Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
-Nhìn lại lịch sử phát triển của xã hội loài người, nông nghiệp luôn luôn giữmột vai trò quan trọng, là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm cho xã hội,nhiều nguyên liệu cho công nghiệp, nhiều hàng cho xuất khẩu (khi ngoạithương phát triển) Bước vào thế kỷ XXI, với những thách thức về an ninhlương thực, dân số, môi trường sinh thái,… nông nghiệp được dự báo là vẫntiếp tục giữ vai trò quan trọng ấy Trong thế kỷ XX, nông nghiệp thế giới đã cónhững bước tiến vượt bậc, phát triển từ giai đoạn sản xuất nông nghiệp truyềnthống sang giai đoạn hiện đại hoá nông nghiệp, nhờ vậy kinh tế nông thôn vàđời sống của người dân nông thôn cũng có nhiều chuyển biến Đặc biệt, trongvài thập kỷ trở lại đây, với sự tiến triển nhanh chóng của những xu thế lớn trênthế giới, như cách mạng khoa học và công nghệ, toàn cầu hoá và hội nhập kinh
tế quốc tế, kinh tế thị trường hiện đại, kinh tế tri thức,… nhận thức về nôngnghiệp, nông thôn và nông dân đã có những sự thay đổi
Ở Việt Nam chúng ta, một đất nước còn nặng về nông nghiệp, những thànhtựu của 20 năm đổi mới vừa qua, đặc biệt là công cuộc công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước, việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,… đã góp phần làm thay đổi nhận thức
về nông nghiệp, nông thôn và nông dân., Nghị quyết 5 của Trung ương khoá
IX đã đặt giải pháp về công tác quy hoạch ở vị trí đầu tiên trong hệ thống giảipháp nhằm đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ 2001-
2010 Nghị quyết khẳng định: “Quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thônphải đặt trong tổng thể quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội cả nước, trong bốicảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học,công nghệ và thị trường;… Chú trọng làm tốt quy hoạch những vùng sảnxuất hàng hoá tập trung (cây, con, sản phẩm, ngành nghề…); quy hoạch xây
1
Trang 2dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xãhội; quy hoạch phát triển khu dân cư, xâydựng làng, xã, thị trấn; gắn kết chặt chẽ với an ninh- quốc phòng, phòngchống, hạn chế, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường và giữ gìn bản sắcvăn hoá dân tộc".
Trong thời gian qua, dòng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) vào lĩnh vực nônglâm nghiệp và nông thôn (NLN&NT) còn hết sức hạn chế, chưa tương xứngvới tiềm năng cũng như thế mạnh của Việt Nam và ngày càng có xu hướnggiảm sút Mặt khác, so với hoạt động ĐTNN trong các lĩnh vực khác, hiệu quảthực hiện các dự án trong lĩnh vực này còn rất hạn chế Do vậy, em xin được
chọn dề tài thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn Trong quả
trình nghiên cứu chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong thầy
cô và các bạn góp ý Em xin chân thành cảm ơn !
-2
Trang 3CHƯƠNG I – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG.
I.Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ).
1 Khái niệm đầu tư nước ngoài.
Theo quỹ tiền tệ quốc tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư đượcthực hiện nhằm thu lợi lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nềnkinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư Ngoài mục đích lợi nhuận, nhàđầu tư mong muốn tìm được chỗ đứng trong quản lý doanh nghiệp
Về thực chất, khái niệm này đã khẳng định tính lâu dài trong hoạt động đầu tư
và động cơ của các nhà đầu tư là tìm kiếm lợi nhuận và kiểm soát hoạt độngcủa các doanh nghiệp và mở rộng thị trường
Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài phảnánh những lợi ích khách quan lâu dài mà một thực thế kinh tế tại một nước(nhà đầu tư ) đạt được thông qua một cơ sở kinh tế tại một nền kinh tế khácvới nền kinh tế thuộc đất nước của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp).Lợi ích lâu dài bao gồm sự tồn tại của một mối quan hệ giữa nhà đầu tư vàdoanh nghiệp đầu tư cũng như nhà đầu tư giành được ảnh hưởng quan trọng và
có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó Đầu tư trực tiếp bao hàm sựgiao dịch ngay từ đầu và tất cả những giao dịch vốn tiếp sau giữa hai thực thể
và các doanh nghiệp liên kết một cách chặt chẽ
Như vậy động cơ chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài là phần vốn được sửdụng ở nước ngoài gắn liền với việc tạo ra ảnh hưởng trực tiếp hoặc phục vụviệc kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiếp nhậnphần vốn đó
Theo Luật Đầu tư nước ngoài bổ sung năm 1996 và trong lần sửa đổi, bổ sungmột số điều ngày 9/6/2000 (điều 2 khoản 1) của Việt Nam" FDI là việc nhàđầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền mặt hoặc bất kỳ tài sản nào
để tiến hành đầu tư theo quy định của Luật này"
3
Trang 4Theo Luật này, những tài sản và vốn sau đây mới được đưa vào sử dụng nhằmxây dựng những cơ sở mới hoặc đổi mới trang thiết bị kỹ thuật hiện có:
- Các loại thiết bị máy móc, dụng cụ (gồm cả những dụng cụ dùng để thínghiệm), phương tiện vận tải, vật tư kỹ thuật
- Quyền sở hữu công nghiệp, bằng sáng chế, phát minh, phương pháp côngnghệ, bí mật kỹ thuật
- Vốn bằng ngoại tệ để chi lương cho nhân viên và công nhân làm việc ở các
cơ sở hoặc tiến hành những dịch vụ theo quy định của Luật này
Luật này cho thấy không phải bất kỳ sự vận động nào về vốn từ nước ngoàivào Việt Nam cũng đều là đầu tư nước ngoài Những tài sản và vốn muốn đưavào Việt Nam phải tuân theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại ViệtNam
2 Phân loại hoạt động FDI.
Phân loại theo tỷ lệ sở hữu vốn.
- Vốn hỗn hợp ( vốn trong nước và nước ngoài ).
Hợp đồng hợp tác kinh doanh : Hợp đồng hợp tác kinh doanh rất đa dạng,
thường được áp dụng phổ biến trong các lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí,công nghiệp gia công và dịch vụ Các bên tham gia hợp đồng vẫn là nhữngpháp nhân riêng, thời hạn hợp đồng thường ngắn Do vậy loại hình này thíchhợp với các nhà đầu tư nước ngoài có ít tiềm lực về vốn
Doanh nghiệp liên doanh ( công ty liên doanh): Là hình thức tổ chức kinh
doanh quốc tế do hai bên hoặc các bên nước ngoài cùng hợp tác với nước chủnhà trên cơ sở góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi
ro theo tỷ lệ góp vốn Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thứccông ty TNHH, có tư cách pháp nhân theo luật pháp của nước nhận đầu tư.Doanh nghiệp liên doanh là loại hình thường được nước chủ nhà ưa chuộng vìhầu hết các doanh nghiệp liên doanh khi đầu tư, kinh doanh ở nước chủ nhà,
họ thường phải mang theo các thiết bị khoa học kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm
4
Trang 5quản lý hiện đại Tuy nhiên loại hình đầu tư này thường được nước chủ nhà ápdụng chủ yếu đối với đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Nhưng để đạt được kếtquả mong muốn thì việc áp dụng hình thức này đòi hỏi nước chủ nhà phải cókhả năng góp vốn, các nhà quản lý doanh nghiệp phải có đủ trình độ và nănglực quản lý, tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại củanước ngoài.
