Fhụo vụ cho những ngay ky nigm ligh sử cua đất nước trong năm 1995, ễŸ áo kết quả nghiên cứu sẽ được cơng bổ trong hội thảo khoa học quốc gia, giữa tỉnh Nam Hà và trung tâm KHXH = nhân
Trang 1» VAN HOA THONG TIN CONG HOA XA HOI CHU NGHIA VIET NAM
*
Bao tang Nam Ha Độc lập - Ty do ~ Hgnh phuc
BAO CAO KET QUA NGHIEN COU KHOA HOC
ĐỀ tài:" Một số vấn đề về đi sản vin hoa trong
các đi tích thời Trần o’Nem-Ha "
Co quan chủ để tải: Bao tầng Tỉnh Nem Ha
86 3 Hoang Hoa Them, Nam Dinh
Tel s 49293
Chủ nhiệm đề tài: QỬ nhâp sử học: Rguyễn Xuân im
(Theo hợp đồng nổ: 26/RĐKRON ngày 10-7-1994)
~ Nam Hồ lã quê hương cua vương triều Trần (1225-1400), nên
c6 nhiều dến âñ văn hoá cua thể kỷ XIII-XIY để lại Đây 1À thời
kỳ lich sử được đánh gia 1a giai đoạn phát triển cực thịnh cua
Văn mính Đại Việt (từ thể kỹ X-XÍT) Do đố, những dĩ sẵn vấn—
hoá bso hấm một y nghia rộng cua thời đại Trần để lại vô cùng phong phí đa đạng Những bài học lich sử về dựng nước, giữ nước cua quân dên thời Trần vẫn có y nghi thời sự sêu sắc Đặc biệt
lã đi sản đó ơ quê hương Nam Hà lại cằng có giá trị, giúp các thể hệ hôm nay hình dung được điệp mạo văn hoá thởi Trần trên các lĨnh vực: Sử học, Phật hoo, giáo aye, kién trio, khao of LgCese Do đó, công việc nghiên cứu các giá trị văn hoá một z7
có hệ thống sẽ ốp phần khơi đậy truyền thống đếu tranh bất khuẩt, lỏng tự hảo dân tộc, y chí tự lập, tự cường, góp phần
vào công cuộc đổi mới đất nước
~ Việc nghiên cứu đi san văn hoá thời Trẫn ơ Nam Ha góp phần Bảo tồn=tôn tao di tich lich sử văn hoa cuả đên tộc, theo
tỉnh thần Nghị quyết ?.W 4 (khoá YII): Xây đựng một nền văn hoá
tiên tiến nhưng vẫn giữ vững bạn sắc đên tộc;
= Trêp cơ sở o#o kết quả nghiên cứu sẽ tiến tới qui hoạch tổng thỄ khu đi tịch lich sử thời Trên ø Nam HÀ, xêy đựng trung
tâm văn hoa-điLÊich thời Trần ơ "Nam Hà,
Trang 2Do khuơn khổ khơng gian, thời gian, nên mọc tiêu nghiên
cứu cua đỗ tải tập trung vào một sổ vấn đồ sau đây:
~ Giới thiệu khếi quất, hệ thống cáo đi tỉoh thời Trần ơ”
Nam Hà bao gồm: đỉnh, chua, đền, miếu, từ đường, các đi chỉ khao
cổ hoo
- Tập hợp ofc kết quả nghiên cứu để giời thiệu khu đi tiếh
Đền "rần, chuả Thếp, lã cung điện cua cếc vua Trần, căn cứ địa trong khống chiến chống Đguyên-Mơng Nhất 1ã giới thiệu „những
phất hiện mới về cây thấp Phổ Mịnh, đi san tiêu biểu của thot
đại Trần để lại ơ Việt Nam,
~ điới thiệu các nhà khoa bạng thời Trồn o’Nam Ha, từ đĩ
thấy được chính sách giếo đục, tuyển dụng hệ thống quan lại cuả
nhỗ nước phong kiến Trằn
- ĐỀ tài cịn cơng bố các kết quả nghiên cứu khảo cỗ học,
kẾt quả nghiên cứu thư tiẹh Hán nêm, tử đĩ h§ thống cáo đi vật
thời Trồền bao gỗm các thể loại, chết liệu, nhất lã khai tho cao giá trị văn beŠ học để tÌm hiểu văn hố Trần
- Cáo kết quả nghiên cứu sẽ lễ cơ sở cho việc bảo vệ và
phất huy giá trị truyền thống cuả cáo đi tich lịch sử, phục vụ oho việc tham quan, du lich Fhụo vụ cho những ngay ky nigm ligh
sử cua đất nước trong năm 1995,
ễŸ áo kết quả nghiên cứu sẽ được cơng bổ trong hội thảo khoa học quốc gia, giữa tỉnh Nam Hà và trung tâm KHXH = nhân
văn quốc gia về "Thời Trần ~ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn
trên quê hương Nam Hãả" vào địp lễ hội, và 50 năm Quốo khốnh nươo
Gộng hộ Xã hội 0hủ nghia Việt Nem,
Do đặc thủ 18 ngành nghiên cứu khoa học xã hội, nên phương
phấp nghiên cứu cũng mang tinh chất đgo thù, chủ yếu là 1 sế
phương phấp nghiên cứu + chính sau đây:
Trang 3~3~
- Đi khảo sất, điền đã, sưu tầm tư liệu (bao gồm tư liệu
chính sử, tư liệu đân gian) „
- 8ao, đập, digh các văn bạn Hếnnêm bao gồm: văn bia, thần pha, ngọc phả, sắc phong, câu đổi hoành phi cee
~ Khai quật khão cổ học để nghiên cứu những phể tich kiến
ˆ trúc, những mẫu đi vật thời Trần,
- Quay Camera, chyp abh, ve kỹ thuệt,
- Tập hợp tư liệu phân tich, so sốnh, nhận xết và viết báo cao khos hgce
Nghiên cứu " Một số vấn đề về di san văn hoá trong cáo đi tiểh thoi Trin o’Nem Ha " có thể đếp ưng một sế nhu cỀu cua xa hội như sau:
~ Đấp ưng sự hiểu biết oud déng dao moi tang lợp nhân đên
trong và ngoài tỉnh về cao giá tyị văn hoa thời Trần ơ Ñam Hà
= Gop phần nêu bật một cách tổng quất các giá tr} vin hod, “ nhằm rit ra một số đặc điểm, bài học liọh sử, góp phần xây đựng _
đất nước trong sông cuộc đổi mới,
~ đếp phần vào việc bao tồần-tôn tạo cdo di san văn hoá thời Trần, khơi đây niềm tự hào quê hương, đất nước,
- KẾt qua nghiên cứu phục vụ cho nhủ cầu tham quan, học tập” nghiên cứu khu đi ti6h thời Trần ơ Nam Ba
Sau 12 thang tỗ chức nghiên cứu đề tài, đến nay cơ quan
chủ trì đề tài đã nhận và bước đầu nghiệm thu 12 báo cáo khoa
học cua cáo nhã nghiên cứu trong va ngoài tỉnh, một bé adh tu
1igu Sơ hộ tóm tất cáo đã tài như sau: (do oó nhiều nguyên nhền
nên có tếổo giả đăng ký từ đầu nhưng không tham gia, hoặc các tiêu
đồ nghiên cứu có sự thay đỗi, NhÌn chung không abh hưởng tới mục
tiêu nghiên cứu cua đề tai đã được phê duygt cua Giám đếc sẽ
Khoa học Công nghệ và môi trường Nam Hã)
+4 Bược đều tìm hiểu mảnh đất-con người thời ®rần ơ Ñam Ha
do Hồ Đức Thọ chuyên viên Báo tồn bao tảng Nam Hà thực hiện
Bạn báo cáo dai 12 trang đếnh mấy, chia lãm 4 vấn đề:
Trang 4~ Đặt vấn đề
- Cương vực Nam Ha thoi Trần,
~ Người thời Trần 9 "Nam Ba
- Kết luận
Báo cáo nay tập trung glad quyết hai vấn đề: Cương vực va
con người thời Trần, Tác ai a da bằng mọi nguồn tư liệu (bao gdm
chính sử + đân gian) để ha théng hod cde don vi hành chính dưới
thời Trồn, bắt đầu từ thời đại Hing Vương đến cuối thế kỷ XIV
Trong quá trình thay đổi c c triều đại phong kiến, nên các đỉ
danh hành chính cũng thay cỗi, từ lộ-Phủ-Châu-Huyện Căn cứ
vào kết quả nghiên cứu, cĩ :⁄‹ễ hình đung được bước đầu ban đỗ
hành chính thời Trần trong phạm vi tỉnh Nam Hà ngày nay.s Do la
đất phất tiến cua dong he Trin, nén con người thời Trần ơ Nam Hã
cũng cĩ nét riêng Đây lã vũng đất sẵn sinh re những anh hùng đân
tộc, những đanh nhận văn hố :bi Trần, là nơi nhà Trần thi hãnh nhiều chính sách tiến bộ ảo voi đương thời như: GhÍnh séch khuyến
nơng, mở mang phất triển kinh tế nơng nghiệp, tiểu thủ cơng,chÍnh
sách tuyển dụng phân tải, chính sách học hành tht ew
2 Thấp chuả Phổ Minh- cơn: ; Ình kiến trúc tên giao đều thể
kỷ XIV do Trần Đăng Ngọc, cử phân sử học, Phĩ Giám đốc Bảo tang
Tỉnh thực hiện Bạn báo cáo đài 12 trang, bao gồm cac vấn đề;
-_ = Kiến trúc thấp Phổ Minh
- Thấp Phể Minh là thếp mộ vua T¬ần Nhân Tơng,
Tác giả tấp trung giai quyết hai vấn đồ trên đây nhằm lâm sống tỏ một phần những hiểu biết về thấp Phổ Minh Thấp là một bộ phận rất quan trong cua chia Phd Minh, 14 di vgt tigu bigu cua
kiển tric t6n gido thot Trin cdn lgi - la déi tugng cuả nhiều nhà
nghiên cửu trong và ngồi nước Bằng các kết quả theo đoÏ quá
trỉnh tu sửa bao tỀn cây thấp, tốc giả đã đưa ra những vấn để hấp đẩn về cấu trúc cây Thấp bao gỗm bên trong và bên ngồi Đặc biệt
là cấu trúc trong lơng Thấp, Đây lã 1 ơâđ số mã cac nhà khoe học từ trước tơi nay đã và đang tìm cách lý giai Tác gia đã đưa ra những
sé ligu đăng tin cậy về tỷ lệ giữa các tầng thap, dye bigt 18 đã phân tịch, đánh giá cac cếu kiện đặc chủng bên trong kiến trúc Thấp (nghiä lä những bộ phận kết cấu được man xuất trước khi xây
đựng thấp= độc ban) để người tìợ xây dựng thấp cĩ thể sắp xếp một
cách rất kỹ thuật: như các loại gạch (thươc thợ, hỉnh vuơng, chữ
nhật, răng cưa, gech trang tri ).
Trang 5tác gia đa hệ thống hoá và phân tiéh y nghỉã cua các hoa văn trang trÍ trên thân cây thấp một cách khoa học«
frong báo cáo này, vân đề tác giả nêu ra và kết luân đó
la Thép mệ Đức quân vương Trằần-Nhân-Tông Bằng nhiều nguồn tư liệu khác nhau va tấc giả oăn oỨ vào kết quả đợt tu sửa năm 29
1987, đo xuất lộ mặt hộp đá (mặc du chưa hÌnh dung hết 4 phia)
nhưng có kha năng đây là xế ly cuả Trứo lâm đệ nhất tổ frần Nhân Tông Đây lã những căn cứ khoa học có sức thuyết phục để
chứng minh rằng thấp Phổ Minh là Thấp mộ không phải lâ thấp
tưởng niệm trong kiến trúo Phật giáo ơ “Việt Nam,
3, Một sổ đi tich liẹh sử thờ Hưng Đạo Đai Vương Trần Quốc Tuấn trên quê hương Nam Hae
Do Cư nhân Sư học Nguyễn Xuân Năm Giám ¡ đểo Bao tang Nam
ha thyc hign
Bản báo cáo đài 9 trang, chia lâm hai vấn đề chính:
- Mấy vấn đề về cuộc đời và sự nghiệp
- Gáo đi tích liên quan tới cuộc đời - sự nghiệp Hưng Đạo Đại vương,
Ban báo céo nay tếo giá tập trung giải quyết y ‘nghia
liẹh sử cuả ba đi tiếh thở tự Anh hùng dân tộo Trần Quốc- Tuấn
ơ quê hương Ñam Hà, Trong phần 1, những vến đồ về cuộc đời va
gự nghiệp, tếc giả chỉ khối quất, nhưng đã mạnh đạn dua ra ngày, thống, năm sinh cua Hưng Đạo Vương Đây là 1 vấn đề còn tồn nghi trong sử sách, nhưng căn cử vàe 1 số nguồn tư liệu thành văn cua nguồn sử đân gian, tác giả bược đầu nêu lên để mọi người tham khảo,
Vấn đề co ban được nêu ra trong báo cóo này là y nghiã ligh sử xăw cua ba ải tiến :
tdo gid con nhấn mạnh đây là từ đường cua đồng họ Trần "Trần
Trang 6Đại tơn từ " Gáo đi tiếh này khốc với 224 đi tich #rỀwg thờ
Hưng Đạo Vương theo tín ngưỡng dân gian "Rước chân hương" Đến
bdo cao con lý giai nguồn gốc cuả hội Bảo Lộc "Tháng 8 hội Cha,
tháng ba hội mẹ" Cuối bạn báo cáo, tác giả đã đồ cập tới phần
mộ Trần Hưng Đẹo Đây cũng là một âđ số cua liẹh sử Nhưng bằng thực tế khảo sát, mộ Hưng Đạo Vương (mộ tưởng niệm hay mộ thật" ơ`Baảo lộc cũng lã một biện tượng cần khảo cứu tRêm (vì cĩ thẫ đây 1ã truyền thống cuả người Việt khi mất "hay" đưa thi hãi vỀ
quê hương)
4 Thái 8ÿ cua Thượng tương Thai sư Chiêu Minh Đại vương
trần Quang Khai =- Khu căn cứ chống giặc Nguyên-Mơng ơœ xứ Độc lập
phủ Thiên Trưởng
Bao béo cao dai 10 trang do Đào Tỉnh Tửu, nguyên Phĩ Giam đốc Bao tầng Hà Nam Ninh thực hiện (cộng tếc viên, nay nghỉ hưu)
thực hiện Báo cáo khoa học nay gồm cĩ cốc vấn đề sau:
- Thượng tương Thới sư Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khai:
con người và sự nghiệp,
- Thái 4p cud Thượng tương Thái sư ø xư Độc lập Phủ Thiên
Trường
- Thái âÿ ơ xứ Độc lập Phủ Thiên Trưởng khu căn cứ hiểm yếu
trong cuộc khếứng chiến chống xâm lược Nguyên lần thứ hai(1285)
- Di sản một thời oanh liệt,
mắc giá đi sâu vào nghiên cứu một đi tich Trần cụ thể cĩ liên quan tới nhân vật Trần Quang Khai, một vị tương, một văn
quan đứng đầu triều đỉnh Trần, Ư đây, ngội việc nêu thân thể
sự nghiệp, tác giả đã bằng mọi nguồn tư liệu, đặc biệt là khảo
sat thực tế bạn báo cáo đã đề cập tới khu điền trang thái 8É: đinh thự, mà thực tế là 1 cứ điểm quân sự quan trọng trong hệ
thống căn cứ địg thời Trần ơ Nam Hà Tác giả đã phân tich các giá trị văn hố cua văn bia (Bia Phụng Dương cơng chua, soạn,
khắc 1294), các phế tiếh kiến trúc, cao địa danh cơn lưu truyền
đã hoạch định ra đượo hệ thống giao thơng thuỷ bệ quan trọng cua cứ điểm quân sự này Tác giá đưa ra luận điểm: Đình Cao Đi xây dựng trên cơ sở đỉnh thự cua Trần Quang Khai, nằm trong điền
trang (thực Ââÿ) vưa lä đơn vị kinh tế vưà lã cử điểm quân sự thời Trần,
Trang 7-#~
Bản báo cao đã đồng góp rất quan trọng về hệ thống căn
cw dig quan sy thei Trần không phải chỉ ơ Thiên Trường, Trường
Yen, Yan Kiếp như øử sách từ trước tới nay ghi chep
5, Trang nguyên Nguyên Biền, một hiện tượng độc đểo trong
lich sư văn hod Việt Nam
Đến báo cáo này có 8 trang do PfS Văn họo Hoang Nege mrì
thực hiện ác giả đề oập tới 4 vấn để chính:
- Mấy pét về lich nữ cấc anh hùng đân tộc, các đanh nhên
văn hoá ơ tuổi âứ thơ cuả Việt Nam,
~ Trang nguyên Nguyễn Hiền vị trạng nguyên tre tuổi đầu
tiên ơ Việt Nam
- Mấy vấn đề vỀ đặc điểm lich sử thời Trần - cơ sơ KT-XH
để có một trạng nguyên trẻ tuổi
- Giá trị văn hoá cuả tài năng trÍ tuệ Nguyễn Hiền với
kho tăng văn hoá đên tộc
Đây lä bạn báo cáo khoa học nghiên cứu tổng quất về Trạng
nguyên Nguyên Hiền, Tác giả coi đây là một hiện tượng độc đáo
trong liọh sử văn hoá Việt Nam Bằng caoh phân tịch khoa họo,
lập luận chặt chẽ, tác giả nêu lên con người cua trạng nguyên Nguyện Hiền là phan afh y thức tự lập tự cường, tên sư trọng
đạo sua thời đại Trần noÍ chung, và Nguyên Hiền noÍ riêng Đồng thời đây cũng là sự thể hiên chính sách đảo tạo, xử đụng
nhân tài cua vương triều Trần, một chính sách có tính chiến
lược, cơ y nghià thơi sự, và rẾt tiến bộ so với đương thời
Né phan ath yéu té "nội sinh" cuả văn hoá Trần, oố táo đụng thức đẩy KT-EH Trần phát triển và góp phần đao tạo ra những
tài năng, tương lĩnh tài giỏi đếnh bại để quốc Nguyên-Mông,
một tên để quốc hùng mạnh thời bấy giữ,
6 Được đầu tìm hiểu về các nhà khoa bang Nam Ha thot
Bếo cáo khoa học này đài 11 tpang do đồng táo giá: Cv nhân sử học Mai Khánh và oử nhân văn học Trần Văn BÌnh thực
hiện,
Găn cứ vào nhiều nguồn tư liêu khao nhau, hai tác giả đã
thống kê được 14 vi tiến si, trang nguyên đưới triều Trần ơ”:
quê hương Nam Hà, Myo dù; bếo cao mới chỉ khái quát coo người
Trang 8_ Ð -
hành trang cuả các nhà khoa bạng, nhưng ban báo cáo đã rut
ra được những kết luân co giá trịể
~ Đa gổ cáo nhà khoa bang đầu xuất thân từ tầng lớp bÌnh dân (trừ Trần Đạo Tái và Trần Quang Triều) Gáo nha khoa bang
này đều đây công đuÌ mài kinh sử, với thực lựo kiến thức
Điều đó cầằng thể hiện chíÍnh sách xử đụng nhân tài cuả nhà
trần không phân biệt giều sang, nghèo hèn, nếu thực sự cd tai đầu được tuyển dụng
-ễ đo nhà khoa bang Nam Hà đều nêu tấm gương sang về
đạo đức, lông trung nghiã, yêu nước thương đân, không khuất phục trước cưỡng quyền bao ngược, sống 1 cuộc sống thanh liêm,
để lại nhiều âñ tượng cho đời sau học tập, tho ty
Bản báo cáo đã hệ thống hoá các nhà khoa bạng trang 1Ÿ5 cua thời đại Trần, giúp người đọc hiểu thêm về con người thời Brin o’ Nam Ha
"4, M6t 86 adu vết lich sử đời Trần qua thy tigh Han Ném
trên đất Nam Hà,
0huyên khảo đây 24 trang, do đồng tếo giả Dương Văn
Vượng xã (chuyên viên Hắn nôm) và cử nhân sử học Bùi Văn Tam (cộng tấo viên nghỉ hưu) thực hiện
Bạn bếo cấo nảy hai tếc giả đã xử dụng nhiều thư tigh
han nêm trong các đi tiếh liẹh sử thời Trần, hoặc cốc thế kỹ
sau viết về đời Trần để trình bày một số vấn đồ sau:
- Yăn ban hán nêm viết về khu di ÿiéh đền Thiên Trưởng,
chua Thấp,
_ = Cdo van ty côn lại noÍ về đi tich Trần tại các vùng phụ oậns
~ Một số tương lĩnh thời Trần còn có hành trạng gỀn với
liọh sử địa phương,
~ Một số tư liêu Hán văn ơ đền thờ Trần Hưng Đạo tại
lãng Tiền thôn An Lạc xã Tam Thanh (Vụ Bản)
~ Một số tư liệu Hán văn trong đền thở Thuy bảo công
chua ơ lảng Tiền xã An lạc (Ffam Thanh, Vụ Bạn)
~ Đồn thờ công chua Huyền #rên ơ nuf Hễ,
- Đền Miễu Hoàn thở trưởng công chua Thái Đường.
