1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn nhân lực các trường cao đẳng thành phố việt trì hiện nay

98 338 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính điều này đã làm hạn chế việc thực hiện vai trò đào tạo nguồn nhân lực của đội ngũ giáo viên, và điều này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới thực trạng trong giáo dục hiện

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



NGUYỄN THỊ THÚY NGÂN

VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÁC TRƯỜNG

CAO ĐẲNG THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



NGUYỄN THỊ THÚY NGÂN

VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Mã số: 60 22 85

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Văn Oánh

Hà Nội - 2013

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 9

1.1 Nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực 9

1.1.1 Nguồn nhân lực 9

1.1.2 Đào tạo nguồn nhân lực 14

1.2 Vai trò của đội ngũ giảng viên trong việc đào tạo nguồn nhân lực 19

1.2.1 Khái niệm đội ngũ giảng viên 19

1.2.2 Vai trò của đội ngũ giảng viên 21

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ 31

2.1 Khái quát hệ thống các trường Cao đẳng ở Thành Phố Việt Trì 31

2.1.1 Trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm 31

2.1.2 Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Thọ 35

2.1.3 Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ 39

2.2 Thực trạng vai trò đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn nhân lực các trường Cao đẳng Thành phố Việt Trì 43

2.2.1 Những thành tựu của đội ngũ giảng viên trong việc đào tạo nguồn nhân lực 43

2.2.2 Những hạn chế của đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn nhân lực 54

2.2.3 Nguyên nhân của những thực trạng trên 59

2.3 Giải pháp nâng cao vai trò đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn nhân lực các trường Cao đẳng Thành phố Việt Trì 63

2.3.1 Nhóm giải pháp từ lãnh đạo quản lý phát huy dân chủ của các trường 6

2.3.2 Nhóm giải pháp từ đội ngũ giảng viên 71

2.3.3 Nhóm giải pháp từ học sinh, sinh viên 79

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Cơ sở vật chất trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm 34

Bảng 2.2: Đội ngũ giảng viên Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm 35

Bảng 2.3: Cơ sở vật chất trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Thọ 38

Bảng 2.4: Đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Thọ 39

Bảng 2.5: Cơ sở vật chất trường Cao đẳng Dược Phú Thọ 41

Bảng 2.6: Đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng Dược Phú Thọ 42

Bảng 2.7 Cơ cấu ĐNGV theo tuổi của các trường cao đẳng ở Thành phố Việt Trì 45

Bảng 2.8: Cơ cấu trình độ (Cử nhân, Thạc sỹ, Tiến sỹ) 47

Bảng 2.9: Chi trả tiền vượt giờ tiêu chuẩn của giảng viên 68

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Hiện nay, đầu tư cho nguồn lực con người thông qua hoạt động giáo dục - đào tạo được xem là một trong những hướng đầu tư có hiệu quả và quyết định tới khả năng tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của mỗi quốc gia Đây là cội nguồn cho những bước đột phá, tạo nên những bước tiến trong tương lai

Để có thể tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là khi nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, với nhiều thuận lợi, khó khăn và thách thức phải vượt qua Để đạt tới sự phát triển nhanh và bền vững của toàn xã hội chúng ta cũng cần có những chiến lược đầu tư phát triển NNL và giáo dục - đào tạo là một hướng

đi cần thiết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã khẳng định: phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, lấy việc phát triển nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Tiếp đó Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: “phát huy nhân tố con người và tăng cường nguồn lực con người để từng bước phát triển kinh tế tri thức” Đến Đại hội X Đảng lại nhấn mạnh: “phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để tiếp tục hoàn thiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức” Có thể nói, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, đầu tư cho con người là tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển, là đảm bảo cho sự phồn thịnh, sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia

Thực tiễn cho thấy giáo dục - đào tạo có vai trò đặc biệt quan trong trong việc phát triển nguồn nhân lực Giáo dục - đào tạo trong hệ thống trường học là con đường ngắn nhất, hệ thống và khoa học nhất để truyền thụ tri thức cho người học một cách cơ bản, có hệ thống và hiệu quả nhất Hệ thống giáo dục ở nước ta hiện nay có nhiều cấp học, ngành học được xây dựng một cách có hệ thống, chặt chẽ và mang tính phát triển

Trang 7

Trong hệ thống giáo dục đội ngũ giáo viên là lực lượng nòng cốt thực hiện mục tiêu giáo dục - đào tạo, là lực lượng giúp cho người học xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan, trang bị cho người học không chỉ là tri thức và phương pháp tư duy khoa học mà còn trang bị cho người học khả năng làm việc độc lập, sáng tạo Chính vì vậy, vai trò của đội ngũ giáo viên rất quan trọng nó không chỉ

có vai trò ở hiện tại mà nó còn được phát huy trong tương lai Nhận định về vai trò của đội ngũ nhà giáo Đảng ta cũng khẳng định “giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục đào tạo và được xã hội tôn vinh”

Giáo dục đào tạo Cao đẳng nằm trong cấu trúc chung của hệ thống giáo dục đào tạo quốc dân Giáo dục đào tạo Cao đẳng, Đại học là khâu trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao tham gia vào quá trình CNH, HĐH đất nước Ở cấp học này, đội ngũ giáo viên có vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo học sinh - sinh viên thành nguồn nhân lực có tri thức, có năng lực và phẩm chất, có đủ điều kiện để tiếp cận với các ngành nghề cụ thể hoặc có thể tiếp tục học tập nghiên cứu ở cấp học cao hơn Tuy nhiên, hiện nay trong hệ thống các trường Cao đẳng “đội ngũ giáo viên vừa thiếu lại vừa thừa, một bộ phận nhỏ giáo viên chưa đạt chuẩn đào tạo, một số thiếu năng lực giảng dạy và tinh thần trách nhiệm Bên cạnh đó là sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường đã làm xói mòn phẩm chất của một số giáo viên gây ảnh hưởng xấu đến

uy tín người thầy trong xã hội” Chính điều này đã làm hạn chế việc thực hiện vai trò đào tạo nguồn nhân lực của đội ngũ giáo viên, và điều này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới thực trạng trong giáo dục hiện nay đó là: nhiều học sinh - sinh viên lệch lạc về kiến thức, thiếu sự hiểu biết về các vấn đề chính trị -

xã hội, và một bộ phận không nhỏ học sinh - sinh viên suy thoái về đạo đức, lối sống Phần lớn học sinh - sinh viên sau khi ra trường thiếu khẳ năng tự tìm kiếm việc làm, chưa vững vàng trước những biến đổi phức tạp của cuộc sống Có thể nói chất lượng đào tạo của cấp học này chưa thực sự đáp ứng được mục tiêu của cuộc sống đặt ra Nghị quyết số 29 - NQ/TW “về đổi mới căn bẳn, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa throng điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tê” đã nhận định

