1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về thị trường chứng khoán phi tập trung OTC

40 650 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 276,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu về thị trường chứng khoán phi tập trung OTC

Trang 1

MỤC LỤC

I/ Lời nói đầu ……… 2

II/ Khái niệm và bản chất của thị trường OTC……… 3

III/ Lịch sử hình thành và phát triển ………4

IV/ Những đặc điểm cơ bản của TT OTC……… 6

V/ Phương thức giao dịch trên OTC ……… 10

VI/ Hình thức giao dịch trên OTC……… 13

VII/ So sánh OTC với các TTCK khác………17

VIII/ Sáu dạng rủi ro hay gặp phải trên thị trường OTC……….19

IX/ Vị trí và vai trò của TT OTC……….22

X/ Một số thị trường OTC trên thế giới và xu hướng phát triển OTC hiện nay 24

XI/ Tìm hiểu thị trường OTC ở Việt Nam 27

Trang 2

I/ Lời nói đầu

Thị trường chứng khoán đã xuất hiện ở trên thế giới khoảng 500 năm về trước, tuy nhiên nó còn khá mới mẻ với Việt Nam Năm 2010 đánh dấu mốc quan trọng

kỉ niệm 10 năm thị trường chứng khoán Việt Nam hình thành và phát triển, nhưng chừng đó cũng đủ làm cho các nhà đầu tư trong nước trải qua hết các sắc thái cung bậc cảm xúc từ vui, buồn, giận dữ, ngỡ ngàng, tiếc nuối hay may mắn….Tôi xin trích một câu nói để đời cua nhà kinh tế học nổi tiếng Maynard Keynes: “ Phát minh tinh xảo mà vĩ đại nhất trong lịch sử hang ngàn năm phát triển của xã hội loài người là thị trường tài chính tiền tệ ( mà thị trường chứng khoán là một bộ phận của nó) Chỉ có điều sau khi phát minh thần kì này ra đời đã diễn ra biết bao nhiêu tấn bi hài kịch xoay quanh nó Và câu chuyện thần tiên về sự đổi đời chỉ sau một đêm mãi mãi là giác mơ của bất kì ai” Khi thị trường chứng khoán du nhập vào Việt Nam thì chuyện một người nào đó bỗng chốc trở thành tỉ phú hay ai đó trắng tay chỉ trong vòng vài giây ngắn ngủi có lẽ không làm cho chúng ta ngạc nhiên vì

nó đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống Thị trường chứng khoán cuốn hút những nhà đầu tư nào ưa mạo hiểm, không thích để tiền gối đầu giường, hay gửi ngân hàng hưởng lãi suất hay mua tín phiếu kho bạc….Ta cũng chứng kiến không

ít vụ đầu tư mạo hiếm, theo linh tính mách bảo hay giác quan thứ 6 đã mang về cho chủ đầu tư khoan lợi khổng lồ.” Thiên thần thung lũng Silicon” ông Bechtolsheim khi nghe hai nhà sáng lập trẻ tuổi của Google trình bày ý tưởng kinh doanh xong,

ký tặng ngay một tấm séc 100.000 USD để họ mua máy tính chỉ vì một suy nghĩ rằng: “Tôi nghĩ rằng Google sẽ được nhiều người ưa dùng và Google sẽ hái ra tiền." Hay chuyện Sequoia Capital bỏ ra 2 triệu USD để làm IPO cho Yahoo, và thu lãi 32 triệu USD Bên cạnh đó, có những suy tính rất kỹ, rất khoa học mà vẫn chuốc thất bại đắng cay, như lần rơi đài của blue chip ngành công nghệ thông tin ở miền Tây nước Mỹ, làm bốc hơi 90% trị giá chứng khoán đầu tư, sự chao đảo và sập sàn ở Đông Nam Á vào năm 1997 mới đây Xa hơn nữa là thảm họa sụp đổ sàn chứng khoán New York, dẫn đến đại suy thoái toàn cầu vào ngày thứ hai đen tối 28/10/1929 Có người nói đó là thị trường của những giấc mơ và những cơn ác mộng

Và một bộ phận không thể thiếu được của thị trường chứng khoán - thị trường

chứng khoán phi tập trung OTC(Over the Counter Market) cũng không nằm ngoài quy luật đó Thậm chí với số lượng chứng khoán đăng ký giao dịch lớn, doanh

số giao dịch cao, phương thức thanh toán linh hoạt, là một thể chế bậc cao của thị trường chứng khoán, OTC có thể mang lại lợi nhuận cũng như rủi ro cao hơn cho các nhà đâu tư so với thị trường tập trung, sẽ có những giấc mơ đẹp hơn và những cơn ác mộng khủng khiếp hơn.

Trang 3

Đó là lí do mà chúng ta cần phải đi tìm hiểu thật kĩ về thị trường tiềm năng này trước khi quyết định bỏ tiền túi ra đầu tư, để có thể phần nào ngăn chặn bớt rủi ro, biến giấc mơ làm giàu thành hiện thực

II/ Khái niệm và bản chất của thị trường OTC

Để phát triển thị trường OTC, trước hết chúng ta phải hiểu đúng bản chất của

nó, điều này đặc biệt quan trọng và đóng vai trò làm nền tảng cho những nghiên cứu OTC về sau

Thị trường chứng khoán (TTCK) phi tập trung OTC là loại TTCK xuất hiện sớm nhất trong lịch sử hình thành và phát triển của TTCK Tuy nhiên hiện nay vẫn còn tồn tại những cách hiểu sai lầm về TT OTC, đặc biệt là ở nền kinh tế thị trường còn non trẻ như Việt Nam

Có người cho rằng, thị trường OTC là thị trường “phi chính thức” hoặc “thị trường phi tập trung” Quan niệm này xuất phát từ sự so sánh về tính chất giữa thị trường OTC với Sở giao dịch chứng khoán - thị trường chính thức, được tổ chức hoạt động theo nguyên tắc tập trung, công khai, trung gian và đấu giá Chính với cách hiểu sai lầm này, nhiều người đang hiểu thị trường giao dịch chứng khoán ngoài sàn hiện nay là thị trường OTC, song thực chất, đây chỉ là thị trường “chợ đen” hay chợ “vỉa hè” (Black/Curb/Kerb Markets)