Trang 9- Đền thờ 0hiêu Văn vương Trần Nhật Duạt ơ Gỗ LỄ,
- Đền thở Dương công Đán lãng An Bãi (BÌnh lục)
Ngọc pha dan thờ tứ vị Hồng nương
Đền thờ -A Thánh 1â Tông và nang lự Đề ơ "tông Phủ Thứ, thang
Cư Phủ Thọ xã Tam Thanh,
11 vến đề được trình bảy đưới dạng khác nhau, hhững có
thể thống nhất øơ một điểm: Phan súh thực tế ligh sv thei Bran
vô cùng phong phú và cụ thể Sự đóng góp to lơn cua những con người thời Trần trên quê hương Nam Hà vào lich sử chống xâm lược Nguyên-Môbg và xây dựng quốc gia Dei Vigt Gép phần bổ xung cho chính sử Mặc dù nguồn tư liện mang tính chết đân gian
dm net, nhumg, no phan ath sự trưởng tồn cua những anh hùng
cố công với dân với nước qua Ÿ thể kỷ, được tÍn ngưỡng hoá
(được thở tự như những thần linh),
8, Céc di v§t lich sử vấp hod thoi Trần ơ kho Đao tầng
Báo cđo khoa hocnay có 13 trang đo đồng táo giá Nguyễn
Quốc Hại (cử nhân Khao cỗ học) va Pham thi Cu (ob nhân sử học)
nghiên cứu Bản bão cáo chia lãm 3 phần chính:
vật thời Trần bao gồm nhiều chất liên, loại hÌnh khác nhau Bon
4OO đi vật được lưu giữ có giế trị Phép lý được trình bầy một
cách nghiêm tức Quá trình thực hiên đề tài đã có sự tham gia cua các chuyển gia gém mt Vigt Nam-Nhgt Ban Ban báo cáo đã đưa
ra những nhận xet quan trọng nhu sau:
- Nam Ha có mật độ đi vật thơi "“rần rất đệm nét,
~ Đây lä nơi san xuất, chế tác tại chẾ, không cố sự đu
nhập như quan điểm cua 1 số nhà nghiên cứu Nhật Bản
- Những đi vật nay phen ath tình hình kinh tá-zã hội
đương thời,
Trang 10- 10 =
~ Thể hiện trình độ thẩm mỹ, kỹ thuật kha cao cua | thé ky XIII-xIV
- tính thống nhất và đặc thù cuả các đi vật lich sử-văn hoá
Tran o’ Nam Ha
Pyên cơ sơ phân tịch một cách khoa học, các tác giá đã đề xuất phương añ báo quản lân đài các đi vật này, coi đỗ là tại sẵn vô giá trong kho tảng văn hoá Việt Nem nof chung va Nani Ha no{ riêng
9, Nhóm bệ đá Hoa sen thời Trần ơ Nam Ha -
Báo cao gồm 8 trang cua Phố tiến sỹ khảo cỗ học Tổng Brung
tín (Viện khảo cỗ học Yiệt Nam nghiên cứu)
Nội dung nghiên cứu chủ yếu vào 8 bệ đã thờ hoa sen thoi
®rần ơ`Ñam Hà cón lại, Tác giả nghiên cửa rất nghiêm túc công phu và hệ thống hoá một loại hình di san văn hoá Trần độc đáo cuối thế kỹ XIV trong cac ngôi chua cồn lại cua thời Trin Sau khi khảo tạ về niên đại, chất liệu, hoa văn tấc gia nêu lên một số nhân xet quan trọng:
- Nhóm hệ thở đá hoa sen Nam Hà nằm trong hệ thống bệ thở
đã hoa sen cuối thời Trần, có nhiều hoa văn đẹp, lạ so với các
bệ thờ khác ơ các tỉnh bạn
- Nằm trong kho tăng nghệ thuật điêu khắc thời Trần, nối
tiếp đồng chay với nghệ thuật Trần thế kỷ XIII, đầu thế kỹ XIV, phô bảy tnh đa dạng, với nhiều nết độc đáo mới mẻ,
- lễ một san phẩm nghệ thuật đặc sắc cuối thời Trần, là sự kết tinh cua bàn tay tài hoa, trÍ thông minh cuã nhân dân lao động, góp phần nghiên cỨu các y nghiã tôn giáo, xã hội cuối thời
tein
18 Bao cdo két qua dao thấm sất khu Miễn và đình Cao Đài
xa My Thanh huyện Bình lực,
“Đây la bso cdo kết quả khảo cỗ học do Bao tang Nam Ha thyo
hiện, cử nhân khảo cỗ học Nguyện Quốc Hộiohủ đề tài Đếo cáo
khao cỗ học nảy nhim lam sang to di tich-Thdi ap fran Quang Khái, qua đợt khei quật, viậệo xuất lộ nền móng, đỉnh thự có thể hình:
dưng được điện mạo kiển tric thoi Trân ơ khu vực đi tich “Trần
này Oác đi vật Trần tìm được trong cđo tầng văn hoá, đã chứng
tỏ mấy vân đỀ sau:
Trang 11~ 11 =
- Day la phé tich cua một công trình kiến trứo oó qui
mê rất bề thể cua Hoàng tộc nhà Trần thé ky XIII
~ 0ăn cứ vào loại hình, vật liệu, kiếp trúc cho thấy ơ`
đây oo mặt hầu hét ofc chi tiét dùng trong xây dựng, chỉ trừ
cáo vật liêu bằng gỗ Wbệ mục nất
~ Sau khi công chuế Phụng Dương mất (1291) và nhất là
sau khi Thái sư Trần Quang Khải mất (1294), thì khu vực này
không có vị trÍ quan trọng như trước, chỉ là nơi thờ tự, để
phần tệ và một số quan lại, người cây cấy trông coi
_— = Đã thấy khả năng xuất hiện phế tịch lồ nung gốm sử
bằng việc phất hiện za nhiều bao nung Điều này oö gia trị
đặc biệt, nó chứng tô sự phát triển về kinh tế, kĩ thuật oud
Đại Việt (mang tính ban điẹ, oó tiếp thu kỹ thuật gốm sứ cua Trung Hoa), có tính thuyết phục đối với một sổ chuyên gia gốm
sử Nhật-Việt, cho đó lã sự đu nhập cuả Trung Quốo,Rhông phai
bán địa (cuả người Việt san xuất),
11 Báo cáo kết quả đảo thám sát khao cổ ơ `bấi Hạ lan,
xa Lộc Vượng, ngoại thanh Ñam Định,
Bảo cáo đợt khai quật này đo cơ quan chủ trì đề tài thực hiện, cử nhân khảo cỗ học Nguyễn Quốc Hội làm chủ công trình, Báo cáo trình bãy mấy vấn đề về quá trình nghiên cứu, khao đất phế tich Trần, và khao tả khoa học các tầng văn hoa, cáo
đi vật Trần tìm thấy trong quá trỉnh khai quật rất phong phú,
đa đạng Tếc giá đưa ra mẩy nhận xét sau đây:
~ Đợt đào thấm sát o°Hạg lan lần này đã thu thập được 200
hiện vật bao gồm: Gốm, sành sử, đồ đá, đổ sắt, tiền đồng, Đặo
biệt là gốm sử phổ biến là men ngọc; men màu vàng rơm, men nâu, hoa văn trang trí chủ yếu lãä hoa sen, hoa cúc đều
mang phong cach thé ky XIII, XIV
- Ting vin hod day tir 0,30m-0,60m bao gdm nhiều hiện vật, trong d6 cé then cul chdéy co kha ning d&y 14 1 b@ phận
kiến trúc (kho tảng?) nhằm phục vụ cho cung điện cu các vua trần ơ ngay khu vực nảy
- Niên đại cáo đi vật đầu mang phong cách Trần, Đây là
1 đi chỉ khao cổ họo rất quan trọng, nằm trong khu vực cung điện cuế các vua Trần cần phải tiếp tục nghiên cứu.
Trang 12- 12 =
12 Xung quanh vige bảotồn tôn tạo đi tich Trần ơ Nam Hä Đây là bản tham luân cuả đồng táo giả, hai Phó tiến al Ding Văn Bài và Nguyễn Quốc Hùng ơ "gục Bao tần = Bao tàng Bộ Văn
Cao tdc gid da khdi quat cac giá trị cua đi tich trần ơ” Nam Hồ bao gồm số đi tich vật thể và phi vật thé Cac nha
nghiên cứu khẳng định sự đa dạng, phong phú cua đi sản văn:
hoá Trần o’Nam Ha, Ding thời, đề xuất phương sĩ bảo tổn tổng
thể khu đi tich Trần trên cáo phương điẹn quan lý, qui hoạch,
tôn tạo Nhằm khai thấc cdc giá trị văn hoá để phục vụ cho
việc xây đựng 1 nần văn hoá tiên tiến, đậm đã bản sắc dân tộc
6, Sơ bộ để 1g chất 1 đề tài:
Như nội dung cua đề tài nghiên cứu nêu ra:" Một số vấn
đề về đi sản văn hoá thời Trần trong các đi tịch thời Trần ơ” Nam Ha" 12 bdo cdo khoa học, và tập tư liệu anh đã được nghiên cứu, soạn thảo, thể hiện mấy vấn đề sau:
4 VỀ cơ ban, các báo cgøo khoa học đã tập trung 1Í giai các giá trị văn hoá thời Trần ơ Nam Hà một cách có hệ thống
Ô "từng vấn đề, các tác giả đều nhằm mục điếh chứng minh rằng: Đây lã vùng đất có nhiều đẩu ân văn hoá thời Trần beo gồm nhiều đạng khác nhau, rất phong phú, đa đgng
2, 0ốc gia trị văn hoá Trần ơ Nam Hã có phong cách đặc thủ, được sản xuất và chế tạo tại chỗ, nhằm phục vụ cho tầng lớp quí tộc Trần và đại đa số nhân dân Nam Hà thời Trần,
3 ác báo cao khoa học đã đạt được mục tiên vạch ra cud
đề tài Kết quả pghiên cứu se được công bố rộng rãi trong hội thảo khoa học quốc gia
4, Kết quả nghiên cứu trên mới chỉ lãä bươc đầu Nhưng,
86 gốp phần quan trọng vào việc Bão tồn, tôn tạo cốc đi tịch ligh sử văn hoá thởi Trần ơ Nam Hà, gốp phần giáo dục truyền thống, -đấp ưng nhu cầu tham quan đu lịch, nghiên cứu cua đông đão mọi tầng lớp nhân dan
ÿ Kết luân về kiến nghị:
~ Việc nghiên cứu đi san văn hoá Trần cồn rất phong phú trong khuôn khổ thời gian, nguồn kinh phí hạn hẹp, chủ nhiệm
Trang 13- 13~=
đề tải và cơ quan chủ trì đề tài đã tập hợp lực lượng nghiên cưu Trung ương và địa phương hoàn thành kế hoạch đã được Sở Khoa họcGCông nghệ và Môi trường duygt y
- ĐỀ tài đã đạt được mục tiêu, nội dung để ra Tuy vay,
cũng chưa thật đầy đủ, toằn điện ĐỀ tài có 1 số vấn đề phat
hiện mới, nhằm sáng tỏ giá trị đi san văn hoá Trần ø Nam Hà
~ Chin tiếp tụcnghiên cứu đi sản văn hoa Trần trong
thời gian tới, đo đó, cần có sy ung hộ tich cực và hiêu quả
cuả cơ quan quản 1ý khoa học cua Tinh
Nam Ha, ngay 31 thang 8 n¥m 1995
CHU NHI3M DE TAI CO QUAN CHU TRI DR TAT
Nod gui:
- Sở KH-CN Môi trường để báo cáo
- Oục BTBP để báo cao
bro
Trang 14-BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU ˆ
MẢÀNH ĐẤT-CON NGƯỜI THỜI TRẦN Ở NAM HÀ
H6é Die Tho
1/ Dat van de:
Nan Hà là một tỉnh lớn trên lưu vet song Hong thudc dong bang Bac bộ Tren mảnh đất gọi là đồng bằng mà sự cấu thànH khá đa dạng : Ngoài diện tích rộng lón do
sự bồi đấp phù sa của sông Hồng, sông Châu, sông Ninh ở phía tây Nam Hà còn có dải sưa khối đá vôi, chạy dọc suối hai huyện Thanh Liêm, Kim Bảng như bức tường
thành án ngữ bên hữu ngạn sông Day Trong quá trình tạo giải sơn khối còn có sự dút,
gấy, nên một số huyện lân cận như Duy tiên, Bình Lục, Vụ ban, Ý Yên nổi lên những
lèn dá, đöi trọc hoặc đứng đơn lẻ hoặc thco dãy tạo nên sự độc đáo, hấp dan tren dia
_ hình đồng bàng Đây cũng là địa bàn cư trú của người Việt Cố, mà từ vài ba nghìn năm trước.đã có mật để rồi phát triển thành những làng quê trù phú
Phía đông nam của tỉnh Nam hà là hệ thống sông biển có sức bồi đáp phù sa lớn Hàng năm bãi bồi tiến triển Dinh quan chimg 40m đã làm cho mảnh đất ngày thêm
rộng, cương vực địa dư hành chính ngày thêm giá tảng Nhưng sức mạnh của dòng
chảy cũng gây nhiều sự biến thiên, xoá di một số làng xã, dòng sông, cửa biển Từ dó
đã tạo thêm nhiều diễn địa, những đồng thời cùng phải thêm nhiều công sực dể phục hồi cuộc sông trên miền quê mới
Nói là đồng bằng, song đất Nam Hà còn có nhiều khu địa hình thấp trũng, dễ bị
úng lụt, bất lợi cho việc cấy trông và môi sinh Vì vậy đã tạo cho con người nơi đây
phải nàng cao thêm ý chí đấu tranh với thiên nhiên cũng như đức tính cần cù để cải tạo
thiên nhiên làm giàu cho quê hương cho dat nước,
2/ Cuong vue Nam Ha thời Trần : Nam Hà là tỉnh hợp nhất giữa hai tỉnh Nam Định, Hà Nam trong những thập ky
gan đây Xa xưa dưới vương triều Trần dây là đất thuộc các lộ Đông Đô, Thiên Trường, Hoàng Giang (1)
Lộ Đông Đô đời Hùng Vương là bộ Giao Chỉ, sang đời Đường thuộc An Nam
Do ho phủ có đáp thành Đại La (tức Long thành), còn gọi Nam Kinh Nhà Trân gọi là
Trung Kính Tại hộ Đông Đô có châu Ly Nhân (2) thuộc đất Nam Hà ngày nay Châu
Ly Nhân quản lãnh 6 huyện : Thanh Liêm, Bình Lục, Cổ Bảng, Cổ Giả, Cổ Lễ và huyện Ly Nhân
Thời Lê;Chaâu Ly Nhân Lệ thuộc Trung bo roi Dong bo, Bac Thanh, Son Nam
Thượng trấn, Năm Minh Mệnh thứ 12 thuộc tỉnh Hà Nội, sau lại đối Hà Nội thành Hà
Đông, tách ba huyện BìnhLục, Thanh Liêm, Nam Xang khỏi Hà Đông lập phủ Liêm Bình thuộc tính Nam Định Ngày 20 tháng 10 nam 890 tính Hà Nam được thành lập bài huyện trên lại tích khỏi tỉnh Nam Định, lệ Hhuộc vào tính Hà Nanh
Nam 1965 hợp nhất Hà Nam-Nam Định thành tỉnh Nam Hà cho đến ngày này
(1)Đất nước Việt Nam qua các dời Đấu Duy Anh NXI KIIXII Hà Nội 1964, phần nói nước Đại việt ở đời Trần và đời [Ïô, tr 95-96
(2)Iheo văn bia ở xã Định Xá, huyện Hình Lục tỉnh Nam lià niên hiệu Đại Trị (1358-1369) thì gọi
là lộ 1 gi Nhân.