Doanh nghiệp cổ phần FDI ( hay công ty cổ phần) là doanh nghiệp có các cổ
đông nước ngoài và trong nước ( cổ đông có thể là các cá nhân hoặc tổ chức )nhưng cổ đông nắm quyền chi phối có quốc tịch nước ngoài, đây là hình thứcdoanh nghiệp hiện đại Tuy đều là doanh nghiệp có vốn hỗn hợp song doanhnghiệp cổ phần FDI có cơ cấu tổ chức và cách thức hoạt động rất khác so vớidoanh nghiệp liên doanh
- Doanh nghiệp 100% vốn FDI : là doanh nghiệp do các nhà đầu tư nước ngoài
thành lập tại nước chủ nhà và họ tự quản lý, chịu trách nhiệm hoàn toàn về cáckết quả sản xuất kinh doanh Đây là hình thức đầu tư được các nhà đầu tư nướcngoài ưa chuộng bởi ngoài việc phải tuân thủ những quy định có tính pháp luậtcủa nước chủ nhà thì bên phía nước ngoài toàn quyền trong việc điều hành vàquản lý doanh nghiệp của mình, không mất nhiều thời gian tìm tiếng nói chungvới những người cùng tham gia điều hành như hình thức liên doanh
Một số dạng đặc biệt của hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài là :
o Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao ( building – operate transfer) BOT
-o Hợp đồng xây dựng – chuyển gia-o – kinh d-oanh ( building – transfer –operate ) BTO
o Hợp đồng xây dựng – chuyển giao ( building – transfer ) BT
Phân loại theo mục tiêu.
FDI phụ thuộc vào mục tiêu của chủ đầu tư mà có thể chia ra làm đầu tư theochiều rộng ( chiều ngang – HI ) và đầu tư theo chiều sâu ( chiều dọc – VI )
5
Trang 6HI là hình thức chủ đầu tư có lợi thế cạnh tranh trong việc sản xuất một sảnphẩm nào đó ( công nghệ, kỹ năng quản lý ) và chuyển việc sản xuất sảnphẩm này ra nước ngoài.
VI là hình thức mà chủ đầu tư chú ý đến việc khai thác nguồn nguyên liệu tựnhiên dồi dào và lao động rẻ ở nước ngoài để sản xuất các sản phẩm có thểnhập lại về nước mình hay xuất khẩu sang nước khác
Phân loại theo phương thức thực hiện.
FDI có thể thực hiện theo 2 hướng là đầu tư mới ( greenfield ) hoặc sáp nhập
và mua lại ( M&A – Merger and Acquisition )
Đầu tư mới là việc chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở bằng cách xây dựng cácdoanh nghiệp mới ở nước ngoài, đây là hướng đi truyền thống và thường đượcchủ đầu tư của các nước phát triển áp dụng ở nước đang phát triển
Hướng thứ hai là sáp nhập hoặc mua lại các công ty của nước khác thườngđược tiến hành giữa các nước pt, các NICs và rất phổ biến trong những nămgần đây
Các nước đang phát triển chủ yếu lựa chọn phương thức đầu tư mới do ở cácnước này năng lực sản xuất còn thiếu và yếu Đầu tư mới sẽ giúp hình thànhnên hàng loạt cơ sở sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong những lĩnh vực mới
mà nhà nước nhận đầu tư chưa từng có
3 Vai trò của đầu tư nước ngoài.
Vai trò đối với nước đi đầu tư.
Dựa trên lý thuyết xuất khẩu tư bản của Lênin thì ĐTNN là yếu tố sóng còncủa CNTB, do đó mục đích tiến hành đầu tư ra nước ngoài nhằm :
- Mục đích kinh tế : tìm kiếm lợi nhuận
Kéo dài chu trình sống của công nghệ đã cũ, khi trong nước không còn điềukiện phát triển thì họ có thể mang đi đầu tư ở những nước có trình độ côngnghệ thấp hơn kéo dài chu trình sống cho sản phẩm và công nghệ, nhờ vậy màtạo thêm được lợi nhuận
6
Trang 7Tạo ra nguồn cung cấp nguyên vật liệu mới.
- Trong trường hợp các nước phát triển đầu tư sang nhau thì một mục đích rất
rõ rệt là hợp tác và liên kết cùng với nhau để cùng phát triển, hạn chế bớt sựcạnh tranh không cần thiết
Vai trò đối với nước chủ nhà.
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Vốn đầu tư là yếu tố quyết định đối với sự tăng trưởng kinh tế của mọi quốcgia Dạng đơn giản nhất của mô hình Harrod – Domar
Ý nghĩa của mô hình này là để đạt được mức tăng trưởng mong muốn, cần cómột tỷ lệ đầu tư trên GDP xác định Nếu thiếu đầu tư thì không thể đạt đượctốc độ tăng trưởng dự định Đầu tư có thể được tích tụ bằng cách tiết kiệmtrong nước, song cũng có thể thu nhận từ nước ngoài
- Tạo cơ hội mở rộng thị trường.
Các chính sách giảm thuế xuất nhập khẩu, bãi bỏ hàng rào thuế quan, phi thuếquan, chính sách tỷ giá hối đoái tự do đã làm cho hoạt động thương mại ở cácnước tham gia vào toàn cầu hoá có điều kiện tăng số lượng và các chủng loạisản phẩm xuất khẩu Điều này khiến cho mỗi nước phải khai thác tối đa lợi thế
so sánh của nước mình để tận dụng cơ hội cho xuất khẩu, đồng thời tăngcường quan hệ song phương và đa phương với các nước khác
Trong quá trình hội nhập, điều dễ nhận thấy nhất là thị trường vốn liên kết chặtchẽ với nhau hơn, nhiều nước đang phát triển hội nhập nhanh hơn, mạnh hơnvới thị trường tài chính toàn cầu
Việc các nước đang phát triển loại bỏ được kiểm soát dòng vốn qua biên giới,đặc biệt là các dòng vốn chảy vào và dỡ bỏ dần những hạn chế trong thanhtoán và giao dịch thông qua tài khoản đã đẩy nhanh hơn tốc độ liên kết kinh tế
Trang 8quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư nước ngoài Điều đó cũng có nghĩa
là các nước có cơ hội để phát triển và mở rộng thị trường để tiêu thụ sảnphẩm, có điều kiện thu hút vốn đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài, các nguồnviện trợ phát triển của các nước và các định chế tài chính quốc tế như ngânhàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, ngân hàng phát triển châu Á , có điều kiệntiếp nhận công nghệ tiên tiến thông qua các dự án đầu tư Thông qua FDI, cáccông ty trong nước có điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu và nhập khẩu,tăng quy mô sản xuất cũng như khả năng tiếp cận đến mạng lưới tiếp thị quốctế
Tuy nhiên, mức độ khai thác các tiềm năng này phụ thuộc rất nhiều vào chínhsách thu hút FDI của nước tiếp nhận đầu tư Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể
là một động lực mạnh mẽ cho phát triển và tăng trưởng ở các nước đang pháttriển, nhưng nó cũng có thể gây rối loạn cho quá trình phát triển nếu khôngđược quản lý cẩn trọng Các nguy cơ tiềm ẩn đối với đầu tư nước ngoài có thể
là yêu cầu bảo vệ thị trường nội địa (qua đó làm méo mó thị trường); mất khảnăng kiểm soát đối với các ngành thuộc sở hữu nước ngoài; chịu ảnh hưởnglớn hơn trước những cú sốc từ bên ngoài
- Góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ.