Hiện nay, các nhà quản lý đang cố gắng tận dụng lợi thế của từng loại hình thị trường nhằm tạo thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư Thị trường tập trung phát triển theo hướng phi tập trung hóa, cho phép các chứng khoán được niêm yết trên nhiều

sở giao dịch, áp dụng phương thức giao dịch thỏa thuận kết hợp với phương thức đấu giá trên sàn Ngược lại, thị trường OTC phát triển theo hướng tận dụng lợi thế của sở giao dịch chứng khoán, thực hiện tập trung hóa hoạt động giao dịch qua trung tâm OTC Mặt khác, Chính phủ các nước cũng tăng cường quản lý hoạt động của thị trường OTC Vì vậy, có người gọi thị trường OTC là “thị trường bán tập trung”, hoặc “thị trường bán chính thức” Những cách gọi như vậy có thể không phản ánh đúng bản chất của thị trường OTC

Có thể nói khó có một khái niệm chuẩn xác về TT OTC, tuy nhiên để thống nhất chúng tôi cũng xin trình bày một khái niệm về TT OTC được nhiều người sử dụng, dưới đây:

Trang 4

“Thị trường OTC là thị trường không có trung tâm giao dịch tập trung, đó là một mạng lưới các nhà môi giới và tự doanh chứng khoán mua bán với nhau và với các nhà đầu tư, các giao dịch của thị trường OTC được diễn ra tại các quầy (sàn giao dịch) của các ngân hàng và công ty chứng khoán”

Từ khái niệm trên, ta có thể hiểu thực ra OTC là một cái “chợ” mà trong đó:

- Hàng hóa: là các loại chứng khoán (sẽ được làm rõ ở phần đặc điểm)

- Người mua – người bán: các nhà môi giới CK, các nhà tự doanh CK, các nhà đầu tư

- Địa điểm: không có trung tâm giao dịch tập trung, tại các sàn giao dịch của các ngân hàng và công ty chứng khoán

- Được điều chỉnh bởi một số nguyên tắc hoạt động (sẽ được làm rõ ở phần đặc điểm)

Thị trường OTC đóng vai trò của một thị trường thứ cấp, tức là thực hiện vai trò điều hòa, lưu thong các nguồn vốn, đảm bảo chuyển hóa các nguồn vốn ngắn hạn thành dài hạn để đầu tư phát triển kinh tế

Theo những nguồn tài liệu mà chúng tôi tìm được thì TTCK OTC đã trải qua 3 giai đoạn phát triển chính Đó là:

1/Giai đoạn phát triển sơ khai:

Như đã nói ở phần mở đầu, TTCH phi tập trung OTC là loại TTCK xuất hiện sớm nhất trong lịch sử hình thành và phát triển của TTCK Ngay từ giữa thế kỷ thứ

15 , tại thành phố trung tâm buôn bán của phương Tây, các thương gia thường tụ

Trang 5

tập tại một số khu như quán cà phê để trao đổi mua bán các loại hàng hoá như nông sản, khoáng sản, tiền tệ và các chứng từ có giá Ðiểm đặc biệt ở đây là các thương gia chỉ giao dịch với nhau bằng lời nói, không có hàng hoá thật Những cuộc thương lượng này nhằm thống nhất với nhau các hợp đồng trao đổi mua bán ngay hoặc cho tương lai Những cuộc trao đổi này ban đầu chỉ là một nhóm người

và sau đó đông dần cho đến khi nó thực sự thành một khu chợ riêng Thời gian họp chợ lúc đầu là hàng tháng, sau đó hàng tuần rồi rút ngắn còn hàng ngày Trong các phiên họp chợ tại đây các thương gia thống nhất với nhau các quy ước cho việc thương lượng và sau này trở thành những quy tắc có giá trị bắt buộc đối với những

ai muốn tham gia thị trường và thị trường chứng khoán hình thành từ đó

Người mua và người bán giao dịch trực tiếp với nhau tại các “Quầy” của tổ chức phát hành, các tổ chức chức tài chính hoặc ngoài trời, do đó phát sinh

thuật ngữ OTC “Over the counter”

Người mua và người bán cũng có thể đạt được thỏa thuận thông qua công ty môi giới nhưng tính chất của giao dịch vẫn là mang tính chất song phương

2/ Giai đoạn phát triển cận đại :

Sau khi Bell phát minh ra điện thoại năm 1986, các ngành thông tin liên lạc và bưu chính viễn thông bắt đầu phát triển, các bên mua bán và tổ chức trung gian sử dụng điện thoại để chia sẻ thông tin thị trường

Các tổ chức trung gian đã hình thành mạng lưới giao dịch qua điện thoại để phát huy tối đa vai trò môi giới

Các tổ chức tự doanh bắt đầu hoạt động và đóng vai trò của một nhà tạo lập thị trường

Tính chất giao dịch song phương vẫn được duy trì

 Dưới góc độ quản lý, do cách thức giao dịch song phương (không phải đa phương như SGDCK) nên thị trường OTC được xem là không “sàn” Tuy nhiên, vẫn có tính chất đa phương nhất định vì người mua và người bán đều có sự tham khảo thông tin giá cả từ nhiều bên trước khi quyết định

3/.Giai đoạn phát triển hiện đại:

Sau cuộc Cách mạng khoa học công nghệ thong tin bùng nổ, người ta đã ứng dụng Internet và công nghệ thông tin vào giao dịch OTC, phát triển sàn giao dịch OTC trên mạng.Giao dịch được thỏa thuận trên phạm vi toàn cầu, 24/24

Thị trường OTC được tổ chức thành 2 mô hình:

- Sàn môi giới điện tử (electronic brokering plaform)

Tính chất giao dịch song phương truyền thống được biến đổi qua mô hình giao dịch đa phương, khớp lệnh tự động vào báo giá mua bán cho tất cả

các bên, họ tự do yết giá và quyết định giao dịch

Trang 6

Các tổ chức công ty vận hành thị trường chỉ đóng vai trò môi giới,không tham gia tự doanh.