Trang 15chùa nhỏ trên núi Trình Tiết gần khu danh thắng Kẽm Trống có lần Bình Định Vương
Lê Lợi ghé thâm đã đề thơ :
" Trần Triều công chúa anh linh phủ Hưng ngã lương dân thế tự truyền "
(Công chúa thời Trần có linh thiêng Giúp dân làm cho cơ nghiệp xưa thịnh vượng)
Núi đôi Thanh Liêm cùng với dòng sông Đáy cháy dọc phía tây huyện đã lạo
địa thế lợi hại về quân sự Thanh Liêm còn có đường thiên lý chạy qua Tuyển đường chạy đọc theo sông Đáy, có đoạn đường bộ, đường thuỷ ngược xuôi đều phải qua đây
Đó là Đoan vĩ ( Thanh Hải) , cửa ngõ quan trọng của Đông Đô Từ vị trí có tầm quan trọng về chiến lược như vậy nên nhà Trần đã thiết lập đồn bình ven sông Đáy thuộc địa bàn xã Thanh Châu, cũng như lập kho tiền đồng ở núi Thiên Kiện Nhà Hồ cũng dựa vào địa thế hiểm trở này mà thiết lập luỹ thành ở Thanh Liêm, Thanh Thuỷ, cũng như
thành ở hữu ngàn sông Đáy thuộc xã Gia Thanh mà đối ngàn là Doan Vi-Thanh Liêm:
Nhà Minh xâm lược nước tá, cũng thấy rõ yếu điểm của Thanh Liêm nêu thiết lập một hệ thống thành luỹ dọc đường Thiên Lý cũng như vcn song Day dé dn ngif har: miền Nam Bắc nước ta Chúng đã lập thành Cổ Động, nơi địa đầu Đoan VỊ, rồi thành Bình Cách, Thành Truật (còn gọi Thành DụU, thành ở Châu Câu Hệ thống thành luỹ
này trải từ đầu huyện đến cuối huyện, tạo thế liên hoàn bổ trợ cho nhau và cũng nhờ
đó mà tổng bình Trương Phụ thoát chết, trong trận bí quân nhà Hậu Tran phan công ử
Bò cô
Thanh Liêm là huyện ở phía Tây Châu Ly Nhân đồng thời ở về phía tây tính Nam Hà, có địa thế quan trọng về giao thông cũng như quân sự Nơi đây đã để lại nhiều chứng tích lịch sử từ những thế ky 13-14 dưới vương triều Trần và giai đoạn chống ngoại xam dau thé ky 15
Phía Bắc huyện Thanh Liêm là huyện Cé Bang Dia danh này c6 tir thoi Tran,
đến thời Lê Quang Thuận đổi là Kim Bảng lệ vào phú Lý Nhan
Cổ Bảng có dải sơn khối chạy ở phía tây, suốt từ Bắc xuống phía Nam
huyện,tạo nên nhiều cảnh đẹp Tiêu biểu hơn cả là hệ thống hang động, núi non từ
Quang Thừa đến ngọc Sơn, Thi Sơn, Thanh Sơn, trong đó có hệ thống núi Bát Cảnh chạy dọc từ Quang Thừa (xã Tượng lĩnh) đến xã Tân Sơn, Xưa kia Trịnh Doanh về
thám, đã ví nơi đây như cảnh Tiên Hương (Trung Quốc)
Núi Ngọc đứng độc lập, như viên ngọc khổng lồ bên đồng sông Đáy, bên cạnh
chùa Hà anh, cảnh quan hấp dẫn hài hoà Núi Cấm Quyển Sơn bên hữu ngận với lớp
thạch nhủ trong hàng dòng, Hàng tôi ở Thành Sơn củng là điểm thiền nhích ky tủ tiến
đất Cổ Bảng
Trang 16=3=
Đồng sông Đáy uốn lượn ở phía tây huyện, suốt từ làng Hữu Vinh (Tan Son) đến Châu Câu, Châu Xá (xã Châu Sơn) có đoạn men theo núi, có đoạn xuyên qua đồng quộng, xóm làng Từ thời Trần cố sư tổ chùa Văn Mộng đã lập chùa tại khu Bát Cảnh
xã Quang Trúc (nay là thôn Quang Thừa xã Tương Lĩnh) (1) Nhà sư ở đây đã để lại nhiều ân đức trong việc giúp đỡ, chữa bệnh cho dân nên khi ông chết nhân dân địa
phương đà lập đền thờ Trần Du Ton về thâm chùa đã phong Lạng :
"Nam thiên đại thành hoàng Thánh tổ, Sơn Vương Bồ Tát"
(Vi Bo Tat dat Son Nam là bậc thánh sư, là đại Thành Hoàng trời Nam)
Tại đây địa hình trăng nên hay bị úng lụt, buộc con người phải vật lộn, chống
chọi với thiên nhiên Trong hoàn cảnh bế tác, dân Cổ Báng đã dựng lập mot he thong
chùa thờ Tứ Pháp, móng thần phật độ trì trong việc chế ngự thiên nhiền như chùa Vận Lâm, Đặng Xá, Bà Giát, Bà Đanh :
Cổ Báng cũng là mảnh đất rất thuận lợi cho việc quân sự nên từ thế kỷ I, nhiều tướng lĩnh phù Trưng Vương như Nguyễn Phúc Tính, Bùi Thuy Nương, Lê Chân dã
sử dụng nơi đây làm căn cứ kháng chiến Suốt từ Tân Sơn đến Thi Sơn, Thanh Sơn, Châu Sơn các tướng thời Định, thời Lý đã dùng làm căn cứ chiến đấu Lý Thường Kiệt cũng đã để lại nhiều kỷ niệm trên đường hành quân ở Quyển Sơn cũng như châu Sơn Km Bảng 'Phời Trần trên mảnh đất này có Lê thị Liên dùng thuốc Nam lây tự núi đồi quê hương chữa bệnh cho quân đội, để có sức khoẻ đánh bại giặc Nguyên Mông
Bệ đá ở Tân Sơn, một bệ đá đặc biệt đã có từ thời Trần, cũng là di sản văn hoá
quí giá trên đất Cổ Bảng
Bên cạnh Cổ Bảng là hai huyện Cổ Giá, Cổ Lễ Những địa danh này íL được de
cập cũ thể sau này Hà huyện nào, Theo “Đất nước Việt Nam qua các đời” thì thời Minh
Vinh Lac thú 13 huyện Cổ Giá gộp vào huyện Ly Nhân còn huyện Cổ Lễ gop vào châu
Ly Nhân Đối chiếu việc tiếp giáp giữa các huyện Nam Xang Cổ Bảng, Bình Lục, Phú Xuyên thì Cổ Giả, Cổ Lễ có thể là đất của huyện Duy Tân sau này và một phần huyện
Nam Xang
Huyện Duy Tân được đặt từ đời Lê Quang Thuận va nam trong phủ Ly Nhân
Đến đời Lê Kính Tông (1600-1619) niên hiệu Hoàng Định để tránh tên huý nhà vua
nên đối là Duy Tiên
Đối chiếu sấc phong, địa danh các làng xã ở phía đông bắc huyện Duy Tiên thì
„ các xà hiện nay như Trác Bút, Trác Văn, Chuyên Ngoại, Chuyên Nội, Mộc Nam, Mộc
Bác, trong những thế kỷ 17,18,19 thuộc dất Phú xuyên phú Thường tín, thời Trần đây
là đất huyện Phù Lưu châu Thượng Phúc lộ Đông Đô
Cổ Giả, Có Lễ, có nhánh sông nhỏ có thế thông từ sông Nhuệ, sông Đáy qua
Trác Bút, Trác Văn ra cửa Lỗ Hà, lại có thể vòng qua Hoà Mạc, Dưỡng Mông Đây có
phái là dòng sông mà văn bia chia Doi Son dựng năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ hai
(1121) có doạn si :” dap thuyền điệu báo qua dòng Lô Hà thấy bến Long Lĩnh ”, Dong song này hiện này có đoạn còn, đoạn mật và mot con dé cil goi 1a “Huu dé" Qua
khảo sát từ cửa sông A Lỗ nơi thông ra sông Hồng đến đoạn uốn lượn qua Chuyên
ngoại, Trác Văn, Trác Búi để gập sông Châu hiện nay, nó có thể về căn cứ địa Thiên
Trường hay vào được khu căn cứ Trường Yên Những chứng tích, ngọc phả, truyền
(1) Theo truyền thuyết và ngọc phá đền Ông xã Tương Lĩnh, huyện Kim Bảng tỉnh Nam Hà :Thân phụ sư tổ là Quốc công thời Trần thân mẫu quê hương tại đây
Trang 17=4=
thuyết địa phương về con song này phù hợp với nhận dịnh của tác giá Nguyễn Xuân
Nam: Pay là dòng sóng Thiên Mạc thời Trần, nơi đã diễn ra nhiều cuộc chiên dâu góp
phần dánh lại kẻ thù hung han the ky 13(1)
Phía nam Cổ Giả, Cổ Lễ là huyện Ly Nhân, đến thời Lê Quang Thuận thế kỷ I5 mới đặt là huyện Nam Xang và đặt trí huyện, không lệ thuộc vào phân phú như trước
liên quan đến lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm Câu "Sinh Kiếp Bạc, thác Trân Thương, quê huơng Bảo Lộc” như gợi ý cho các nhà nghiên cứu nghĩ tới Trần Thương huyện Ly Nhân đây là kho lương hay còn liên quan đến khu lãng mộ Long Hưng của nhà Trần, do nạn sông lở, địa hình biến dạng nên bị lu mờ dấu tích xưa? (vì bên tả ngan là Long Hưng)
Phía tây Ly Nhân là huyện Bình Lục Địa danh này đã có từ thời Trần, sang thời Tây Sơn dối tên là Ninh Lục Đến đầu thời Nguyễn đã trở lại địa danh Bình Lục như
cũ -
Bình Laic là địa bàn thấp trăng, việc cấy trông khó khăn Tuy vậy, đây cũng có
vùng đất dài niều mỡ thuận tiện cho việc trồng lúa, trông họa mầu cũng như cây an
quá Đó là vùng đất ở ven sông Châu, sóng Ninh giảng, động ruộng hai mua tuoi tối,
đời sông nhân dân có phần ổn định
Bình Lục có một vị trí quan trọng vì gần với hai điểm trung tâm về chính wi,
kinh tế, văn hoá xã hội Đó là vùng Châu Câu của châu Ly Nhân (sau là Ly sé cua Sun ` Nam thượng trấn), và khu cúng điện thái thượng hoàng (sau là trấn ly Sơn Nam Hạ ) Đây còn là nơi gần với hành cung Ứng phong bên bờ sông Ninh giang (gần Câu Họ
hiện nay), là cửa ngõ để các vua Lý Trần đến thăm chùa Tháp Chương Sơn cũng như Đọi Sơn để làm việc khuyến nông động viên sản xuất
Việc đi lại nơi đây dựa vào hệ thống sông ngòi như Ninh giang, Hoàng giang,
sông Châu cũng như hệ thống đường bộ dựa vào đường đê của các con sông này Tuyến đường từ Thanh Liêm qua Mỹ Tho, Định Xá lên Duy tiên thời Trần đã được sử dụng Sau thời Lê làm cầu ngói qua sông Châu để tiện việc đi lại (2) Con đường cổ
nối Châu Câu với Vị Hoàng (sau là đường 21) cũng được hình thành từ lâu dời
Bình Lục có núi An Lão dáng tròn như cái lọng, dưới chân núi có ngôi chùa cổ
thời Lý, cảnh vậi thanh u, nhiều vua chúa đã đến thăm và chúa Trịnh về dây đã để lại
một bài thờ ca ngợi :
“Nam Chau tu cổ địa dư khoan,
An Lão Sơn đầu, sơn thắng quan”
(Pia du Nam Châu xưa van rong
(1) Nguyên xuân Nam Dòng sống Thiên Mác thời Trần ở dâu? hồng báo lịch sử thời Trần 1988-11.N.N
3) Bía ghí việc làn: cầu có niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 7 (1625) hiệu dạt tại khu dất gần bến dò thôn Tái xã Định xá.
