Có thể thu các chất béo này nhờ các quá trình biến đổi để thu lại các axit béo đặc biệt, loại bỏ các thành phần nhất định, hoặc làm tăng các đặc tính hóa lý mong muốn nào đó.. Chương này
Trang 1Chương 5 CÁC CHẤT BÉO DINH DƯỠNG, DƯỢC LÝ
VÀ HOẠT TÍNH SINH HỌC
Các chất béo có tác dụng dinh dưỡng hay dược lý và có hoạt tính có nguồn gốc từ thực vật, động vật, và vi sinh vật Có thể thu các chất béo này nhờ các quá trình biến đổi để thu lại các axit béo đặc biệt, loại bỏ các thành phần nhất định, hoặc làm tăng các đặc tính hóa lý mong muốn nào đó Phản ứng este hóa là một trong các quá trình chế biến mà nhờ đó các axit béo nào đó, có thể cả các phân tử triacylglycerol (TAG) hoặc phospholipid (PL) chuyển thành các đặc tính mong muốn Bước này cũng có thể được sử dụng để điều chế diacylglycerols (DAG) hoặc monoacylglycerols (MAG) cho các ứng dụng đặc biệt Chất béo còn có chức năng là chất mang cho các vitamin hòa tan được trong chất béo, sterol, tocopherol, tocotrienol, và các thành phần phụ khác vốn ảnh hưởng tới chất lượng và tính ổn định của sản phẩm (Barrow và Shahidi, 2008; Shahidi, 2006)
Chương này cung cấp một cách tóm tắt các chất béo đặc trưng, bao gồm các cấu tử axit béo được sử dụng làm thành phần trong thực phẩm và trong các sản phẩm tự nhiên có lợi cho sức khỏe Ảnh hưởng của quá trình chế biến và bảo quản đến sự ổn định của dầu và các thành phần phụ cũng được thảo luận
5.1 Các axit béo Omega 3 và các sản phẩm
Các axit béo cao phân tử không bão hòa (PUFAs) được biết đến nhờ khả năng cung cấp các ích lợi về sức khỏe đối với người tiêu dùng, tuy nhiên cũng đặt ra vấn đề đối với các nhà khoa học và nhà công nghệ đó là khó khăn trong việc phân phối thực phẩm chứa nó mà lại không có được các chất nhận biết mùi
Các axit béo omega 3 gồm axit α linolenic (ALA; C18:3n-3) là hợp chất gốc, ALA có phong phú trong dầu hạt cây lanh và là một axit béo quan trọng, có thể chuyển hóa thành chuỗi dài PUFA như eicosapentaenoic acid (EPA; C20:5n-3), decosahexaenoic acid (DHA; C22:6n-3) cũng như docosapentanoic (DPA; C22:5n-3) nhờ thông qua một loạt các bước kéo dài và sự khử bão hòa (hình 1) Sự chuyển hóa ALA thành EPA ở người là 2-5% (Aliam, 2003) Tuy nhiên, EPA và DHA được tìm thấy có rất nhiều trong thực phẩm như phần nạc của các loại cá béo như cá trích, cá thu, cá cơm và cá hồi, hoặc trong gan của cá tuyết, cá bơn, cũng như trong phần mỡ của của các động vật có vú dưới biển như hải cẩu, cá voi (Ackman,2005; Shahidi & Zhong 2005; Shahidi,2007) Trong khi các động vật dưới biển tiêu thụ tảo biển vốn chứa các axit béo omega 3 chuỗi dài là nguồn phong phú chứa omega 3 thì dầu alga như DHASCO ( dầu tế bào đơn DHA) có thể thu được nhờ quá trình lên men (Senanayalee & Fichtali,2006) Bảng 5.1 tổng kết thành phần axit béo omega 3 của các loại dầu chọn lọc từ nguồn thực vật và động vật biển