Thông qua các doanh nghiệp có vốn FDI, những công nghệ tiên tiến, hiện đạitrong các lĩnh vực như viễn thông, khai thác dầu khí, hoá chất, sẽ được dunhập vào đất nước, tạo sự phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn Cácdoanh nghiệp có có vốn đầu tư nước ngoài có trình độ công nghệ cao hơn sẽ
có tác dụng thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ và nângcao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế - Gópphần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Ngày nay sự giàu có và khả năng cạnh tranh của một quốc gia không còn đơnthuần phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có mà phần lớn phụthuộc vào chất lượng của nguồn nhân lực Do vậy, một trong những cách tốt
8
Trang 9nhất để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là tham gia vào hội nhập kinh tếquốc tế bởi ở đó người lao động có điều kiện nâng cao trình độ, tay nghề và kỹnăng sản xuất Hơn nữa môi trường cạnh tranh để tìm kiếm việc làm trong điềukiện hội nhập kinh tế thế giới, người lao động buộc phải tìm tòi, học hỏi vàthường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, ý thức kỷ luật đểđáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các công ty, xí nghiệp trong và ngoài nước.Một trong những biện pháp có thể nói là hữu hiệu nhất đối với các quốc giatrong việc giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việctăng cường thu hút nguồn vốn FDI Đối với các quốc gia đang phát triển , lựclượng lao động dồi dào nhưng trình độ lại không cao nên thời kỳ đầu thực hiệnCNH, những nước này thường đưa ra những chính sách khuyến khích FDI vàocác lĩnh vực, ngành nghề sử dụng nhiều lao động như: công nghiệp chế biến,công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng để tận dụng lao động địa phương Hơnnữa, nhiều nhà đầu tư khu vực châu Á cũng có xu hướng đầu tư vào nhữngngành này để khai thác lợi thế so sánh với mục đích tìm kiếm thị trường mớivới giá lao động rẻ, lợi nhuận cao.
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Hiện nay nhìn chung ở các nước đang phát triển, những lĩnh vực dịch vụ thuhút nhiều đầu tư nước ngoài gồm có du lịch, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm,thương mại và viễn thông Điều này đã góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng phù hợp với quá trình thực hiện CNH, HĐH của các nước, nghĩa
là tỷ trọng lao động và GDP của khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên vàkhu vực nông nghiệp giảm xuống
- Học tập kinh nghiệm quản lý hiện đại.
Kinh nghiệm quản lý hiện đại được tích luỹ thông qua quá trình chuyển giaocông nghệ vì các nước nhận đầu tư không chỉ nhập khẩu công nghệ đơn thuần
mà họ phải học hỏi để nắm vững kỹ năng vận hành, sửa chữa, thực hiện tốt cáckhâu để đạt hiệu quả cao hoặc thông qua triển khai dự án Các nhà đầu tư nước
9
Trang 10ngoài không chỉ chuyển giao máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu mà cònchuyển giao cả những tri thức khoa học, bí quyết quản lý, kỹ năng tiếp cận thịtrường Điều này bắt buộc các doanh nghiệp trong nước phải nâng cao trình
độ và kinh nghiệm của mình trong công tác quản lý
II Những vấn đề lý luận chung về ĐTNN vào lĩnh vực nông nghiệp.
Có hàng loạt các yếu tố khác nhau có thể tác động tới môi trường đầu tư Dựa trên nghiên cứu của P.Timmer & McCulloch, các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới tổng kết các yếu tố ảnh hưởng tới đầu tư vào khu vực nông thôn, nhất
là tác động tới các doanh nghiệp nông thôn (Hình 1)
Hình 1: Các nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư nông thôn
Thu nhập nông thôn phi
Nhu cầu “địa phương”
•Lao đông sẵn có & tiền công [kỹ
năng và văn hóa]
Tiếp cận công nghệ
Tiền gửi về
Nhu cầu sản phẩm đầu
ra của các doanh nghiệp nông thôn
DOANH NGHIỆP NÔNG THÔN
Sản xuất nội địa phi nông nghiệp
Nhu cầu bên ngoài Nhu cầu từ nước ngoài
Tỷ giá hối đoái
Sẵn sàng về Vốn & Chi phí Chứng khoán
Ổn định sở hữu đất Cơ sở hạ tầng Thuế Quy định & cấp phép
Môi trườ đầu tư th
10
Trang 11CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ĐTNN TRONG LĨNH VỰC NÔNG LÂM NGHIỆP – NÔNG THÔN ( NLN - NT).
Luật đầu tư nước ngoài đã được ban hành ngày 26 tháng 12 năm 1987 và cóhiệu lực từ ngày 1/1/1988 đến nay đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm
1990, 1992, 1996, 2000 và 2005 Sau 20 năm, hoạt động đầu tư nước ngoàivào lĩnh vực NLN – NT đã đạt được những thành tựu rất khả quan Bên cạnh
đó còn một số hạn chế Trong chương này chúng ta sẽ xem xét những thànhtựu, hạn chế trong hoạt động ĐTNN vào lĩnh vực nông nghiệp và nhữngnguyên nhân gây ra những hạn chế đó
tỷ trọng ngày càng tăng trong GDP Năm 2003, khu vực FDI đóng góp 14%GDP so với tỷ lệ đóng góp 6,4% của khu vực này năm 1994 Bên cạnh đó,khu vực có vốn FDI luôn dẫn đầu về tốc độ tăng giá trị gia tăng so với cáckhu vực kinh tế khác và là khu vực phát triển năng động nhất
Trang 12Hình 2: FDI thực hiện so với tổng đầu tư toàn xã hội và so với GDP.
Nguồn: Nguyễn Thị Tuệ Anh et al, 2005.