Trang 18=Ã=
Đỉnh núi An Lão đẹp, đáng thướng thức)
Bình Lục là địa bàn có hệ thống giao thông quan uụng nên từ thời Lý Trần và các triều đại về sau, thường có các cuộc hành quân và chiến đáu tại nơi đây
Ngọc pha Phan cong chúa ở làng Cổ Viễn đã nêu trên đường hành quân đánh Chiêm công chúa đã xin vua Lý ở lại mở mang mánh đất này, Dương Công Đán làng
An Bài cũng đã anh dũng hy sinh chống giặc Tống ngay tại quê hương Đây cũng là mảnh đất mà nhân dân phải vật lộn với thiên nhiên rất gian khổ, nhiều fan dap de quai
ở khu vực Định Xá để bảo tồn cuộc sống `
Bình Lục là mảnh đất cổ của châu Ly Nhân Ngoài các di vật trống đông, rìu, giáo đồng, mộ bắc thuộc 1ừ trước công nguyên, thời Lý Trần cũng để lại khá nhiều dấu
tích như hiện vật ở núi An Lão, văn bia Đại Trị ở xã Định Xá (1358-1369) đánh dấu
một vùng quê đậm đặc tính lịch sử-văn hoá
Phía nam châu Ly Nhân là phú Thiên Trường Đây là địa danh có từ năm 1262
vào niên hiệu Thiệu Long, khi thượng hoàng nhà Trần về thăm quê, ban yến tiệc cho dân, rồi thăng làng Tức Mặc lên làm phủ Thiên Trường Tại làng cũ, vua Trần đã cho
quan nhập nội thái phó Phùng Tá Chú lợ việc xây dựng cùng điện Trùng Quang, Trùng, Hoa và chùa Phổ Minh Có thể nói đây là kinh đô thứ hai của nhà Trần, quan irọng -
không kém Đông Đô Theo Đại Nam nhất thống chí : Phủ Thiên Trường là một trong
số ba phủ liên quan đến lộ Thiên Trường mà thời Minh Vĩnh Lạc (đâu thế kỷ 15) phan định Ba phủ trong lộ Thiên Trường đồ là : phủ Trấn Man (thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay) phủ Kiến Bình (nguyên là An Tiêm, Kiến Hưng, Hoàng Giang) và phủ Phụng Hoá
(nguyên là phú Thiên Trường) thuộc địa dư Nam hà Còn lộ Thiên Trường có từ niên hiệu “Thiệu ing Chinh Binh" (1232-1251) Sau lai chia lam 2 là Kiến Xương, An tiêm,
rồi đổi lộ An tiêm thành lộ Hoàng Giang
Phủ Thiên Trường bao gồm các huyện Mỹ Lộc, Thượng Hiền, Tây Chân, Giao Thuy, Thuận Vi Năm Vĩnh Lạc 17, phủ Phụng Hoá (tức Thiên Trường) lại bị giáng
xuống làm Châu, quản 4 huyện là Cổ Lan, Duyên Hà, Mỹ Lộc, Thuận Ví còn huyện
Tây Chân nhập vào Giao Thuỷ
Thời Lê, Thiên Trường lệ thuộc Nam Đạo sau lại đổi là Thiên Trường thừa
tuyên, rồi Sơn Nam Thừa tuyên, Sơn nam xứ Niên hiệu Cánh Hưng thứ hai đặt Sơn Nam hạ, quần lãnh các phủ Thiên Trường, Thái Bình, Nghĩa Hưng, Kiến Xương, Tiên Hưng Đời Tạy Sơn, đối làm trấn Sơn Nam Hạ Niên hiệu Minh Mệnh đổi thành trấn
Nam Định Năm Minh Mệnh thir 13 chia tỉnh hạt, đem các huyện Hung Nhân, Duyên
Hà, Trần Khê lệ vào tính Hưng yên Còn tỉnh Nam Định bao gồm các phú : Thiên
Trường, Nghĩa Hưng, Kiến Xương, Thái Bình và huyện Thanh Quan thuộc phủ Tiền Hưng Đặt chức Định Yên tổng đốc coi Nam Định, Hưng yên
Huyện Mỹ Lộc ở phía Bắc phú Thiên trường, phía Đông có sông Nhị, phía Bắc
huyện có sông Hoàng Giang, dòng sông này hợp lực với sông Ninh giang uốn lượn mã bác huyện, lại có đường để chạy hai bên vừa là đường đi lại thuận lựi, vừa là phòng
tuyên báo vệ cho thú phú Thiên trường, Phía nan huyện có sống VỊ [loang, nói song Nhị với sông E2ãy ở cửa Đại Ấn,
Song Vinh Giang Tà thột nhấnH sông, nhỏ thông với sông NHỊ, nó on lười
ánh có tiến quc hương các vũa Trần d Puc Mac rot do ta song Vị Hoang Bong song
nay chay ap sal Khu cũng diện Trùng Quảng, Trung Hóa, chữa Phố Minh và các hành cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ tứ của hoàng tộc Trân Đây là một dòng sông rất
Trang 19=6=
có ý nghĩa, tiện việc cho các Thái Thượng hoàng tới kinh đô để xem xét công việc của triều đình, hoặc các vua Trần về thăm Thượng Hoàng và quê hương Day còn là dòng sóng thưởng ngoạn, ngắm “kim quất” trồng hai bên bờ như nhà thơ Phạm Sự Mạnh dã
viết :“Lưỡng ngạn tân sương kim quất quốc” (Sáng sớm ngắn hai bên bờ sông đều thầy
quất vàng hiển hiện)
Mỹ Lộc còn có vành đai thái ấp, phủ đệ của các bậc khai quốc công thân, hoặc danh tướng có công đánh bại đế quốc Nguyên Mông Đó là thái ấp Quấc Hương của Thượng phụ Thái sư Trần Thủ Độ, thái ấp Cao Đài của Thượng tướng Thái sự Trần Quang Khải Các khu An Lạc , Lộc Quí, Lựu Viên, Mai Xá Đệ Tứ, Đệ Tam, Phương _Bông, Liễu Nha, Phù Hoa cũng là những nơi có hành cung, phú đệ, là cơ sở phục vụ
yêu cầu học hành thì cử, văn hoá văn nghệ và cuộc sống tỉnh thân của Hoàng lộc
Hương Tức Mặc là nơi trung tâm kinh tế, chính trí, văn hoá xã hội đã góp phần không nhỏ cùng vương triều Trần dựng nước, giữ nước ở thế kỹ 13,14
Phía tây và tây nam huyện Mỹ Lộc là huyện Thượng Hiền, sau tránh tên huý của trạng nguyên Nguyễn Hiền nên đổi là Thượng Nguyên Huyện này chạy dài theo
thế vòng cùng ôm lấy huyện Mỹ Lộc Phía nam có các xã Dương A, Thuy Trung,
Bồng Lai, Thận Vi, Vạn Diệp, Đồng Phù, Vô Hoạn vòng qua Mai Xá, Đang Xá, lên Cổ Viễn, Hưng Công giáp sông Châu Như vậy huyện Thượng Hiền thời Trần nằm ở cả
Thượng Hiền là cửa ngõ phía nam của khu cùng điện Thượng hoàng nhà Tran,
nên hoàng toc Tran đã dựng lập hành cung, làm vườn cảnh, nhất là vườn kim quất trên các vùng đất Từ Lâm (thời Lê đổi là Từ Quán), Thuy Thỏ, Bồng Lai,(1) Nhung các
vườn kim quất cùng với hành cung ở đây đã chung số phận với chùa Viên Quang thời
Lý bị nạn sông lở cuốn theo dòng nước, nó chí tồn tại trên các vùng quê mới với những địa danh cổ, các tấm bía cổ mà thôi
Nạn sông lở trên đất Thượng Hiên đã khiến cương vực nơi đây có nhiều thay đổi Qua tài liệu chữ Hán "Nam Trực huyện thông chí (2) cho biết tại tổng Nghĩa Xá
có việc đem xã Đại An huyện Thư Trì (Thái Bình) lệ vào tổng Nghĩa Xá huyện Tây chân, hoặc việc khai khẩn bãi bồi ven sông Nhị lập trại Xuân Hoà, Cứu An chứng tô giữa hai bên tả, hữu ngạn có sự cài răng lược về đất đai làng xã và thời Trần quản hệ
họ hàng, định cư đan xen chấc còn có sự mật thiết gấn bó hơn!
Thượng Hiên là quê hương của nhiều trạng nguyên, có di tích thờ Trần Minh
Tong 6 Van Diệp, nhưng công trình phủ đệ thời Trần đó chỉ còn lại loáng thoảng gạch
ngói cổ, thiết nghĩ cần được đi sâu nghiên cứu để làm sáng tỏ mảnh đất kế cận có sụ
liên quan này
Phía nam huyện Thượng Hiền có huyện Tây Chân Đây là một huyện lớn mà
“thời Lý thuộc phú Hải Thanh, đời vua Trần Thái Tôn đổi là Thiên Thanh, Trần Thánh Tôn thuộc Thiên Trường Do tránh tên huý Tây Định Vương nên năm 1657 huyện này doi là Nam Chân 'Phời Nguyễn huyện phần làm hài là Nam Chân, Trực Niah, sau doi thành Nam Trực và Chân Ninh, Năm 1965 hai huyện lại hợp nhất thành huyện Nam
Này thuộc đất các xã Nam Điền, Nam Thấng, Nam Tân, huyện Nam Ninh tỉnh Nam Hà
ˆ- (2) Nam “Trực huyện thông chí Sách chữ Hán chép tay của trí huyện Trực Ninh Trần Xuân Lóc viết năm Khải Định thứ 2, tài liệu lưu trữ tại Bảo tầng Nam hà
Trang 20
=7=
Địa hình Tây Chân cao thấp không đều, có thể phân thành 3 khu vực : Phía đông thấp trũng,phần giữa cao ráo hơn nhưng cây cối căn cỗi, tiếp đến cánh đồng mùa rộng lớn, bang phẳng kéo mãi đến bờ sông An tiêm
Ngoài một đoạn sông Hồng chảy qua huyện về phía đông, Tây chân còn có nhiều sông nhỏ như sông An Tiêm , sông Dũng, sông Ngọc Hồ dây là điều kiện
thuận lợi cho việc tiêu tưới trên đông ruộng oO đây còn có mường nước nhỏ chây qua
Co Lé., Thượng Lao rồi thông với sông lớn Tương truyền mương nước nay do bang
nhãn Lê Hiến Giản đào sau khi thi đỗ Tại đây Hiến Giản thường cùng tỳ thiếp vui chơi trên thuyền Sau ông mưu giết Hồ Quí Ly không thành bị hại, Giản Hoàng cho áo quan bằng đồng đem xác về chôn Bốn người tỳ thiếp được ông yêu mến quá đau xót cùng tuân tiết theo tại đồng mương đó Vì thế nơi đây đã lấy tên các cô gái đẹp đặt cho dòng
nước là Mỹ nữ Hân Khe Người dời sau xúc động đã làm thờ to lòng thường Lộc các cô gị1 nữ sau :
"Khúc đàn nước chảy chìm trong sóng,
Bến nước hoa rơi phấn đã tàn Soi bóng chi Hang khoe vẻ dep Giọng sâu mỹ nữ thấu lòng son”
Tây Chân sông cũng lở như Thượng Hiền, nên:các xã phía đông huyện thường ˆˆ
bị tai nạn, Có những đoạn để hay vỡ gây thuỷ tại nên phải đấp đê quai đề phòng Đặc biệt là vùng Bách tính Qui Phú, nhân dân phải gia cố, chống vỡ lở nhiều lần rất gian
khổ
Huyện Giao Thuỷ là huyện phía đồng tính Nam Hà ngày nay, nhưng xa xưa thì
sao ? các sách địa chí có nhắc tới huyện Giao Thuỷ do phú Thiên Trường kiêm lý Sách
Đại Việt sử ký toàn thư phần viết về hậu Trần ghi :"Dinh hoi, Hung Khanh nam thi |
(1407) mùa dong, tháng 2 ngày 20 Tá tướng quốc của họ Hỗ là Trùng lui giữ cửa Muon Hai" Phan chú giải cho biết Cửa Muộn E.ái là cửa sông Hồng thuộc huyện Giao Thuỷ tính Nam Định, nay đã bị lấp
Sách địa chí huyện Nam True thoi Nguy an phâ, duyên cách có ghỉ :“dem hai
tổng Đỗ Xá, Nghĩa Xá vốn thuộc huyện Giao Thuỷ qui phụ vào Nam Trực" Các tai liệu sác phong của các xã ven sông Hồng ghi sự lệ thuộc vào hương Giao Thuý, huyện
Giao Thuỷ, và sau này phú Xuân Trường, truyền thuyết,kháo sát còn làm sáng tỏ sự kiện sông lở, dẫn đến việc khai khẩn tái lập làng xã mới ở Vũ Phong, Vũ Nghĩa (Thái Bình) hoặc Hành Thiện, Ngọc Cục (Xuân Thuỷ) vào thế kỷ 15 Các làng xã khác ven
song Ninh Cơ, như Xuân Hồng, Xuân Phong, Xuân Kiên, Xuân Ninh và chùa Nghĩ Xã
hiện có tâm bịa thời Lý cũng có lịch sử lập làng vào thế kỷ L5 Các xã kế cận với Giao
Thuỷ, hoặc xưa là đất Giao Thuy như Hải Thành, Hải Vận , Hải Nam và xứ Quân Anh
cũng có lịch sử lập làng không thể trước thế kỷ 15
Dat nude Việt Nam qua các dời của Đào Duy Anh viết ;”Đất huyện ây mới bói,
đời Trần chữa có thể có dược” cũng Eí dieu phú hợii với thực 1e Song qua lich sii Ngo Mhén Tà tường nhà Ho vẻ khái khẩn lập bìng Nuân Hy, Nhân Bang qua việc khai khẩn
của Vũ Chí là tướng nba Tran ve how fap dat Quai Anh ta co thé aghi den dat dai, tường dòng ở vụng Giáo Thuỷ da có tự thời Trấn, những mới chí là các trại ấp, chưa
được công nhận xã hiệu -
Vậy huyện Giao Thuỷ thời Trần có thể đã đạn xen với huyện Tây Chân bén hủu ngàn song Cường Giang (này là sóng Ninh CƠ), còn bên LÍ ngàn mới có rat Ñ trại, Ấp
Trang 21=8=
cùng các cánh đồng mới khai phá, các khu bãi bồi tự nhiên chưa được cải tạo Sang thế
kỷ I5 người Thiên Trường đã biến nơi đây thành làng xã trù mật với các nghề nông, ngư, điên nghiệp thịnh hành
Có một số huyện phủ hôm nay không thuộc Nam Hà nhưng thời Trầu liên quan
đơn phú Thiên Trường, Đó là huyện Thuận Ví ở phía năm bến dò Tân Đệ, áp sát huyện
Mỹ Lộc, nay thuộc tỉnh Thái Bình và phủ Long Hưng nguyên là đất Ngự Thiên, đã có một thời thuộc trấn Nam Định rồi thuộc tỉnh Hưng yên, sau lại thuộc tỉnh Thái Bình
Thái Đường, Long Hưng là nơi có lãng mộ nhà Trần Đây cũng là điểm có liên
quan giữa Thiên Trường-Long Hưng khá mật thiết Chiếc mộc bài tìm thấy ở xã Thuy Khúc, huyện Thuy Anh có niên hiệu Thiệu Long thứ 12 (1269) ghỉ :"Thiên Trường
Lòng Hưng phú an phá ký ” cho tá biết lúc dó Thiên Trường, Long Hưng là một ldạt
dưới quyền quản lãnh một an phủ sứ, đã thể hiện sự gấn bó, có mối liên quan về địa lý
hành chính giữa hai nơi
Phía đông nam tỉnh Nam Hà xưa kia là lộ Hoàng giang, còn gọi là phủ Kiến
Hưng, thời thuộc Minh đổi là Kiến Bình, sang thời Lê Hồng Đúc mới đối tên là phú
Nghĩa Hưng,
Phú Kiến Bình bao gồm huyện Ý Yên (phần đất phía bác huyện Ý Yên ngày
nay), huyện VỤng Doanh hay Phong doanh xưa gọi là Kim Xuyên ở phía Nam Huyện
Đại Loạn ở phía Tây Nam và phía đông phủ là huyện Thiên Bản, huyện Độc lập Trên đất huyện Ý Yên có nổi lên một số núi đồi như núi Bảo Đài, núi Ngô xá là nơi danh
thang môi thời Tại đây nhà Lý đã cho dựng chùa thờ phật, dựng tháp Chương Sơn với
qui Hô to lớn, Quá các hiện vật của phế tích còn lại như bậc thêm lan can chạm vũ nữ đăng hoa múa lụa, các đĩa đá chạm rồng, lí đề có rồng chầu đã chúng tỏ tài nghệ, có
(hdmi my cao của dan loc
Phía tây huyện Vòng doanh có huyện Đại Loạn Địa bàn nay gidp bin con cd tên là Nha Hải: Tục truyền nơi đây gần biển, gần sông lớn thường có sóng dữ, thuyền
bè qua fai hay gap nạn, nên còn gọi là Ác Hải và cửa sông gọi là Đại Ác KhiLý Thái Ton đi bình Chiêm qua đây, nghe quần thần kể chuyện, bèn lập đàn khấn cầu trời đất