Trang 8

Xuất phát từ nhu cầu về nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng của cả nước nói chung và của Tỉnh Phú Thọ nói riêng Yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giảng viên các trường Cao đẳng Thành phố Việt Trì Tỉnh Phú Thọ ngày càng cao Đội ngũ giảng viên cần phải làm tốt hơn nữa vai trò của mình trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng phụ vụ cho sự phát triển của Tỉnh và cho cả nước Để làm được như vậy đội ngũ giảng viên cần thực hiện tốt các nhiệm vụ cụ thê: Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình giáo dục; gương mẫu thực hiện nghĩa

vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường; giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo, tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người học; không ngừng học tập để nâng cao phẩm chất, đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy

Từ thực tế đó tác giả chọn “Vai trò của đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn nhân lực các trường Cao đẳng Thành phố Việt Trì hiện nay” Làm đề

tài cho luận văn Thạc sĩ Triết học, chuyên ngành CNXHKH

* Những công trình nghiên cứu đã xuất bản thành sách:

“Con người Việt Nam, mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội” do GS.TS Phạm Minh Hạc chủ biên với nhiều vấn đề được phân tích trong đó có các vấn đề về phát triển giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong đó vấn đề phát hiện, tuyển chọn, giáo dục và đãi ngộ nhân tài được đặc biệt quan tâm

“Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI, kinh nghiệm của các quốc gia” của Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Nhà xuất bản Chính trị Quốc

Trang 9

gia (2002) Những nội dung ở Công trình này là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học có liên quan đến lĩnh vực chiến lược phát triển giáo dục

Công trình nghiên cứu trên đã đề cập, phân tích tính tất yếu phải tiến hành đổi mới giáo dục trên cơ sở khảo sát thực trạng nền giáo dục nước ta trong những năm qua Qua đó phát hiện những vấn đề đặt ra nhìn từ góc độ mâu thuẫn, đồng thời dự báo xu hướng phát triển, nêu ra những quan điểm chỉ đạo của Đảng, phương hướng và giải pháp chung để nâng cao chất lượng giáo duc - đào tạo đáp ứng yêu cầu của đất nước ở thế kỷ XXI

Bàn về giáo dục Đại học, Cao đẳng trong những năm gần đây có những nghiên cứu:

“Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt nam”, TS Đỗ Minh Cương

và GS.TS Nguyễn Thị Doan - chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội (2001) Ở đây hai tác giả đã đi sâu phân tích đặc điểm thực trạng và yêu cầu của xã hội đối với chất lượng nguồn nhân lực trong giáo dục Đại học, Cao đẳng ở nước ta Từ đó các tác giả đã khẳng định cần thực hiện đồng bộ những giải pháp nhằm tạo điều kiện tốt nhất để phát triển nguồn nhân lực ở cả cơ cấu và chất lượng

“Trí thức giáo dục Đại học Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH” của tác giả Nguyễn Văn Sơn, Nxb Chính trị quốc gia, (2002) Cuốn sách tập trung nghiên cứu nội dung xây dựng đội ngũ giáo viên ở các trường Đại học Tác giả đã luận giải về quá trình hình thành phát triển cũng như đặc điểm, vai trò, cơ cấu của đội ngũ này đáp ứng yêu cầu của giáo dục Đại học trong thời kỳ CNH, HĐH Không dừng lại ở đó, tác giả còn bước đầu đưa ra giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ tri thức này

* Những công trình dưới dạng luận án:

Luận án PTS triết học của tác giả Phan Thanh Khôi (1992): “Động lực của trí thức trong lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay”, Hà nội Luận án đã đi sâu luận giải những chính sách xã hội với tư cách là động lực không chỉ về mặt vật chất mà cả mặt tinh thần để đội ngũ trí thức lao động sáng tạo ở nước ta có thể phát huy hơn nữa khả năng, tính tích cực và chủ động nhằm đáp ứng đòi hỏi ngày

Trang 10

Luận án Tiến sĩ triết học của Phạm Văn Thanh (2001): “Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác-Lênin trong các trường đại học ở nước ta hiện nay”, luận

án chủ yếu bàn về đội ngũ giáo viên Mác-Lênin và vai trò của họ trong các trường Đại học ở nước ta hiện nay

Luận án Tiến sĩ triết học của Phan Văn Sơn (2000): “Cơ cấu và chất lượng trí thức giáo dục đại học ở nước ta hiện nay”

Luận văn Thạc sĩ triết học của Nguyễn Thị Phương Linh (1999): “Vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức nữ trong các trường Đại học và Cao đẳng ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay”

Các đề tài này cũng đã đề cập đến những mặt, những khía cạnh khác nhau của tri thức nước ta với nghĩa là lực lượng giữ vai trò quyết định tới chất lượng của nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay

Ngoài các công trình, đề tài nghiên cứu, luận văn, luận án còn có khá nhiều các bài viết của các nhà khoa học đã được công bố trên báo, tạp chí trực tiếp bàn về đội ngũ giảng viên ở các trường Đại học Cao đẳng như:

“Xây dựng đội ngũ cán bộ giáo viên đại học” của Nguyễn Đình Trí đăng trên báo Nhân dân, (2000)

“Giảng viên với việc nâng cao chất lượng bài giảng” của Phạm Đình Đạt, Tạp chí Khoa học chính trị, (2001), số 6

“Phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên Đại học hướng tới nền kinh tế tri thức” của Nguyễn Văn Duệ, Tạp chí Phát triển giáo dục, (2003), số 4

“Đội ngũ giảng viên và yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo đại học và sau đại học” của Võ Xuân Đàn, Tạp chí Hoạt động khoa học,(2004), số 2

“Chuẩn hóa nghề nghiệp, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên”của Trần Văn Dũng, Tạp chí Khoa học giáo dục (2011), số 69

“Một số ý kiến về quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học” của Đào Trọng Thi, Tạp chí Khoa học giáo dục (2011), số 66

Với những nội dung nghiên cứu của các công trình trên đã giải quyết được một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đội ngũ giảng viên Đại học Cao đẳng Các

Trang 11

tác giả cũng đã khảo sát thực trạng cơ cấu chất lượng, đề xuất những phương hướng, giải pháp để xây dựng đội ngũ giảng viên, phát triển cơ cấu, chất lượng, nâng cao phẩm chất đạo đức, phát huy vai trò của đội ngũ này trong sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước

Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên khảo, hệ thống, trực tiếp bàn về nâng cao vai trò của đội ngũ giảng viên tại các trường Cao đẳng trên địa bàn cụ thể trong đó có Thành phố Việt Trì thuộc Tỉnh Phú Thọ Do đó, trên cơ sở kế thừa những thành quả của các công trình nghiên cứu khoa học đi trước và đứng ở góc độ chuyên ngành

