1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra tài nguyên xây dựng bảo tàng nấm vườn quốc gia cát tiên

109 341 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 11,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ yêu cầu đĩ, chúng tơi tiến hành nghiên cứu trên các lồi nấm mộc nhĩ Auricularia spp., và trong thời gian qua, điều tra cơ bản khu hệ cho thấy cĩ đến 6 lồi, trong đĩ mộc nhĩ

Trang 1

LÊ XUÂN THÁM, Ph D

NẤM

TRONG CÔNG NGHỆ

& CHUYỂN HÓA

Trang 2

LÊ XUÂN THÁM, Ph D

NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT

Hà nội – Tp Hồ Chí Minh - 2009

Trang 4

SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM TỈNH ĐỒNG NAI

Chuyên luận V trong Đề tài:

“Phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra tài nguyên

xây dựng Bảo tàng Nấm Vườn Quốc gia Cát tiên”

Trang 5

MỞ ĐẦU

Gần 55 năm kể từ công trình kinh điển của Lowy (1951, 1952) về tổng quan chi nấm Mộc nhĩ Auricularia – và cũng là nội dung chính của luận án Tiến sĩ của ông trình tại Đại học Iowa, Hoa kỳ năm 1951, và hơn 25 năm kể từ công trình của Kobayasi (1981), đã cho chúng ta một hệ thống khái quát tương đối đầy đủ nhóm nấm đặc sắc này Tuy nhiên cho đến nay có rất ít ghi nhận mới, và Auricularia vẫn là một chi rất khó phân lọai của nấm bậc cao.

Trên thế giới, nghề trồng nấm đã được hình thành và phát triển hàng trăm năm nay Ở nhiều nước sản xuất và chế biến nấm phát triển thành ngành nghề ở trình độ cao theo phương thức cơng nghiệp hiện đại Tại Việt Nam, quốc gia được đánh giá là cĩ điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khá thuận lợi cho việc sản xuất nấm, cũng đang cĩ những bước phát triển đáng mừng, ngành trồng nấm ngày càng được quan tâm đẩy mạnh phát triển

Tuy nhiên, trong xu hướng ngày càng mở rộng của thị trường nấm địi hỏi khả năng đáp ứng khơng chỉ đầy đủ về số lượng, chất lượng mà cịn phải đa dạng về mẫu mã chủng loại Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á, khu vực cĩ nhiều cường quốc trong cơng nghệ sản xuất nấm mà khơng thể khơng nĩi đến - người láng giềng khổng lồ Trung Quốc (chiếm khoảng 80% tổng sản lượng nấm thế giới) Trong khi đĩ tại Việt Nam chủ đạo vẫn chỉ là Mộc nhĩ, nấm rơm và một vài loại nấm khác, tính cạnh tranh thấp, quả thật chưa tương xứng với những tiềm năng mà chúng ta đang cĩ Do đĩ, để phát triển nghề nấm bền vững, cần quan tâm đến tính đa dạng trong sản xuất, chú trọng đầu tư phát triển nuơi trồng nhiều loại nấm khác nhau để tận dụng tối đa các phụ phế phẩm nơng nghiệp sẵn cĩ và chủ động tạo ra các giống nấm cho riêng mình, đủ sức cạnh tranh trên thị trường cả trong nước lẫn quốc tế Xuất phát từ yêu cầu đĩ, chúng tơi tiến hành nghiên cứu trên các lồi nấm mộc nhĩ Auricularia spp., và trong thời gian qua, điều tra cơ bản khu hệ cho thấy cĩ đến 6 lồi, trong đĩ mộc nhĩ lưới Auricularia delicata (Fr.) Henn với dạng f purpurea Y Kobayasi là đối tượng nghiên cứu chính, một lồi nấm mộc nhĩ được nghiên cứu chi tiết đầu tiên ở Cát tiên – Đồng nai - Đà lạt, Lâm đồng (Lê Xuân Thám và cộng sự, 1998) và mới đây phát hiện tại Vườn Quốc gia Cát Tiên ở Đồng Nai - Lâm Đồng Từ đĩ gĩp phần vào cơng tác bảo tồn nguồn gene cĩ giá trị và đánh giá sơ bộ về tiềm năng kinh tế của giống nấm mới này

Tìm hiểu khả năng phát triển của các lồi nấm mộc nhĩ và mộc nhĩ lưới A delicata trên các mơi trường giá thể phù hợp với điều kiện sản xuất nhằm khảo sát sơ bộ về khả năng đưa ra sản xuất đại trà loại nấm này

Tìm kiếm, thu thập trong tự nhiên và phân lập nguyên chủng giống các lồi nấm mộc nhĩ và cụ thể là mộc nhĩ lưới A delicata trên mơi trường thuần khiết

Mơ tả chi tiết hình thái nấm mộc nhĩ A delicata

Nắm rõ qui trình sản xuất cácnấm mộc nhĩ, từ đĩ nuơi trồng và đánh giá sự phát triển của nấm mộc nhĩ A delicata trên các điều kiện mơi trường phù hợp tương ứng Nuơi trồng ra thể quả nấm Auricularia delicata (Fr.) Henn f purpurea Y Kobayasi trong điều kiện sản xuất

Trang 6

Điều hết sức thú vị, có lẽ chỉ là ngẫu nhiên, trong khi Rừng Quốc gia Cát tiên, Đồng nai còn lưu giữ tự nhiên toàn bộ gần 10 loài nấm mộc nhĩ của nước ta, thì cũng chính tại Đồng nai, công nghệ nuôi trồng mộc nhĩ phát đạt nhất trong cả nước Tổng sản lượng vùng làng nấm Long khánh hàng năm cho doanh số tới hàng trăm tỷ đồng Riêng Cơ sở Nấm Công thành của ông Bùi Quang Trung ở Long Khánh cũng thu tới ~10 tỷ VNđ/năm, trở thành một doanh nghiệp gia đình nấm tầm cỡ, có năng lực công nghệ sản xuất, nuôi trồng hàng đầu, vượt trên cả các cơ sở nhà nước về nấm ở Việt nam Trong tập chuyên luận này xin dành một chương trang trọng giới thiệu tấm gương doanh nghiệp lớn này, với mong muốn nước ta sẽ có nhiều điển hình như thế Để công nghệ nấm Việt nam vươn mình cất cánh