Trang 2Trong hầu hết các trường hợp, dầu cá dạng thô là một sản phẩm của ngành công nghiệp thức ăn từ cá (shahidi & Zhong,2007) Các loại cá cho ngành thức ăn chế biến từ cá như cá cơm trắng, cá cơm đen, cá Sadin, cá thu, cá ốt vảy nhỏ, cá trích, ca chình, cá trích cơm Sự tách chiết lấy dầu được thực hiện qua một quá trình nghiền Toàn bộ cá hoặc chỉ phần đầu hoặc phần đuôi có thể sử dụng để cho dầu cá và làm sản phẩm thực phẩm Nguyên liệu được chuyển qua một máy nghiền xoay, tại đó dầu được giải phóng và đẩy ra Dầu thô thu được thường được bảo quản trong tang trống điền đây khí nito, do đó có thể kéo dài thời gian bảo quản tới 3 năm Dầu có thể được tinh chế bằng kiềm, tẩy trắng, khử mùi (RBD) tương tự như dầu ăn được khác Tuy nhiên quá trình khử mùi thường thực hiện đối với dầu đi từ nguồn động vật biển là Phương pháp chưng cất phân tử, ở nhiệt độ thấp hơn Dầu RBD tạo ra được giữ ổn định nhờ các chất chống oxi hóa được chọn lọc và có thể được bao màng (Shahidi & Han,1993; Shahidi & Wanasurdra,1995)
Lợi ích cho sức khỏe mà axit béo omega 3 đem lại khá đa dạng và phổ tác dụng khác nhau như liên quan tới bệnh tim mạch, ung thư, bệnh đái tháo đường type 2, khả năng tự miễn dịch, rối loạn viêm, liên quan đến sức khỏe não bộ, khả năng nhìn cũng như bệnh viêm
Trang 3khớp, và một số bệnh khác (Shahidi & Wanasundara,1998; Shahidi & Finky, 2001; Shahidi
& Miraliakbari 2004,2005,2006) Đối với sức khỏe tim mạch, các tác động liên quan trực tiếp tới một mức độ thấp TAG và giảm tỷ lệ mắc phải chứng loạn nhịp Về sức khỏe tinh thần, EPA với khả năng kháng viêm giúp cho các bệnh nhân bị tinh thần phân liệt, suy giảm (Horrobin,1992; Keller, 2002) Tuy nhiên, DPA phát hiện có khá nhiều trong mỡ động vật có
vú dưới biển , cũng có thể đóng vai trò trong việc cải thiện sức khỏe và giảm nguy cơ nhiễm
bệnh (Kanayasu- Toyota, et al,1996) Một điều đáng là việc bổ sung ALA làm tăng nồng độ
ALA, EPA, và DPA ( ngoại trừ DHA) trong chất béo sữa tuyến vú
Trong khi sự tiêu thụ thực phẩm biển được khuyến khích và lượng hấp thụ hằng ngày 0.6-1.0 g omega 3 chuỗi dài PUFA là rất có lợi.Vì vậy các axit béo omega 3 có thể được bổ sung vào thực phẩm chế biến như trong bánh mỳ, các sản phẩm từ ngũ cốc, quả, mỳ, hoặc thậm chí trong thịt và thực phẩm biển Tuy nhiên khó khăn trong sản xuất thực phẩm, đã đề cập từ trước, liên quan tới tính ổn định của axit béo omega 3 khi sự oxi hóa diễn ra dẫn đến hình thành các sản phẩm bị thoái hóa, mức độ của hương vị cũng thấp Vì vậy việc bao nang các dầu omega 3 rất được lưu tâm Một số kỹ thuật bao nang được sử dụng, trong đó có kỹ thuật tạo giọt tụ được sử dụng để chuẩn bị cho khâu bọc màng, nhờ đó giữ được tính nguyên vẹn của sản phẩm nhưng lại phân hủy được trong ống ruột Hiện nay, các sản phẩm như sữa chua, hoa quả, sữa, và một phổ sản phẩm chứa MEG3, hay sản phẩm nang dầu cá được đã thương mại hóa có thể mua được trên thị trường Ngoài ra,trong trứng cũng chứa axit béo omega 3 cũng có thể mua được Dầu hạt lanh được sử dụng trong công thức chế biến một số sản phẩm nước cam ở Canada Hay trong bánh mỳ hoặc sản phẩm nướng có chứa dầu hạt cây lanh cũng sẵn có trên thị trường ( bảng 5.2)