Theo báo cáo của Nhóm cố vấn Hợp tác Quốc tế ( ISG – Bộ Nông nghiệp vàPTNT), hàng năm, khu vực nông nghiệp nông thôn thu hút khoảng 50 dự ánvới giá trị khoảng 200 triệu USD Phần lớn các dự án FDI trong nông nghiệp
có quy mô nhỏ và trung bình, phân bố gần các vùng nguyên liệu Nhữngdoanh nghiệp này đóng góp trên 17 triệu USD cho ngân sách và trên 500triệu USD trong kim ngạch xuất khẩu
Tính đến hết tháng 6 năm 2005, lĩnh vực nông, lâm nghiệp đã thu hút 782 dự
án đầu tư nước ngoài ( ĐTNN ) với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 4,1 tỉ USD,trong đó có 623 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 3,2
tỷ đô la Mỹ, chiếm khoảng 7% vốn đầu tư đăng ký của khu vực ĐTNN cảnước Trong những năm đầu của thập kỷ 90, nguồn vốn ĐTNN tập trung chủyếu vào các dự án chế biến gỗ và các loại lâm sản Tuy nhiên từ năm 1995cho đến nay, nguồn vốn này được thu hút khá đồng đều vào các dự án trồngtrọt, chế biến lâm sản, sản xuất đường mía, sản xuất thức ăn chăn nuôi, chănnuôi gia súc gia cầm, trồng rừng và sản xuất nguyên liệu giấy Về đại thể,nguồn vốn Fdi đầu tư vào nông nghiệp tập trung ở một số lĩnh vực: trồngtrọt, thủy sản, chăn nuôi, công nghệ chế biến Thực tế cho thấy trong thời
Trang 13gian qua, một số lĩnh vực có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động khá hiệu quả,cùng với thành phần kinh tế khác tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trongnông nghiệp, giải quyết số lượng lao động nhàn rỗi lớn ở nông thôn, và lựclượng lao động Việt Nam có điều kiện tiếp cận kinh nghiệm quản lý, kỹthuật hiện đại, từng bước làm chủ trong sản xuất khi tham gia hội nhập vớikinh tế thế giới
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế hiện nay, một trong những ngànhlàm ăn khá tốt của các dự án đầu tư là sản xuất thức ăn gia súc Ước tínhnăm 1995, cả nước sản xuất 632.000 tấn thức ăn gia súc, trong đó số doanhnghiệp liên doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 42,7%thì đến nay các doanh nghiệp thức ăn gia súc có vốn đầu tư nước ngoàichiếm tỷ lệ trên 70% trong sản lượng của cả nước là 3 triệu tấn
Theo thống kê của cục Đầu tư nước ngoài ( Bộ kế hoạch và Đầu tư ) tínhđến tháng 6/2007 có 7.490 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký67,3 tỷ USD, vốn thực hiện gần 30 tỷ USD Trong đó, các dự án thuộc lĩnhvực nông, lâm nghiệp là 758 dự án, vốn đăng ký 3,78 tỷ USD, vốn thựchiện gần 1,9 tỷ USD Tỷ trọng GDP trong ngành nông nghiệp chiếm 10,6%
số dự án ( qua cơ cấu đầu tư giữa các ngành ) và chỉ chiếm 7,6% tổng vốnđầu tư trong đó ngành công nghiệp nặng chiếm tới 45,5% vốn đầu tư, côngnghiệp nhẹ chiếm 32,7% Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2007, FDI vào lĩnhvực nông nghiệp chiếm 2,46% tương đương với 107 triệu USD trên tổng sô4,3 tỷ USD vốn FDI của cả nước Vốn FDI thực hiện trong nông nghiệpnông thôn là 1,9 tỷ (chiếm 6,3%)
Hiện nay, nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp, lâmnghiệp chủ yếu được thực hiện dưới hai hình thức là doanh nghiệp liêndoanh và doanh nghiệp 100 % vốn nước ngoài Trong đó, hình thức 100%
Trang 14vốn nước ngoài chiếm tới 77,4%, liên doanh chiếm 22,1% và hợp đồng hợptác kinh doanh chỉ chiếm 0,5% tổng vốn đầu tư.
Hình 3: FDI trong nông lâm nghiệp theo hình thức đầu tư (chỉ tính các
dự án còn hiệu lực) Nguồn MARD.
2 Bước đầu chủ trương chuyển dịch cơ cấu nông lâm nghiệp – nông thôn.
Bảng 1 : Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế, 2001-2005 (%)
Nông - lâm – thủy sản
Công nghiệp – xây dựng
Công nghiệp chế biến
Dịch vụ
24,53 36,73 18,56 38,73
23,24 38,13 19,78 38,63
23,03 38,49 20,58 38,48
22,54 39,47 20,45 37,99
21,81 40,21 20,34 37,98
20,70 40,80 20,70 38,50
Nguồn: TCTK và tính toán của Viện NCQLKTTƯ.
Trang 15Trong khu vực nông lâm thủy sản, sự chuyển dịch cơ cấu chủ yếu theo sựchuyển dịch giữa hai nhóm ngành nông nghiệp và thủy sản, tỷ trọng củangành thủy sản tăng từ 16,0% năm 2001 lên 18,5% năm 2005, nông nghiệpgiảm từ 78,6% năm 2001 xuống 75,8% Sự chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngànhnông nghiệp chậm : tỷ trọng ngành trồng trọt chiếm 78,6% tổng giá trị sảnxuất nông nghiệp năm 2005 so với 81,0% năm 2000 ( theo giá 1994) Kếtquả lớn nhất trong chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp là chuyển dịchtrong nội bộ ngành trồng trọt theo hướng giảm diện tích trông lúa sang trồngcác loại cây khác có năng suất và giá trị kinh tế cao hơn.
3 Tiếp thu một số công nghệ mới.
Đối với lĩnh vực nông nghiệp, do có phạm vi rộng ( bao gồm cả lĩnh vực lâmnghiệp và ngư nghiệp, thủy lợi và công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản ),công nghệ được áp dụng trong nông nghiệp bao gồm nhiều loại như côngnghệ sinh học được áp dụng tạo ra các giống cây, con có năng suất cao, côngnghệ sản xuất và sau thu hoạch, công nghệ chế biến nông lâm hải sản, côngnghệ phát triển và quản lý tài nguyên nước; công nghệ tưới cho cây lươngthực, cây công nghiệp, cây ăn quả trên các vùng đất khác nhau; công nghệquản lý công trình thủy lợi; xây dựng các giải pháp để chuyển dịch cơ cấukinh tế nông thôn, nâng cao hiệu quả của các hình thức tổ chức sản xuất, pháttriển dịch vụ phục vụ sản xuất cho nên quá trình CGCN trong nông nghiệp
có những đặc điểm khá phức tạp và có tính chất đặc thù riêng
Thực trạng chuyển giao công nghệ trong khu vực FDI như sau:
Trong hơn 10 năm thu hút vốn FDI, lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn đã thuhút được một lượng vốn đầu tư nhất định Tuy nhiên, lượng vốn đầu tư trựctiếp cũng như các công nghệ chuyển giao chưa đáp ứng đủ nhu cầu thay đổi
cơ bản về trình độ và năng lực công nghệ trong toàn ngành do công nghệ ápdụng trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn còn khá lạc hậu Theo số liệu