Có một tổ chức trung gian lo việc thanh toán bù trừ

- Sàn tự doanh điện tử (electronic dealing plaform)

Đơn vị tổ chức sàn không đóng vai trò trung gian mà trực tiếp mua bán

IV/ Những đặc điểm cơ bản của TT OTC

Qua quá trình hình thành và phát triển từ mức sơ khai tới hoàn thiện, TTCK phi tập trung OTC đã dần hình thành nên những đặc điểm cơ bản chung như sau (chủ yếu dựa vào mô hình thị trường NASDAQ của Mỹ):

1 Về hình thức tổ chức thị trường:

Thị trường OTC được tổ chức theo hình thức phi tập trung, không có địa điểm giao dịch mang tính tập trung giữa bên mua và bên bán.Tuy vậy,việc giao dịch và thông tin được dựa vào hệ thống điện thoại và internet với sự trợ giúp của các thiết

bị đầu cuối đã làm cho giao dịch trên thị trường trở nên tập trung hơn,nhà đầu tư quản lý thông tin tốt hơn Hoạt động mua bán chứng khoán được tổ chức tại các địa điểm giao dịch của các ngân hàng, công ty chứng khoán và các địa điểm thuận tiện cho người mua và bán

2 Chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC

Thị trường OTC là nơi ít kén chứng khoán giao dịch hơn thị trường sàn giao dịch, các chứng khoán được đem ra mua bán như: cổ phiếu của các công ty cổ phần, các trái phiếu Chính Phủ và chính quyền địa phương, trái phiếu công ty, chứng khoán của các công ty nước ngoài…Tuy nhiên,chứng khoán giao dịch vẫn phải là loại đáp ứng các chuẩn mực và được phép giao dịch đại chúng Đặc biệt, đây là thị trường đảm nhận vai trò bán ra các chứng khoán mới phát hành (new issues), kể cả chứng chỉ của các quỹ hỗ tương đầu tư (qũy mở - mutual - các quỹ

hỗ tương đầu tư chỉ bán sơ cấp trong thị trường này, chứ không có mua bán thứ cấp bởi các chứng chỉ đó chỉ có thể được các quỹ này mua lại theo một cơ chế riêng)

Chứng khoán trên thị trường OTC rất đa dạng và được chia thành 2 loại:

Thứ nhất, chiếm phần lớn là các chứng khoán chưa đủ điều kiện niêm yết trên

Sở giao dịch song đáp ứng các điều kiện về tính thanh khoản và yêu cầu tài chính tối thiểu của thị trường OTC, trong đó chủ yếu là các chứng khoán của các công ty

Trang 7

vừa và nhỏ, công ty công nghệ cao và có tiềm năng phát triển,công ty hoạt động kinh doanh hiệu quả,có những lợi thế riêng biệt…

Thứ hai là các loại chứng khoán đã niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán

Do vậy mà các chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC có độ rủi ro cao hơn

so với các chứng khoán niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán

3 Cơ chế xác lập giá trên thị trường OTC

Thị trường OTC vận động nhờ một cơ chế

tạo giá và duy trì hoạt động gọi là "mạng lưới

liên công ty" (interdealer network) Các nhà tạo

giá trong tổ chức sẽ cạnh tranh giữa họ với nhau,

liên tục đưa ra giá rao mua (bid) và giá chào bán

(ask) Giá thị trường được tham khảo từ mạng

lưới này và giao dịch sẽ được tiến hành bằng

thương lượng, nên người ta còn gọi đây là "thị

trường thương lượng" (negociated market) Các

báo giá (quotations) được đưa vào và thể hiện

trên hệ thống làm bật ra giá tốt nhất cho thị

trường

Để có giá tốt nhất do các công ty chứng khoán, các nhà tạo giá (market maker) đưa ra, họ có thể mặc cả với nhau trong một giao dịch Mỗi thương vụ được đưa ra khảo giá giữa nhiều nhà tạo giá khác nhau để tìm giá tốt nhất (giá thu vào cao hay thấp) Khi một công ty nhận được lệnh mua hay bán của khách hàng, họ sẽ gọi đến các nhà tạo giá đảm nhận loại chứng khoán đó để thương lượng giá giao dịch cho khách

Kết quả mua bán cũng được quy định bắt buộc phải thông tin ra thị trường Cuối mỗi ngày giao dịch, các nhà tạo giá trong thị trường OTC sẽ gửi các giá rao mua chào bán liên công ty (interdealer quotations) của mình lên cơ quan tổng hợp giá thị trường quốc gia để nơi đây phổ biến thành ấn bản Ví dụ như ở Mỹ, các ấn bản như vậy được in trên các giấy màu hồng, nên được gọi là những trang hồng (pink sheets)

Động lực chuyển hướng giá trên thị trường OTC: một khi có nhà tạo giá nào

đó muốn khuyến khích người đầu tư bán ra thì họ sẽ đưa ra (quote) giá rao mua cao hơn Điều này lôi kéo các nhà tạo giá khác bám theo nhịp độ và làm cho giá cả chứng khoán tăng lên Ngược lại,khi họ muốn hấp dẫn người mua, họ sẽ giảm giá chào bán và khi xu thế này lan qua các nhà tạo giá khác sẽ làm cho giá cả giảm xuống

Tóm lại, cơ chế xác lập giá trên thị trường OTC chủ yếu được thực hiện thông

Trang 8

qua phương thức thương lượng và thỏa thuận song phương giữa bên mua và bên bán Do đó, hình thức khớp lệnh trên thị trường OTC rất ít phổ biến và chỉ được áp dụng đối với các lệnh nhỏ Giá chứng khoán được hình thành qua thương lượng và thỏa thuận riêng biệt nên sẽ phụ thuộc vào từng nhà kinh doanh đối tác trong giao dịch và như vậy sẽ có nhiều mức giá khác nhau đối với một chứng khoán tại một thời điểm Tuy nhiên, với sự tham gia của các nhà tạo lập thị trường và cơ chế báo giá tập trung qua mạng máy tính điện tử như ngày nay dẫn đến sự cạnh tranh giá mạnh mẽ giữa các kinh doanh chứng khoán.Và do vậy, khoảng cách chênh lệch giữa các mức giá sẽ thu hẹp do diễn ra sự “đấu giá” giữa các nhà tạo lập thị trường với nhau, nhà đầu tư chỉ việc lựa chọn giá tốt nhất trong các báo cáo của các nhà tạo lập thị trường.