GSTS Akira Suzuki thăm Làng Nấm Long Khánh, Đồng Nai

, 7 tháng 2 năm 2009

Trang 7

CHƯƠNG I

PHỔ BIẾN Ở VIỆT NAM

Nấm mộc nhĩ bắt đầu được nuôi trồng vào khoảng năm 600 Công nguyên, sau 1400 năm nay đã đạt trên 10% tổng sản lượng nấm nuôi trồng trên thế giới

Trang 8

TỔNG QUAN VỀ NẤM MỘC NHĨ

TÀI NGUYÊN – ĐA DẠNG SINH HỌC

I Hệ thống học chi Mộc nhĩ Auricularia Bull.: Mérat và quan điểm loài

I .1 Vấn đề hệ thống học chi Auricularia

Chi Mộc nhĩ Auricularia Bulliard: Mérat (1821), thuộc Họ Mộc nhĩ Auriculariaceae,

là một trong những taxon rất khó phân loại của nấm thượng đẳng Họ Mộc nhĩ

Auriculariaceae (với chi Auricularia quan trọng nhất), Bộ Auriculariales, thuộc lớp

Nấm dị đảm hay là Nấm đảm đa bào (Heterobasidiomycetes) đã được thừa nhận là taxon độc lập

Thống kê cho đến gần đây cho con số khoảng 120 loài danh pháp đã được công bố trong vòng 2 thế kỷ qua Trong đó, theo Gs Y Kobayasi (1981) chỉ khoảng 15 loài là

hợp lý Có đến trên 30 loài thực ra thuộc về các chi nấm hoàn toàn khác: Thelephora,

Phlebia, Stereum, Exidia, … Có đến trên 20 loài được mô tả quá sơ sài hoặc không có mẫu mực, cần phải được kiểm tra lại Như vậy, còn khoảng trên 50 loài khác chỉ là tên đồng nghĩa (Synonym) hoặc chỉ là tên trần (Nomina nuda), theo nhận định của Lowy (1952)

Gần 60 năm về trước, B Lowy (1951) đã trình một Luận án Ph.D kế tục công trình của Gs W Martin (1943), tại Đại học bang Iowa (Hoa Kỳ), đặt cơ sở cho việc phân

loại hệ thống chi Auricularia Theo đó, 10 loài đã được chuẩn định với các sưu tập mẫu hầu khắp thế giới: A auricula (Hook.) Underw., A cornea (Ehrenb.: Fr.) Ehrenb.: Endl., A delicata (Fr.) Henn., A emini Henn., A fuscosuccinea (Mont.) Farlow, A

mesenteria Pers., A ornata Pers., A peltata Lloyd, A polytricha (Mont) Sacc và A tenuis (Lév.) Farlow

Những đặc điểm hình thái giải phẫu thể quả, mà chủ yếu là cấu tạo phân lớp lát cắt dọc do Lowy khảo nghiệm và đề nghị, được hầu hết các tác giả áp dụng cho việc xác định loài Mô tả tổng quát dưới đây cho thấy sự thống nhất khái niệm của Lowy (1951)

và Kobayasi (1981) về cấu tạo nhiều lớp của thể quả:

1 Lớp lông (Zona pilosa):

Đây là lớp trên cùng của thể quả, chỉ bao gồm các lông cứng (hairs), ý nghĩa của lớp

này trong phân loại các loài Auricularia được coi trọng và đã được thừa nhận rộng rãi

Tuy nhiên, tính biến động thường xuyên của lớp lông mặt trên bất thụ cũng chứng tỏ giá trị phân loại hạn chế của chúng

2 Lớp đặc (Zona compacta):

Lớp này có ở tất cả các loài, có thể coi là miền mà từ đó các lông cứng mọc lên Lớp này gồm các mô chắc sợi đan xen dày, song đường kính chỉ cỡ 3 – 5µm Hệ sợi cấu tạo này gồm các mô khá rắn chắc và khó tách rời riêng rẽ

Trang 9

3 Lớp nửa đặc bên trên (Zona subcompacta superioris):

Lớp này cấu tạo gồm các bó sợi chìm ngập, sợi cỡ 3 – 7µm Có ở tất cả các loài

Auricularia

4 Lớp xốp bên trên (Zona laxa superioris):

Lớp này nằm ngay bên trên lớp lõi tủy cùa những loài có lớp tủy (medullary layer) Hệ sợi cấu tạo tương đối ken khít, sắp xếp như mạng lưới, tạo thành nhiều mạng

gân (anastomose) Hệ sợi khá tách bạch, đường kính sợi biến động từ 3 – 8µm

5 Tủy (Medulla):

Lớp này có ở nhiều loài, thể hiện đặc trưng ở lát cắt dọc thể quả Cấu trúc đặc thù này luôn luôn định vị ở giữa tiếp giáp vào bề mặt trên của bào tầng Hệ sợi cấu tạo

nằm song song và tương đối đồng nhất, cỡ 6 – 10µm

6 Lớp xốp bên dưới (Zona laxa inferioris):

Ở những loài có lõi tủy, lớp này cấu tạo đặc thù như lớp xốp bên trên Lớp này vắng mặt ở những loài không có tủy

7 Lớp trung gian (Zona intermedia or Zona laxa intermedia):

Lớp này nằm ở vùng trung tâm thể quả ở những loài không có lớp tủy Thực tế đây là tổ hợp của lớp xốp bên trên và bên dưới, nằm giữa các lớp nữa đặc (subcompacta) Cấu trúc lớp này hầu như đồng nhất với lớp xốp bên trên, chỉ khác là ở lớp này sợi nấm rộng hơn (5 – 10µm)