Sự tiêu dùng các axit béo omega 3 dẫn đến tăng nhu cầu hệ thống chất chống oxi hóa trong cơ thể Trong quá trình chế biến dầu đậu nành , người ta thường thêm tocopherol (VTM E) để giữ ổn định cho sản phẩm và làm các chất chống oxi hóa cần thiết cho cơ thể (Papas, 2006) Các chất chống oxi hóa tự nhiên, khác với tocopherol, có thể được sử dụng để ổn định các dầu omega 3
Các axit béo omega 3 cũng được sử dụng như thành phần bổ sung vào khẩu phần ăn dưới dạng viên nang, lỏng hoặc trong một số dạng khác Khi sử dụng dạng lỏng, các chất tạo mùi có thể được cho vào dầu để át chế mùi do các sản phẩm tạo ra trong quá trình bảo quản kéo dài Với mục đích chữa bệnh thành phần axit béo omega 3 trong dầu có thể được cô đặc Omega 3 cô đặc thường ở dạng este với kiềm hoặc dạng TAG Sản phẩm axit béo omega 3 cô
Trang 4đặc có thể thực hiện bằng quá trình tạo phức với ure hoặc bằng phương pháp lọc phân tử Các axit béo omega 3 tinh khiết hoặc tỷ lệ mong muốn của EPA và DHA có thể thực hiện,và phụ thuộc vào phạm vi ứng dụng của nó Dầu ăn ở dạng este sau đó có thể cho phản ứng với glyxerol để chuyển thành dạng TAG
Trong quá trình tạo phức với ure, các axit béo bão hòa chuỗi thẳng và các axit béo đơn không bão hòa, dễ dàng tạo phức với ure, trong khi đó PUFAs không tham gia sự tạo phức này Các axit béo thu được sau đó được hòa trong dung môi etanol của ure để hình thành phức với ure Các cấu tử tạo phức với ure gồm axit đơn không bão hòa và bão hòa sau đó được thu hồi bằng lọc Phần cấu tử lỏng còn lại được làm giàu với các axit béo omega 3(Wanasundara & Shahidi 1999) Nhờ ứng dụng quy trình này, chúng ta có thể làm giầu thành phần DHA của DHASCO từ 42% đến 97% (Wanasundara & Shahidi 1999)
Phương pháp lọc phân tử cũng có thể được ứng dụng để thu hồi các axit béo đơn không bão hòa hoặc bão hòa từ dầu thủy phân Các điều kiện tiến hành có thể được lựa chọn theo con đường mà việc làm giàu sẽ cung cấp tỷ lện khác nhau của EPA đến DHA Tương tự, Sự tách chiết tối đa có thể sử dụng để làm giàu thành phần omega 3 trong dầu, do đó tạo thuận lợi trong việc tối thiểu hóa sự oxi hóa diễn ra với các axit béo nhạy cảm Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi áp suất và giá thành ban đầu cao
Việc sử dụng các enzyme cho việc cô đặc các axit béo đặc biệt và các phản ứng chất béo khác đã được thực hiện trong nhiều năm Ví dụ như dầu từ cá và rau có thể thu được EPA
và DHA bởi enzyme xúc tác khi mà các axit béo bão hòa và không bão hòa đơn bị thủy phân đầu tiên, để lại các sản phẩm acylglycerol với nồng độ EPA và DHA đã được tăng cường Hơn thế nữa như đã cảnh báo sớm, EPA và DHA cô đặc hoặc các este kiềm đơn tương ứng