4 Thị trường có sự tham gia và vận hành của các nhà tạo lập thị trường, đó là các công ty giao dịch – môi giới

Không giống như trong thị trường tập trung, các công ty kinh doanh chứng

khoán có thể duy trì lượng chứng khoán OTC tồn kho riêng cho mình chứ không cần phải đăng ký làm nhà tạo giá mới được Hoặc họ cũng có thể sẵn sàng ở tư thế

để mua hay bán chứng khoán OTC cho chính tài khoản của họ bất cứ lúc nào (gọi

là position trading) Các công ty chứng khoán hoạt động trong thị trường OTC này

có thể tuỳ ý chọn cách để thực hiện lệnh cho khách hàng của mình và có thể hoạt động giao dịch dưới 2 hình thức:

- Hoạt động giao dịch: mua bán chứng khoán cho chính mình, bằng nguồn vốn của công ty

- Hoạt động môi giới: làm môi giới đại lý chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng

Khác với Sở giao dịch chứng khoán chỉ có một người tạo ra thị trường cho mỗi loại chứng khoán (các chuyên gia chứng khoán), thị trường OTC còn có sự tham gia và vận hành của các nhà tạo lập thị trường (Market Makers) cho một loại chứng khoán bên cạnh các nhà môi giới, tự doanh Các nhà tạo lập thị trường này

có nhiệm vụ quan trọng và chủ yếu là tạo ra tính thanh khoản cho thị trường thông qua việc nắm giữ một lượng chứng khoán để sẵn sàng mua bán, giao dịch với khách hàng

Để tạo ra thị trường cho một loại chứng khoán, các nhà tạo giá (Market makers) sẽ là những người đưa ra giá rao mua và chào bán cho thị trường Giá tốt nhất từ đó khách đầu tư có thể mua (best ask) và giá tốt nhất mà họ có thể bán (best bid) được chọn lọc tối ưu trong một tập hợp chào giá trên hệ thống chung, gọi là giá thị trường nội bộ (inside market) Giá này được xác định chi tiết cho từng loại chứng khoán OTC Các công ty chứng khoán muốn tạo giá cho một chứng khoán OTC nào đó sẽ được tổ chức chủ quản (ở Mỹ là NASD) yêu cầu duy trì một lượng vốn bắt buộc tối thiểu nào đó.Các mức giá mà các nhà tạo lập thị trường tạo ra sẽ

Trang 9

là giá yết của thị trường và qua đó họ sẽ được hưởng các chênh lệch giá từ việc mua bán chứng khoán.

Với vai trò to lớn của mình trong việc tạo lập thị trường, hệ thống các nhà tạo lập thị trường được coi là động lực cho thị trường OTC phát triển

Muốn tham gia trên thị trường OTC, các công ty môi giới phải đáp ứng được các điều kiện sau:

- Phải đăng kí với các công ty quản lý (Uỷ ban chứng khoán, Sở giao dịch hoặc hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán) và được các cơ quan này cấp giấy phép

- Phải có trách nhiệm tuân thủ các chuẩn mực về tài chính, kĩ thuật, chuyên môn

và đạo đức hành nghề

5 Là thị trường sử dụng hệ thống mạng máy tính điện tử diện rộng liên kết tất

cả các đổi tượng tham gia thị trường

Đúng như tên gọi, thị trường OTC ( Over-the- Counter) cho phép các công ty chứng khoán thương lượng và giao dịch trực tiếp với nhau Thuật ngữ "over the counter" có nghĩa là "qua quầy" theo cách diễn đạt nguyên thuỷ Ngày nay, nhờ sự phát triển của kỹ thuật truyền thông và vi xử lý thị trường OTC hiện đại đã thoát ly

xa khỏi các quầy và hoạt động theo một cơ chế được tổ chức với sự trợ giúp về kỹ thuật điện tử rất tinh vi, có khả năng kết nối trên quy mô rộng lớn giữa các nhà môi giới và kinh doanh CK với nhau

Do đó mà thị trường OTC còn được coi là thị trường mạng hay thị trường báo giá điện tử Hệ thống mạng của thị trường được các đối tượng tham gia thị trường

sử dụng để đặt lệnh giao dịch, đàm phán thương lượng giá, truy cập và thông báo các thông tin liên quan đến giao dịch chứng khoán…Chức năng của mạng được sử dụng rộng rãi trong giao dịch mua bán và quản lý trên thị trường OTC

6 Quản lý thị trường OTC

Cấp quản lý của thị trường OTC tương tự như quản lý hoạt động của thị trường chứng khoán tập trung và được chia làm 2 cấp:

- Cấp quản lý nhà nước chính là cơ quan quản lý thị trường chứng khoán trực tiếp quản lý theo pháp luật về chứng khoán và các luật có liên quan,thường là Ủy ban chứng khoán nhà nước với những nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu như sau: + Cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận liên quan đến hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán; chấp thuận những thay đổi liên quan đến hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán

+ Quản lý, giám sát hoạt động giao dịch chứng khoán tại Sở giao dich,Trung tâm giao dịch chứng khoán,các tổ chức phụ trợ…; tạm đình chỉ hoạt động giao dịch, hoạt động lưu ký trong trường hợp có dấu hiệu ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư

+ Thanh tra, giám sát, xử phạt vi phạm hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán

Trang 10

+ Hướng dẫn quy trình nghiệp vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán

và các mẫu biểu có liên quan

+…

- Cấp tự quản: có thể do Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán quản lý như

ở Mỹ, Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản … hoặc do trực tiếp Sở giao dịch đồng thời quản lý như ở Anh, Pháp, Canada… Nhìn chung, nội dung và mức độ quản lý ở mỗi nước có khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện và đặc thù của từng nước nhưng đều có chung mục tiêu là đảm bảo sự ổn định và phát triển liên tục của thị trường.Đối với thị trường OTC, chức năng điều hành thường là do hiệp hội kinh doanh chứng khoán đảm nhiệm Hiệp hội kinh doanh chứng khoán có các chức năng cơ bản sau đây:

+ Là cầu nối giữa các nhà kinh doanh chứng khoán với các cơ quan quản lý nhà nước và công chúng đầu tư thông qua nhiệm vụ thiết lập và duy trì mối quan hệ thường xuyên giữa các thành viên

+ Là cơ quan phối hợp với Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước để xây dựng hệ thống khuôn khổ pháp lý, các chính sách về chứng khoán