CNXHKH, tác giả chọn đề tài: “Vai trò của đội ngũ giảng viên trong đào tạo

nguôn nhân lực các trường Cao đẳng thành phố Việt Trì hiện nay” để làm luận

văn thạc sĩ không trùng lặp với các luận văn, luận án đã công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích: Trên cơ sở làm rõ vai trò thực trạng của đội ngũ giảng viên

trong việc đào tạo nguồn nhân lực các trường Cao đẳng thuộc Thành phố Việt Trì hiện nay, luận văn đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của đội ngũ giảng viên trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực tại các trường Cao đẳng thuộc Thành phố Việt Trì

* Nhiệm vụ: Luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Luận văn tập trung làm rõ những khái niệm, phân tích vai trò của đội ngũ giảng viên với tư cách là chủ thể quan trọng của quá trình đào tạo nguồn nhân lực tại các trường Cao đẳng

- Đánh giá thực trạng vai trò của đội ngũ giảng viên các trường Cao đẳng thuộc Thành phố Việt Trì hiện nay

- Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của đội ngũ giảng viên tại các trường Cao đẳng thuộc Thành phố Việt Trì hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng: Vai trò đội ngũ giảng viên các trường Cao đẳng thành phố

Việt Trì trong quá trình giáo duc đào tạo nguồn nhân lực

Trang 12

* Phạm vi: Đội ngũ giảng viên trực tiếp giảng dạy tại các trường Cao đẳng

thuộc thành phố Việt Trì trong những năm gần đây

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận:

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vai trò của đội ngũ giảng viên trong quá trình giáo dục đào tạo học sinh, sinh viên Cao đẳng thành nguồn nhân lực có chất lượng

* Cơ sở thực tiễn:

Luận văn nghiên cứu toàn bộ hoạt động của đội ngũ giảng viên tại các trường Cao đẳng thuộc thành phố Việt Trì hiện nay (từ 2008 đến 2012)

* Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, logic và lịch sử, thống kê điều tra xã hội học, gắn lý luận

và thực tiễn chính trị - xã hội của vấn đề

6 Những đóng góp mới của luận văn

Luận văn xác định rõ quan hệ giữa đội ngũ giảng viên với nguồn lực học sinh, sinh viên Cao đẳng trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn

Luận văn đã làm rõ thực trạng của đội ngũ giảng viên tại các trường Cao đẳng thuộc thành phố Việt Trì hiện nay

Luận văn đã đề xuất các giải pháp để nâng cao vai trò của đội ngũ giảng viên trong nhiệm vụ giáo dục đào tạo tại các trường Cao đẳng thuộc thành phố Việt Trì trong thời gian tới

7 Ý nghĩa của luận văn

- Về lý luận:

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy

Trang 13

- Về thực tiễn:

Những kết quả đạt được của luận văn có thể là cơ sở thực tiễn để các trường tham khảo nhằm phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết:

Chương 1: Đào tạo nguồn nhân lực và vai trò của đội ngũ giảng viên các trường cao đẳng Thành phố Việt Trì trong đào tạo nguồn nhân lực

Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn nhân lực trong các trường cao đẳng Thành phố Việt Trì

Trang 14

Chương 1 ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG THÀNH PHỐ

VIỆT TRÌ TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC

1.1 Nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực

1.1.1 Nguồn nhân lực

* Khái niệm nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực hay còn gọi là nguồn lực con người được coi là một nhân

tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia

Thuật ngữ NNL được hiểu khá rộng Cùng với thuật ngữ này còn có một

số thuật ngữ khác cũng được sử dụng rất phổ biến như “nguồn lực con người”,

“nhân tố con người”, “tài nguyên con người” Những thuật ngữ trên xuất phát từ thuật ngữ tiếng Anh: Human Resources và đã được dịch ra với những từ ngữ khác nhau Song chúng đều giống nhau về bản chất

Khái niệm NNL được sử dụng tương đối rộng rãi ở nước ta từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX Nó được coi là nhân tố quan trọng nhất, năng động nhất của sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, cho đến nay vẫn có rất nhiều quan niệm khác nhau với những góc độ và khía cạnh tiếp cận khác nhau

Lý luận mác xít về lực lượng sản xuất thì con người được coi là lực lượng sản xuất hàng đầu là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất Do đó, nó quyết định cả năng suất lao động và sự tiến bộ của xã hội

Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế: con người được nhìn nhận như một phương tiện chủ yếu nhằm đảm bảo cho sự tăng trưởng của sản xuất và dịch vụ

Trong lý luận về vốn thì con người lại được đề cập đến như là một loại vốn, nó được xem là một thành tố cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất kinh doanh, là phương tiện để phát triển kinh tế - xã hội

Liên Hiệp Quốc khi đề cập đến vấn đề NNL thì cho rằng: NNL là những người có trình độ lao động lành nghề, là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng

Trang 15

lực con người hiện có, cả hiện thực và tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng Trong quan niệm này của Liên Hiệp Quốc NNL chủ yếu được xem xét ở phương diện chất lượng và vai trò cũng như là sức mạnh của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia

Tìm hiểu những nghiên cứu gần đây ở nước ta cho thấy vấn đề về NNL cũng có rất nhiều những quan niệm khác nhau

Theo tác giả Lê Thành Nghị: “NNL là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực

xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người, nhóm người, tổ chức, địa phương, vùng, quốc gia Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến NLCN thành vốn người đáp ứng yêu cầu phát triển” [52, tr 15-16]

Các tác giả của chương trình Khoa học - công nghệ cấp Nhà nước, mã số

KX - 07 “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế -

xã hội” do GS TS KH Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm cho rằng: “NNL (NLCN) được hiểu là số dân và chất lượng con người bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [29, tr 328]

GS TS Hoàng Chí Bảo quan niệm: “NLCN là sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng - hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển của con người” [3, tr 14] Từ quan niệm trên ta thấy, NLCN không chỉ đơn thuần là sức mạnh thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng mà nó còn là sức mạnh của một quốc gia được đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội

Cũng về vấn đề này, PGS TS Đoàn Văn Khái cho rằng khái niệm “NNL” ngoài nghĩa rộng được hiểu như “NLCN” theo nghĩa hẹp là nguồn lao động, có khi còn được hiểu là lực lượng lao động Tác giả quan niệm: “NLCN là khái niệm chỉ dân số, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội” [34, tr 62]

PGS TS Phạm Công Nhất cho rằng: “Nhân tố con người là tổng thể các yếu tố có liên quan đến con người, là sự thống nhất biện chứng giữa các mặt chủ

Trang 16

hình thành và phát huy tác dụng vào trong thực tiễn sản xuất vật chất hay quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi cộng đồng, quốc gia trong những giai đoạn lịch sử nhất định” [54, tr 25]

Theo thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì: “NNL là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội” [8, tr 13]