có thể bị este hóa đến glycerol để sản sinh ra lượng axit béo Omega 3 cô đặc ở dạng acylglycerol
Một số sản phẩm chứa axit béo omega 3 trên thị trường:
Bằng việc kết hợp axit béo Omega-3 và Omega-9, viên dầu cá Arctic-Sea cung cấp thành phần bổ sung dinh dưỡng
an toàn giúp củng cố lượng cholesterol trong máu và mức triglyceride có lợi cho sức khỏe Từ việc sử dụng cả hai loại dầu cá và dầu thực vật, sản phẩm viên dầu cá Arctic-Sea bổ sung các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể con người Omega-3 là một loại axit béo cần thiết không sinh cholesterol được tìm thấy từ cá hồi và các loại hải sản khác Omega-9 là axit béo chưa bão hòa được tìm thấy trong các sản phẩm rau quả, chẳng hạn như dầu ôliu
Mỗi viên dầu cá chứa EPA, DHA và axit oleic – những chất thường bị thiếu trong các bữa ăn của người phương Tây Chất EPA và DHA có lợi trong việc củng cố hệ tuần hoàn máu, Chúng cũng cần thiết cho các chức năng khác như tăng cường cho cơ quan não và mắt,
và hỗ trợ chức năng của các khớp xương
Trang 5Bổ sung chế độ ăn uống với Richlife DHA tinh khiết được chiết xuất từ gan cá Tuyết bắc cựu – chứa hàm lượng DHA cung cấp lượng EPA và DHA cần thiết bậc nhất cho sự phát triển trí tuệ
và thị giác
Dầu ăn Kiddy được kết hợp khoa học và hoàn hảo giữa chất béo từ động vật và chất béo từ thực vật, giúp cung cấp cho con bạn các loại axit béo thiết yếu và vitamin
- Được sản xuất từ dầu cá hồi tự nhiên nhập khẩu từ Châu
Mỹ, dầu ăn Kiddy cung cấp hàm lượng cao DHA tự nhiên cho bé (trong 10ml dầu ăn Kiddy chứa tối thiểu 100mg DHA) Đặc biệt, với công nghệ tinh chế hiện đại giúp lưu giữ tối đa hàm lượng dưỡng chất quan trọng và loại bỏ hoàn toàn mùi tanh đặc trưng của dầu cá
- Ngoài ra, trong thành phần dầu ăn Kiddy còn có dầu mè, dầu hạt cải và dầu gạo, do đó bạn không cần sử dụng thêm bất kỳ loại dầu ăn nào khác mà vẫn cung cấp cho con bạn omega 3,
6, 9; các loại vitamin A, B1, E và hơn 20 loại axit béo thiết yếu
- Với hàm lượng cao DHA, dầu ăn Kiddy còn là sự lựa chọn lý tưởng cho phụ nữ trong thời gian mang thai, để bổ sung DHA cho nhu cầu của mẹ và thai nhi
Hộp 180ml Sữa thanh trùng DHA
Là sản phẩm sữa thanh trùng đầu tiên và duy nhất trên thị trường có bổ sung DHA, Dalatmilk DHA plus với Omega-3/ DHA bổ sung dưỡng chất thiết yếu nhất cho
sự phát triển của não và nhãn cầu Sản phẩm có DHA chiết xuất từ cá hồi Na Uy mùi vị hoàn toàn tự nhiên
Trang 6 Phát triển sản phẩm chứa DHA :
o Ý tưởng phát triển sản phẩm từ cá trích giàu DHA:
- Cá trích là nguồn hải sản rất dồi dào ở Việt Nam
- Sản phẩm từ Thịt nạc cá trích hiện nay như sản phẩm đóng hộp cá trích, nước mắm từ cá trích
- Cá trích giàu chất béo ( chiếm tới 10% trọng lượng cơ thể ) trong đó có DHA
- Phần chất béo ở tập trung ở bụng cá trích nếu bỏ đi sẽ rất lãng phí