+ Tổ chức các hoạt động đào tạo chứng khoán và thiết lập mối quan hệ quốc tế

về lĩnh vực này

7 Cơ chế thanh toán trên thị trường OTC là linh hoạt và đa dạng

Phần lớn các giao dịch mua bán trên thị trường OTC được thực hiện trên cơ sở thương lượng và thỏa thuận,cho nên phương thức thanh toán trên thị trường OTC linh hoạt giữa người mua và người bán, khác với phương thức thanh toán bù trừ đa phương thống nhất như trên thị trường tập trung Thời hạn thanh toán không cố định mà rất đa dạng T+0, T+1, T+2, T+x trên cùng một thị trường tùy theo từng thương vụ và sự phát triển của thị trường.Điều đó có nghĩa là nhà đầu tư có thể bán chứng khoán đã mua từ ngày làm việc thứ nhất, thứ hai hay là thứ x (ngày T+1,T+2 hay T+x) kể từ ngày thực hiện giao dịch mua (ngày T)

V/ Phương thức giao dịch trên OTC

Có 3 phương thức giao dịch chủ yếu:

- phương thức giao dịch giản đơn

- phương thức giao dịch báo giá trung tâm

- phương thức giao dịch có sự tham gia của nhà tạo lập thị trường

Cụ thể như sau:

 Phương thức giao dịch giản đơn :

Trang 11

Khách hàng mở tài khoản tại công ty chứng khoán, khi muốn thực hiện giao dịch mua bán CK, khách hàng đặt lệnh tại công ty CK, ở đây xảy ra 2 trường hợp:

• Nếu công ty CK là nhà tự doanh có loại CK khách hàng muốn mua thì

bộ phận giao dịch của công ty sẽ trực tiếp thương lượng , thỏa thuận với khách hàng

• Nếu công ty CK ko phải là nhà tự doanh hoặc ko có loại CK khách hàng muốn thì bộ phận giao dịch của công ty thông qua hệ thống mạng sẽ tìm và liên hệ với công ty CK hoặc nhà tự doanh loại CK đó có giá tốt nhất để thương lượng, thỏa thuận giá

Khi giao dịch được thực hiện bộ phận giao dịch chuyển phiếu lệnh tới bộ phận thanh toán của công ty và thông báo cho khách hàng

Tất cả giao dịch được thực hiện tại công ty CK phải lập tức chuyển báo cáo kết quả tới phòng quản lý kinh doanh CK của tổ chức quản lý thị trường OTC

 Phương thức giao dịch báo giá trung tâm:

Cty CK B Cty CK C Cty CK D

Hệ thống

TT OTC

Lệnh GD Lệnh GD

Thông báo KQ

Thông báo KQ

Trang 12

Khách hàng mở tài khoản và đặt lệnh giao dịch ở công ty CK Công ty CK sau

đó sẽ gửi báo giá vào hệ thống báo giá trung tâm

Hệ thống báo giá trung tâm thường là một mạng điện tử diện rộng kết nối tất cả các thành viên hệ thống Trong thời gian giao dịch các công ty CK thành viên gửi các báo giá một chiều bao gồm giá & khối lượng chào mua hay chào bán cho khách hàng hoặc chính công ty

Giao dịch được thực hiện dưới 2 hình thức: khớp lệnh tự động hoặc giao dịch thỏa thuận trực tiếp :

• Khớp lệnh tự động thông qua hệ thống giao dịch điện tử : công ty CK nhập lệnh vào hệ thống , hệ thống khớp lệnh tự động theo phương thức phù hợp và

tự động gửi xác nhận kết quả giao dịch cho công ty CK

• Giao dịch thoả thuận trực tiếp: công ty CK thoả thuận trực tiếp qua mạng điện tử hoặc qua điện thoại về giá và khối lượng CK giao dịch Khi đạt kết quả thì gửi kết quả vào hệ thống báo cáo giao dịch

 Phương thức giao dịch có sự tham gia của nhà tạo lập thị trường:

HT giao dịch OTC

Trang 13

Các nhà tạo lập thị trường thường xuyên yết giá 2 chiều (giá hỏi mua và giá chào bán) đối với các loại CK mà họ đăng ký làm nhà tạo thị trường vào hệ thống yết giá.

Khách hàng mở tài khoản và đặt lệnh giao dịch tại công ty CK mà họ lựa chọn Công ty CK lúc này chỉ giữ vai trò là nhà môi giới, sẽ xem xét hệ thống yết giá và đặt lệnh giao dịch với nhà tạo lập thị trường có mức giá yết tốt nhất

Nhà tạo thị trường sau khi nhận được lệnh giao dịch sẽ xem xét:

• Nếu có thể thực hiện giao dịch ,nhà tạo lập sẽ khẳng định giao dịch với nhà môi giới, đồng thời báo cáo kết quả với trung tâm & điều chỉnh lại giá yết

• Nếu lệnh giao dịch nhà môi giới đưa ra chưa khớp với giá yết, nhà tạo thị trường sẽ lưu lại cho đến khi có giá yết khớp

VI/ Hình thức giao dịch trên OTC

 Hoạt động môi giới trên thị trường phi tập trung (OTC)

● Khái niệm

_Theo nghĩa rộng, hoạt động môi giới trong lĩnh vực chứng khoán bao gồm một

số hoạt động như tiếp thị, tư vấn đầu tư chứng khoán, kí kết hợp đồng cung cấp dịch vụ cho khách hàng, mở tài khoản chứng khoán cho khách hàng, nhận các lệnh mua bán của khách hàng, thanh và quyết toán các giao dịch, cung cấp các giấy chứng nhận chứng khoán

KH Cty CK (môi giới)

Market maker A Market maker B

Market maker C

HT TT OTC Thông báo KQ

Lệnh GD

Lệnh GD

Yết giá

Khẳng định GD

Báo cáo GD Báo cáo GD

Xác nhận

Trang 14

_Theo nghĩa hẹp, môi giới chứng khoán là hoạt động KDCK trong đó CTCK đứng ra làm đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán, hoặc thị trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch đó Người môi giới chỉ thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng để hưởng phí dịch vụ, họ không phải chịu rủi

ro từ hoạt động giao dịch đó

_Trên thị trường OTC các công ty chứng khoán hoạt động với tư cách là công ty giao dịch - môi giới, hoặc với tư cách trung gian của các nhà môi giới Các chứng khoán trên thị trường OTC được mua bán thông qua việc thỏa thuận giữ hai bên và giá chứng khoán cũng được hình thành do sự thỏa thuận Khối lượng mua bán các chứng khoán này thường thực hiện theo lô có giá trị lớn