Trang 16gần đây, Việt Nam là một nước nông nghiệp có nguồn nông sản nguyên liệudồi dào nhưng thiết bị, công nghệ chế biến nông sản không đủ năng lực sảnxuất hàng xuất khẩu Có thể điểm qua các số liệu sau:
- 128 nhà máy xay xát gạo, tổng công suất 2,4 triệu tấn nhưng thiết bị từnhững năm 60 (ở miền Bắc) và những năm 80 (ở miền Nam);
- 126 nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh, 11 cơ sở chế biến bột cá, 84doanh nghiệp chế biến nước mắm không đủ đáp ứng nhu cầu xuất khẩu vàtiêu dùng nội địa;
- Ngành khai thác hải sản mới chủ yếu hoạt động gần bờ, chưa có nhiềuphương tiện tàu và máy móc phục vụ đánh bắt xa bờ
- 18 nhà máy chế biến rau quả chỉ đảm bảo chế biến được 5% sản lượng rauquả, chưa đáp ứng được chỉ tiêu chất lượng xuất khẩu;
- 30 nhà máy chế biến thịt của cả nước chỉ đạt tỷ lệ chế biến 1,5%;
- Các khu vực chế biến dầu thực vật, chè, cà phê, cao su cũng chưa được đầu
tư thích đáng, thiết bị cũ, hiệu quả thấp;
- Công nghệ chế biến sữa đang ở tình trạng thiếu nguyên liệu tại chỗ
Xét theo ngành, tỷ trọng vốn FDI vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thônchiếm tỷ trọng nhỏ Trong giai đoạn 1988 đến 2000, tỷ trọng vốn đầu tư vàocông nghiệp là 53,1%, dịch vụ là 41,1%, trong khi đó nông, lâm nghiệp chỉ5,8% tổng số vốn FDI, còn qui mô của các dự án cũng nhỏ hơn so với qui môcủa các dự án trong các ngành khác Về vốn thực hiện (lượng vốn thực sự đãđược di chuyển vào trong các ngành) trong nông nghiệp chỉ bằng 1/5 tổng sốvốn đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ và bằng 1/11 tổng số vốn đầu tư trong lĩnhvực công nghiệp Nhưng lực lượng lao động chủ yếu hiện nay của Việt Namlại ở trong khu vực nông nghiệp Điều này cho thấy sự bất cân xứng giữa vịtrí, vai trò của lĩnh vực nông nghiệp và yêu cầu khai thác các nguồn lực pháttriển của khu vực này với tình hình thực hiện trên thực tế Các số liệu trên còncho thấy lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn chưa thu hút có hiệu quả vốn
Trang 17FDI Tuy nhiên, thực tế không hẳn như vậy Trong lĩnh vực này, nhiều dâychuyền công nghệ mới đã được chuyển giao vào Việt Nam như dây chuyềnsản xuất các loại rau quả hộp, nước trái cây, một số liên doanh đã được thànhlập ở Việt Nam để xuất khẩu một phần hoặc toàn bộ sản phẩm như liên doanhsản xuất thịt lợn ở Bình Dương, bột mì cao cấp ở Bà Rịa - Vũng Tàu, liêndoanh chế biến chè, hồ tiêu Một số giống cây mới đã được đưa vào ViệtNam cho năng suất cao như giống dứa Cayen, giống mía ấn Độ Đài Loan,châu Mỹ La tinh Nhiều loại thiết bị chế biến đã được đưa vào Việt Namthuộc loại tiên tiến và hiện đại bậc nhất thế giới như dây chuyền xay xát gạoSatake của Nhật Bản, dây chuyền sản xuất bột mỳ của Xinhgapo, Inđônêxia,các dây chuyền chế biến rau quả của ý, Hà Lan, các dây chuyền chế biến thịtcủa úc, các dây chuyền chế biến thức ăn gia súc của Mỹ, Pháp, Hà Lan, cácdây chuyền chế biến chè của Nhật, Bỉ, Đài Loan, các nhà máy đường củaAnh, Pháp, ấn Độ, úc, Nhật, Đài Loan, liên doanh chế biến sữa và các sảnphẩm sữa, liên doanh sản xuất bia, nước giải khát, liên doanh chế biến hảisản Các công nghệ mới này góp phần tạo ra một khối lượng hàng nông sảnxuất khẩu lớn, chất lượng cao và giá thành hạ, có khả năng cạnh tranh trên thịtrường thế giới Điều này đã được khẳng định rõ trong văn kiện đại hội IXĐảng cộng sản Việt Nam: “Trong nông nghiệp, đã ứng dụng một số thành tựucủa công nghệ sinh học; đưa một số giống mới vào sản xuất đại trà trên cơ sở
áp dụng các kết quả nghiên cứu, tuyển chọn, lai tạo giống cây trồng, vật nuôibằng công nghệ mới và công nghệ cao”
Về cơ chế khuyến khích hoạt động CGCN vào lĩnh vực nông nghiệp và nôngthôn, thời gian qua Chính phủ Việt Nam đã có những chính sách khá mạnhtrong việc thu hút vốn FDI và công nghệ hiện đại vào lĩnh vực này Chẳnghạn, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam qui định các dự án thuộc lĩnh vựcnuôi trồng nông, lâm, thủy sản, ứng dụng công nghệ sinh học, chế biến nôngsản, lâm sản (trừ gỗ), thủy sản từ nguồn nguyên liệu trong nước xuất khẩu
Trang 1850% sản phẩm trở lên, sản xuất các loại giống mới có chất lượng và hiệu quảkinh tế cao thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư và mức thuếthu nhập doanh nghiệp là 10% lợi nhuận thu được Ngoài ra, việc ưu đãi thuếcho các mặt hàng xuất khẩu, chính sách trang trại đã phát huy tác dụng, chínhsách thuế nông nghiệp đã làm yên tâm người nông dân, chính sách khuyếnnông, khuyến lâm, khuyến ngư đã giúp cho hàng triệu nông dân tiếp cận vớicông nghệ mới, đặc biệt là công nghệ sinh học Những chính sách này đangtạo ra một môi trường sản xuất và kinh doanh hàng nông sản sôi động, cóchiều sâu và hiệu quả ngày càng tăng, làm tăng thêm tính hấp dẫn của môitrường đầu tư trong lĩnh vực này đối với hoạt động CGCN Ngoài ra, thịtrường xuất khẩu cũng đang ngày càng mở rộng cho hàng nông sản Việt Nam.
4 Nâng cao giá trị hàng nông sản xuất khẩu.
Đây là một thành tựu rất đáng khích lệ, nhất là trong tình hình Việt Nam đãtham gia tổ chức thương mại thế giới WTO Việc mở cửa các thị trường làđiều không tránh khỏi, vì thế nâng cao giá trị, chất lượng hàng nông sản xuấtkhẩu cũng là một biện pháp thị trường nông sản Việt Nam cạnh tranh vớihàng nông sản của các nước có thế mạnh về hàng nông sản Đối với nôngnghiệp cam kết thuế nhập khẩu bình quân của các nông sản là 21% so vớimức hiện hành 31,6%, giảm đi 16% Cam kết áp dụng an toàn vệ sinh thựcphẩm các sản phẩm nông nghiệp ( theo Bộ Thương m ại)
Bảng 2: Cơ cấu xuất khẩu phân theo thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu
Trang 19Tổng doanh thu của các dự án đã đi vào sản xuất năm 2003 đạt 657,7 tỷđồng; kim ngạch xuất khẩu đạt trên 13 triệu USD Bình quân một lao độngtrong năm đạt 152,5 triệu đồng doanh thu, 3.000 USD giá trị xuất khẩu, 14,4triệu đồng lợi nhuận và nộp ngân sách gần 2 triệu đồng.