Nếu Phần thịt nạc của cá được dùng để sơ chế tạo sản phẩm đóng hộp, nước mắm
Phần bụng cá có thể được thu lại và Làm giàu DHA sau đó bổ sung vào sản phẩm ở trên tạo sản phẩm mới là Nước mắm chứa DHA, Đồ hộp từ cá trích chứa DHA (sản phẩm mới tượng trưng như hình dưới đây)
o Đề xuất phương pháp làm giàu DHA từ mỡ bụng cá Trích:
Thu dầu cá:
Trang 7Làm giàu DHA:
o Tác dụng và đối tượng sử dụng của sản phẩm
Trang 8Phát triển một sản phẩm mới là Nước mắm từ cá trích chứa DHA không chỉ cung cấp nguồn đạm dinh dưỡng mà góp phần cung cấp hằng ngày lượng DHA cần thiết cho sự phát triển trí não nhất là của trẻ; tốt cho tim mạch; vấn đề huyết áp, thấp khớp ở người lớn; tốt cho phụ nữ mang thai, hạn chế được ung thư …
o Đề xuất: do DHA là acid béo rất dễ bị oxi hóa do đó vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu
hoàn thiện sản phẩm, hạn chế tính chất dễ bị oxi hóa không tốt của DHA
5.2 Các axit béo đơn bất bão hòa
Các axit béo không bão hòa đơn (MUFAs) đặc trưng như axit oleic đã được báo cáo để
có được lợi ích cho sức khỏe tương đương như axit Omega 3, nhưng không phải cùng cấp độ
ở trạng thái lỏng vốn bền vững hơn, chống lại sự phá hủy của tác nhân oxi hóa Dầu MUFA được biết đến là có hiệu ứng dương tính trong cải thiện cho các nạn nhân bị ung thư vú (Pala
et al, 2001) Ở trẻ em, mối liên kết giữa sự hình thành MUFA và sơ lược về chất béo huyết
thanh đã được báo cáo Thêm nữa, các cấu tử phụ trong dầu có thể cũng có một vai trò lớn trong việc hình thành vai trò có lợi cho sức khỏe, như kiểu dầu olive, thành phần chính của Mediterranean diet Các cấu tử phụ tồn tại bao gồm các hợp chất phenol như tyrose,
hydroxytyrosol, cafferic, o-coumaric, p-coumaric, cinnamic, feruic, gallic…( Shahidi 2006).
MUFA đã được tìm thấy nhiều ở trong phân tử tự nhiên như dừa, cây lê, dầu oliu (58-83%), dầu quả hạch (thường>50%) và dầu conala (60%) cũng như dầu hạt trà (80%) Phổ đa dạng của dầu như dầu hướng dương (rất giàu oleic) đã được sản xuất
Người ta đã đề cập rằng 25-35 % lượng calo hằng ngày nên được dự phòng bởi chất béo thông qua chế độ ăn, 20% trong số đó có thể lấy từ MUFA Do đó,MUFA chiếm khoảng 60% lượng chất béo cần nạp mỗi ngàytheo khuyến cáo ( The national heart,Lung and Blood institute)
5.3 Các axit béo chuỗi trung bình và các triacylglycerol chuỗi trung bình
Các axit béo chuỗi trung bình (MCFAs) là các axit béo đã bão hòa gồm 6 – 12 nguyên
tử Cacbon MCFAs và các triacylglycerol chuỗi trung bình (MCTs) được công nhận là có lợi đối với sức khỏe Chúng được sử dụng là các chất dinh dưỡng đường ruột hoặc ngoài đường ruột cho những bệnh nhân hấp thụ chất béo kém, tiêu hóa kém, trao đổi chất khó khăn có liên quan đến xơ nang, bệnh Crohn (viêm ruột khu vực, viêm hồi tràng khu vực: tình trạng các đoạn của ống dẫn tiêu hóa bị viêm, dày lên và loét), viêm đại tràng và ruột (Kabara 2000; Pfeuffer& Schrezenmeir 2002) Các MCTs cũng có thể đưa vào công thức dành cho trẻ sơ sinh để giúp hệ tiêu hóa chưa phát triển của trẻ tiêu thụ và hấp thụ chất béo Bổ sung MCTs được sử dụng với mục đích tăng cường tốc độ trao đổi chất để giảm trọng lượng và cung cấp năng lượng bổ sung cho các hoạt động thể thao (Tsuji et al 2001; Che Man & Abdul Manaf 2006; St-Onge &Bosarge 2008)