rôi tuốt guơm chém thần sóng Từ đó thuyền qua lại được dễ dàng nên Đại Ác được đối
là Đại An Thời Trần và thuộc Minh gọi nơi day la Dai Loan (2) (này thuộc huyện
Nghĩa Hung).Phia dong bác huyện Đại Loan là buyện Thiên Bản thời thuốc Minh dõi
là Yên Bản Bên cạnh huyện Yên Bản còn có một huyện nhỏ tên là Đọc Lập, nhà Minh đổi là Bình Lập và sau bị kiêm nhiếp vào Yên Bản tức huyện Vụ Bản ngày nay
Thiên Bản là mánh đất còn lưu lại nhiều dấu tích của người Việt Cổ Tại các núi đồi trong huyện như ở hang Lồ, núi Lê, núi Gôi, núi Hồ đã tìm thấy những công cụ đồ
đá mới, trống đồng gốm cổ có niên đại từ bai, ba nghìn năm trước Đây cũng là địa bàn
mà thời Lý cho xây dựng hành cung Úng Phong, thời Trần là thái ấp và là nơi tu hành
của công chúa Huyện Trân
Nam Hà ngày nay với [3 huyện thành thị đã chiếm một vị trí quan trọng ở đồng
(1)Long Hưng còn gọi Ngự Thiên, nhà Minh gọi là Tân Hoá, đầu thời Nguyễn thuộc
trấn Nam Định, Minh Mệnh 12 thuộc tỉnh Hưng Yên
@) Thời Lê gọi là Đại An,Gia long 2 lệ vào Thanh Hoa ngoại trấn, Giá Long 5 trở lại Đại an, đến tự Đức do phir Nghia Hung kiếm Éý
Trang 22=U=
bing Bac bo và là cửa ngõ phía nam của thủ đô Dưới vương triều Trần tỉnh Nam Hà liên quan đến các lộ Hoàng Giang, Đông Đô nhất l: lộ Thiên Trường cũng là vị trí lợi
hại góp phần đáng kể cho sự nghiệp dựng nước, g 1 nước của dân tộc ta Vậy người
thời Trần đã làm gì để sinh tồn cũng như phát triển rên cường vực rộng lớn, trọng yếu
của Cả HƯỚC
-3⁄ Người thời Trần ở Nam Hà : Mảnh đất đa dạng với núi đòi, đồng ruộng và sông biến của Nam Hà có sức bôi đắp lớn, nhưng cũng gico nhiều tai vạ Do đó để duy trì cuộc sống, người Nam Hà phải
chịu đựng gian khổ, cần cù lao động, phát huy có sáng tạo trong cuộc sống để tạo dựng
điền địa, làng xã cũng như sản xuất
Với phương thức kinh t¿ tự cấp tự túc, nóng dân tự do cùng các lực lượng sản xuất tại các điền trang thái ấp phải cố gắng cấy trồng cây lương thực để đảm bảo cuộc sống, nhật là sau chiến tranh khó khán kéo dài ở nhiều nơi
Việc mùa màng thất bát và triều đình sau đại thắng Nguyên Mông còn phải
dánh giậc Ai Lao và Chiêm Thành nên đời sống nhân dân còn bị ảnh hưởng Do đó
nhân đân và chủ các thái ấp điền trang phái chú trọng sản xuất lương thực, khai khẩn ˆ ˆ đất hoang để tăng thêm sản phẩm Để tạo thuận lợi cho kinh tế nông nghiệp phát triển
và việc giao thông đường thuỷ bớt khó khân, vương triều Trân đã cho phép nạo véi kênh mương, vừa để giao thông thuận tiện vừa là dòng kênh tiêu tưới dẫn thuỷ nhập điền Trên đất Nam hà từ thời Trần, hàng loạt kênh mương được khơi dòng như kênh Phụ Long thuộc huyện Mỹ Lộc Dòng kênh này cháy qua làng Phù Nghĩa nén con gọi
là "Phù Nghĩa kinh", rồi thông ra sông Vị Hoàng, Kênh này còn gọi là "Kênh song”,
xưa đây là dải đất bằng, duy chỉ có khc nước nhỏ chảy từ trang Ổ gà vào cầu Vĩnh Tế (cầu Viềng), vòng quanh làng Tức Mặc, qua cầu Gia Hoà, ra cửa Tiểu Cốc vào sông An
tiêm Nhà Trần đã cho đào rộng từ kênh Phụ Long dến sóng Vy Hoàng dể thông với sông An Lá Truyền thuyết cho việc này làm dứt long mạch nên cơ nghiệp nhà Trăn suy vong, do đó CÓ câu :
"Hỏi thăm Tức Mặc mà chơi Nhà Trần thuở ấy mấy đời đế vương
Đù chẳng kinh sống rẽ ngang
Ngan nam luỹ đá thành vàng khôn lay”
Kinh Phụ Long còn được phân làm các nhánh uốn lượn vào từng thôn xóm, đồng ruộng trong vùng rất thuận tiện cho việc lấy nước canh tác Đây còn là dòng nước
phục vụ cho việc du hành cung Đệ Tứ, hoặc xuôi dòng về phía nam thăm làng cây
cảnh Phù Hoa, lại có thể đậu lại ở vũng thuyền rồng thăm cơ sở của vua Trần Thái Tôn
và Le Trinh Nguyên Phi ở phía Nam đất Phù Hoa (1)
Việc đào các dòng kênh được triển khai trên địa bàn rộng ngày tại khú cúng
điện Tức Mặc., cũng như tại các thái ấp của tướng quốc Trần Thủ Độ, Thượng tướng Thai su Tran Quang Khải, thái ấp của Tran Khánh Dư, tại quê hương của bảng nhãn đất Tây Chân Lê Hiến Giản Việc đào kênh mương ở thời Trần còn là bài học cho các vị
hưu quan như Ngô Quí Duật (Khai khẩn vùng Tướng Loái-Yên Trị, Vũ Chỉ (khai khẩn
đất Quần Anh) học tập để cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15 tiến hành khai hoàng lấn
(1)Vũng thuyÊn rồng ở phía trước dình Phù Nghĩa là nơi thờ Hrân Thái Tôn và Lệ 'Prinh nguyên phì,
Trang 23=l0=
biển đã thành công hơn
Nhà Trần chú ý đào sông, đào kênh mương đồng thời quan tâm việc đấp đề
phòng thuỷ tai Năm Mậu Thân (1248) vua Trần Thái Tôn đã bạn chiếu đấp đề Đình Nhĩ và đê các sông lớn, Để sông Ninh Giang thông từ cửa Hoàng Giang qua xã Chân Ninh, dé sông Đáy, sông Thiên Mạc cũng được nhiều lần đấp hay bồi bổ Triều đình quan tâm đặc biệt trong việc đấp đê : Nếu phạm vào ruộng, đất của dân thì được trả lại tiền theo trị giá đương thời, lại đặt chức quan coi đê là Hà đê chánh phó sứ để giao trách nhiệm bảo ve, tu bổ đê
Việc sản xuất lương thực là khâu then chốt, nên vua Trần thường xuống chiếu
miễn trừ thuế ruộng đất một năm, hoặc giảm thuế kỳ hạn ba năm để động viên sản xuất cho dân
Ngoài việc sản xuất bình thường tại các thái ấp, vua Trần đã hạ chiếu cho các vương hầu được phép chiêu mộ những người phiêu tán, làm nô tì để khai khẩn ruộng hoang Chủ trương trên của triều đình đã thu hút được lực lượng lao động, điện tích canh tác nhờ đó được mở rộng
Huệ Nhân Vương Khánh T2ư đã tổ chức khai hoàng ở ven sông Đấy thuộc huyện
Vọng Doanh Lúc đầu chỉ có mười hộ theo ông đi khai hoàng đần đần lên tới hãng trám
hộ nên ông, lập thành ba trại là An Trung, Tịch Nhĩ và Đông Khê (nay thuộc Yên Nhân, Yên Đồng huyện Ý Yên) (1)
Công cuộc khai hoang thành công, mỗi trại ấp có hàng trăm mẫu điền địa, riêng trại Đông Khê có 250 người Sau khi cuộc sống ổn định, Trần Khánh Dư trở tại Dưỡng Hoà và ông về tự tại chùa làng Nha Xá thuộc huyện Cổ Giả Tại đây ong đã giún dân nghề trông dâu nuôi tầm, mở mang nghề đệt tơ lụa, nghề với cá bột trên sông và nuôi
cá Nhờ đó mà nhân dân Nha Xá có cuộc sống nọ ấm Sau khí ông mất nhân dan dia phương lập đền thờ, các hội đệt tơ lụa, nuôi cá đã làm câu đối để ghí nhớ công lao to lớn của ông
Về mặt công thương nghiệp, nhà Trần cũng có nhiều phát đạt Những mặt hàng
tà Uông Đại Uyên đời Nguyên ghi trong : “Đảo Di chí tược” như " The lĩnh các màu lụa vải thanh bố lưu thông sử dụng tiền đồng" thì Nha Xá Nam Hà cũng có phân đóng góiy đáng kể về tơ lụa
Việc học hành thi cử, trao đổi văn chương nâng cao đời sống văn hoá dưới thời
Trần cũng được chú trọng Từ năm Kiến trung thứ 8 (1232) dưới thời Trần Thai ton, đến năm Quang thái thứ 6 (1393) đời vưa Thuận Tôn, nhà Trần tổ chức tới hơn mười khoa thị và tuyển chọn được hàng trăm người tài trong nước Đặc biệt học vị cao nhất
là trạng nguyên thì Nam Hà đã có hai người trong số 9 trạng nguyên của cả nước, Đỏ
là trạng nguyên Nguyễn Hiền đỗ năm Thiên Ung Chính Bình thứ [6 (1247), lúc đó 13 tuổi và Đào Sư Tích đỗ năm Long Khánh thứ 2 (1379)
Các huyện Cổ Bảng, Mỹ Lộc, Thượng Nguyên Thiên Ban Tay Chan, Y Yon
đều có người đỗ đạt Dưới thời 'Trân từ thượng hoàng, tự quan đến các tướng van, tương
võ đều ưa chuộng văn học, đã để cho đời nhiều áng thơ văn có giá trị Làng Văn Hưng
gần cung điện Trùng quang, làng Phương Bông, Lựu Phố, Đệ tứ, Phù Hơz ớ bên cạnh
Tức Mặc và Thành Thị, Vị Khê,Từ Lâm thuộc huyện Mỹ Lộc, Thượng Nguyên là
(Theo sự tích đến thờ thân xã Đồng Khê (thôn Đông Khê,xã Yên Nhân,huyện Ý Yên Nam Hài Tu
Trang 24những nơi sinh hoạt văn hoá, những công viên phục vụ đời sống tịnh thần cho hoàng
lộc
Cúc công trình cúng điện, dinh thự, phú đệ phục vụ cho hoàng lộc mà dấu tích
là nến móng, vật liệu, hiện vật còn lại đến ngày nay đã phản ánh ban tay, có sáng tạo
của người thợ tài bà đường thoi Cac cong tink Un uguong, ahat la chùa cảnh ma từ
liệu dấu tích, di vật còn lại ở chùa Phổ Minh, chùa Độc lập, Đại Thánh quan tự cùng
các còng trình rải rác ở Có Bảng, Bình Lục, Y Yên, Thiên Bán, Tây Chan, ‘Thuong
Nguyên, Mỹ lộc, Cổ Lễ chứng tỏ ảnh hướng rộng rãi của phật giáo thời Trân ở Nam
Hà Đó còn là nơi chứng mình tỉnh hoa của nền van hoá thời Trần qua từng tấm vàn bia ở Định xá, Mỹ Thành , bệ đá ở Tân Sơn, tháp Phổ Minh ở Nam: Định
Nói den còn người thời Trần không thể không de cập dếu sự kiện trọng dại là
cong cue gi git ne doe tap cua dan toe Gi Ue chong choi voi mot de quoc da tung
chính phát từ Âu sang Á, làm cho the giới phải kinh hoàng Vương triều Trân đà huy động một lực lượng quân đội không nhỏ để chống lại gần 100 vạn quân dịch qua ba lần khing chiên kéo dài suối 30 năm
Trong cuộc kháng chiến ấy có các dội dân bình và quân của các vương hàu Cúc
dội quản của vương hàu nhà Trấn trêu đất Nam la còn khá nhiều như ở Đường Hòa, ở
lang Kenh Huyện Tay chân, ở đất Phú Hoá, Đồng mặc, ở lạng Ngo (huyện úy tiên)
da là những múi nhọn ca công, cũng các dội quận Thích Thuộc, Khánh Lục, Lái
Dong, Ba Diễm quyết chiến, quy! tháng trên sống Hồng, sóng Phiên Mạo và Hạch
Đăng Giang Hing chuc van quan Tran da danh bai hang trăm vận quận xâm lược Dạy
là một thực tế thể hiện sức mạnh đoàn kếi :"Vua tôi đồng tâm, anh em hoà thuận, cả nue ra suc ”
Người thời Trần ở Nam Hà thể ky 13 hùng hực hào khí Đông A kháng chiến
Sang the ky L4 khi giặc Minh xâm lược, nhà Hồ thất bại, Trần Ngỗi là con thứ của
Trần Nghệ Tủòn khởi nghĩa, xưng là Gián Định dế, được Trân Triệu Cơ người phú Thiên Trường ủng hộ hết lòng Ngày 14 thing 12 năm 1408, nghĩa quân đánh dịch ở
kè Bỏ có thuộc đất Nam hà,Ninh Bình da đánh bại £0 van quan giặc, bình bộ thượng thư Lưu Tuy và đô ty Lữ Nghị bị chém chết tại trận, chỉ riêng tổng bình Mộc Thạnh
; thoát chết, trốn chạy vào thành Cổ Lộng
Sau thấi bại của Gián Định đế, Nguyễn Cánh Đị và Đăng Dụng đem quan từ Thuận Hoá về Thánh Hoá lập lực lượng kháng chiến mới Hai ông đã đón Trần Qui
Rhoang Tà dòng doi nhà Trân lên ngói, dối niên hiệu là Trùng Quang Được tí đó, người lò Hoàng giảng, Thiên Trường và dhâu Ly Nhân cùng hào kiệt bốn phương lại
„ nức lòng hướng ứng Trong quá trình cầm quân, đại tướng nhà hậu Trần Đặng Dung da cho quan dap đề sông Đáy cứu dân Ngọc Chấn, Vong Doanh nén déng dao trai tring &
đây hết lòng chiến đấu dưới cờ cia ong Chính họ đã góp phần đáng kể cho quân độ
nha Tran dánh bại quân Minh tần ác
4/ Ket luau:
Nam Hà với cương vực rộng rãi, trải rộng trên các lộ Thiên Trường, Đông ĐÓ, Hoàng Giang nên là một mánh đất có nên van hod lâu đời, có nhiều cảnh quan kỳ thú Tiên niành đất phong phú đa dựng ấy đã tạo cho còn người nơi dây có một tình yếu
quê hương tha thiết, hết lòng chịu đựng mọi gian khổ để phấn đấu xây dựng Nam Hà
thành một địa phương giàu có
_
Trang 25=12=
Con người và núi sông Nam Hà - mảnh đất linh kiệt này đã hun đúc nên hào khí Đông A góp phần cùng cả nước đã từng đánh bại một kẻ thù hưng bạo nhất thế giới Trang sử đấu tranh tự vệ thế ky 13,14 như một bài ca hào hùng, nó đã khích lệ người Nam Hà vươn tới phía trước trong sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta./
H.Đ.T
Trang 26
THÁP CHÙA PHỔ MINH-CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC TÔN GIÁO
ĐẦU THẾ KỶ 14
Trần Đăng Ngọc
Chùa Phổ Minh đã từ lâu là một ngôi chùa nổi tiếng ở nước ta Những kiến trúc
còn lại hiện nay tại chùa cũng như trong lòng đất xung quanh chùa đã lưu giữ dược khá nhiên hiện vật màng đậm dấu ấn của phong cách nghệ thuật thời Trần Điểm nối bậi
nhất, để lại nhiều dấu ấn đặc trưng nhất của nền văn hoá thế kỷ 13-14 là cây thấp xây dựng ngay đằng truớc chùa
Cây tháp chùa Phổ Minh đã được nhiều nhà nghiên cứu từ xưa đến nay lrong và
ngoài nước đê cập tới nhưng tất cả mới chỉ là những nét mô tả, những phác thảo phía
ngoài hay chỉ nêu lên một sự kiện lịch sử có liên quan đến nó mà thôi Đi sâu vào tìm hiểu cấu tạo trong lòng tháp hay nền móng của tháp ra sao Hẳn có người đã nghĩ tới nhưng chưa có điêu kiện để nghiên cứu
Mấy chục năm qua, đặc biệt là trong khoảng thời gian một chục năm trở lại đây,