8 Lớp nửa đặc bên dưới (Zona subcompacta inferioris):

Lớp này có ở tất cả các loài và có cấu tạo đặc trưng như lớp nửa đặc bên trên

9 Bào tầng (Hymenium):

Đây là lớp keo nhầy nằm dưới cùng của tán nấm Đảm bào hình trụ dài, gồm 4 tế bào xếp liên tiếp nhau theo chiều dọc Do đó ta thấy 3 vách ngăn ngang Từ mỗi tế bào đảm, phát xuất tiểu bính dạng que dài, mảnh, xuyên qua lớp bì dai và lớp màng bề mặt,

để đưa bào tử đảm hình trụ - hạt đậu (trên đầu các tiểu bính) ra bên ngoài bào tầng

Cấu trúc phân lớp cắt dọc thể quả (Kobayasi, 1981)

Trang 10

Cấu trúc phân lớp cắt dọc thể quả (Lowy, 1951)

Qua gần nửa thế kỷ nghiên cứu các nấm Mộc nhĩ, Gs Kobayasi (1981) đã tổng kết hầu hết các tư liệu cho đến gần đây và xây dựng hệ thống cơ bản cho khoảng 15 loài, sắp sếp trong 4 nhóm (Section):

Chi Auricularia Bulliard: Mérat

1 Sect Euauricularia Y Kobayasi (1942): Thể quả có chất da từng phần, ngoại trừ bào tầng chất keo nhầy Bào tầng nhẵn hoặc nổi gân Lớp tủy có hoặc không

6 A cornea (Ehrenb.: Fr.) Ehrenb.: Endl

7 A polytricha (Mont.) Sacc f leucochroma

8 A tenuis (Lév.) Farlow

9 A eximina (Berk et Cooke) Y Kobayasi

10 A papyracea Yasuda

Trang 11

3 Sect Laschia Donk: Thể quả chất keo Bào tầng dạng gờ lỗ hoặc gờ lưới Không có lớp tủy

4 Sect Mollis: Thể quả mỏng, chất keo mềm Bào tầng nhẵn mịn Có lớp tủy

14 A fuscosuccinea (Mont.) Farlow

15 A fibrilifera Y Kobayasi Các loài Auricularia có phân bố rộng khắp thế giới, từ các vùng ôn đới đến vùng nhiệt đới Điều này không có nghĩa là các loài đều có mặt ở các vùng Chẳng hạn người

ta chỉ có thể gặp A emini ở Châu Phi chứ không tìm thấy ở nơi khác Nói chung số loài

ở vùng nhiệt đới nhiều hơn số loài ở vùng ôn đới Trong số những loài đã biết, A

delicata, A tenuis và A emini chỉ thấy ở miền nhiệt đới (Cheng and Tu, 1978), còn A

mesenterica, A ornata và, A polytricha gặp cả ở miền nhiệt đới và á nhiệt đới Hai loài

A cornea và A fuscosuccinea thích ứng nhiệt rộng hơn, phân bố từ miền ôn đới sang

miền nhiệt đới Tuy nhiên A auricula là loài ôn đới và đôi khi phát hiện thấy ở vùng á

nhiệt đới

Phân bố của các loài Mộc nhĩ chịu ảnh hưởng lớn bởi con người A auricula và

A polytricha rất dễ gặp ở Florida từ 1972 – 1974, trên các cây gỗ mục chết, ở gần Gainesville (gần Đại học Florida, nơi các nhà nghiên cứu tiến hành nhiều thí nghiệm với chúng) Rồi từ đó chúng lan cả sang Miami, đúng như khảo cứu của Murrill (1972)

Trang 12

Đài Loan là một thí dụ thú vị Kanehira (1918) tìm được A auricula, Sawada (1931) thu được A delicata và A polytricha, Hou và Wu (1971) tìm thấy A mesenterica, Tu

và Cheng (1975) tìm được A cornea, A peltata và A fuscosuccinea Như vậy trên một

hòn đảo nhỏ chỉ có 35.709 km2 mà có tới 7 loài Auricularia Điều đó liên quan đến

truyền thống khoái khẩu và dược dụng của người Trung Hoa đối với nấm Mộc nhĩ

Trang 13

Phân bố mộc nhĩ trên thế giới theo Kobayasi (1981)

Trang 14

Quần đảo Philippines có đến 13 loài (Teodoro, 1937), song sau này Quimio và

de Guzman (1989) đã kiểm tra xác nhận chỉ có 8 loài hợp danh pháp Trung Hoa lục địa cũng có 8 loài đã được xác nhận và Việt Nam có lẽ không chỉ giới hạn với 5 – 6 loài (Trịnh Tam Kiệt, 1981, Lê Duy Thắng, 1996) Không nghi ngờ gì, vùng Đông Nam Á

có thể là một trong những vùng phân bố dày đặc các loài Auricularia

Trang 15

Phân bố mộc nhĩ trên thế giới theo Lowy (1952)

Trang 16

Tính tương đồng trong cấu tạo đảm và bào tử các lồi mộc nhĩ

(Lowy, 1952)

I.2 Vấn đề loài A auricularia, A polytricha, A delicate,…

Đây là 3 loài phổ biến, có giá trị kinh tế, rất được ưa chuộng ở các nước châu Á, và 2 loài

đầu vốn được nuôi trồng rất rộng rãi ở Việt nam Tuy nhiên giới hạn loài trong chi Auricularia còn

chưa được phân định rõ, vì rằng quan điểm rất dị biệt giữa các nhà nghiên cứu Gần đây, những dẫn liệu phân tử, mà chủ yếu là đặc trưng cấu trúc DNA gene ribosome đã bắt đầu được kiểm tra

cho 2 loài: A auricula và A polytricha, chứng tỏ mối quan hệ gần gũi của chúng Tuy nhiên vẫn

còn quá ít ỏi để giải quyết vấn đề loài và hệ thống học của nhóm nấm đặc sắc này

Quan điểm loài hình thái cổ điển của các tác giả thể hiện khá phức tạp ngay trong lịch trình

định danh cho các loài Auricularia spp.:

Trang 17

Loài chuẩn A auricula được xác định có lẽ đa tạp nhất và rắc rối nhất: ngay từ 1821 đã có 3 tác giả cho 3 tên khác nhau, song thống nhất với tính ngữ loài auricula, để rồi hơn 80 năm sau,

tên hợp danh pháp mới được Underwood (1902) xác lập:

Auricularia auricula (Hook.) Underw.; Mem Torrey Bot Club 12: 15 (1902), Barrett, Mycologia 2:12 (1910), Figs.1, 4A,B, 11C, 13A, 15 (1-7), Lloyd, Myc Writ 7: 1133 (1922), Lowy, Mycologia 44: 658 (1952) et Flora Neotropica 6: 19 (1971), Martin, Rev N.C Tremellales p 19 (1952), Pilát, Acta Musei Nat Prague 8B: 142 (1957), Kobayasi, Bull Natn Sci Mus., Tokyo, Ser B, 7 (2), 1981

Tremella auricula L ex Hook., Fl Scot 2: 32, 1821

Peziza auricularia L ex Mérat, Nouv Fl ed 2 1: 26, 1821

Gyraria auricularis S.F Gray, Nat Arr Brit Pl 1: 594, 1821

Auricularia Sambuci Pers Myc Eur 1: 97, 1822

Tremella auricula-judae Bull ex Schw Schrift Naturf Ges Leipzig 1: 115, 1822

?Auricularia Judae Wahlenb Fl Suec 2: 993, 1826

Auricularia judae Link, Handb 3: 338, 1833

Auricula[ria] judae Secr Mycog Suisse 3: 229, 1833 (corrected in index)

Exidia auricularia Fries ex Wallr Fl Crypt Germ 2: 559, 1833

Hirneola auricula-judae Berk Outl Brit Fung 298, 1860

Hirneola auricula Fries ex H Karst Deutsche Fl 93, 1880

Auricularia sambucina Mart ex Winter & Demet Hedwigia 24: 185, 1885

Auricularia auricula-judae (Fries) Schroet Krypt Fl Schles 3: 386, 1888

Auricularia judae Kuntze, Rev Gen 3: 884, 1891

Hirneola auricula (L.) Karst Fl Deutschl 93, 1880

(dẫn bởi Bresadola, Icones Mycol 23 pl 1109, 1932)

Auricularia auricularis (S.F Gray) Martin, Am Midl Nat 30: 81, 1943

Cách nay 120 năm, Mộc nhĩ lông (nấm mèo lông) đã được Saccardo xác lập hợp luật, đến nay đã 218 năm qua kể từ lần đầu tiên được phát hiện và đặt tên bởi Swartz (1788):

Trang 21

Dạng chuyển hóa bạch tạng của loài chuẩn Auricularia auricula (Bắc Cát tiên,

6/2008)

Auricularia polytricha (Mont.) Sacc. Atti R Instit Veneto Vi 3: 722, 1885

Figs 3, 9A, 12A, 13B, 15 (41-47); Lloyd, Mycol Writ 5: 783 (1918) et 6: 972 (1920) et 7: 1298 (1924); Mendoza, in Phil Journ Sc 65: 102, pl 63, f 2 (1938); Y Kobayasi in BCNMM 4: 29, f

16 (1942) et in BNSM 16: 650, f 3C (1973); Teixeira, in Bragantia 5: 159, pl 3,4 (1945); Lowy, in Mycologia 44: 672, f 3, 9A, 12A, 13B, 15 (41-47) (1952) et in Flora Neotropica 6: 25 (1971); Olive,

in Bull Torrey Bot Club 85: 16 (1958); Kobayasi, Bull Natn Sci Mus., Tokyo, Ser B, 7 (2), 1981

Peziza nigricans Sw Nov Gen Sp Pl p 150 (1788)

Peziza nigrescens Sw Fl Ind Occ 3: 1938 (1806)

Exidia polytricha Mont in Belanger, Voy aux Indes 154, 1834

Exidia purpurescens Jungh., Praem p 35 (1838)

Exidia hispidula Berk Ann Nat Hist II, 3: 396, 1839

Exidia porphyrea Leùv Champ Exot III, 2: 218, 1844

Hirneola nigra Fries, Fung Nat 27, 1848

Hirneola porphyrea (Leùv.) Fries, Fung Nat 27, 1848

Hirneola polytricha (Mont.) Fries, K Vet.-Akad Handl 1848: 146, 1849

Hirneola hispidula Berk Jour Linn Soc 14: 352, 1874

Auricula nigra (Fries) Kuntze, Rev Gen pl 2: 844, 1891

Auricula polytricha (Mont.) Kuntze, Rev Gen pl 2: 844, 1891

Trang 22

Auricula nigra (Sw.) Earle, Bull Torrey Bot Club 26: 633, 1899

Auricularia hispidula (Berk.) Farlow, Bibl Index 1: 307, 1905

Auricularia nigrescens (Sw.) Farlow, Bibl Index 1: 308, 1905

Auricularia porphyrea (Lév.) Teixeira, Bragantia 5: 163, 1945

Tình trạng phân ly các dạng đột biến bạch tạng (albino) cũng được ghi nhận với A

polytricha (f leucochroma (Kobayasi) Y Kobayasi, nghĩa là vàng nhợt), mặc dầu hình thái cấu tạo

thể quả vẫn tỏ ra ổn định:

Mộc nhĩ lơng (nấm mèo đen) Auricularia polytricha thường gặp ở Cát tiên

(1/2 kích thước thực)

Thể quả thường có mặt lưng lồi lên mạnh, có lông thô dày đặc, các tai nấm rộng 5-6 cm, dày 1-1.5 mm Mẫu chúng tôi thu được ở Dalat thường lớn hơn (5-8-(16) cm đường kính), dày 3-7 mm Mặt trên thường có màu xám nâu, xám đen hoặc xám trắng, đôi khi có` các gờ gân nổi rõ; mặt dưới là bào tầng, nhẵn láng, màu nâu tím, khi có bụi bào tử phóng ra, phủ lên có màu xám mốc