MCTs được tìm thấy trong các loại dầu trái cây nhiệt đới như dừa và hạt cọ là những nơi có chứa lượng axit lauric (C12:0) nhiều nhất; Các MCFAs khác có chứa axit caproic (C6:0), axit caprylic (C12:0) và axit capric (C10:0) Dầu hạt cải là một ví dụ khác của loại dầu có tương đối nhiều axit lauric MCTs có giá trị calo là 8.3kcal/g, còn các MCFAs ưa
Trang 9nước hơn so với các chuỗi dài bổ sung của chúng và do đó không cần phải được hòa tan như các mixen như là điều kiện tiên quyết đối với sự hấp thụ của chúng MCT có thể đưa một cách riêng rẽ (không liên tục) vào tĩnh mạch và sẵn sàng oxi hóa trong gan để đáp ứng như 1 nguồn năng lượng thay vì được hấp thụ thông qua các hệ bạch huyết đường ruột Do các MCT tăng cường tiêu thụ năng lượng ở người, chúng có thể được dùng như các thành nhân tố giảm cân trong thực phẩm Như vậy, tổng năng lượng tiêu thụ lớn hơn 48 – 65% tương ứng
ở những người gầy và những người béo phì, sau đó MCT được so sánh với sự tiêu thụ LCT (TAG chuỗi dài) Tuy nhiên, St-Onge và Jones (2003) đã báo cáo rằng quá trình oxi hóa chất béo cao hơn ở người gầy khi so với những người bị béo phì
5.4 Các axit linolenic kết hợp và axit γ-linolenic.
5.4.1 Các axit linolenic kết hợp
Các axit linolenic kết hợp (CLAs) được xếp vào nhóm các axit béo thường tìm thấy trong các sản phẩm sữa và thịt động vật nhai lại Trong quá trình hydro hóa sinh học, các vi sinh vật yếm khí trong dạ cỏ chuyển hóa methylen-bất đối xứng liên kết đôi cis – cis của PUFA thành các đồng phân cis – trans Do đó, các đồng phân của axit linoleic có hai vị trí liên kết đôi tại 9 và 11, 10 và 12, và 11 và 13 Tỷ lệ các đồng phân CLA khác nhau là khác nhau, nhưng trong sản phẩm sữa chứa khoảng 90% của các đồng phân 9-cis, 11-trans Phomat là nguồn giàu CLA nhất Các CLA được ghi nhận là có lợi cho sức khỏe do khả năng chống ung thư của chúng Tuy nhiên, nên thận trọng khi sử dụng các CLA được sản xuất nhân tạo, những chất thường có các đồng phân 10-trans, 12-cis chiếm ưu thế , và có thể
có tác động tiêu cực đối với sức khỏe Sau cùng, chúng cũng thường được sử dụng là các chất bổ sung dành cho mục đích giảm cân và kiểm soát trọng lượng Điều đáng chú ý là các axit linoleic kết hợp cũng như các axit eicosapentaenoic và các axit docosahexaenoic kết hợp cũng có thể được (sản xuất) tạo thành và các sản phẩm kết hợp này cũng được chứng minh là
có lợi cho sức khỏe
5.4.2 Các Axit γ-linolenic (GLA)