Như vậy, từ những quan niệm trên cho thấy có rất nhiều cách tiếp cận về NNL nên đã xuất hiện những quan niệm khác nhau Mặc dù vậy những quan niệm đó cũng có những điểm chung Các công trình nghiên cứu đều nói đến yếu

tố thể chất và tinh thần, phản ánh thể lực, trí lực và phẩm chất tinh thần của con người Qua đó tạo ra được sức mạnh với tư cách là động lực của sự phát triển xã hội Như vậy, sẽ không thể có một định nghĩa chung về NNL mà tùy vào cách tiếp cận mới có thể đưa ra một quan niệm, một định nghĩa phù hợp

Với ý nghĩa đó, và trên cơ sở kế thừa tiếp thu có chọn lọc các quan niệm, cách tiếp cận NLCN, NNL nói trên, dưới dạng tổng quát ta có thể khái quát trong

khái niệm NNL sau: NNL là tổng thể những yếu tố về số lượng, chất lượng của

dân cư, dân số và nguồn lao động của mỗi cộng đồng hay quốc gia để từ đó tạo nên những giá trị có thể phát huy và là động lực chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi cộng đồng hay quốc gia đó

* Vai trò của nguồn nhân lực

Đối với mỗi quốc gia, dân tộc việc phát triển kinh tế - xã hội phải dựa trên nhiều nguồn lực như: NNL, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn lực tài nguyên thiên nhiên… trong các nguồn lực đó thì NNL là yếu tố quan trọng nhất

vì nó là loại nguồn lực đặc biệt, nguồn lực “sử dụng” các nguồn lực khác tạo ra động lực cho sự phát triển Các nguồn lực khác dù có đa dạng đến đâu thì cũng chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng chứ không phải là những nguồn lực có tính tự thân để tạo ra các giá trị Giá trị của các nguồn lực đó chỉ thực sự được bộc lộ khi

có sự tham gia, tác động của con người Các nguồn lực khác dù có nhiều đến đâu

Trang 17

vẫn chỉ là có hạn và chỉ phát huy được sức mạnh, hiệu quả thông qua hoạt động của con người

Trong công cuộc CNH, HĐH hiện nay của nước ta càng đòi hỏi hơn nữa tính đa dạng phong phú của các nguồn lực Các nguồn lực trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng tham gia, tác động lẫn nhau trong đó NNL giữ vai trò quyết định nhất

Ngày nay, phát triển bền vững được xác định là chiến lược ưu tiên hàng đầu của các quốc gia trên thế giới và một trong những cơ sở quan trọng nhất để thực hiện chiến lược phát triển đó là NNL Bởi lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh, trong mọi giai đoạn con người luôn là yếu tố đóng vai trò quyết định nhất Nhận thức rõ tầm quan trọng của NNL trong công cuộc đổi mới

và phát triển đất nước đi lên CNXH, Đảng cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh đến vai trò của NNL, coi NNL là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất cho sự phát triển nhanh và bền vững

Theo đó, vai trò của NNL được thể hiện vừa với tư cách là chủ thể vừa với

tư cách là khách thể của các quá trình kinh tế - xã hội

Với tư cách là chủ thể Trong quan hệ với các nguồn lực tự nhiên và các

nguồn lực khác thì NNL là chủ thể trực tiếp nhất Các nguồn lực khác tự nó không thể tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội cũng như là quá trình CNH, HĐH mà chúng chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế xã hội và thực sự trở thành nguồn lực cho CNH, HĐH khi nó được kết hợp với sức lực và trí tuệ của con người, thông qua sự tác động, khai thác hợp lý của con người Hơn nữa, con người không chỉ quyết định hiệu quả của việc khai thác, sử dụng nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác hiện có mà còn góp phần tạo ra các nguồn lực mới

Trong tất cả các nguồn lực, chỉ duy nhất có NLCN biết tư duy, có trí tuệ và

có ý thức sử dụng các nguồn lực khác và gắn các nguồn lực lại với nhau tạo thành nguồn sức mạnh tổng hợp cùng tác động vào quá trình phát triển kinh tế -

xã hội của mỗi quốc gia hay của mỗi cộng đồng Con người tạo ra nguồn vốn và nguồn vốn này chỉ trở thành động lực quan trọng, cần thiết khi con người sử dụng

Trang 18

lợi đến đâu thì cũng sẽ không có ý nghĩa khi con người không biết khai thác và

sử dụng nó một cách có hiệu quả

Để có thể thấy rõ hơn nữa vai trò quyết định của NNL chúng ta không chỉ đặt nó bên cạnh, so sánh nó với các nguồn lực khác mà còn phải đặt nó trong quá trình CNH, HĐH đất nước, đặt nó trong bối cảnh hiện nay khi mà cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang phát triển như vũ bão, lao động trí tuệ đang trở thành yêu cầu khách quan - xu thế phổ biến của loài người Mặt khác, cũng phải đặt trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng Có như vậy, chúng ta mới thấy hết được vai trò chủ thể của NNL

Bên cạnh đó, từ kinh nghiệm của nhiều nước cũng như chính thực tiễn của nước ta cho thấy kinh tế - xã hội có phát triển hay không, sự nghiệp CNH, HĐH

có thành công hay không phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đường lối, chính sách cũng như việc tổ chức thực hiện Như vậy, có thể nói NNL là yếu tố tất yếu không thể thay thế được trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia cũng như trong quá trình CNH, HĐH của nước ta Con người không chỉ quyết định hiệu quả của việc khai thác, sử dụng nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác hiện có

mà nó còn góp phần quan trọng vào sự bảo tồn và tạo ra các điều kiện phát triển bền vững nó trong tương lai

Với tư cách là khách thể Con người trở thành đối tượng của sự khai thác,

sử dụng, đầu tư và phục vụ cho sự phát triển của kinh tế - xã hội của CNH, HĐH

Và nó cũng là mục tiêu duy nhất mà chính sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quá trình CNH, HĐH phải hướng vào phục vụ

Con người là khách thể của quá trình CNH, HĐH Đó là toàn bộ những năng lực, phẩm chất của con người được phản ánh qua các yếu tố như thể lực, trí lực và tâm lực sẽ được khai thác triệt để, có hiệu quả phục vụ cho CNH, HĐH Ngày nay, lao động trí tuệ đang trở thành xu thế phổ biến thì cái cần được tập trung khai thác ở đây chính là tiềm năng trí tuệ Vì vậy, việc nuôi dưỡng, phát triển, khai thác, sử dụng có hiệu quả sức lao động, nhất là trí lực trở thành yêu cầu cấp bách và quan trọng hàng đầu trong toàn bộ quá trình CNH, HĐH