do những yêu cầu của việc sửa chữa để bảo vệ cây tháp nên cây tháp đã được tháo gỡ
ra từng phần, tiến hành đo vẽ một cách nghiêm túc, nền móng được kháo sát bằng các phương tiện hiện đại Trên cơ sở những thành quả đã thụ lượm được qua những lần
xứa chữa, chúng tôi muốn có những tìm hiểu bước đầu về cây tháp này
1 Kiến trúc tháp Phố Minh : 1/ Cau trúc bên ngoài thấp :
Tháp Phổ Minh là một công trình kiến trúc thời Trần còn lại đến nay tương đôi nguyên vẹn nhất Hiện trong cá nước có ba cây tháp dược xây dựng từ thời Trần Ngoài cây tháp Phổ Minh,còn cây tháp Huệ Quang và tháp Bĩnh Sơn Tháp Nuệ Quang là tháp tổ Trần Nhân Tông dựng hoàn toàn bằng đá có sáu tầng cao lÔm, ở tăng thứ hai
có tượng vua Nhân Tông tạc bằng đá ngôi theo thế Thiên định Tháp đặt ngay đằng
trước chùa Hoa Yên trên núi Yên Tử ở độ cao 56m Tháp Bình Sơn còn gọi là tháp
Then là công trình kiến trúc bằng đất nung dựng trước chùa Vĩnh Khánh thuộc x4 Tam Son huyén Lap Thach tinh Vinh phú, trên một ngọn đôi thấp trong các wien đôi kéo dài Thấp dựng ngay giữa sân trước cứa chùa Do tháp bị hỏng mấy tầng trên chỉ côn lại LÍ Tầng cao 15m và mới được đại 1u vào năm 1973,
Tháp Phố Minh năm ngày phía trước và chính giữa khu nhà bái đường Tháp
được xây trên một cái sân nhỏ hình vuông mỗi chiều là 8,60m và năm sâu xuông so
với mật sân phía trên là 0,45m, Xung quanh sân tháp có tường hoa báo bọc cá bốn mat, các góc sân có xây cột đèn lông Ở ni mal tường có mỘI cửa ra vào tại chính giữa
Những cửa ra vào này phía ngoài và 2 bên có tượng rồng tạc bằng đá hay tượng các
sấu đá nà một số bị vỡ đã dược đáp băng vôi vừa thay thế, Cửa đối diện với nhà bái
đường xây chân bằng một bể nhỏ hình chữ nhật làm chỗ hoà vàng nen khong di tai
Thấp là một công trình dược xây dựng hỗn hợp giữa gạch và đá Bọ và tang dươi của tháp được xây hoàn toàn bằng loại dá xanh mịn để làm tạng độ ben ung cho
móng bền, Tổng tiên xây bằng loại gạch nùng dó Cúc tũng đều trổ cửa bốn mặt, báo
pồm có TẠI cả 57 cửa, Các vòm cửa này dêu làm bằng dá, phía trên dược làm theo hình bán nguyệt Tang dưới cúng, vòm cửa nội trọi hán lên có chícu cao 1,29m,, rong 7
Trang 27
0,77m nên có thể ra vào dễ dàng Tại day, ở chính giữa có mội đế cao gọi là long ngó
kẻ bàn cờ, ,phía trên là mội tấm đá hình tròn, cham hai con rồng đang châu mot hon
ngọc ở chính giữa
Tháp do bề ngàng hẹp, nên CÓ dáng cao thanh mảnh Nó được xây thành một khối vuông, càng lên cao diện tích mại bằng càng thủ hẹp để tạo nên một khối vững chác cho toàn bo cong trình Khi sáp hếi mỗi tầng, người tá xây nhÓ ra mỘI sỐ hàng
gạch với nhiêu lớp nhiêu cấp để làm diễm mái và đông thời cũng tạo nên một thê can
bằng cho toàn cây tháp Những điềm mái này đều được uốn cong về phía các góc để tạo thành các đầu đao Tất cả các lớp mái với những đầu đao vươn lên đã làm cho cong trình nhẹ nhàng thanh thoát bới được cảm giác nặng nền do nguyên liệu gạch đá tạo
Her
Ở phần tháp đá, về phía trên có một thánh xà bằng đá gác ngàng trên bốn cây
cột ở bốn góc Thanh xà này dưa ra ngoài 0,50m về phía cuối được uốn cong , xoắn lại như mội cụm cây Nó giống như những thanh xà của một cỗ kiệu Điều này phù hợp với truyền thuyết địa phương cho rằng trước đây vua Trần Anh Tông có lam mot
kiệu đá để đạt cây tháp lên
Phần bệ dưới tháp đá cũng được tạo dáng cong lên về hai phía Độ cong này đã
có người tưởng Tầm do táng đá bị lún ở giữa nhưng đây là một dụng ý trong xây dựng
vì ở bốn phía dêu được tạo độ cong cả và nó làm đà cho hơn một chục tầng phía trên đều có độ công như vậy Nhìn toàn bộ cây thấp người ta dễ liên tướng đến một bông hoa dang no
Trước 13 tầng phía trên đều được xây bằng gạch Đây là loại gạch nung già có mầu đỏ tươi Phía ngoài tháp được ốp một lớp gạch có trang ui dé lam v6 Canh
ngoài mỗi vida gach déu c6 khác nhấn chìm hình rồng cuốn khúc Tuy phải khác vạch
trước khi nững những hình trang trí vẫn niềm mại Với lối xây gạch để mộc không nát,
cá một khối kiên trúc đỏ rực dược các cây cổ thụ cùng với mái chùa rêu phòng làm
nền, cây tháp càng nổi bật trên trời xanh
Cây tháp này cho đến những năm đầu của thế kỷ 20 đã có hiện tượng hư hỏng
Nhiều viên gạch trên thấp long vữa đã rơi ra hoặc bị mưa gió bào mòn khoét thành
những lỗ hổng dé chim chóc vào làm tổ và cây cối mọc bừa bãi Vì vậy trẻ chân trâu thường xuyên trèo lên bất tổ chim càng làm cho cây tháp thêm hư hỏng Lần tu sửa
chùa vào năm T916 người tà đã cho ví những lỗ hổng trên thấp và cho trát toàn bọ phít ngoài cay thap nay (1)
Tháp Phố Minh có dO cao 19,51m với trọng lượng khoáng trên 300 tấn Các tầng tháp càng lên cao thì chiều cao lẫn chiều rộng của mỗi mặt tháp càng nhỏ dần
Trên cùng của cây tháp là một hình khối có dáng một đoá sen chưa nở (còn được gọi là quả hồ lô) băng đất nung già (ảnh số l)
Sau day là số do chiều cao và đường cạnh chỗ rộng nhật của các tầng tháp tú
(rou xuống dưới :
.Căn cứ vào thống ke | m la thay ngoài Tầng tháp đá c có ó chiều cao vượt trội hắn
và tầng l3 so với tầng 12 có chiêu cao chênh lệch 0n128 còn các tầng khác nối tiếp
Trang 281) Hoa sen : Ở tầng tháp đá dưới cùng được bất đầu bằng một vòng nhưng cánh
sen hai lớp : lớp dưới cúp xuống, lớp trên ngứa lên Đây là những cánh sen máp mạp,
có mũi cong xoán lại Bên trong cánh sen có những trang trí các móc câu, bóng hoa ne
và những hoa dây xoấn vào nhau Những cánh sen phía dưới được nhìn theo góc
nghiệng, mỗi cánh hoa chỉ nhìn thấy một nữa Còn những cánh hoa phía trên được xếp
xen KẾ, cứ một cánh hoa nguyên ven lại được chen một cánh hoa chí nhìn thấy hai
phần ba cánh Lớp cánh này đều được nhìn từ góc chính diện
Hòa sen là một biểu trưng cho đạo phạt Bốn mặt tháp ở phía dưới là những cánh sen nở rộ, nó như một bông hoa lớn và cây thấp được xây cất trên bông hoa đó Bong hoa sen này lại được mọc lên từ một hồ nước tượng trưng ở phía dưới Hồ nhỏ
không có nước nhưng thay vào đó là bằng họa văn sống nước được khác ở chân thấp đá
đã tạo nên một cảm giác về mặt nước và đoá sen vươn lên nở ra
2) Hoa cúc :Được tạo thành bởi một vành đại chạy vòng quanh tháp đá Đây là một mắng trang trí gồm những cánh hoa tạo thành những xoáy ốc để bao lấy một bông hoa to năm ở giữa Cánh hoa phía ngoài của nó được tạo bởi hai lớp với nhiều cánh nho chen chúc nhàu, xếp lại với những đầu cánh được uốn cong lên
Hoa cúc thường nở vào mùa thu, lâu tần và khi tần không rụng cánh chỉ héo đi,
hương cúc thoạng thoảng nhưng giữ mùi Nó tượng trưng cho tính thanh đạm và ở ẩn Chính vì vậy hoa cúc gấn với đạo giáo hơn dao phat Dưới vương triều Trần tuy phật
giáo là quốc giáo những địa vị nho giáo cũng đang từng bước được củng cố Các quan
lại xuất thân từ cứa không sân trình ngày càng nhiều
Phật giáo và nho giáo đều từ Trung Hoa truyền sang nước La nhưng vốn chúng không mấy hoà hợp Sự có mật của hoa sen và hoa cúc trong các mô tÍp trang trí ở
tháp Phổ Minh cũng phần nào nói lên mối quan hệ gần bó giữa hai tôn giáo này khi du nhập vào Việt Nam
3) Có bồ : Có người còn gọi là có linh chỉ Nó được trang trí ở phần nền để của chan tip Cuong kí là hai vận xoắn về hai phía rồi toả đều ra hai bên, Thân Hí mập, hai lớp lá nhỏ mọc kcn dày Từng cánh lá, phân sát cuống lá nhỏ, phần ở phía đầu
phìnhto rồi uốn cong tạo thành những đường tròn Tùng cánh lá riêng rẽ được sấp xếp
nổi tiếp nhau Toàn bộ một thân lá được uốn cong về phía trái
Ở nước ta chưa gặp loại có này Khi nghiên cứu về núi Cấm ở xã Ngọc Sơn huyện Kim Bảng chúng tôi đã thấy nói ở đây trước có loại có thí là mội vị thuốc qui Cay có thí thân có hình dóng trúc, ruột rỗng mà vuông, sách thuốc gọi là đông y thân:
dược, chữa được rất nhiều thứ bệnh nan y Cây có thí đã được một vị lương y của Lý
Thường Kiệt khi đóng quân ở đây phát hiện ra Rất tiếc cây thuốc này đến này cũng
không còn tôn tại Có bộ được xếp vào loại quí hiếm, nó thuộc loại cô thiêng Đây là
các loại có thường được các đạo sĩ sử dụng để luyện thuốc trường sinh Cho nên loại có
Trang 29trước nh cao như dạng cây nấm, do bạ dường song sống uốn lượn thất vào ớ phan
cuối, nhỏ ra ở phần giữa rồi thát lại ở phần dính Sau lớp sóng này là các lớp sóng tiếp
theo, cứ nhấp nhỏ như thê, xa dan Day fa dang biểu tượng cho lớp sóng lớn, sóng bac
‘dau 6 phia trước Còn ngay phía trên là những lớp sóng nhẹ Nó gôm nani dud song
song uốn lượn nhẹ nhàng tao thành hai lớp sống để nối tiếp với những lớp sóng bạc
dau phia sau l
May trời : Được tạo thành một đái bang dài, quấn quanh phía trên của tầng tháp
đá Ở đây những cụm mây nhỏ xoán xi ly nhau, cum may nhỏ xoán xít lấy nhau, cụni may nay chén vào cụm midy kia, tao ncn mot cdi giác các cụt tiây đang biến hoá trên bầu trời, đang liên tục chuyển từ phía sau về phía trước Cúc cụm mây đó liên kết với nhau để tạo thành một đám mây lớn
Ở đây cân lưu ý là trong cùng một lầng tháp, phía trên trang trí mây trời, phía
dưới là sóng nước , còn ở chính giữa ngày trong lòng thấp này có một chỗ nhỏ cao,
trước đây có thể là chỗ đặt tượng phật (nay là bàn cờ) Điểm giữa ấy chính là mánh đất còn người đang sinh sông mà theo Đức phải Thích Cá khi mới giáng sinh da tuyen bo
;“thiện thượng địa hạ duy ngà độc tôn” (trên trời và dưới đất chỉ có ta giữa Hà cao qui
hơn cả)
Cún rồng : tại tầng tháp đá chính giữa trần có trang trí một đôi rồng uốn lượn
trong mot khung ton Con rồng vốn là một vật thiêng không có thật trong đời sống hàng ngày Nó dược con người tướng tượng rà và trong mỗi thời đại nó nàng những sắc thái riêng, Đây là đói ròng điển hình của rông thời Trần, mình mập khoẻ dây sức
Lần tu sửa thấp vào năm 1959 ngành văn hoá đã lấy được một viên gạch có
chiều đài 0,35m, chiêu rộng 0,29m ở một cạnh ngoài có hình một con rồng, Đây là con rồng được khắc vạch khi đất mới ở khuôn ra còn mm chưa nung Can cứ vào màu sắc chất lượng gạch, hình dáng còn rồng thì có thể xác định ngày dày 1a mot san phẩm của thời Trần Loại gạch này dùng để xây phía ngoài cây tháp làm vật trang trí (1)
Nam 1987 khi sửa chữa bà tầng phía trên của thấp Phố Minh đã phát hiệu, iiếp
dược mội viên gạch loại này ở tầng thứ bà Khi xây lại tháp, viên gạch đã dược gần vào
tầng thứ bà nầm về phía bắc và để lộ hình con rồng ra phía ngoài không trát, nay đứng
ở trước cửa bái dường có thể nhìn thấy
3) Cấu tạo ben trong tháp :
Nam [987 So Van hoá thông tín tỉnh đã phối hợp với Công ty tụ bổ di tích trang ương thuộc Bồ Văn hoá thông tín tiên hành sửa chữa ba tầng thấp phía trên Lân tú sửa này da ro mot phan ba cic tang thấp 1-2-3 ở vẻ phía Hắc, nhờ vậy đã biết dược cấu tạo
Năm: vẻ phía ngoài của hai góc thấp là các khói đá mà nhìn từ trên xuông trông
như những mỗi tên, hai cạnh ngoài cũng của nó tạo thành một góc vuong, Khoi đá có
(11 Viên pạch này đang trung bày tại phòng trưng bày lịch sử dị tích Nam Hi ở khú Cố VậC Hồ Thường Lôi
(hank pho Naot link
Trang 30=S=
chiều cao 0,37m và có hai lỗ để buộc day dong (ảnh 2) Dây đông buộc xuycn qua
viên đá có cạnh gần vuông, mỗi chiêu rộng 0,01m Ở chỗ đầu nối dây đồng có bọc
thom các lá dòng móng có mát rộng là 0/0l5m dược nói xoán sát vào nhậu Đoan dãy đồng một dâu buộc vào cột đá, còn mọt dâu kéo vào phía tâm thấp, Tại đây dày dong tạo thành một hình gần vuông có các cạnh là 0,14 x 0,145m và xung quanh hình vuông
này có một lớp dây đồng mỏng quấn xung quanh Vẻ phía dưới vòng day dong, liên
: với tầng tháp thứ tư có một lỗ sâu xuống mà kích thước gần đúng với kích thước vòng dày đông có hình vuông ở phía trên Chúng tôi dự doán đây có thể là những cột trụ đã dược lấy dị Các cột trụ này không thể bảng gỗ vì người xây dựng cũng biết gỗ không tồn tại lâu dài được rnà chân chân nó chỉ có thể bằng kim loại
Picu này phù hợp với truyền thuyết địa phường cho la bon góc thấp có cột dòng kéo đài suốt từ mạt đất lên đến đính tháp Nguyên trước đây ở phía trên cùng của cây