Omega-6 là một axit béo cần thiết đối với sức khỏe do cơ thể con người không tự tổng hợp được mà phải thu nhận chúng thông qua thực phẩm Cùng với các axit béo omega-3, các axit béo omega-6 đóng vai trò chủ yếu trong chức năng của não cũng như đối với sự sinh trưởng và phát triển bình thường Được biết đến là một axit béo cao phân tử không bão hòa (PUFAs), chúng giúp kích thích da và tóc phát triển, duy trì xương chắc khỏe, điều tiết sự trao đổi chất và duy trì hệ thống sinh sản
Axit γ-linolenic (GLA) là một axit béo Omega-6 và là một sản phẩm khử bão hòa của axit linoleic GLA được tìm thấy có tỷ lệ tương đối cao trong các loại dầu thực vât như: cây lưu ly (20 – 25%), cây hoa anh thảo (7 – 10%), cây nho đen (15 – 19%), ngoài ra tảo
spirulina và các loài nấm khác cũng được coi là những nguồn cung cấp GLA mong muốn Phần lớn các GLA đóng vai trò như một tác nhân phụ (yếu tố phụ) được chuyển hóa để tạo thành một cơ chất gọi là DGLA có khả năng chống viêm Khi cơ thể có đầy đủ các chất dinh dưỡng nhất định (bao gồm Magie, kẽm, vitamin C, B3 và B6) sẽ hỗ trợ quá trình chuyển hóa GLA thành DGLA (dihomo- γ-linolenic)
Trang 10GLA có lợi trong điều trị một số bệnh, đặc biệt là bệnh viêm da dị ứng , cyclic mastalgia (đau tức ngực theo chu kì), hội chứng tiền kinh nguyệt, bệnh tim mạch, viêm nhiễm, bệnh tiểu đường, ung thư và có thể được sử dụng như một sản phẩm dược phẩm và thành phần của thực phẩm
Một số sản phẩm chứa Axit γ-linolenic hiện có trên thị trường
GLA được sử dụng như là một thành phần bổ sung thêm trong các sản phẩm dược phẩm và thành phần thực phẩm nhưng đa phần được sử dụng dưới dạng viên nang của dầu hoa anh thảo Hiện trên thi trường có nhiều sản phẩm chứa Axit γ-linolenic, dưới đây là một vài sản phẩm thương mại hóa và đặc điểm của chúng:
o Gamma-linoleic axit của Natural F&P CO LTD
Nước sản xuất: Hàn Quốc
• Đặc điểm:
- Thành phần chính: dầu hoa anh thảo
- Có hiệu quả cải thiện lưu thông máu và Cholesterol, có chứa canxi rong biển, tinh chất tảo bẹ, tinh chất rễ cây Angelica acutiloba, trà xanh và tầm gửi
- Có tác dụng duy trì sức khỏe ở phụ nữ mãn kinh do có chứa Estrogen là một hocmon nội tiết tố nữ
• Thành phần và tính chất
- Dầu hoa anh thảo: có chứa axit Linoleic và Axit γ-linolenic là những axit béo thiết yếu có tác dụng cải thiện Cholesterol
- Canxi tảo biển: chứa các khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể như magiê, iôt, natri, photpho, lưu huỳnh…
- Tinh chất tảo bẹ: laminin (amino acid) trong tảo bẹ có tác dụng tuyệt vời trong tăng cường huyết áp
- Tinh chất rễ cây Angelica acutiloba: tăng lưu lượng máu của động mạch vành
- Tinh chất trà xanh: Ức chế gia tăng nồng độ Cholesterol trong huyết tương và gan
- Tinh chất tầm gửi: mở rộng động mạch vành, tăng lưu lượng máu
• Chức năng
- Cung cấp các axit béo thiết yếu
- Giúp tăng Cholesterol
- Giúp lưu thông máu
• Đóng gói: 500mg x 120CAP
• Liều dùng: 2viên/lần, 2lần/ngày