Trang 19

Con người với trí tuệ của mình có khả năng cải tạo tự nhiên, xã hội và cải tạo chính bản thân mình Nói đến trí tuệ con người là nói đến tính vô tận, tính không bị cạn kiệt, tính khai thác không bao giờ hết và khả năng phục hồi, tự tái sinh ra chính nó, phát huy và tạo ra nguồn lực khác Tính vô hạn của NNL biểu hiện ở chỗ nó không chỉ có khả năng tự tái sinh về mặt sinh học mà còn tự đổi mới không ngừng, phát triển về chất Nều biết chăm sóc, bồi dưỡng và khai thác NNL này một cách hợp lý, có hiệu quả nó sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế

- xã hội và đảm bảo sự thắng lợi của sự nghiệp CNH, HĐH Bởi trí thức của con người lấy không bao giờ hết Có thể nói, con người là nguồn lực quý nhất, quyết định nhất là nguồn lực của mọi nguồn lực

Có thế nói, nguồn lực con người không chỉ là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội, của CNH, HĐH mà nó còn là đối tượng duy nhất mà quá trình CNH, HĐH phải hướng tới Quá trình phát triển kinh tế - xã hội, con người phải được hưởng ngay những thành quả mà quá trình này đem lại để nâng cao chất lượng con người, phát triển NNL chứ không phải đợi đến khi thực hiện xong CNH, HĐH mới đầu tư trở lại cho con người

Như vậy, có thể thấy NNL là nguồn lực nội tại, cơ bản, tất yếu giữ vị trí trung tâm trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển kinh tế - xã hôi Nó vừa

là chủ thể trực tiếp thực hiện, quyết định toàn bộ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Đồng thời bản thân nó cũng là đối tượng được hưởng thụ những thành quả của chính quá trình đó Do đó, có thể khẳng định NNL là yếu tố cơ bản đảm bảo cho

sự phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia Do tầm quan trọng của trí tuệ, trí thức như vậy, ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tìm cách nâng cao hàm lượng trí tuệ của NNL Để làm tốt được điều đó thì các biện pháp về giáo dục và đào tạo đóng vai trò hết sức quan trọng

1.1.2 Đào tạo nguồn nhân lực

* Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực

Từ thực tế của Việt Nam cũng như từ kinh nghiệm của các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới cho thấy tầm quan trọng của NNL Vì vậy, việc

Trang 20

nâng cao chất lượng NNL là một yêu cầu cấp bách đối với mỗi quốc gia Mặt khác, chúng ta đang bước vào thế kỷ XXI thời kỳ mà khoa học kỹ thuật đang phát triển như vũ bão và đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển Bên cạnh đó, chúng ta cũng đang tiến mạnh CNH, HĐH Để đạt được những mục tiêu đó, một trong những ưu tiên là phát triển NNL, đào tạo, trang bị và không ngừng nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người lao động, xem đó là điểm tựa của hệ thống đòn bẩy để thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội

Để hiểu được khái niệm đào tạo NNL trước hết chúng ta phải xem xét khái niệm đào tạo

“Khái niệm đào tạo” đến nay còn có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng cơ bản đều cho rằng: đào tạo là quá trình tác động, cung cấp tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cho con người và trang bị cho họ những hành trang để họ thích nghi tốt với cuộc sống và làm cho xã hội ngày càng phát triển

Đề cập đến khái niệm đào tạo Các nhà biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng: “đào tạo là quá trình tác động đến con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động

xã hội, nó được thể hiện bằng cách tổ chức truyền thụ và lĩnh hội những kiến thức lịch sử - xã hội của loài người” [68, tr 120]

Từ những quan điểm trên chúng ta có thể hiểu khái niệm “Đào tạo là quá

trình tác động, giảng dạy những tri thức các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực lao động cụ thể để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người học thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định trong xã hội”

Còn đào tạo NNL là sự trang bị, phát triển có hệ thống những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà mỗi cá nhân cần có để thực hiện đúng một nghề hoặc một nhiệm

vụ nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu của đời sống kinh tế - xã hội Đào tạo ở đây

có thể do nhu cầu cá nhân của người được đào tạo hoặc có thể do nhu cầu phát triển nhân lực của tổ chức, của xã hội Theo mục đích của người được đào tạo, có các tiêu chí phân loại như: đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng Tương ứng với mỗi

Trang 21

hình thức đào tạo thì có nội dung, thời gian đào tạo và mức độ đánh giá kết quả đào tạo là khác nhau có thể là chứng chỉ hay bằng cấp

Đào tạo NNL là quá trình trang bị những kiến thức nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể thực hiện các chức năng, nhiệm

vụ hiệu quả hơn trong công tác của họ Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, hành vi… của mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể thực hiện một cách có năng suất và hiệu quả trong lĩnh vực công tác của họ, hoặc để làm các công việc khác trong tương lai Về cơ bản, đào tạo NNL là việc giảng dạy và học tập ở các trường gắn với việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho đối tượng được đào tạo, để hình thành những phẩm chất, năng lực cần thiết đáp ứng những nhu cầu phát triển của xã hội trong mỗi giai đoạn cụ thể, thúc đẩy xã hội phát triển Tùy mỗi một lĩnh vực khác nhau, trong những giai đoạn khác nhau, chương trình đào tạo NNL lại có những mục tiêu và nội dung khác nhau

Như vậy, có thể thấy đào tạo NNL là quá trình thúc đẩy phát triển yếu tố

con người, trí thức, phát triển các kỹ năng và các phẩm chất lao động mới, thúc đẩy sáng tạo khoa học - công nghệ, đảm bảo cho sự vận động tích cực của các lĩnh vực và toàn xã hội Quá trình đào tạo làm biến đổi NNL, khơi dậy những

tiềm năng của con người, phát triển toàn bộ và từng bộ phận trong cấu trúc nhân cách, phát triển cả về năng lực vật chất và tinh thần, tạo dựng và ngày càng nâng cao, hoàn thiện cả về đạo đức và tay nghề, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực cho CNH, HĐH đất nước

* Nội dung đào tạo nguồn nhân lực

Đào tạo NNL đang trở thành một bộ phận đặc biệt của cấu trúc hạ tầng xã hội, là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đào tạo NNL là một bậc trong hệ thống giáo dục quốc dân

Hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm bốn bậc đó là: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục đại học quy định của Luật Giáo dục năm 2005 Như vậy, đào tạo NNL được cụ thể qua các bậc: giáo dục chuyên nghiệp (trung học chuyên nghiệp và dạy nghề) và giáo dục đại học

Trang 22

(cao đẳng, đại học và sau đại học) Ở mỗi bậc học này lại có nội dung và phương pháp khác nhau