Có thể nói mặc dù cơ cấu xuất khẩu đã có sự thay đổi theo hướng tích cựctrong thời gian qua, nhưng tốc độ chuyển dịch theo hướng đáp ứng yêu cầubiến đổi của thị trường và xu thế thế giới diễn ra còn chậm, tỷ trọng hàngthô, sơ chế vẫn còn cao Tỷ trọng nhóm hàng chế biến công nghệ cao cònquá nhỏ bé Những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng nhanh và chiếm tỷ trọnglớn đều là những mặt hàng hoặc là hạn chế về các yếu tố cơ cấu như năngsuất, diện tích, khả năng khai thác (nhóm nông, thuỷ sản và khoáng sản)hoặc là phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ và nguyên liệu nhập từ bênngoài, do đó giá trị gia tăng thấp (giày da và dệt may)
5 Đa dạng hoá sản phẩm.
Sau khi nhà nước bãi bỏ chính sách chỉ huy và sản xuất tập thể, ngày naynông nghiệp Việt-Nam đã thực hiện được kế hoạch đa canh Thay vì chỉ tậptrung một một số hoa màu cổ truyền với nhiều rủi ro liên quan đến giá cả vàthời tiết, nông dân được tự do trồng đủ loại hoa màu, cây ăn trái và kỹ nghệvới lợi tức cao hơn Mức tăng trưởng hàng năm của khu vực nông nghiệpgiữ ở mức 3.3% và 3.5% trong hai năm 2003 và 2004, năm 2005 là 2.2% và
Trang 20thực tế sản xuất có tính hàng hóa cao của các dự án Hệ thống cơ sở hạ tầngnông thôn vùng có dự án được xây dựng mới và nâng cấp so với trước, nhất
là điện, thủy lợi, giao thông, cơ sở chế biến nông, lâm sản, trạm y-tế Đối vớicác vùng miền núi,vùng đồng bào các dân tộc ít người như Sơn La, CaoBằng, Quảng Ninh, Lâm Đồng, các dự án FDI trong nông, lâm nghiệp còngóp phần quan trọng xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, xây dựng bản làng theohướng văn minh phù hợp với nền sản xuất nông, lâm nghiệp hàng hóa
Bảng 3 Phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam – Những
thành tựu đã đạt được trong mục tiêu phát triển chính trong giai đoạn 1998 – 2002
CÁC MỤC TIÊU CÁC CHI TIÊU THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC
2002 1998 Phát triển
Tốc độ phát triển GDP nông nghiệp, % năm
Đóng góp của nông nghiệp vào tổng GDP, %
Đóng góp của nông nghiệp vào tạo việc làm, %
4-4.5 (2010) 16-17 (2010) 23-24 (2010)
4.1 (98-2000) 23
67 (2001)
4.5 97) 26 70
(1993-Mục tiêu 1 Giảm nghèo nông thôn
% dân số nông thôn sống dưới mức nghèo (chuẩn quốc tế)
% dân số nông thôn sống thiếu lương thực 24 (2010)4 (2010) 35.613.6 45.518.6
Mục tiêu 2 Bảo vệ môi trường một cách bền vững
Cơ sở hạ tầng nông thôn
% xã nghèo nhất có 8 cơ sở hạ tầng nông thôn cơ bản
-% xã nghèo nhất có điện
- % xã nghèo nhất có đường giao thông đến trung tâm xã
- % công trình thủy lợi kiên cố/tạm thời
- % xã nghèo nhất có bưu điện
75 (2005) –
100 (2010) 77.6 (2010)
100 (2010) 80/50 (2010)
63 (2000).
Tạo việc làm
Sử dụng lao động nông thôn vào năm 2005 và 2010, % 80 (2005) –85 (2010) 75 71
Nguồn: Từ các báo cáo CPRGS (2003), VDR 2004, Poverty Task Force (2001) Enhancing Access Sách Thống Kê 2002-2003 (TCTK)
Trang 21Ở Việt Nam, số lượng người làm việc trong khu vực FDI ngày càng tăng quacác năm.Thu nhập bình quân của lao động Việt Nam trong khu vực FDI nhìnchung cao hơn ở khu vực trong nước Tuy nhiên, thu nhập của lao độngtrong khu vực FDI cũng tuỳ thuộc vào ngành nghề, trình độ học vấn và trình
độ chuyên môn kỹ thuật, do vậy thu nhập của người lao động trong cácdoanh nghiệp này có có sự chênh lệch tương đối lớn Người lao động cótrình độ chuyên môn kỹ thuật cao có thu nhập cao gấp 3,5 lần so với laođộng phổ thông và cao gấp 2,88 lần so với lao động có trình độ sơ cấp Các
vị trí quản lý cao cấp hiện có mức thu nhập bình quân 10,231 triệuđồng/người/tháng, gấp 9,86 lần so với mức thu nhập trung bình của lao độngphổ thông và gấp 2,29 lần so với lao động quản lý bậc trung
Mặc dù thu nhập của lao động trong khu vực FDI có sự chênh lệch nhưng đãgóp phần đáng kể vào việc nâng cao đời sống của người lao động và làmtăng sức mua trên thị trường
7 Những thay đổi chủ yếu trong chính sách thu hút FDI trong các thời
kỳ sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam
Để thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trong thời gian qua, hàng loạtcác quy định chính sách đã ban hành nhằm đơn gian hoá thủ tục, ưu đãiđất đai, thuế, lới lỏng chính sách thương mại Điều này cũng một phần thúcđẩy ĐTNN vào Việt Nam trong thời gian qua
Trang 22Bảng 4 : những thay đổi chủ yếu trong chính sách thu hút FDI qua các thời kỳ
tự
đăng
ký
+ Dự án FDI được nhận giấy phép đầu tư trong vòng 45 ngày;
+ Sau khi có giấy phép, DNFDI vẫn phải xin đăng ký
tư, đối tác đầu tư.
+ DN xuất khẩu sản phẩm trên 80% được
ưu tiên nhận giấy phép sớm;
+ Ban hành danh mục DNFDI được đăng ký kinh doanh, không cần xin giấy phép;
+ Bỏ chế độ thu phí
đăng ký đầu tư FDI
DNFDI đầu tư vào những lĩnh vực định hướng xuất khẩu, công nghệ cao.
+ Ban hành danh mục dự án kêu gọi đầu tư FDI cho giai đoạn 2001-2005
+ Mở rộng lĩnh vực cho phép FDI đầu tư xây dựng nhà ở;
mua cổ phần của các doanh nghiệp trong nước
Đất
đai
+ Phía Việt nam chịu trách nhiệm đền bù giải phóng mặt
bằng cho các dự án có vốn
đầu tư nước ngoài;
+ Dự án có vốn FDI được thuê đất để hoạt động, nhưng
không được cho các doanh nghi nghiệp nghiệp nghiệp khác thuê lại.
+ UBND địa phương tạo điều kiện mặt bằng kinh
doanh khi dự án được duyệt; DN thanh toán tiền
giải phóng mặt bằng cho
UBND
thuê lại đất đã thuê tại các khu CN, khu chế xuất;
+ Được thế chấp tài sản gắn
liền với đất và giá trị
quyền sử dụng đất;
Trang 23khẩu được nhà nước bảo
đảm cân đối ngoại tệ;
ngoại tệ; nhà nước không
chịu trách nhiệm về cân
Áp dụng tỷ lệ kết hối ngoại tệ do tác động khủng hoảng tài chính khu vực (80%), sau đó nới dần tỷ lệ này.
ngoại tệ với sự cho phép của Ngân
hàng nhà nước
+ Được mua ngoại tệ
tại NHTM để đáp ứng nhu cầu
giao dịch theo luật định; + Bãi bỏ yêu cầu chuẩn y
nhượng vốn; giảm mức phí chuyển lợi nhuận ra
nước ngoài.