thấp là một âu bằng đồng có thể chứa được nước mưa Những cội đông này có hai tác
dụng :
1/ Nối từ âu đồng đến mật đất nó trở thành một cột thụ lôi rất tốt khi cây thấp
có độ cao nhất số với xung quanh
2/ Đây là cây cột trụ vững chắc để buộc dây động, giữ các thành phần kiên trúc
Ở phiá ngoài như vác bu góc,
Tại bà tầng thấp được dỡ ra, chúng tôi thấy có sấu loại gạch được xây ở đây :
1) Loai đâu tiên là gạch vuông, Chúng có hai loại kích cỡ như sau : 0/295 x
0295 x 0,065m và 0.445 x 0,445 x0,235m
Đất lầm loại gạch này không được kỹ, độ nung thấp, có màu hơi vàng hoặc xạn đen Trong hai loại gạch này thì loại gạch có kích thước nhỏ chiếm đa số
2) Gạch có hình chữ nhật Đây là loại gạch có nhiều kích cỡ khác nhau, bao
gốm các độ dài 0,50-0,48 - 0,38 - 0,37m chiều rộng 0,10 - 0,15m với độ dày tự 003 -
0,05m Viên dài nhất có kích cỡ 0,73 x 0,145 x 0,06m Cũng như các viên gạch hình vuông, loại gạch có hình chữ nhật đất làm gạch không được kỹ và độ nung không cao Cúc loại gạch này xây xen kế nhàu, nhiều chỗ không theo mội thứ tự nào, chủ yếu đặt
gạch xây cho kín mat bang
3) Gach có hình thước thợ (ảnh so 3) tim thay co hai viền ở tầng thấp thứ bài
Viên gach này có chiều dài nhất là 039m1 chỗ rộng nhất 0,19m, chiều dây viên pach
0,05m và hai đầu viên gạch có kích cỡ 0,115m - 0,13m Đây là loại gạch được nung già có màu đó sâm Trong hai viên gạch này ở một viên, chỗ cạnh dài nhất có dòng chữ nổi "Hưng long thập tam niên” bằng chữ Hán viết theo lối chân phương Loại gạch này Irong Khí xây người 1a gầi những góc thước thợ vào các lớp gạch có kích thước lớn
ở phía trong để tầng độ bên vững cho lớp gạch ốp bên ngoài
4) Gạch có một cạnh hình rắng cưa (ảnh số 4) Loại gạch này có một góc
vuông và lui cạnh góc vuông đó được là 0335m-0,285m, còn cạnh thứ ba lại có hai
dỉnh nhọn, tạo thành như một lưỡi cưa Loại gạch này thấy có một viên ở tìng thứ bạ, đất được làm kỹ, có độ nung cao, Cũng như loại gạch có Kích thước thợ, dây là loại gach dung dé gai tàng sự biến vững cho các lớp gạch
+) Gach co tinh tang tổ ở một cảnh Canh số 3) ấy bế viên gạch Đai được ớ
tang thự bá, No có kích cơ như sau ; đãi Ô,36m , rong Ú, 2n, dạy 0U riêng nịi
canh có Tih tengo dy 0,021 Ở Điệt lòng HH của VIÊN gạch có nam lò thang dc
có Hi luan khúy đồng bay diye dong buee aed vac cot tar phí! tron Plan tranny to
Trang 31LG:
phia ngoai bao gom mot nia than con rong va mot hinh dau rong Day 1a mot vicn
gạch phái gán tiếp nối với những viên gạch khác mới được những hình hoàn chính
Cân cứ vào hình dáng, phong cách thì đây là loại rông điển hình cúa thời Trần
Cân cứ vào việc tháo dỡ một phần của ba tầng tháp phía trên chúng lôi thấy ở
tăng | va 2 gach ding xây tháp là gạch hình vuông hay các loại gạch hình chữ nhật bình thường Các loại gạch này đa số đất làm chưa kỹ, độ nung thấp Chí ở táng ba mới
thấy xuất hiện các loại gạch đặc chủng như gạch có hình thước thợ, gạch hình ràng cưa
Nhiều bộ sử đã gác nhận dưới thời Tây Sơn có hiện lượng phá các tầng tháp Phổ Minh ở phía trên để lấy đồng và khi phá đến tầng thứ ba gập một quách đá Chúng tôi cho răng khi phá xong hai tầng trên và một phan tang thứ ba gặp quach da thi dung cong việc Vì thế hai tầng trên bị phá tùng, gạch ném xuống dưới vỡ nhiều nên khí xây
lại đã phải dùng gạch đương thời bố xung vào, Các cột đồng dạt ở trong lòng tháp sát
bốn góc quách đá có khả năng đã bị lấy đi
Quá cách thức xây dựng của tầng ba, chung tôi thấy ngoài tầng bệ được hoàn
toàn làm bằng đá thì bốn trụ góc và cửa vòm của các tầng cũng đếu được làm bảng đá,
thống nhất suốt từ tầng dưới cho đến tầng trên cùng Đây là một tháp đặc, trừ tầng dưới bằng đá là rỗng giữa
Trong lòng thấp có đạt bốn cột trụ băng đông dễ buộc day dong từ các viên
gạch trang trí phía ngoài tháp hay các cột trụ đỡ bốn góc tháp giữ chặt vào phía trong Cay tháp còn dùng các loại gạch đạc chúng có nhiệm vụ gài, kéo giữ các thành phân kiến trúc lại với nhau, kết hợp với chất kết dính là hồ vữa để gắn chung thành một
4) Nén mong cha thap :
Cây tháp Phố Minh thanh mảnh đã đứng vững trên mội vùng đất đồng chiêm, bảy thế ký qua, với báo trận bão tố ác liệt nhưng chưa hề có hiện trạng nghiêng ngứa Van dé tim hiểu kết cấu móng tháp đã được đất ra từ lầu nhưng mãi đến nam 1993 mới thực hiện dược để phục vụ cho đợt tu sửa lớn trong đó có kế hoạch chống lún cây tháp, kinh phí do tiến sĩ Trần Văn Thình nguyên đại sứ khối BC và Hội vô vị lợi ở Pháp ti
tra
Công việc khảo sát do công ty Hên doanh về kỹ thuật nên móng và công trình
thuộc viện khoa học kỹ thuật thuộc Bộ xây dựng thực hiện Phương pháp nghiên cứu ớ
đây là kết hợp đồng bộ khảo sát tại hiện (rung bao gom đào xuyên tĩnh và khoan lay
miẫu rồi số sánh đối chiếu với kết quả thí nghiệm trong phòng
Trước khi tiến hành khảo sát bằng máy, ngay tại chân thấp nầm về phía đồng dã
đào một hố thám sát (l) Hố có hình chữ nhật dài 1,60m, rộng 0,80m và sâu 1,54m
Mội cạnh dài nầm sát nối với cạnh tháp phía bắc Từ chân tháp đào xuống có hai bậc
nữa như bậc lên xuống ở các thêm nhà, sau đó đến một thành đá thắng ding Toan bo
các bậc và thành đá trong hồ thấm sát này Hiền một khối Tính từ mật nền đào xuống
cho đến hết cấu kết đá ở chân tháp cho ta biết chiều sâu đáy móng là 0,80m
ˆ Toàn bộ đất trong hố thám sát là đất sét có lẫn đá sói Chỉ khoảng 0,25m lớp đất đầu tiên là đất sét nâu có lẫn sói,còn ở phía dưới là đất sét vàng phá lẫn sói cuội Từ
(dl) ud thám sát do kiến trúc sư Trần Quang Trung đại diện cho Công ty tụ bổ di tích wrung
ương và Trần Đăng Ngọc đại diện Bảo tầng Nam Hà chỉ đạo đào ngày 17 tháng 2 nám 1993
ke.
Trang 320,80m đến 1,22m độ sói lần trong đât sét nhiều hơn, đậm đặc hơn, chú yêu là sói I-
2em lẫn trong đất séi vàng Còn từ độ sâu 1,22m đến 1,54m là sói lẫn đất sói màu den
(ban vé sé 1)
Sau khi đã tiến hành đào thám sát ở độ sâu 1,54m nhằm khảo sát cấu tạo của để tháp, cuối tháng 2 năm 1993 đã tiến hành khoan lấy mẫu và dùng phương pháp xuyên tĩnh để xác định cấu tạo địa tầng, phân loại từng lớp đất
"Trên mặt bằng của tháp đã tiến hành khoan lấy mẫu bốn hố, mỗi hố sâu 8#m50m
và dùng máy xuyên bôn hố, bạo gốm hai hồ mỗi hồ sâu 25m, hai hố mỗi hố sâu l0ni Các mũi khoan và hố xuyên tĩnh đều tiến hành ở phạm vị ngoài tường bao của tháp
Qua việc khảo sát địa chất công trình tháp Phổ Minh, đã rút ra được những kết
~ Lip dat bát đầu từ mật đất thiên nhiên kéo xuống độ sâu 2m là lớp sỏi phá lần
đất sét Đây là lớp nền năm ngay dưới đáy thấp Nó có bề mật rộng 8m50m và lớp hợp
chất ở đáy tháp có độ dày là 1, 10m
~ Từ độ sâu 2n¡ đến Bm (chiếu day 6m) la lop dat sct pha bua, co mau den, Lớp
này có lẫn chải hữu cơ, độ ẩm tuong d6i 16n Wr 37-56%
- To dO sau 8m đến 10m là lớp cat hat min Do anh hưởng của lớp bùn phía trên
nên lớp này có màu xám den
~ Từ độ sâu 10m đên 24mm là lớp đất sét pha bùn có màu đcn
Cân cứ vào kết quả xét nghiệm của dat qua các mũi khoan lấy mẫu ở dộ sâu trên $m thì thành phần đất chủ yếu ở đây gồm ba loại là cát, sót và bụi Nếu tính theo
phan tram thị ở những lớp đất trên ở dộ sâu khoáng 3m1 thành phản cát và seL mới chiếm 65% Chúng loại đất này tang dần và sét đã đạt tới hơn 90%
Như vậy với kết quả thu được qua việc đào tạo thám sát, khoan xuyên tĩnh và
khoan lấy mẫu ở ngay khu vực chân tháp đã cho thấy phần móng được gia cố ở đây không phải bàng phương pháp đóng cọc hay móng bè Đáy thấp bang đá khối lớn được phép kín mạch, có mặt bằng là 5,50 x 5,50m Đáy nền móng giá cố là bằng đá sói trộn
đất sét nên chất tạo thành một khối có thể tích 7,10 x 7,10 x 2,40m Từ độ sâu 2,40m
trở xưông nến móng hoàn toàn là đất sét phú cát tuy có một phần Bì bùn do bụi và nước tạo thành những tỉ lệ chỗ cao nhất cũng chỉ chiếm 35% nhưng không nhiều
Chính nền móng đó đã góp phần ổn định tạo cho cây tháp đứng vững Việc tồn
tại 700 năm quá của cây thấp chứng tô ngưỡng biển dạng lún cơ bản đã ổn định Phần lệch của đính tháp so với toàn bộ cây tháp là có, ước tính độ lệch là 0,06% Độ lệch
này chưa chắc đã do biến thiên của thời gian mà có thể do việc thí công lúc đương thời cũng như những lần tụ bổ trước dây gây nên vì trình độ hoặc việc làm chưa nghiöm túc
IL Thdp Phố Minh là tháp mộ vua Trần Nhân Tòng :
Có những câu hỏi được đật ra : Tháp Phổ Minh là tháp mộ hay tháp tường
niệm? Nếu là tháp mộ thì đây là mộ của ai ? Đã có những câu trả lời nhưng đều chưa
có đủ cân cứ để thuyết phục
Truyền thuyết ở Tức Mặc thuộc xà Lộc Vượng ngoại thành Nam Định thì cho
rằng Trần Nhân Tông đến tu ở chùa Yên Tử (Quảng Ninh) lúc mất được các đệ tử hoá táng Xá ly của vua (những viên tro của xác) thủ được 21 viên, đem 7 viên táng ở chùa Yên Tử và 7 viên táng ở chùa Phả lại (Hải Hưng) nơi ông đã từng đến tụ hành, còn 7
Trang 33=s=
vien dua vé chon 6 qué huong Tic Mac Vua Tran Anh ‘Tong con trai cá đã dưa xa ly
‘cua cha xếp trong một hồn đá quí đặt trước cửa chùa Phố Minh rồi cho xây thấp lên
trên, Vì thế mà địa phương có câu ca :
® Dù ai tranh bá đồ vương Trẫm xin gửi lại nấm xương chùa này.”
Bơ-da-xi-ê một học giả người Pháp chuyên nghiên cứu về mỹ thuật phương đông, trong chuyên khảo của mình yiết về tháp Phổ Minh, ông cũng cho đây là tháp
mộ và là mộ vua Trần Nhân Tông Tác gid cho răng tấm bia Phố Minh báo tháp tự bị, viết ngày 26 tháng 2 năm Duy Tân thứ mười (29/3/1916) đạt tại nhà bia bên trái đăng
trước chùa có phí : ở đây có mộ, miếu thờ và tháp của vua Trần Nhân Tông Chúng lôi
đã kiểm tra lại thì nội dung văn bía này chỉ nói về việc hai bà họ Mạc và họ Đỗ cùng
các nhà sư đã sửa lại điện, chùa, phú, hành lang đông tây cùng phía irong và ngoài
chùa Phổ Minh mà thôi (1)
Chu Quang Tri trong bài nghiên cứu của mình về chùa Phổ Minh, khẳng định
tháp Phổ Minh không phái là mộ Trần Nhân Tông Trước những cú liệu chưa có sức
thuyết phục lắm, tác giá dè dặt đặt vấn đề : có thể gò Phần giữa ở thôn Tam Đường
thuộc xã Hoàng Đức huyện Hưng Nhân tỉnh Thái Bình mới là khu mộ của vua Trần Nhân Tông (2)
Qua mội số ý kiến trên đây thì vấn đề chỉ còn đặt ra là vậy tháp Phố Minh có phải là tháp mộ của vua Trần Nhân Tông hay không?
Tức Mặc không chí là quê hương của các vua Trần mà chùa Phố Minh còn năm trên đất Tức Mặc Nam Qui Mio (4303) Trần Nhân Tông ông tổ thứ nhất của phái phật giáo Trúc Lâm đã vé đây tu hành trong một số năm trước khi rời ra tu hành ở đất Yên
Chùa Phố Minh có tượng Trúc Lam tam tổ thờ ở toà thượng diện Tượng Pháp Loa vị tổ thứ hai và tượng Huyền Quang vị tổ thứ bá được tạc to bằng người thật theo thế dang ngồi thiền định Tượng vị tổ thứ nhất là Trần Nhân Tong tac theo thé phat
nhập niết bàn, Tượng dài Im72 năm nghiêng quay đầu về hướng đông, khác hẳn với nhiều pho tượng niết bần khác thường nằm quay đầu về hướng tây, Đây là một trong số
những pho tượng được tạc vào thế kỷ 17 mà bài văn bia Phố Minh thiền sự đặt bêu phải đằng trước chùa có nhấc tới Tượng Trần Nhân Tông được lạc bằng gỗ mít, sơn son thép vàng Đây là pho tượng dep, LÍ lệ cân đối, dường nét chau chuối
Hàng năm vào ngày 3 tháng 1Í âm lịch, nhà chùa bao giờ cũng tổ chức giỗ Trần Nhân Tông Đây là kỳ giỗ lớn nhất trong cả năm ở chùa Phổ Minh Mỗi lần gid nhà chữa phải lo hàng trầm man cỗ chày để tín đồ và phật tứ các nơi về dự lễ sinh hoại vào
buổi trưa Như vay tà thấy ngồi chua Phố Minh cho deu hiện này con rất nhiều daa
tích, tập tục, lễ nghỉ liên quan đến vua Trần Nhân Tông
Sau khi mất, ông vua thứ ba của triệu Tran dược an táng ở chỗ nào? rước le chúng ta hãy tìm hiểu qua việc chôn cất các vua Trần thường dược để ớ đâu ? Hiện nay
tại khu An Sinh thuộc huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh có những ngôi mộ của các
vua Trần
1/ Mộ Trần Thái Tổ (thượng hoàng Trần Thừa)
2/ Mo Tran Thai Tong
()Bodaxié Pháp Phố Minh- Mộ của Trần Nhân Tông ở ức Mạc trong tập nghệ thuật châu Á Pari nam 1960 (2Chu Quang Tra, chia Phd Minh ‘Tap chi Khảo cổ học tháng 12 năm 171.