Quy trình nghiệp vụ môi giới trên thị trường OTC:

Bước 1: Tìm kiếm khách hàng và thu thập thông tin

* Tìm kiếm khách hàng: là khâu quan trọng nhất trong hoạt động môi giới trên thị trường OTC và được thực hiện bởi bộ phận chăm sóc khách hàng và bộ phận marketing Việc tìm kiếm khách hàng có thể được triển khai bằng nhiều cách khác nhau như dựa vào khách hàng thường xuyên giao dịch với công ty, tìm kiếm trên các phương tiện thông tin như báo chí, mạng internet… Thực tế cho thấy, để việc tìm kiếm khách hàng mang lại hiệu quả, nhân viên OTC phải đi thực tế nhiều, tiếp cận nhanh chóng nguồn thông tin và nắm bắt nhanh các nguồn thông tin được tiếp cận

* Thu thập thông tin: nhân viên môi giới OTC phải thường xuyên cập nhật các thông tin về giá các chứng khoán OTC hàng ngày để nhập vào hệ thống mạng máy tính của công ty cho khách hàng của công ty tham khảo, liên tục cập nhật các

thông tin về tình hình hoạt động, tình hình tài chính của các tổ chức phát hành chứng khoán trên thị trường OTC để nắm rõ các chứng khoán nhằm phục vụ cho khách hàng đồng thời tránh được những rủi ro do thiếu thông tin gây ra

Bước 2: kí kết hợp đồng mua bán với khách hàng

*Khi một khách hàng muốn mua hoặc bán một loại chứng khoán nào đó với một

số lượng nhất định,khách hàng ra lệnh cho công ty chứng khoán nơi mở tài

khoản,lệnh có thể ra trực tiếp theo mẫu lệnh bằng giấy , qua điện thoại, fax hoặc hệ thống máy tính nối mạng diện rộng

*Sau quá trình tìm hiểu về các khách hàng có nhu cầu mua bán chứng khoán, nhân viên môi giới sẽ kí kết với khách hàng hợp đồng mua bán chứng khoán OTC, hướng dẫn khách hàng đặt cọc tiền mua bán chứng khoán và thực hiện hợp đồng

*Lệnh mua bán chứng khoán được chuyển đến Phòng giao dịch của công ty chứng khoán

Bước 3: Thương lượng để so khớp các lệnh mua bán

Trong bộ phận giao dịch,lệnh được chuyển cho nhà môi giới lập giá Ở đây có thể chia hai trường hợp :

Trang 15

*Nếu công ty chứng khoán là người tạo thị trường cho loại chứng khoán khách hàng đặt mua bán thì bộ phận giao dịch của công ty giao dịch trực tiếp sẽ thương lượng và thoả thuận với khách hàng.

*Nếu công ty chứng khoán không phải là người tạo thị trường thì bộ phận giao dịch của công ty chứng khoán sẽ liên hệ với các nhà tạo thị trường cho loại chứng khoán này.Thông thường,bộ phận giao dịch liên hệ với các nhà tạo thị trường khác thông qua hệ thống báo giá cấp hai để biết được các mốc giá chào bán và đặt mua

Dù lệnh giao dịch của khách hàng là lệnh thị trường hay giới hạn…, CTCK có trách nhiệm nghiên cứu để thực hiện lệnh tại mức giá tốt nhất, bằng cách liên lạc với các CTCK khác có nắm giữ loại chứng khoán này thông qua hệ thống giao dịch của thị trường OTC để tìm các giá yết phù hợp, sau đó thông báo cho khách hàng về việc thực hiện lệnh giao dịch Nếu không tìm được nguồn hàng phải thông báo với khách hàng vào ngày hết thời hạn của hợp đồng

Bước 4: Chuyển nhượng chứng khoán

*Bộ phận giao dịch ghi giá vào mẫu lệnh,cùng với tên của nhà giao dịch môi giới (người bán) rồi chuyển tới phòng thực hiện lệnh.Bộ phận thực hiện lệnh báo cáo việc thực hiện lệnh cho người đại diện hoặc thư ký nhận lệnh.Người này sẽ có trách nhiệm thông báo với khách hàng

*Sau khi khớp lệnh mua và bán nhân viên môi giới yêu cầu bên bán chứng khoán chuyển giao các giấy tờ chuyển nhượng quyền sở hữu chứng khoán, yêu cầu bên mua thanh toán đầy đủ các khoản tiền kí kết theo điều khoản của hợp đồng.Bước 5: Thanh toán các khoản phí môi giới và dịch vụ, hoàn trả tiền đặt cọc nếu

Bước 6: Lưu giữ hồ sơ và các giấy tờ liên quan để giải quyết tranh chấp phát sinh nếu có

 Hoạt động tự doanh chứng khoán trên thị trường OTC

● Khái niệm:

*Tự doanh là hoạt động tự mua bán chứng khoán cho mình để hưởng lợi nhuận

từ chênh lệch giá chứng khoán Nói cách khác, tự doanh là hoạt động mua đi bán lại chứng khoán nhằm thu chênh lệch giá (mua thấp, bán cao)

Trang 16

*Trên thị trường OTC,các CTCK giao dịch mua bán chứng khoán cho mình rất phổ biến Đã là nghiệp vụ CTCK mua bán chứng khoán bằng nguồn vốn của mình

để hưởng lợi nhuận.Nó có thể được thực hiện trực tuyến giữa công ty với các đối tác, hoặc thông qua hệ thống giao dịch tự động, hoặc thông qua hoạt động tạo thị trường

*Cũng như các nghiệp vụ giao dịch khác,khi mua bán chứng khoán cho chính mình,bộ phận giao dịch mua bán của công ty sẽ thực hiện Công ty chứng khoán tính phần tăng giá đối với một khoản mua hoặc khấu trừ giá đối với một khoản bán Khoản phí này thường do công ty quy định và phải phù hợp quy định chênh lệch giá tối đa của hiệp hội các nhà giao dịch chứng khoán

Quy trình nghiệp vụ tự doanh

Cũng giống như các hoạt động nghiệp vụ khác, hoạt động tự doanh không có một quy trình chuẩn hay bắt buộc nào Các CTCK tùy theo cơ cấu tổ chức của mình sẽ có các quy trình nghiệp vụ riêng, phù hợp.Tuy nhiên, trên giác độ chung nhất, quy trình hoạt động tự doanh bao gồm các bước sau:

Bước 1: Xây dựng chiến lược đầu tư

*CTCK phải xác định rõ chiến lược trong hoạt động tự doanh của mình là chủ động, thụ động hay bán chủ động, đầu tư vào những ngành nghề hay lĩnh vực nào

*Chiến lược đầu tư của một công ty thường phụ thuộc vào:

- Thực trạng nền kinh tế

- Khả năng nắm bắt và xử lí thông tin

- Trình độ và khả năng phân tích

- Khả năng quản trị điều hành của ban lãnh đạo công ty

Bước 2: Khai thác tìm kiếm cơ hội đầu tư

Theo mục tiêu đã được xác định, công ty sẽ chủ động tìm kiếm mặt hàng, nguồn hàng, khách hàng, cơ hội đầu tư Việc khai thác tìm kiếm cơ hội đầu tư được tiến hành cả ở thị trường phát hành và thị trường lưu thông, cả chứng khoán đã niêm yết và chưa niêm yết

Bước 3: Phân tích, đánh giá chất lượng, cơ hội đầu tư

Bộ phận tự doanh phải triển khai và kết hợp với bộ phận phân tích để thẩm định, phân tích các khoản đầu tư để có các kết luận cụ thể về các cơ hội đầu tư (mặt hàng, số lượng, giá cả, thị trường nào…)

Bước 4: Thực hiện đầu tư

*Sau khi đã đánh giá phân tích các cơ hội đầu tư, bộ phận tự doanh sẽ triển khai các hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán Cơ chế giao dịch sẽ tuân thủ các quy định của pháp luật và các chuẩn mực chung trong ngành

_Nếu mua chứng khoán trên thị trường sơ cấp, bộ phận tự doanh phải tuân thủ đúng quy trình đấu thầu, hoặc bảo lãnh phát hành, hoặc thỏa thuận với các tổ chức phát hành trong các công đoạn chuẩn bị phát hành

Trang 17

_Nếu mua bán chứng khoán trên thị trường thứ cấp, bộ phận tự doanh phải đặt lệnh giao dịch theo phương thức khớp lệnh hoặc khớp giá (trên sàn OTC) Sau đó nhân viên tự doanh kết hợp với bộ phận kế toán để xác nhận kết quả giao dịch, hoàn tất các thủ tục thanh toán chứng khoán và tiền.

*Lệnh giao dịch của bộ phận tự doanh sẽ được chuyển từ bộ phận tự doanh của công ty sang phòng môi giới như lệnh của một khách hàng, trừ việc kiểm tra kí quỹ Nếu lệnh tự doanh và lệnh của khách hàng được chuyển cho phòng môi giới cùng một thời gian thì lệnh của khách hàng được ưu tiên truyền đi trước

Bước 5: Quản lí đầu tư và thu hồi vốn

*Trong khâu này, bộ phận tự doanh có trách nhiệm theo dõi các khoản đầu tư, đánh giá tình hình và thực hiện những hoán đổi cần thiết, hợp lí cũng như tìm kiếm những cơ hội đầu tư mới

*Đối với trái phiếu công ty phải thường xuyên theo dõi mọi biến động về lãi suất, tỉ giá hối đoái, biến động kinh tế để kịp thời điều chỉnh Công ty cần có

những dự đoán về lãi suất của các trái phiếu theo các kì hạn khác nhau trên cơ sở chu kì kinh tế và triển vọng kinh tế, từ đó thực hiện những thay đổi phù hợp trong quản lí danh mục trái phiếu

*Đối với cổ phiếu, công ty phải thường xuyên theo dõi danh mục cổ phiếu của mình trên cơ sở phân tích và dự đoán kinh tế vĩ mô, ngành, thực trạng tình hình các

cổ phiếu đang nắm giữ, định giá chúng để quyết định tiếp tục nắm giữ hay bán đi

=>Do giao dịch tự doanh không phải là các giao dịch môi giới nên không tính các khoản phí hoa hồng,mà giá của chứng khoán giao dịch được điều chỉnh phản ánh khoản phí đã

VII/ So sánh OTC với các TTCK khác

Ta vẫn biết TTCK có 2 cách tổ chức chính đó là tổ chức thành các Sở giao dịch ( stock exchange) hoặc thị trường giao dịch qua quầy OTC ngoài ra còn có thị trường thứ ba giành cho các loại CK ko đủ tiêu chuẩn để để giao dich ở 2 thị

trường trên, đó là thị trường tự do

Sau khi tìm hiểu xong đặc điểm cơ bản, phương thức và hình thức giao dịch của OTC, ta sé có thêm cơ sở để đưa ra những nhận định so sánh OTC với các TTCK khác, giúp các nhà đầu tư hiểu rõ và đưa ra lựa chọn đầu tư đúng đắn hơn!

Thị trường OTC và thị trường chứng khoán tập trung

Thị trường OTC Thị trường Sở giao dịch

Điểm giống nhau

• Đều là cácthị trường có tổ chức,chịu sự quản lí,giám sát của nhà nước

Trang 18

• hoạt động của thị trường chịu sự chi phối của hệ thống Luật chứng khoán

và các văn bản pháp luật khác có liên quan

Điểm khác nhau

_Địa điểm giao dịch là phi tập

trung(công ty chứng khoán,quầy của các

ngân hàng)

_Địa điểm giao dịch tập trung,có trung tâm giao dịch cụ thể(sàn giao dịch hay hệ thống máy tính)

_xuất hiện sớm nhất trong lịch sử hình

thành và phát triển thị trường chứng khoán

_xuất hiện sau

_Giao dịch bằng cơ chế thương lượng và

thỏa thuận giá là chủ yếu,hình thức khớp

lệnh thường sử dụng đối với các lệnh nhỏ

tại các thị trường OTC mới hình thành

-Giao dịch thông qua đấu giá tập trung

_Trên thị trường có thể có nhiều mức giá

đối với một chứng khoán trong cùng một

thời điểm

_Chỉ có một mức giá đối với một chứng khoán trong cùng một thời điểm

_Giao dịch các loại chứng khoán có độ

rủi ro cao.Bao gồm 2 loại chứng

khoán:chứng khoán niêm yết trên sở giao

dịch và chứng khoán không đủ điều kiện

trên Sỏ giao dịch song đáp ứng các yêu cầu

của cơ quan quản lý thị trường OTC

_Giao dịch các loại chứng khoán có độ rủi ro thấp hơn.Các loại chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện niêm yết của Sở