- Giáo dục chuyên nghiệp: nội dung của bậc học này là tập trung vào đào tạo năng lực nghề nghiệp, coi trọng việc giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khỏe và nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo Kết hợp giữa việc học lý thuyết

và rèn luyện kỹ năng thực hành nghề

Đào tạo trung học chuyên nghiệp là một cấp đào tạo trong hệ thống giáo dục - đào tạo quốc dân có nhiệm vụ trang bị các kiến thức, kỹ năng theo ngành nghề nhất định, sau khi ra trường người học làm các công việc thực hành, trợ việc cho cán bộ nghiên cứu, quản lý có trình độ đại học trở lên Đối tượng đào tạo là học sinh đã tốt nghiệp trung học cơ sở, phổ thông trung học và có thể tuyển sinh

từ công nhân và nhân viên nghiệp vụ đã tốt nghiệp các trường dạy nghề cùng ngành và cấp bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp Mục tiêu đào tạo là đào tạo những cán bộ thực hành có trình độ trung học về kỹ thuật nghiệp vụ về kinh

tế, giáo dục, văn hóa, y tế, nghệ thuật Nội dung đào tạo được chia thành 4 nhóm: nhóm những kiến thức chung; nhóm những kiến thức về kỹ thuật cơ sở cho nhóm ngành; nhóm kiến thức về kỹ thuật chuyên môn của ngành và các kỹ năng , kỹ xảo thực hành cho người nhân viên một vài nghề chính của ngành

Đào tạo nghề: đây là một hình thức đào tạo cơ bản nhằm bổ sung NNL cho phát triển đất nước Theo quy định của Luật Giáo dục “dạy nghề dành cho người

có trình độ học vấn và có sức khỏe phù hợp với nghề cần học, được thực hiện dưới một năm đối với các chương trình dạy nghề ngắn hạn, từ một đến ba năm đối với chương trình dạy nghề dài hạn” Theo phê duyệt quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề giai đoạn 2002-2010 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 48/2002/QĐ-TTG ngày 11/4/2002 Quy định trình độ đào tạo gồm: bán lành nghề, lành nghề, trình độ cao Nội dung đào tạo là tập hợp hệ thống các kiến thức

về văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ, các kỹ năng và kỹ xảo lao động, các chuấn mực về giá trị đạo đức, tư tưởng, nhận thức để đảm bảo sự phát triển toàn diện nhân cách Trong đó kỹ năng, kỹ xảo thực hành nghề là phần cơ bản của nội dung đào tạo, về phương pháp đào tạo, đào tạo theo modul là một biện pháp để

Trang 23

mềm hóa quá trình đào tạo, làm cho việc đào tạo trở nên linh hoạt, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu của người học và người sử dụng lao động

- Giáo dục đại học

Đào tạo cao đẳng là một cấp đào tạo trong hệ thống giáo dục - đào tạo quốc dân có nhiệm vụ trang bị các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp gần tương đương trình độ đại học xong nghiêng về khả năng thực hành (kỹ sư thực hành) Sau khi ra trường người học có thể đảm nhận thực hiện công việc chuyên môn - nghiệp vụ ở phạm vi nhất định, kể cả công việc trực tiếp quản lý, chỉ đạo trên các công đoạn sản xuất kinh doanh [63, tr 186]

Đào tạo đại học là một cấp đào tạo trong hệ thống giáo dục - đào tạo quốc dân có nhiệm vụ đào tạo kiến thức, kỹ năng cao thuộc nghề nghiệp nhất định trong các trường đại học Sau khi ra trường người học có khả năng thực hiện các công việc chuyên môn kỹ thuật phức tap, có khả năng nghiên cứu, quản lý một lĩnh vực chuyên môn kỹ thuật nhất định [63, tr 186-187]

Mục tiêu chung của đào tạo cao đẳng, đại học là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, các chuyên gia trên tất cả các lĩnh vực phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nội dung đào tạo phải thực hiện nguyên tắc hiện đại và phát triển, kế thừa và phát huy bản sắc dân tộc bên cạnh đó còn phải hội nhập chung với trình độ thế giới và khu vực Theo điều 36 của Luật Giáo dục xác định nội dung cụ thể của mỗi lĩnh vực đào tạo, chú ý sát hợp với yêu cầu của đất nước, vừa cập nhật trình độ quốc tế Áp dụng phương pháp giáo dục phải thể hiện được nguyên lý: lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất Khuyến khích sự chủ động học tập, nghiên cứu, thực nghiệm của người học kết hợp với việc giảng dạy hướng dẫn của người thầy

Đào tạo sau đại học gồm có: đào tạo thạc sỹ và đào tạo tiến sỹ dành cho những người đã tốt nghiệp đại học và đáp ứng được các yêu cầu tuyển chọn Đào tạo sau đại học là một cấp đào tạo trong hệ thống giáo dục - đào tạo quốc dân có nhiệm vụ trang bị các kiến thức và kỹ năng nâng cao sau đại học để trở thành những chuyên gia Sau khi ra trường người học có khả năng nghiên cứu, độc lập sáng tạo khoa học và thực hành thực tiễn trong hoạt động chuyên môn Theo điều

Trang 24

36 (Khoản 2) Luật Giáo dục quy định: nội dung giáo dục sau đại học phải giúp cho người học phát triển và hoàn thiện kiến thức khoa học cơ bản, kiến thức chuyên ngành, các bộ môn khoa học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; phát huy năng lực sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề thuộc chuyên ngành đào tạo, có khả năng đóng góp vào sự phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, xã hội của đất nước Đào tạo trình độ thạc sỹ phải đảm bảo cho người học được bổ sung

và nâng cao hơn nữa những kiến thức đã được học ở trình độ đại học; tăng cường kiến thức liên ngành; có đủ năng lực thực hiện công tác chuyên môn và nghiên cứu khoa học trong chuyên ngành của mình Đào tạo trình độ tiến sỹ phải đảm bảo cho nghiên cứu sinh nâng cao và hoàn thiện kiến thức cơ bản; có hiểu biết sâu về kiến thức chuyên ngành; có đủ năng lực tiến hành độc lập công tác nghiên cứu khoa học và sáng tạo trong công tác chuyên môn

Có thể nói, mỗi một bậc học khác nhau lại có đối tượng, mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo khác nhau nhưng mục tiêu chung lại là nhằm đào tạo NNL, bổ sung NNL có chất lượng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1.2 Vai trò của đội ngũ giảng viên trong việc đào tạo nguồn nhân lực

1.2.1 Khái niệm đội ngũ giảng viên

Khái niệm đội ngũ thường được dùng để chỉ các tổ chức xã hội một cách rộng rã như: Đội ngũ trí thức, đội ngũ công nhân viên, đội ngũ giáo viên… đó là những tổ chức gồm nhiều người, tập hợp thành một lực lượng có cùng nghề nghiệp

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “đội ngũ là một tập hợp người gắn kết với nhau cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc” [5, tr 6]

Đề cập đến vấn đề này tác giả Trần Thanh Giang cho rằng: “đội ngũ được hiểu là tập hợp những người có đặc điểm hoạt động, chức năng riêng được tổ chức thành một lực lượng xã hội” [28, tr 16]

Từ những quan niệm trên cho thấy, mặc dù với những cách diễn đạt khác nhau nhưng tất cả những quan niệm đó đều nhấn mạnh đến những đặc trưng cơ