+ Giảm tỷ lệ kết hối ngoại tệ
từ 80% xuống 50%
duyệt kế hoạch xuất khẩu
của doanh nghiệp FDI;
+ Cải tiến thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá đối
với xét xuất xứ hàng hoá
XNK
+ Thu hẹp lĩnh vực yêu cầu tỷ
lệ xuất khẩu 80% sản lượng;
+ DN FDI được tham gia dịch
vụ đại lý XNK
Trang 24trong vòng 15 năm kể từ khi hoạt
động;
+ Mức thuế thu nhập của
DN
ngoài không bao gồm phần bù trừ lợi nhuận của năm sau để
bù cho
lỗ của các năm trước;
+ DNFDI không được tính vào chi phí sản xuất một số
khoản chi nhất định;
+ thuế nhập khẩu được áp với
mức giá thấp trong khung giá
do Bộ Tài chính qui định;
+ Miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị, máy móc,
vận tải chuyên dùng, nguyên liệu vật tư
+ DN xuất khẩu được miễn thuế nhập khẩu nguyên vật liệu để XK sản phẩm;
+ DN cung ứng sản phẩm
DN Xkhẩu cũng được miễn thuế nhập khẩu nguyên vật liệu trung gian với tỷ lệ
tương ứng;
+ Bãi bỏ qui định bắt buộc DNFDI trích quĩ dự phòng;
+ Tiếp tục cải cách hệ thống huế, từng bước thu hẹp khoảng cách về thuế giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước
Trang 25Bảng 5: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành 1988- 2006.
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI THEO NGÀNH 1988-2006
(tính tới ngày 20/10/2006 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
ST
T
Chuyên ngành
Số dự
Vốn pháp định
Đầu t thực hiện
4,297,00 7,537
3,411,83 3,441
CN nặng 1988 16,281,872,920 6,535,848,102 6,743,541,418
3,252,53 1,916
1,395,52 1,219
1,947,23 4,568
1,636,80 8,083
1,755,55 4,292
665,71 0,149
377,43 6,247
GTVT-Bu điện 181 3,349,026,235 2,424,248,925 720,973,796 Khách sạn-Du lịch 165 3,281,085,068 1,498,703,421 2,366,379,125 Tài chính-Ngân
840,15 0,000
777,39 5,000
682,87 0,077
794,92 0,500
51,29 4,598
Đầu tư
Trang 26Một vấn đề hạn chế trong thời gian qua là lượng FDI trong nông nghiệp cònrất nhỏ và có xu hướng tăng lên mạnh sau đổi mới nhưng lại giảm mạnhtrong hơn 10 năm gần đây Năm 1995, lượng vốn FDI đăng ký đạt khoảng
650 triệu USD tuy nhiên trong mấy năm gần đây lượng vốn FDI đăng kýhàng năm chỉ đạt 100 triệu USD
Tính đến hết năm 2006, tỷ trọng đầu tư FDI trong nông - lâm - ngư nghiệpchiếm 6,65% trong số những dự án còn có hiệu lực Cơ cấu phân theo ngànhlà: trồng trọt 8,2%; chế biến nông sản thực phẩm 49,2%, chăn nuôi và chếbiến thức ăn gia súc 11,6%; trồng rừng và chế biến lâm sản 22,6%; nuôitrồng và chế biến thuỷ sản 8,4% Đáng buồn hơn là những chỉ số về FDItrong lĩnh vực này đang có xu hướng giảm (chỉ thu hút được 11/196 dự ántrong tháng 3/2007)
Vốn thực hiện so với vốn đăng ký còn chiếm tỷ trọng thấp và có xu hướngngày càng giảm qua các năm gần đây
ĐTNN vào lĩnh vực nông nghiệp có xu hướng giảm sút kể từ sau khủnghoảng tài chính châu Á và cho đến nay vẫn chưa có dấu hiện hồi phục dođiều kiện đầu tư vào nông nghiệp của Việt Nam chưa thực sự hấp dẫn
Số dự án bị giải thể trước thời gian ( 30%), chuyển đổi hình thức đầu tư caohơn so với tỷ lệ bình quân chung cả nước là 16% Có khá nhiều dự ánĐTNN đang trong tình trạng kinh doanh thua lỗ hoặc triển khai chậm
2 Chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp rất chậm.
Sự lạc hậu của cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta thể hiện ở chỗ ngànhtrồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng giá trị sản xuất củatoàn ngành nông nghiệp, trong khi đó tỷ trọng ngành chăn nuôi tương đốithấp và tỷ trọng ngành dịch vụ không đáng kể Hơn thế nữa, cơ cấu kinh tếnông nghiệp trong những năm qua chuyển dịch rất chậm chạp Tỷ trọng cácngành biến động trồi sụt theo từng năm không theo xu hướng rõ ràng Trong
Trang 27vòng 15 năm qua, tỷ trọng trồng trọt chỉ dao động trong khoảng 75,4-77,9%;
tỷ trọng chăn nuôi dao động trong khoảng 17,8-22,4%; và tỷ trọng dịch vụdao động trong khoảng 2,1-2,98% Thực tế trên đây cho thấy rằng nôngnghiệp nước ta vẫn là ngành sản xuất sản phẩm thô là chính, chăn nuôi vàdịch vụ chưa phát triển Đây thực sự là một khó khăn, thách thức lớn đối vớiviệc đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn Bởi vì cơ cấu nôngnghiệp lạc hậu có thể gây cản trở đối với những động lực phát triển nội sinhcủa ngành; chẳng hạn, phần đông người lao động nông thôn hiện đang bịkìm hãm trong các hoạt động trồng trọt mang nặng tính thời vụ là một sựlãng phí lớn Cơ cấu nông nghiệp lạc hậu cũng cho thấy sản xuất nôngnghiệp chưa tiếp cận được với thị trường, với cơ cấu tiêu dùng, vàphương thức sản xuất còn lạc hậu, chưa phù hợp với yêu cầu của nôngnghiệp hàng hoá
3 ĐTNN chưa phát huy được đầy đủ tiềm năng.