_Sử dụng hệ thống mạng máy tính diện

rộng để giao dịch,thông tin và quản lí

_Có thể sử dụng mạng diện rộng để giao dịch hay không

_Có các nhà tạo lập thị trường cho một

loại chứng khoán bên cạnh các nhà môi

giới tự doanh

_Chỉ có một nhà tạo lập thị trường cho một loại chứng khoán,đó là các chuyên gia chứng khoán của Sở

_Tổ chức quản lý trực tiếp là Sở giao

dịch hoặc hiệp hội các nhà kinh doanh

_Công ty tham gia là các công ty vừa và

nhỏ,công ty công nghệ cao,công ty mới

thành lập nhưng tiềm năng phát triển tốt

_Công ty tham gia là các công ty lớn có danh tiếng,trải qua nhiều thử thách trên thị trường,đáp ứng các tiêu chuẩn niêm yết_Khối lượng giao dịch nhỏ hơn _Khối lượng giao dịch lớn hơn rất nhiều

lần

_Thị trường OTC và thị trường chứng khoán tự do

Trang 19

Thị trường OTC Thị trường tự do

Điểm giống nhau:

_Địa điểm giao dịch là phi tập trung

_Chủ yếu áp dụng cơ chế xác lập giá qua thương lượng và thỏa thuận

_Các chứng khoán giao dịch phần lớn là các chứng khoán có tỉ lệ sinh lợi cao,độ rủi ro lớn

Điểm khác nhau

_Là thị trường có tổ chức chặt chẽ _Là thị trường không có tổ chức

_Giao dịch thông qua thỏa thuận qua

_Có sự quản lý,giám sát của Nhà nước

và tổ chức tự quản

_Không có sự quản lý của nhà nước

VIII/ Sáu dạng rủi ro hay gặp phải trên thị trường OTC

Thị trường OTC vốn dĩ lớn gấp rất nhiều lần so với thị trường chính thức và cũng hấp dẫn nhà đầu tư hơn do có nhiều hàng hóa để lựa chọn, giá cả rẻ hơn, cơ hội được mua cổ phiếu với mức giá ưu đãi, cổ phiếu thưởng…khi công ty tiến hành tăng vốn Thế nhưng thị trường này lại khắc nghiệt hơn nhiều thị trường chính thức, nguyên nhân là thị trường này chưa được pháp luật bảo vệ và thông tin không minh bạch Chính vì thế mà trước khi gia nhập thị trường này, nhà đầu tư cần tìm hiểu kỹ sáu dạng rủi ro sau trước khi tiến hành phân tích và quyết định mua cổ phiếu:

1 Tranh chấp hay thiệt hại về quyền mua cổ phiếu mới tăng vốn

Một trong những kỳ vọng lớn nhất về lợi ích của người mua cổ phiếu là quyền mua cổ phiếu phát hành tăng vốn Đây là một khoản thu nhập, một khoản lợi lớn của người sở hữu cổ phiếu Tuy nhiên, thông thường trước khi phát hành cổ phiếu tăng vốn, công ty tiến hành chốt danh sách cổ đông Tại thời điểm đó, những ai sở hữu cổ phiếu nằm trong danh sách cổ đông của HĐQT sẽ được mua thêm cổ phiếu mới theo tỷ lệ được ấn định dựa trên số cổ phiếu đang sở hữu

Với những nhà đầu tư mới, người mua cổ phiếu mới trong giai đoạn giao thời, hoặc khi danh sách cổ đông đã được chốt, nếu không biết, tiền đã thanh toán cho

Trang 20

người chuyển nhượng, mặc dù cổ phiếu mình đã nắm giữ, nhưng chưa làm xong thủ tục chuyển nhượng, nên mất quyền mua Quyền mua cổ phiếu mới vẫn thuộc

về người chuyển nhượng, trong khi người chuyển nhượng đã bán cổ phiếu của mình đi rồi theo giá thị trường tại thời điểm đó

2.Tranh chấp hay thiệt hại về cổ tức.

Cổ tức của công ty được chia cho cổ đông dựa trên số lượng cổ phần cổ đông đang nắm giữ Rủi ro là ở chỗ, khi mua cổ phiếu, người được chuyển nhượng

không nắm bắt được thông tin, không thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng chuyển nhượng Do đó người mua mặc dù nắm giữ cổ phiếu đúng tên mình rồi, nhưng không nhận được cổ tức

Nhà đầu tư L.V.B tại Hà Nội, trong giao dịch mua bán cổ phiếu của

Techcombank với một người khác là V.T.H, cán bộ một ngân hàng thời điểm đầu năm 2006, đã xẩy ra tranh chấp quyền lợi về quyền chia cổ tức trị giá hàng trăm triệu đồng, đang phải nhờ đến cơ quan quản lý can thiệp và dự kiến phải đưa ra cơ quan bảo vệ pháp luật để phân xử

3.Rủi ro trong mua bán cổ phiếu chưa được chuyển nhượng

Có cổ phiếu theo quy định nội bộ công ty sau 1 năm mới được chuyển nhượng, nhưng nhiều nhà đầu tư không nắm được thông tin, mua loại cổ phiếu đó

Và trong thời hạn 1 năm chưa làm được thủ tục chuyển nhượng, thì các quyền lợi về quyền mua thêm cổ phiếu tăng vốn, chia cổ tức…, vẫn thuộc về người đứng tên sở hữu cổ phiếu, còn người đã bỏ tiền ra mua, đang nắm giữ cổ phiếu thì bị chiếm đoạt mất quyền lợi

Thực tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần E, có trụ sở chính tại Tp.HCM, thời gian qua đã xẩy ra khá nhiều tranh chấp quyền lợi này Nhiều người đang nhờ đến

sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng

4.Rủi ro trong mua bán cổ phiếu ở thời điểm phát hành

Loại cổ phiếu này trong giới mua bán trên thị trường OTC còn gọi là cổ phiếu cũ

và cổ phiếu mới, tức là thời điểm phát hành, kèm theo đó là quyền lợi mà nhà đầu

tư có được: cổ tức, cổ phiếu thưởng, quyền mua cổ phiếu

Ngày đăng: 08/12/2015, 08:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w