Trang 343/Mo Tran, Anh Tong
Tong không những đã được chôn ở An Sinh mà ngày ở Thâm Động cũng có láng Láng của vua Trần Minh Tong dn sich Kien Văn Tiểu lục của Lê Quí Đôn phí Tà ở Thâm Động còn Đại Việt sử ký toàn thư thì lại ghỉ là ở An Sinh
Trần Nhân Tông mất đã được một số bộ sử ghi lại sự kiện này như sau : Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết ngày 3 tháng II năm Mậu thân (1308) thượng hoàng Trần Nhân Tông mất ở AmNgoœ Vân núi Yên Tử Pháp loa đem xác thượng hoàng
thiêu đi, nhật được hơn 3000 hạt xá ly Đến ngày L6 tháng 9 năm Canh tất (1310)
tước linh cữu của thượng hoàng về chôn ở lăng Qui Đức phủ Long Hưng, xá ly để ở
am Ngọc Vân (I) Sách lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú cũng cho
rằng Trần Nhân Tông mất ngày 3 tháng EÍ nữn Hưng Long thứ 16 (1308) Đến tháng
9 năm Hưng Long thứ I8 (1310) xá ly chỉa ra làm hai phần, một phần để vào tháp Yên
Tử, một phần chôn ở Đức lãng thuộc phủ Long Hưng (2)
Như vậy cả hai ngưồn sử liệu trên đây xác nhận mộ của Trần Nhân Tông chôn cất ở hai nơi là Yên Từ và phủ Long Hưng vào năm 1310 Mộ ở Yên Tử (Quảng Ninh)
đã được xác nhận là táng tại tháp Huệ Quang đặt trước chùa Hoa Yên Còn mộ ở phủ
Long Hưng chôn tại Đức Lỗng (tức Lãng Qui Đức)
Lịch triều hiến chương loại chí cho biết một chỉ tiết về Đức Lãng dưới thời Tây
Sơn như sau : "năm Kỷ đậu đời Qang Trung (1789) trấn thủ Hải Dương muốn phá cái tháp ấy để lấy đồng, mới phá hai tầng, thấy cái hòm to mở ra xem thì lớp thứ nhất là hom sắt, lớp thứ hai là hòm bằng đông, lớp thứ ba là hòm bằng bạc, lớp thứ tư là hòm bằng vàng, lớp thứ năm là hòm bằng đá quí, trong để xá Íy tròn bằng đầu ngón tay, sắc sáng long anh, vì thế My làm Tạ tâu lên Được lệnh trả lại chỗ cũ và phai xay lai cdc
tầng tháp như cũ”,
Cây tháp có liên quan tới Đức lắng trên đây là cây thấp mà có bộ sử sau da néu
rõ nằm trong khu vực của chùa Phố Minh :
“Trước cửa chùa có ngọn tháp có thể cao !00 thước Trước đây vua Trần Nhân
Tông xuất gìa tụ đạo phật sau siêu hoá mới tạo nên phù đồ này để dấu nắm xương xá
ly Thời kỳ Tây Sơn đến phá cái bầu bằng đồng ở tầng trên, khi phá đến tầng thứ ba bống thấy có chiếc hòm bằng đá thì biết ngay là xương của người tụ hành Hiền trao lại
cho xã địa phương an trí xây lại như cũ”
(Hoang Việt địa dư nhất thống chí cuốn (0 phan Son Nam
Hạ trần thực lục viết năm Gia Long thứ 5 (1806) )
"Tháp cổ ở trước chùa Phổ Minh cao 14 tầng, hai tìng dưới xây bằng đá, I2
tầng trên xây bằng cạch Đến đời nhà nguy Tây có người xung là Trần Túc đem quân
triệt hạ để ấy quả hồ lô đồng ở trên đỉnh tháp và đây đồng rằng quanh quá hồ lô Khi
{1131 việt sử ký toàn thứ, Hắn địch của nhà XHKIEXTIHE Hà Nội năm $993,
(2) Phan Iiuy Chú Tịch triều hiến chương loại chí, bản địch NXH KHIXIT Hà Nội năm 1992,
Trang 35=10=
phá đến tầng thứ ba thì thấy mot vat như hình tấm lựa ở trong cái hồm đá bay vụt lên Trấn Túc !ấy lầm kinh sợ, bất dân sở tại xây lại như cũ”
(Dai Nam nhất thống chí Phần cổ tích tập 3 bản dịch Nhà XBKHXH, Hà Nội 1971.)
“Trần Nhân Tông sửa lại chùa và tu ở đó Khi siêu hoá Anh Tông dựng thái: cao I4 tầng để xương Thời Tây Sơn Trấn Túc bẻ ngọn đồng của thấp, phá tháp đến tầng thứ ba thấy có một lưồng hơi đỏ bốc lên Trần Túc sợ, giao xã sửa lại như cũ Nay ở trong chùa có tượng Nhân Tông và hai tượng Pháp Loa và Huyền Quang phối tự”
CNam Định địa dự chí Ngô Giáp Đậu Bản dịch của TL khoa Sử trường ĐHTH Hà Nội) Đặc biệt tại khu vực đặt bía ở đấy hành làng phía đồng chữa Phổ Minh có tấm bia Phổ Minh bì ký viết ngày tốt tháng 5 năm Mậu đần Gia Long thet 17 (1898) noi dung như sau :"Nha chia 1a Tran Duy Bản tên chữ là Đạo Tăng ở xã Tức Mặc huyện
Mỹ Lộc phủ Thiên Trường Do vì năm đậu trước tên trấn quan triều Tây Sơn phá tầng
trên của tháp lấy đồng, nhân đó trong xã chọn Trần Duy Bản ra sức hưng công trùng tu
lại cây tháp và cúng ruộng hương hoà là 6 sào 10 thước”
Như vậy qua các văn bản trên đã xác nhận cây thấp Phổ Minh bị phá dưới triều Tây Sơn ở những fang trên để lấy đồng như sử gia Phan Huy Chú nêu lên là có that Tir lần tụ sửa vào năm (789 ) đến năm 1818 Tran Duy Bản đã tiến hành sửa chữa ba tầng trên Tần thứ hai Rất tiếc văn bản của tấm bia này không nói rõ trong khi sửa có thấy gì
ở trong tháp không Đợt tu sửa năm 1916 những người đứng ra hưng công cho trát vữa kín phía ngoài cây tháp ;
Dau vel ede Mn tu sửa này để lại đấu ấn rõ nét tại ba tầng trên citing eta cAy
tháp Ba tầng này trông khác hẳn, nó đơn giản hơn từ phong cách, kiểu đáng so với các tầng phía dưới Những đường gờ phía cạnh ngoài từ tầng thứ †ư lrở xuống nằm trên cùng một đường thẳng nhưng từ tầng thứ ba trở lên lại không, nằm trong đường thẳng
đó Mặt khác các cửa cuốn ở bốn mặt từ tầng thứ ba trở lên là bằng xi măng còn các cửa cuốn tầng dưới đều bằng đá Ba tầng trên cùng bốn góc xây bằng không bất cong lên như các tầng dưới
Những năm trước đây ở tìng thứ ba có một cây khá to mọc chồi ra, Cứ từ 3-5 năm, ngành Văn hoá địa phương lại phải tổ chức bắc giáo lên để chặt Mặc dù cây đã
được chặt sát vào tận mặt tháp rồi dùng a xít và cả thuốc trừ sâu loại nặng dội vào nhưng rồi cây vẫn phát triển Dần đần kẽ nứt do gốc cây gây nên ngày càng lớn
Trước tình hình đó, nếu để lâu có nguy cơ ba tầng trên bị lạt đổ, nên nam 1987
Sở Văn hoá thông tín và xí nghiệp tu sửa phục chế Trung ương đã tiến hành bóc tách
toàn bộ gốc cây ở tầng ba Kế hoạch thí công là rỡ 1/4 bà tầng trên ở về phía bac (mat
quay vào bái đường của chùa) Sau khí bóc hết các lớp rễ cây thì sẽ cho xây lại tháp như cũ
Khi rỡ đến tầng ba, từ ngoài vào trong 0,60m thì gặp một phiến đá hình chữ
nhật có chiều đài 0,505m, chiều cao 0,42m Phía trên, phía dưới và hai bên có bốn tấm
đá ốp xung quanh phiến đá hìnhchữ nhật tạo thành một hộp đá Ba tấm đá phép xung quanh nhô hẳn ra phía ngoài 0,05m còn riêng tấm nằm phía trái thì có cing mot mat
phẳng với tấm dé hinh ch nhat, nim fot hin vao phia trong (anh s6 5) `
Lo tâm đá phía trên DỊ vỡ một phi (vỡ từ trước: không, phải vết mới) nên trông
rõ có một phần gờ nhô hẳn ra để đạy chụp kín xưống phía dưới Tấm đá hình chứ nhẠt
Trang 36-có hai đai sắt đẹt rộng 150cm néo giữ lấy Từ tấm đá phía trên xuống tấm đá phía
dưới có 9 lớp gạch xây Gạch ở đây chủ yếu là loại pạch có chiều dày 0,065m
Vì chỉ phát hiện được có một mặt của hộp đá nên công nhân xây dựng đã tháo hai đại sắt, rồi cho đục vào kho hở hai bên giữa tấm đá hình chữ nhật ở giữa với các
tấm đá ghép hai bên để bẩy ra Mặc dù đã đùng bứa đóng sâu vào trong để bẩy tấm đá chữ nhật ra nhưng không được
Theo chúng tôi đây Tà nơi để xá Íy của vua Trần Nhân Tông mà trần thủ Hải
Duong đã phát hiện ra năm |[789 Nó nằm ở tầng thứ ba của thấp, từ trên xuống và từ ngoài vào trong có năm lớp hộp
Căn cứ vào những điều đã phát hiện được khi đỡ tháp vào năm 1987 va theo cdc đhí chép của Hoàng việt dia du nhất thống chí, cha Dai Nam nhất thống chí của Ngô
Giáp Đậu thì chỗ đặt xá ly, hộp ngoài cùng là quách đếÐo không mở được quách đá cho nên chưa rõ phía trong còn bao nhiều fần hộp nữa và ở phía trong còn đựng những
thứ gì Mục đích của trấn thủ Hải Dương phá tháp là để lấy đồng Chỉ đến khi thây xá
ty mới tâu lên và được phép đình chỉ không được phá tiếp phải xây lại như cũ Chính vì thế nến có các hộp kim loại quí được phát hiện như sử sách phi chép khó mà có thể giữ lại được
Đại Việt sử ký toần thư còn ghỉ một chỉ tiết :“Đến ngày [9 tháng 8 năm Mậu
npgọ, niên hiệu Đại Khánh thứ Š (1318) Tuyên Từ Thái hoàng hậu băng, phụ tíng vào
bên cạnh lăng Nhân tông Khi đào lên thấy đất lăng nhiều bùn” Như vậy sai khi chôn cất Trần Nhân Tông vào tháp năm 1310 theo kiểu thiên táng (mộ treo) tám năm sau chôn Tuyên từ thái hoàng hậu bên cạnh ông, tức là hai ngói mộ chôn gần nhau Ở đây
ta đã biết mộ của vua Nhân Tông được táng trong một quách đá đặt ở tầng thứ ba từ trên xuống Như vậy mộ của Tuyên từ thái hoàng hậu không thể đỡ tháp đưa vào táng, chung mà phải chôn ở dưới Vì là táng bên cạnh lãng Nhân Tông nên phải tầng ở trong thấp tức là chôn ở đưới chân tháp
Khi nghiên cứu về tháp Phổ Minh chúng tôi chứ ý tới một ý kiến sau đây: Tại tầng tháp đá dưới cùng, ở chính giữa có một tầng đá hiện này được khắc thành một bàn
cờ Thco một số cụ già địa phương cho biết trước năm E!9{f6 hòn đá đó được lấp
nghiêng Lần tu sửa này người chủ trì đã cho ban bay hon đá và lắp lại ngay ngắn, hiện
nay đấu vết chất liệu đùng gấn viên đá còn rất rõ Việc bấmtbẩy đó là dụng ý của người
tu sửa muốn tìm kiếm vật quí trong lòng tháp Theo các cụ già địa phương, việc tìm
kiếm này làm về bản đêm nên không ai rõ kết quả ra sao
Từ ý kiến trên chứng tôi cho rằng hòn đá có bàn cờ đặt nổi hẳn lên, chính là nắp
của một căn hầm phía đưới Đó là nơi để phụ táng Tuyên Từ thái hoàng hậu Hồn đá này đã bị nậy ra mấy lần mà trước năm {1916 nó đã từng bị nậy rồi lấp lệch đi do vội
vã, chứ ngay bạn đầu nó không thể lấp nghiêng được Còn việc "lăng nhiều bùn” là do mạch đá ghép không kín, nên nước và đất trần vào đã tạo nên một lớp bùn phía trong
Tháp Phổ Minh được xây dựng nhằm mục đích đưa xá ly của Trần Nhân Tông vào tầng trong đó Đây là xá fy mội vị vua lại là giáo chủ của giáo phái Trúc Lâm Niệt bàn kinh quyển 41 ghi :"Tháp để thờ xá ly phật thì cất 13 tầng" Ở đây Trần Nhân
Tông vừa là vua vừa là phật Tháp vì thế được xây cất đằng trước chùa chứ không như
các tháp tổ khác chỉ được dựng phía sau
Trong quá trình nghiên cứu về mộ Trần Nhân Tông, có tác giả cho rằng theo sử
Trang 37và chỉ đặt một an phủ sứ ty (1) Theo đất nước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Ảnh
thì cuối đời Trần mới thấy xuất hiện hai lộ Thiên Trường và Long Hưng riêng biệt
Như vậy trên thực tế, ngay dưới thời Trần đã có một thời gian dài hai địa danh này sát nhập làm mội Lịch triều hiến chương loạn chí của Phan Huy Chú, lầm tái bản địch gần đây nhất của Nhà xuất bản khoa học xã hội 1993 vẫn còn chú giải : Phủ
Nghĩa Hưng (nay thuộc đất Nam hà) nguyên trước là phủ Long Hưng
Khi nghiên cứu về vấn đề tháp mộ ở chùa Phổ Minh, không thể không quan lâm đến địa danh nhưng trong trường hợp này vấn đề địa danh cần được tìm hiểu kỹ hơn
Chúng tôi đã có địp về thăm vùng đất xã Hoàng Đức huyện Hưng Nhân tỉnh Thái Bình
là vũng đất Thái Đường xưa, được các cụ già cho biết ở đây chưa thấy ai nhắc tới một cây tháp cổ nào cả
Hiện này ngoài hai điểm có mộ Trần Nhân Tông như sử cũ đã ghi là Yên Tử và
Đức lãng, tại chùa Minh Khánh thuộc xã Nam Bình huyện Nam Thanh tỉnh Hải Hưng còn lưu giữ chín viên xá ly của Trần Nhân Tông Chùa Vĩnh Nghiêm xã 'Trí Yên huyện
Yên Dũng Hà Bắc từng là nơi thuyết pháp của Trúc lâm tam tổ và đào tạo định chức
danh cho các tăng sĩ thời Trần cũng có thờ tượng ba vị tổ của Trúc Lâm Chùa Đại Bi thuộc xã Tam Hưng huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây được vào thời Trần cũng có tượng Trúc lâm tam lổ
Như vậy chúng tôi chưa cần bàn kỹ về địa đanh Long Hưng ra sao, nhưng rõ
ràng có khả năng ngoài Yên Tử và Đức lăng có mộ Trần Nhân Tông còn có thể ở
những nơi khác có mộ vị vua này, trong đó có tháp Phổ Minh thuộc xã Lộc Vượng
Qua những Tần từ sửa, ngành Văn hoá Nam Hà đã tìm được khá nhiều viên gạch
có đồng chữ "Hưng Long thập tam niên" (năm Hưng Long thứ 13) in nổi trên gạch Đây là niên hiệu vua Trần Anh Tông vào nam [305 cũng đồng thời là năm sản xuất ra
những viên gach đó Trần Nhân Tông mất năm 1308 và được an ting vào năm 1310
Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú đã nhận xét về việc xây lãng ở đây như sau :”Việc xây lãng và an láng để mãi đến hai năm", Như vậy việc hoàn thành công việc xây lăng đúng vào năm an táng xá ly của vua vào tháp Đó là vào cuối ma thu nam Canh tuất 1310 tháp Phổ Minh chính thức mới được hoàn thành
Trong mấy chục năm trở lại đây, việc nghiên cứu về chùa Phổ Minh về cây tháp trước chùa đã được nhiều người quan tâm Ngay đối với cây tháp Phổ Minh cũng đã có nhiều ý kiến trái ngược nhau về niên đại, về phong cách kiến trúc, về loại hình tháp
Ở đây với bài nghiên cứu này, chúng tôi muốn đóng góp một số ý kiến để làm sáng tỏ những quan điểm tranh luận vừa qua
Nam Định tháng 5 năm 1995
(Í)Chiếc mộc hài này đã được Hảo tàng Nam Hà phục chế đang trưng bày tại đến Trần xã Lộc Vượng N.Đ
Trang 38AẦh chụp Thấp Phd Minh nim 1943
khi chưn traất mặt ng2ñ4
Trang 39emu tk
oe EOE EOD aT nay pal aa tw
+ LÚP BUN SẼI tRẾ DU HAO (EM
Mgt sất cac lớp đết đưới chân thap Phd Mink
Trang 40v4ft, cạn: ạnH "n;:o R4 có hình tran: trí (Ảnh nổ 5}