ĐTNN chưa phát huy được những tiềm năng, cụ thể như trong trồng trọt vàchế biến nông sản, mới chỉ tập trung vào việc khai thác tiềm năng, nguồn lựcsẵn có về đất đai và lao động mà chưa có nhiều dự án tạo giống cây, giốngcon mới và nuôi, trồng, chế biến các loại rau, quả xuất khẩu có hàm lượng
kỹ thuật cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện Việt Nam Các dự án chếbiến lâm sản, chế biến gỗ mới chỉ dừng lại ở mức tập trung sử dụng nguồnnguyên liệu nhập khẩu Việc khai thác, sử dụng đất đai của các dự án ĐTNNtrong lĩnh vực nông, lâm nghiệp chưa có hiệu quả Nhiều dự án trồng rừngchiếm diện tích đất khá lớn, nhưng hiệu quả thực tế trên 1ha sử dụng đất cònrất thấp
4 Phân bố nguồn vốn không đều giữa các địa phương.
Bên cạnh tỉ lệ vốn đầu tư của nước ngoài vào trong nông nghiệp chiếm tỷtrọng thấp và có xu hướng giảm xuống trong thời gian gần đây, phân bổ
Trang 28nguồn vốn đầu tư nước ngoài không đồng đều giữa các địa phương Mặc dù,ngành nông nghiệp chỉ chiếm 10,6% tổng số các dự án FDI vào Việt Namsong việc phân bổ FDI chưa đồng đều giữa các vùng, miền Nguồn vốnĐTNN chủ yếu tập trung vào ĐBSCL với 13% vốn đầu tư và Đông Nam Bộvới 54%, các tỉnh miền Trung Các vùng miền núi phía Bắc và ngay cảĐBSH chiếm tỷ trọng thấp chỉ tương ứng 4% và 5%, và Tây Nguyên
Theo ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ NN &PTNT,những năm đầu của thập kỷ 90, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)cho nông lâm nghiệp Việt Nam chủ yếu là các dự án chế biến gỗ và các loạilâm sản Nhưng kể từ năm 1995 đến nay, nguồn vốn này được thu hút kháđồng đều vào các dự án trồng trọt, chế biến lâm sản, sản xuất mía đường, sảnxuất thức ăn chăn nuôi, chăn nuôi gia súc gia cầm, trồng rừng và sản xuấtnguyên liệu giấy Các dự án tập trung ở các vùng nguyên liệu truyền thống,thuận lợi về thổ nhưỡng và khí hậu để phát triển nguồn nguyên liệu cung cấpcho các nhà máy
Từ năm 2003 đã mở rộng ra nhiều tỉnh ở cả 3 miền Bắc Trung Nam Lĩnhvực hoạt động của các dự án cũng phong phú hơn các năm trước Trongnông nghiệp phổ biến nhất vẫn là chăn nuôi gia súc, gia cầm và chế biếnthức ăn chăn nuôi (Tp Hồ Chí Minh, Bình Dương), trồng và chế biến cao su(Tây Ninh; Bình Dương) trồng và chế biến chè (Lâm Đồng), trồng rau sạch,hạt rau giống, (Tây Ninh, Lâm Đồng), trồng nấm linh chi xuất khẩu (CaoBằng), trồng cây ăn quả chất lượng cao (Hà Tây; Tây Ninh) sản xuất, kinhdoanh lúa giống, ngô giống lai (Hà Nội), trồng hoa phong lan (Tp Hồ ChíMinh) Trong lâm nghiệp chủ yếu đầu tư vào trồng rừng và chế biến lâmsản xuất khẩu
5 Đối tác nước ngoài còn thiếu tính đa dạng.
Trang 29Đối tác nước ngoài trong lĩnh vực nông lâm nghiệp còn thiếu tính đa dạng.Hiện có 38 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư còn hiệu lực, trong đócác đối tác đầu tư lớn nhất là Đài Loan, quốc đảo Virgin, Anh, Thái Lan,Pháp Các quốc gia đầu tư vào trong khu vực nông nghiệp nhưng chủyếu là các quốc gia Châu á, các nước lớn đầu tư vào Việt Nam còn rấthạn chế Trong các nước đầu tư vào Việt Nam, đứng đầu là Đài Loan với27% tổng vốn FDI trong nông nghiệp, tiếp theo là Thái Lan (13%), Anh
(11%), Pháp (8% )và Singapore (5%) Lượng vốn đăng ký của Mỹ mới chỉ
đạt 232 triệu USD, Đức là 17 triệu USD, Hà Lan 105 triệu USD, Nhật là
121 triệu USD Việc đầu tư vào nông nghiệp là một lĩnh vực không dễ tuynhiên với lượng đầu tư nước ngoài còn rất khiêm tốn cho thấy cần có nhữngđiều chỉnh có thể tạo môi trường đầu tư hấp dẫn hơn nữa thu hút hơn lượngđầu tư nước ngoài trong khu vực nông nghiệp bên cạnh sự thu hút đầu tưtrong nước
Các doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào các dự án thu hồi vốn nhanh nhưsản xuất thức ăn chăn nuôi chiếm 76%, chế biến nông lâm sản chiếm 24%thay vì triển khai các dự án phát triển công nghệ sinh học trong nông nghiệp,lai tạo giống cây trồng, vật nuôi mới, trồng chế biến các loại rau, quả xuấtkhẩu bằng công nghệ kỹ thuật cao; Một số dự án trồng rừng nguyên liệu, chếbiến nông sản đạt hiệu quả thấp; Nhiều dự án tác động nghiêm trọng đếncảnh quan, môi trường tự nhiên…
III NHỮNG NGUYÊN NHÂN CHÍNH TẠO NÊN HẠN CHẾ.
Hoạt động Nông nghiệp nói chung và thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnhvực này gặp nhiều rủi ro hơn lĩnh vực Nông nghiệp Các điều kiện đất đai,thổ nhưỡng, địa hình, cơ sở hạ tầng vùng triển khai các dự án FDI trongnông, lâm nghiệp, đều không thuận lợi so với các điều kiện chung của cảnước, mà ngược lại có phần khó khăn hơn, vì phần lớn các dự án tập trung
Trang 30ở những vùng đất mới khai phá, nằm ở các vùng miền núi, trung du, cáccông trình thủy lợi chưa hoàn chỉnh Việt Nam vẫn đang trong giaiđoạn chủ yếu dựa vào sản phẩm nguyên liệu thô, thời gian đầu tư vàthu hồi vốn dài, chịu ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết và thiên tai, đặcbiệt là giá nguyên liệu thô trên thị trường thế giới luôn biến động bấtlợi Trong khi đó các nông sản có chất lượng tiêu dùng cao, nhãnhiệu nổi tiếng và hàm lượng giá trị gia tăng cao chưa được tạo dựng;
1 Thiếu bảo đảm về điều kiện hạ tầng
Mặc dù đã được tăng cường đầu tư, nhưng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh
tế-xã hội nông thôn như giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc, trường học,bệnh viện, nhà văn hoá, còn kém phát triển
Hệ thống dịch vụ phục vụ sản xuất như cung ứng giống, thú y, bảo vệ thựcvật, sửa chữa cơ khí, điện, tín dụng,… và phục vụ đời sống như giáo dục, y
tế, tư pháp, văn hoá, thể thao,… còn rất thiếu và yếu Hệ thống kết cấu hạtầng thương mại cũng chưa phát triển, cả nước vẫn còn khoảng 4.000
xã chưa có chợ, chưa hình thành được các trung tâm thương mại, thiếu
hệ thống kho lạnh, xe lạnh, cầu cảng, bến bãi, thông tin thị trường,
Theo nghiên cứu mới đây của Ngân hàng thế giới, các doanh nghiệp FDI nói riêng và các doanh nghiệp khác nói chung cho biết việc xây dựng đường
xá (xuyên quốc gia, tỉnh), điện là những ưu tiên quan trọng nhất nên phát triển Tiếp theo là các dịch vụ liên quan đến viễn thông, đây cũng là các ưu tiên đối với việc cải thiện môi trường kinh doanh
Hình 4 : Các ưu tiên về cơ sở hạ tầng