Trang 23

Zona pilosa: lông thô dài tới 450 µm (nhiều khi tới >1mm), trong suốt, đường kính 5-6 µm, tụ

thành từng búi dày đặc Lông có lõi trung tâm, đầu nhọn, song thường bị gãy, tạo thành các đỉnh cụt khi quan sát dưới kính hiển vi

Zona compacta: rộng 20-25 µm, ken dày khít, sợi riêng rẽ khó nhận thấy

Zona subcompacta superioris: dày 75-85 µm, sợi mảnh đường kính 2-3 µm, hầu như đều

hướng về phía bề mặt

Zona laxa superioris: dày 250-260 µm, đường kính sợi 3-4 µm

Medulla: dày khoảng 250 µm, đường kính sợi 2-3 µm

Zona laxa inferioris: dày khoảng 250-260 µm, đường kính sợi 3-4 µm

Zona subcompacta inferioris: dày 90-100 µm, đường kính sợi 2-3 µm

Hymenium: dày 80-90 µm, đảm bào hình trụ 50-60x4-5 µm; bào tử đảm 12-15x5-6 µm

Địa điểm chuẩn: Jamaica

Phân bố: châu Mỹ nhiệt đới từ Florida tới Argentina, châu Phi, châu Đại dương, quần đảo Thái bình dương; Nam Nhật bản, kể cả đảo Bonin, Ryukyu; Đài loan; Philippines; New Guinea; Aán độ; Ceylon; Java; Tahiti; vùng Tân nhiệt đới trung nam Mỹ, khắp châu Á: Trung quốc, Việt nam, Thái lan,

Đây có lẽ là loài Mộc nhĩ đầu tiên được ghi nhận trong tư liệu khoa học nấm Tuy nhiên theo Farlow, các mẫu vật gốc của Swartz (1788) không còn giữ được, nên cũng không ai rõ lý do ông

đã hiệu chỉnh tính ngữ nigricans thành nigrescens (1806) cho loài này Loài này gặp khắp vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, đồng thời cũng phổ biến ở vùng ôn đới như A auricula vậy A.P Viegas (1940) báo cáo thấy phổ biến ở São Paulo, Brazil Lloyd coi A polytricha là dạng nhiệt đới của A

auricula, song ông chỉ lưu ý đến đặc trưng bề mặt trên thể quả mà không xem xét mặt dưới Theo

Lowy, khi kiểm tra các mẫu vật vùng Bắc Mỹ, Nam New Mexico, quần đảo Barro Colorado, mặt

trên tai nấm thường có lông thô dày, biến động về màu sắc và dễ lầm với A tenuis, là loài có lông ngắn hơn và khác hẳn về cấu tạo lát cắt Trong số tên đã đặt, tính ngữ loài và tổ hợp tên A

polytricha (chỉnh lý từ tổ hợp Exidia polytricha của Montagne) là sớm nhất có hiệu lực, bởi vì cũng

còn đáng ngờ ghi chú của Swartz về nơi sống của loài này là “ad terram” (ta biết các nấm Mộc nhĩ là nhóm nấm phá gỗ, sống trên thân-gốc cây gỗ, gây mục trắng, chứ không phải là mọc trên đất) Có thể suy đoán rằng Swartz đã thu được các tai nấm đầu tiên trên các cây gỗ mục chết, nằm trên mặt đất và đã ghi chú như vậy

Trang 26

Ngày tháng chuyến viễn du của Belanger ở Aán độ được Montagne ghi lại trong Syll Crypt

XVIII, 1856 là 1834 (là năm xác lập tổ hợp E polytricha), ông đã khẳng định thêm trong công trình

năm 1865, song Pritzel lại ghi là 1836

Năm 1945, Ribeiro Teixeira đề nghị tổ hợp A porphyrea (Lév.) Teixeira, dựa trên quan sát thấy: ”esta especie e muito semelhante a A polytricha, da qual e separada pelo tomento ruivo

muito caracteristico Nas demais particularidades, sao bem semelhantes”, theo Lowy chỉ khác biệt bởi một đặc điểm, lại không ổn định, trong khi hầu hết các đặc điểm khác và các ảnh chụp cho

thấy rất giống A polytricha, do đó tổ hợp nêu trên chỉ nên coi là synonym

Chính Kobayasi (1981) cho biết đã phát hiện một mẫu vật A polytricha ở Kew Herbarium bị định danh sai là A auricula; ông cũng khẳng định các mẫu có tên Hirneola nigra, A nigrescens và

A nigricans lưu giữ ở Kew và Leiden chỉ là synonym của A polytricha

Biến chủng bạch tạng A polytricha (Mont.) Sacc f leucochroma (Kobayasi) Y Kobayasi được

lưu giữ chuẩn tại (TNS), với ghi chú có màu kem nhợt, mà năm 1942 phát hiện mọc trên cây

Hibiscus glaber, đảo Bonin, Nhật bản, và được Kobayasi cho là một loài mới: A leucochroma Y

Kobayasi, BCNMM 4: 26, f 10, pl 6A (1942), song sau 40 năm, chính ông tự hiệu chỉnh lại đây chỉ là dạng bạch tạng của chính loài đó mà thôi Thật thú vị khi chính Kobayasi (1973) xác lập 2

forma cho A delicata f purpurea et f alba, mà chúng tôi mới đây phát hiện ra tại Dalat (Lê Xuân

Thám et al., 1998) và nhận thấy rằng chúng hầu như giao hòa lẫn tạp, tựa như đang còn trong quá trình phân ly của đột biến bạch tạng vậy

Hình như đột biến bạch tạng là khá phổ biến trong các loài Auricularia, do vậy, ngay loài chuẩn A auricula cũng có các biến chủng màu trắng, được Berkerley phát hiện lần đầu tiên: A

albicans Berk., Austr Fungi n 157 (1872) tại Australia và sau đó nhiều tác giả khác tìm thấy ở

châu Aâu, với nhiều tổ hợp tên loài mới được đề nghị vội vàng Do vậy, Kobayasi tách ra 2 forma, và chúng chỉ thuộc về loài chuẩn đã biết (1981):

