triệu tấn/năm), xi măng Tam Điệp, xi măng Phú Sơn, xi măng Duyên Hà (công suất 0,6 triệu

Ngày đăng: 08/12/2015, 13:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ương (1998), Chỉ thị 37/ CT-TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ch"ỉ" th"ị" 37/ CT-TW v"ề" công tác tôn giáo trong tình hình m"ớ"i
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương
Năm: 1998
2. Ban Tôn giáo Chính phủ (2001), Các v ăn bản pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các v"ă"n b"ả"n pháp lu"ậ"t liên quan "đế"n tín ng"ưỡ"ng, tôn giáo
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2001
3. Ban Tôn giáo Chính phủ (2008), Tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và công tác qu"ả"n lý nhà n"ướ"c "đố"i v"ớ"i các ho"ạ"t "độ"ng tôn giáo
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2008
4. Ban Tôn giáo Chính phủ, Báo cáo tổng kết công tác quản lý nhà nước v ề tôn giáo năm 2005. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo t"ổ"ng k"ế"t công tác qu"ả"n lý nhà n"ướ"c v"ề"tôn giáo n"ă"m 2005
5. Ban Tôn giáo Chính phủ, Báo cáo tổng kết công tác quản lý nhà nước v ề tôn giáo năm 2006. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo t"ổ"ng k"ế"t công tác qu"ả"n lý nhà n"ướ"c v"ề"tôn giáo n"ă"m 2006
6. Ban Tôn giáo Chính phủ, Báo cáo tổng kết công tác quản lý nhà nước v ề tôn giáo năm 2007. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo t"ổ"ng k"ế"t công tác qu"ả"n lý nhà n"ướ"c v"ề"tôn giáo n"ă"m 2007
7. Ban Tôn giáo Chính phủ, Báo cáo tổng kết công tác quản lý nhà nước v ề tôn giáo năm 2008. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo t"ổ"ng k"ế"t công tác qu"ả"n lý nhà n"ướ"c v"ề"tôn giáo n"ă"m 2008
8. Ban Tôn giáo Chính phủ, Báo cáo tổng kết công tác quản lý nhà nước v ề tôn giáo năm 2009. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo t"ổ"ng k"ế"t công tác qu"ả"n lý nhà n"ướ"c v"ề"tôn giáo n"ă"m 2009
9. Ban Tôn giáo Chính phủ, Báo cáo tổng kết công tác quản lý nhà nước v ề tôn giáo năm 2010. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo t"ổ"ng k"ế"t công tác qu"ả"n lý nhà n"ướ"c v"ề"tôn giáo n"ă"m 2010
10. Ban Tôn giáo Chính quyền tỉ nh Ninh Bình (2005), Đánh giá tổng kết tình hình tôn giáo từ 1995-2005 ở Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: ánh giá t"ổ"ng k"ế"t tình hình tôn giáo t"ừ" 1995-2005 "ở
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính quyền tỉ nh Ninh Bình
Năm: 2005
11. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (2000), Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ấ"n "đề" tôn giáo và chính sách tôn giáo c"ủ"a "Đả"ng C"ộ"ng s"ả"n Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
12. B ộ Chính trị (1990), Nghị quyết số 24 – NQ/TW về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị" quy"ế"t s"ố" 24 – NQ/TW v"ề" t"ă"ng c"ườ"ng công tác tôn giáo trong tình hình m"ớ"i
Tác giả: B ộ Chính trị
Năm: 1990
13. B ộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học. Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ch"ủ" ngh"ĩ"a xã h"ộ"i khoa h"ọ"c
Tác giả: B ộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2006
14. B ộ Nộ i vụ (2004), Thông tư số 25/TT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm v ụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân quản lý nhà nước v ề công tác tôn giáo ở địa phương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông t"ư" s"ố" 25/TT-BNV h"ướ"ng d"ẫ"n ch"ứ"c n"ă"ng, nhi"ệ"m v"ụ", quy"ề"n h"ạ"n và c"ơ" c"ấ"u t"ổ" ch"ứ"c c"ơ" quan chuyên môn giúp "Ủ"y ban nhân dân qu"ả"n lý nhà n"ướ"c v"ề" công tác tôn giáo "ở đị"a ph"ươ"ng
Tác giả: B ộ Nộ i vụ
Năm: 2004
16. Công an nhân dân t ỉnh Ninh Bình (1995), Tổng k ết lịch sử Công tác đấu tranh chống phản động lợi dụng đạo Công giáo ở Ninh Bình từ 1945 đến 1995, Lưu trữ tại Sở Công an tỉ nh Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ổ"ng k"ế"t l"ị"ch s"ử" Công tác "đấ"u tranh ch"ố"ng ph"ả"n "độ"ng l"ợ"i d"ụ"ng "đạ"o Công giáo "ở" Ninh Bình t"ừ" 1945 "đế"n 1995
Tác giả: Công an nhân dân t ỉnh Ninh Bình
Năm: 1995
17. Chính phủ (2004), Nghị định số 26-NĐ/CP về các hoạt động tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị đị"nh s"ố" 26-N"Đ"/CP v"ề" các ho"ạ"t "độ"ng tôn giáo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
18. Chính phủ (2005), Nghị định số 22-NĐ/CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị đị"nh s"ố" 22-N"Đ"/CP h"ướ"ng d"ẫ"n thi hành m"ộ"t s"ốđ"i"ề"u c"ủ"a Pháp l"ệ"nh tín ng"ưỡ"ng, tôn giáo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
19. Cục thống kê Ninh Bình (2010), Niên giám thống kê 2009, Nxb Thống kê, Hà Nộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám th"ố"ng kê 2009
Tác giả: Cục thống kê Ninh Bình
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2010
20. Nguyễn H ồng Dương (2004), Tôn giáo trong mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo trong m"ố"i quan h"ệ" v"ă"n hóa và phát tri"ể"n "ở" Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Nguyễn H ồng Dương
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
21. Nguyễn H ồng Dương - Thượng tọa Thích Thọ Lạc (đồng chủ biên) (2010), Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê trong công cuộc dựng nước và giữ nước, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph"ậ"t giáo th"ờ"i "Đ"inh và Ti"ề"n Lê trong công cu"ộ"c d"ự"ng n"ướ"c và gi"ữ" n"ướ"c
Tác giả: Nguyễn H ồng Dương - Thượng tọa Thích Thọ Lạc (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w