Trang 25

bản của đội ngũ đó là: một nhóm người (xã hội) được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để cùng thực hiện những chức năng của một nghề, có cùng chung mục đích và cùng hướng tới mục đích đó

Khái niệm giảng viên, theo Chương IV, mục 1, điều 70 Luật Giáo dục

nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (14/ 6/ 2005) nêu rõ: “nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác Nhà giáo phải có những tính chất sau: phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt, đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; lý lịch bản thân rõ ràng Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học và sau đại học gọi là giảng viên”.[38; tr 23]

Như vậy, có thể thấy giảng viên là những nhà giáo làm công tác giảng dạy trong các trường Cao đẳng, Đại học và sau Đại học Họ không những truyền thụ kiến thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo, khả năng thực hành cho sinh viên và họ còn dạy cho sinh viên cách học, cách đưa ra ý tưởng, sáng kiến; xây dựng và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh, sinh viên, có đạo đức, có tri thức, có sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp chuyên sâu

Khái niệm đội ngũ giảng viên: “Đội ngũ giảng viên là tập hợp những

người làm công tác giảng dạy và đào tạo trong các trường Cao đẳng, Đại học được tổ chức thành một lực lượng xã hội có cùng chung nhiệm vụ là thực hiện việc truyền thụ tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, xây dựng lý tưởng, đạo đức, lối sống, và phát triển nhân cách toàn diện cho người học”

Ở đây khi đề cập đến đội ngũ giảng viên, ta phải đứng trên quan điểm hệ thống Cần phải hiểu đội ngũ giảng viên không phải là một phép cộng, một tập hợp những cá nhân đơn lẻ mà giữa các cá nhân đó có mối quan hệ biện chứng, ràng buộc, tác động qua lại lẫn nhau tạo nên tính thống nhất của cả hệ thống Mỗi tác động đến từng cá nhân giảng viên đơn lẻ vừa có ý nghĩa cục bộ vừa có ý nghĩa trên toàn thể hệ thống và ngược lại, tác động lên toàn bộ đội ngũ giáo viên cũng có nghĩa là tác động đến từng cá nhân giảng viên

Trang 26

Đội ngũ giảng viên là một trong những nhân tố quan trọng trong các trường Cao đẳng, Đại học Nó ảnh hưởng trực tiếp, quyết định đến chất lượng đào tạo của mỗi nhà trường chính vì thế, cần phải nhận thức rõ vai trò của đội ngũ giảng viên từ đó phát triển đội ngũ giảng viên cả về số lượng và chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của giáo dục đào tạo và yêu cầu phát triển NNL cho đất nước

1.2.2 Vai trò của đội ngũ giảng viên

Giáo dục – đào tạo không chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển của một thế

hệ mà nó còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển, hưng thịnh của mỗi quốc gia dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người.” [42, tr93]

Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, thời kỳ CNH, HĐH với xu thế hội nhập toàn cầu Do đó, nhu cầu về NNL là rất lớn, với những yêu cầu đòi hỏi cao

và nghiêm ngặt về tác phong, trình độ, tính kỷ luật trong lao động Người lao động trong thời kỳ cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại phải được trang bị một cách cơ bản, có hệ thống những kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp

và cả khả năng thích nghi với môi trường lao động Điều này, lại một lần nữa cho phép chúng ta khẳng định vai trò của ngành giáo dục, của tầng lớp trí thức Đảng

ta cũng đã xác định “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là trách nhiệm của toàn xã hội song ngành giáo dục bao giờ cũng giữ vai trò chủ yếu” [20, tr 13] Quan điểm này của Đảng là hết sức đúng đắn, phù hợp với thực tiễn phát triển giáo dục và truyền thống “tôn sư trọng đạo” tốt đẹp của dân tộc ta Như vậy, nghề dạy học dù ở thời điểm nào vẫn luôn được tôn vinh, vị trí của nhà giáo nói chung và đội ngũ giảng viên Đại học, Cao đẳng nói riêng vẫn luôn được

đề cao “Chúng ta có đội ngũ giảng viên là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp giáo dục, người thầy giáo là chiến sỹ cách mạng trên mặt trận tư tưởng - văn hóa

Đó là những người truyền thụ cho thế hệ trẻ lý tưởng và đạo đức cách mạng, bồi đắp cho các em nhân cách, dạy cho các em có tri thức, kỹ năng lao động nghề nghiệp tạo nên lớp người có ích cho đất nước” [6, tr 135]

Trang 27

Nhiệm vụ của người giảng viên còn được xác định rõ trong các văn bản có tính pháp quy cụ thể Tại Điều 46 Điều lệ trường đại học ban hành theo Quyết định số 153/2003/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/7/2003, nhiệm vụ của giảng viên được quy định như sau:

- “Hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học được quy định theo giờ chuẩn do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành với các chức danh và ngạch tương ứng

- Giảng dạy theo nội dung, chương trình đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường đại học quy định Viết giáo trình, bài giảng, tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập theo sự phân công của các cấp quản lý

- Không ngừng tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo;

- Tham gia chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển dịch vụ khoa học và công nghệ và các hoạt động khoa học, công nghệ khác;

- Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương pháp đào tạo và nghiên cứu khoa học;

- Hướng dẫn, giúp đỡ người học trong học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện tư tưởng, đạo đức, tác phong, lối sống”

Thực tiễn xã hội mặc dù đã có nhiều thay đổi, nhưng vị trí của nghề dạy học vẫn luôn được coi trọng và hiện nay việc xác định vai trò của đội ngũ giảng viên đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo đã và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu Bởi chất lượng giáo dục đào tạo nói chung và chất lượng đào tạo Cao đẳng, Đại học nói riêng phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ giảng viên, đội ngũ giảng viên là yếu tố chủ đạo trong chất lượng giáo dục Mọi nguồn lực khác của nhà trường, của xã hội chỉ đóng vai trò hỗ trợ, tiếp súc, tạo điều kiện để giáo viên thực hiện vai trò của mình là đào tạo thế hệ trẻ thành những nhân tài cho đất nước Để làm được như vậy thì trước hết người giảng viên phải có phẩm chất yêu người, yêu nghề phải thật chủ động, sáng tạo, tích cực trong hoạt động giảng dạy

và nghiên cứu khoa học

Trang 28

Vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của đội ngũ giảng viên trong hoạt động giảng dạy và nghiên cức khoa học được thể hiện đó là: họ phải là lực lượng

tham gia trực tiếp vào quá trình hướng dẫn, gợi mở, định hướng, tổ chức hoạt động học của học sinh, sinh viên một cách chủ động, tích cực, dạy cho người học phương pháp tự học, tự nghiên cứu Có như vậy mục tiêu đào tạo NNL có trình