A auricula (Hook.) Underw f albicans (Berk.) Y Kobayasi

Trang 27

A auricula (Hook.) Underw f mollissima (Y Kobayasi) Y Kobayasi

Tuy nhiên đặc điểm chung của loài chuẩn đã được Lowy (1952) nêu lên chính xác:

Thể quả chất keo mềm khi tươi, thường mọc đơn độc từng tai nấm, đôi khi quần tụ túm tụm hoặc thành từng đám, xoắn vặn với nhau khi trưởng thành Tai nấm thường màu nâu vàng tới nâu đỏ lúc trời ẩm, thường phẳng không cuống hoặc có đế kiểu cuống rất ngắn, rộng tới 12 cm, dày 0.3-0.8 cm Theo quan sát của chúng tôi, nếu không bị chiếu sáng trực diện, các tai nấm thường màu hồng phớt nâu-hồng tím, có các vằn gân khá giống những chiếc tai (Mộc nhĩ), lông rất mịn

Đặc biệt, ngay giữa mùa đông đầy tuyết lạnh và băng giá tới -5 o C-3 o C quanh Tokyo (Takasaki, Gunma), Nhật bản, tôi đã thu được các tai nấm màu nâu hồng ra bình thường, đạt 5-9

cm, vào những ngày có mưa ẩm ướt Như thế không chỉ nấm mùa đông (nấm Kim trâm

Flammulina velutipes) có đặc tính này

Zona pilosa: lông dài 85-100 µm, đường kính 5-6 µm, trong suốt, có lõi trung tâm, đầu tù,

phân bố khá đều đặn chứ không túm tụm lại

Zona compacta: dày 65-75 µm, sợi đan cài dày đặc, khó phân biệt các sợi riêng rẽ

Zona subcompacta superioris: dày 115-130 µm, đường kính sợi cỡ 2 µm, tạo thành mạng lưới

dày đặc, đôi khi cụm lại như các cục thô

Zona intermedia: dày 285-300 µm, đường kính sợi 1.5-2 µm, hầu hết phân bố nằm ngang xen

kẽ với các khoảng trống

Zona subcompacta inferioris: dày 100-120 µm, đường kính sợi khoảng 2.5 µm, ken tạo thành

một lớp đặc

Hymenium: dày khoảng 150 µm; đảm bào hình trụ 50-60x5-6 µm; bào tử đảm hình hạt đậu

13-15x5-6 µm

Như vậy, theo Lowy, loài chuẩn A auricula và A delicata không có lớp tủy (Medulla), trong

khi Kobayasi (1981) lại mô tả là không rõ ràng, tiêu giảm ở loài sau Theo những phân tích của

Trang 28

chúng tôi, đặc trưng cấu tạo lớp tủy và lớp lông (Pilosa) không phải luôn luôn có giá trị giám định loài nghiêm ngặt, vì rằng cũng như nhiều đặc điểm hình thái cấu tạo khác, chúng đều có phạm vi biến động lớn, phụ thuộc vào các điều kiện môi trường

Lowy đã bình luận: A auricula, thường được gọi tên là “cái tai của Juda” vì trông nó giống như

cái tai người, và không nghi ngờ gì phân bố hầu khắp các vùng ôn đới Liên hệ đến tên gọi của

loài này, thật thú vị nhớ lại việc Lloyd đề nghị tên gọi là A auricula, một tổ hợp tên mà Underwood đã đề xuất từ 1902, thay cho tên A Judae Kuntze đặt vào năm 1891 Lloyd đã lý giải

nguyên do đề nghị của ông như sau: “tôi tin rằng Underwood là một nghệ sĩ tung hứng hiện đại

đầu tiên khi dùng tên gọi A auricula mặc dầu Underwood có lẽ chưa biết được là cái tai của

Juda làm bằng gan bê Không cần phải nói rằng chúng ta không xen vào tiết mục tung hứng của

Underwood, song tên gọi Auricularia auricula-Judae quá cồng kềnh và thêm nữa lại là sự báng bổ đối với người Do thái” Tên gọi A auricula (Hook.) Underw cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị

theo luật, và có lẽ cũng hợp lý vì tai phải có “cặp”

Loài này cũng thường được báo cáo gặp ở khắp vùng nhiệt đới Đặc biệt, A auricula khá gần gũi với A fuscosuccinea về màu sắc và cấu tạo - loài sau dễ lẫn nếu như chỉ xem xét các đặc

điểm bên ngoài Có sai khác đôi chút về kích thước đảm và bào tử, nhưng những sai khác cấu

trúc này không đủ mức phân biệt để có thể dùng làm các chỉ tiêu nhận biết A cornea cũng có thể bị lầm với A auricula, song ngoài các dị biệt đặc trưng bên trong, loài đầu còn có lông thô hơn

và có xu hướng mọc cụm thành từng đám nhiều hơn

Dạng bạch tạng của loài này có màu trắng tinh khiết-hồng nhợt toàn bộ thể quả, đến mức

nhiều tác giả xác lập các thứ (varietas) mới là: var lactea Quél (1886), hay là: var lutea (Quél 1886) Pilát (1957) Các biến chủng này phân biệt hẳn với dạng chuẩn có lông mịn: f mollissima

(Y Kobayasi) Y Kobayasi Lưu ý là dạng chuẩn này cách đây 47 năm, cũng Kobayasi đã đề nghị

là loài mới: A mollissima Y Kobayasi, sp nov - Mộc nhĩ mịn, mãi đến 1981 ông mới tự chỉnh lại chỉ là dạng thuộc về loài chuẩn A auricula

Trang 29

Thật thú vị khi có báo cáo rằng A cornea cũng có biến thể bạch tạng (Wong, 1989) Cần chú ý rằng Kobayasi ngay từ 1981 đã nhận xét đúng đắn là A cornea thể hiện nhiều nét trung gian giữa A auricula và A polytricha, sau đó Wong ở Đại học Hawai, Honolulu và Wells ở Đại học California, Davis (1987) đã chỉ ra những điểm đồng nhất với A polytricha và A tenuis Điểm khác biệt với A polytricha là ở màu của bào tầng hồng hơn, lông ngắn hơn; điểm khác với A auricula là

ở sự có mặt của lớp tủy

Sự đồng nhất trong cấu trúc đảm đa bào ngăn vách ngang, và bào tử đảm dạng hạt

đậu-trái chuối của toàn bộ các loài thuộc Auricularia, thêm nữa là cấu tạo phân lớp của thể quả dạng

keo - nhầy đã đưa đến quan điểm lý thú của Holtermann đúng một thế kỷ trước (1898) trong công trình Mykologische Untersuchungen aus den Tropen (Nghiên cứu Nấm miền nhiệt đới), trong đó ông phát triển ý tưởng của Moeller (1895), cho rằng chỉ tồn tại duy nhất một loài - đó là loài

chuẩn A auricula (Hook.) Underw., cho toàn bộ các nấm Mộc nhĩ Nếu vậy, theo hệ thống hiện

đại, sau 100 năm kể từ công trình của Holtermann, nên chăng chúng ta công nhận bộ

Auriculariales, chủ chốt là Họ Auriculariaceae, trong đó chi chuẩn lớn nhất Auricularia chỉ có một

loài duy nhất? Trong khi đó chúng phân bố rộng rãi hầu khắp thế giới, phân ly mạnh theo các vùng sinh thái, địa lý Tổng kết của Lowy (1952), Pilát (1957) và đặc biệt là Kobayasi (1981) về

phân bố của các loài Auricularia có thể minh họa tốt cho quá trình vi tiến hóa và phân hóa của

chúng (Hình 2-9), như Duncan & Macdonald (1967), Duncan (1972) đã chứng minh Tình trạng này đòi hỏi phải có kiểm định của các dẫn liệu phân tử, mà chủ yếu là phân tích quá trình phân hóa gen (DNA) và các hệ isozyme cơ bản, đặc biệt là các hệ isozyme ngoại bào Quan điểm này sẽ được đánh giá ra sao nếu như các biến chủng bạch tạng lại được phát hiện cho hầu hết các

loài Auricularia?

II Khái quát về các loài mộc nhĩ khác

Chúng tôi kết hợp các hệ thống dẫn liệu của Lowy, Pilát và Kobayasi để mô tả thêm khoảng

12 loài liên hệ trong chi này

1 Auricularia mesenterica Pers

Myc Eur 1: 97 (1822); Fr., Epicr Myc P 555 (1838); Sacc., Flora Ital Crypt Hym P 1267 (1916); Bref., Unters Mykol 7: 76 pl 4 f 10-11 (1888); Lloyd, Myc Writ 4 Let 44: 10 (1913) et 5:

873 f 1490 (1919); Neuhoff, in Ark Bot 28: 56 pl 8 (1926); Bres., Iconogr Mycol 23 pl 1108 (1932); Olive in Bull Torrey Bot Cl 85: 16 f 1 C, D (1958); Y Kobayasi in BCNMM 4: 22 f 6 pl 4 (1942) et in BNSM 16 (4): 649 (1973); Teixeira, in Bragantia 5: 166 pl 11, 12 (1945); Lowy, in Mycologia 44; 666 f 2, 8A, 11A, 13D, 15 (23-27) (1952) et Flora Neotropica 6: 24 (1971); Pilat, in Acta Musei Nat Prague 8B: 142 f 4 a-c (1957)

Helvella mesenterica Dicks., Fasc Pl Crypt Brit 1: 20 (1785)

Thelephora mesenterica Pers., Syn Meth Fung P 571 (1801)

Phlebia mesenterica (Pers.) Fr., Elenchus 1: 154 (1828)

Auricularia mesenteriformis Link, Handb 3: 338 (1833)

Auricularia tremelloides Bull., Champ P 278 pl 290 (1795)

Auricularia corrugata Sowerb., Engl Fungi pl 290 (1815)

Thelephora tremellina Swartz, Fl Indiae Occidentalis p 1935 (1806)

Auricularia ornata Pers., in Freycinet, Voy P 177 pl 2 f 4 (1827); Lloyd, Myc Writ 5: 872 f

1489 (1919); Rogers, in Pacific Sc 1 (2): 104 (1947); Lowy, in Mycologia 44: 668 f 3, 8B, 11B, 13E, 15 (28-34) (1952); Donk, in Reinwartia 1: 492 f 1 (1952)

Auricularia lobata Sommerf., in Mag Naturvidensk 7: 296 (1826)

Trang 30

Exidia lobata (Somm.) Fr., Elench 1: 33 (1828)

Patila lobata (Somm.) Kuntze, Rev Gen 3: 864 (1893)

Auricularia mesenterica ở Cát tiên (Tuyến Cây gõ Bác Đồng, 2004)

Mô tả:

Trang 31

2 Auricularia peltata Lloyd

Myc Writ 7: 117 f 2112 (1922); Lowy, in Mycologia 44: 671 f 1, 9B, 12C, 14A, 15 (35-40) (1952) et Flora Neotropica 6: 25 (1971)

Auricularia peltat a ở Cát tiên (Tuyến Cây gõ Bác Đồng, 2004)

Trang 32

Mô tả: thể quả hình đĩa, trải phẳng trên giá thể với mép nấm

3 Auricularia emini Henn

Fung Afr 2: 19 pl 1 f 2 (1893); Lowy, in Mycologia 44: 682 f 2, 6A, B (1952)

Auriculria squamosa Pat Et Hariot, in Bull Soc Myc Fr 9: 210 (1893); Lloyd, Myc Writ 4:

1229 pl 258 f 2562 (1923)

Hirneola floccose Wakef., in Bull Misc Inf 3: 108 (1917)

Mô tả: Thể quả chất bì keo dai, phẳng, đường kính 10-12 cm hoặc hơn, dày 0.6-0.9 mm

4 Auricularia minor Y Kobayasi

Mô tả:

Trang 33

Auricularia minor

Auricularia minor (Mộc nhĩ bé) gặp ở Cát tiên

Trang 34

Dạng chuyển hóa bạch tạng

Trang 35

5 Auricularia cornea (Ehrenb.) Ehrenb.: Endl

Mô tả: Thể quả chất bì sừng, khá giịn chắc

Trang 36

6 Auricularia tenuis (Lév.) Farlow

Lồi mộc nhĩ mỏng: Auricularia tenuis

Mô tả:

Trang 40

7 Auricularia eximina (Berk & Cooke) Y Kobayasi

Hirneola eximina Berk Et Cooke, Fungi of Brasil n 355 (1876); Sacc., Syll Fung 6: 767

(1888)

Hirneola wrightii Berk Et Curt., Cub Fungi n 482 (1867); Sacc., Syll Fung 6: 767 (1888)

Mô tả:

8 Auricularia papyracea Yasuda

Bot Mag Tokyo 32: 331 (1918); Lloyd, Myc Writ 5 Let 68 n 752 (1917); Y Kobayasi, in BC-NMM 4: 24 f 7 (1942)

Ngày đăng: 08/12/2015, 12:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2: Công thức  các thành phần trong môi trường lúa - phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra tài nguyên xây dựng bảo tàng nấm vườn quốc gia cát tiên
Bảng 3.2 Công thức các thành phần trong môi trường lúa (Trang 81)
Bảng 3.3: Công thức  các thành phần trong môi trường giá thể tổng hợp - phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra tài nguyên xây dựng bảo tàng nấm vườn quốc gia cát tiên
Bảng 3.3 Công thức các thành phần trong môi trường giá thể tổng hợp (Trang 82)
Bảng 4.1. Bảng so sánh hình thái hai dạng thể quả của  A. delicata - phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra tài nguyên xây dựng bảo tàng nấm vườn quốc gia cát tiên
Bảng 4.1. Bảng so sánh hình thái hai dạng thể quả của A. delicata (Trang 86)
Hình 4.1. Nấm Mộc nhĩ A. delicata (Fr.) Henn. f. purpurea Y. Kobayasi thu thập - phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra tài nguyên xây dựng bảo tàng nấm vườn quốc gia cát tiên
Hình 4.1. Nấm Mộc nhĩ A. delicata (Fr.) Henn. f. purpurea Y. Kobayasi thu thập (Trang 89)
Hình 4.2. Mộc nhĩ lưới A. delicata f. alba (f. pupurea nâu hồng mọc ngay bên dưới) - phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra tài nguyên xây dựng bảo tàng nấm vườn quốc gia cát tiên
Hình 4.2. Mộc nhĩ lưới A. delicata f. alba (f. pupurea nâu hồng mọc ngay bên dưới) (Trang 90)
Hình 4.3.  Cấu trúc hiển vi của A. delicata  (Fr.) Henn. f. purpurea (Mặt trên (A) - phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra tài nguyên xây dựng bảo tàng nấm vườn quốc gia cát tiên
Hình 4.3. Cấu trúc hiển vi của A. delicata (Fr.) Henn. f. purpurea (Mặt trên (A) (Trang 92)
Hình 4.4. Cấu trúc các lớp hệ sợi mô thịt nấm và bào tử hình hạt đậu (vật kính x 40 và x100) - phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra tài nguyên xây dựng bảo tàng nấm vườn quốc gia cát tiên
Hình 4.4. Cấu trúc các lớp hệ sợi mô thịt nấm và bào tử hình hạt đậu (vật kính x 40 và x100) (Trang 93)
Bảng 4.2. Tăng trưởng của hệ sợi nấm mộc nhĩ  trên môi trường thuần khiết - phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra tài nguyên xây dựng bảo tàng nấm vườn quốc gia cát tiên
Bảng 4.2. Tăng trưởng của hệ sợi nấm mộc nhĩ trên môi trường thuần khiết (Trang 94)
Hình 4.5.  Hệ sợi  A. delicata  lan nhanh trên môi trường thuần khiết - phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra tài nguyên xây dựng bảo tàng nấm vườn quốc gia cát tiên
Hình 4.5. Hệ sợi A. delicata lan nhanh trên môi trường thuần khiết (Trang 96)
Bảng 4.3. Tăng trưởng của hệ sợi  A. delicata  f. purpurea t rên môi trường hạt lúa - phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra tài nguyên xây dựng bảo tàng nấm vườn quốc gia cát tiên
Bảng 4.3. Tăng trưởng của hệ sợi A. delicata f. purpurea t rên môi trường hạt lúa (Trang 96)
Hình 4.6 : Hệ sợi lan kín trong môi trường cơ chất hạt lúa. - phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra tài nguyên xây dựng bảo tàng nấm vườn quốc gia cát tiên
Hình 4.6 Hệ sợi lan kín trong môi trường cơ chất hạt lúa (Trang 97)
Hình 4.7 : Hệ sợi lan tỏa trên giá thể tổng hợp sau 18 ngày - phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra tài nguyên xây dựng bảo tàng nấm vườn quốc gia cát tiên
Hình 4.7 Hệ sợi lan tỏa trên giá thể tổng hợp sau 18 ngày (Trang 98)
Bảng 4.4. Tăng trưởng của hệ sợi nấm  A. delicata  (Fr.) Henn. f. purpurea  trên môi - phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra tài nguyên xây dựng bảo tàng nấm vườn quốc gia cát tiên
Bảng 4.4. Tăng trưởng của hệ sợi nấm A. delicata (Fr.) Henn. f. purpurea trên môi (Trang 98)
Hình 4.8. Sự phát triển của thể quả nấm f. purpurea liên tục trong 4 ngày (theo thứ - phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra tài nguyên xây dựng bảo tàng nấm vườn quốc gia cát tiên
Hình 4.8. Sự phát triển của thể quả nấm f. purpurea liên tục trong 4 ngày (theo thứ (Trang 100)
Hình 4.9.  Mặt trên thể quả nấm  A. delicata  (Fr.) Henn. f. purpurea - phát triển sản xuất nấm trên cơ sở điều tra tài nguyên xây dựng bảo tàng nấm vườn quốc gia cát tiên
Hình 4.9. Mặt trên thể quả nấm A. delicata (Fr.) Henn. f. purpurea (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w