độ, có khả năng thích ứng của giáo dục Cao đẳng, Đại học mới trở thành hiện thực

Trong hệ thống giáo dục, nếu coi giáo dục phổ thông là nền tảng thì giáo dục Cao đẳng, Đại học là yếu tố quyết định NNL Đứng trước sự phát triển của kinh tế tri thức, mối quan hệ giữa chất lượng NNL và thị trường lao động ngày càng trở nên mạnh mẽ Các trường Cao đẳng, Đại học buộc phải gắn kết chặt chẽ với nhu cầu và những biến đổi của thị trường lao động để từ đó đào tạo ra NNL đáp ứng đủ yêu cầu cho xã hội Trục chính của các trường Cao đẳng, Đại học là đào tạo ra nguồn lực có chất lượng và đáp ứng được yêu cầu phù hợp cả về số lượng và chất lượng của xã hội, đào tạo ra những con người tự chủ với phẩm chất, năng lực chuyên môn và được trang bị các kỹ năng ứng xử với môi trường xung quanh Chính vì thế, đòi hỏi người giảng viên không chỉ là người cung cấp tri thức mà còn phải trau dồi cho sinh viên các phương pháp, là người tổ chức, hướng dẫn sinh viên tìm kiếm, chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng con đường ngắn nhất, tốt nhất và luôn luôn phải có sự sáng tạo góp phần hình thành nhân cách cho người học Tư duy sáng tạo được coi là một trong những yếu tố quyết định để

đi đến khẳng định tự chủ

Nền giáo dục của nước ta vẫn còn chịu ảnh hưởng của phương pháp dạy học theo kiểu hàn lâm, vai trò của người thầy dù ở cấp độ nào cũng luôn luôn đứng ở vị trí trung tâm và sinh viên thụ động tiếp nhận thông tin cho dù thông tin

đó đã trở nên lạc hậu trước yêu cầu đào tạo của xã hội Thầy, cô luôn là khuân mẫu mà học sinh, sinh viên không thể được phép phản biện cho dù đôi khi các giá trị mang tính thời đại đã làm cho những chân lý thế hệ có ít nhiều thay đổi Hay cũng có khi những luồng thông tin và những phát hiện mới mà giáo viên chưa có điều kiện tiếp xúc và xử lý thì đây cũng là một hạn chế còn tồn tại rất lớn

Trang 29

Vì vậy, cùng với việc trang bị và định hướng cho sinh viên tự chủ trong việc tiếp thu những kiến thức khoa học về ngành nghề học phải trang bị và định hướng cho học sinh, sinh viên những hiểu biết cần thiết để giải quyết các vấn đề

xã hội theo khả năng của mình, tôn trọng người học trong quá trình trao đổi, đối thoại Thực tế cho thấy, việc lấy ý kiến của sinh viên không những giúp cho người giảng viên nhận thức được những mặt còn tồn tại trong phương pháp giảng dạy mà còn giúp cho giảng viên củng cố, hoàn thiện mình hơn trong sự đối chiếu với nhận thức của sinh viên Đây cũng chính là mục đích hướng tới quá trình đào tạo và tự đào tạo mà bản thân người giảng viên và học sinh, sinh viên đều phải nhận thức được Nếu xã hội đặt ra những yêu cầu mà bản thân mỗi cá nhân không đáp ứng được thì đồng thời đó cũng là quá trình tự đào thải mình trong quá trình chọn lọc của xã hội

Như vậy, trong đào tạo bậc Cao đẳng, Đại học, giảng viên và sinh viên là hai đối tượng trực tiếp tham gia vào đào tạo NNL phục vụ cho sự phát triển xã hội Để đáp ứng được yêu cầu xã hội đòi hỏi thì cả hai đối tượng phải nhận thức được sự tương tác trong quá trình hình thành những giá trị tự chủ mà ở đây vai trò của giảng viên giữ vai trò chủ đạo Quá trình dạy học giảng viên không chỉ trang bị cho sinh viên tri thức gì mà còn trang bị cho họ con đường, cách thức để chiếm lĩnh được tri thức vô tận của nhân loại Vấn đề là bằng năng lực, nhân cách

và hệ thống phương pháp, người giảng viên phải khơi dậy thái độ tích cực, tính chủ động trở thành động cơ, nhu cầu tìm hiểu, khám phá tri thức Khi đó giảng viên đóng vai trò là người “cố vấn”, là “trọng tài” trong hoạt động học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên Vì vậy, người giảng viên không thể thụ động trước đối tượng tác động của mình

Hiện nay nước ta đang bước vào kỷ nguyên hợp tác, cạnh tranh mang tính toàn cầu và kinh tế tri thức Để có thể hội nhập và phát triển một cách bền vững thì yêu cầu đối với chất lượng đào tạo Cao đẳng phải được nâng cao trong đó chú trọng đến năng lực trí tuệ, khả năng sáng tạo và thích ứng, năng lực tự học, tự nghiên cứu để có thể học thường xuyên, học suốt đời Trí thức giáo dục đại học đặc biệt là đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm và tâm huyết với nghề chỉ là điều

Trang 30

chủ động, tích cực, sáng tạo trong hoạt động giảng dạy để bằng lao động sáng tạo của mình, bằng phẩm chất và năng lực, lòng nhiệt huyết, nhân cách tác động vào người học nhằm đào tạo họ trở thành những người lao động sáng tạo, có năng lực thích ứng cao với thực tiễn và có phẩm chất đạo đức tốt

Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, đội ngũ giảng viên vẫn là lực lượng giữ vai trò chủ đạo, tích cực, sáng tạo, gắn hoạt động giảng dạy với nghiên cứu khoa học, coi đó là nhiệm vụ song song với sự nghiệp “trồng người” Điều 18.2 Luật Giáo dục ghi rõ: “Nhà trường và cơ sở giáo dục khác phối hợp với tổ chức nghiên cứu khoa học, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong việc đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, phục vụ phát triển kinh tế- xã hội.” [38; tr 5]

Như vậy, có thể thấy nghiên cứu khoa học là một trong hai nhiệm vụ cơ bản của giảng viên Cao đẳng, Đại học Nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên ở các trường Cao đẳng, Đại học với ý nghĩa chung nhất là hoạt động nhận thức mang tính sáng tạo, phát hiện chân lý, những quy luật trên các lĩnh vực khác nhau nhằm vận dụng những hiểu biết ấy vào thực tiễn cuộc sống Hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học là hai mặt có quan hệ biện chứng với nhau, là quan hệ giữa yêu cầu có kiến thức và yêu cầu truyền thụ kiến thức Thông qua nghiên cứu khoa học, vốn tri thức, kỹ năng hướng dẫn, năng lực nghiên cứu, năng lực sáng tạo của người giảng viên sẽ được nâng cao và hoàn thiện Để thực hiện được vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học, đòi hỏi mỗi cá nhân giảng viên nói riêng và đội ngũ giảng viên nói chung phải có những yêu cần nhất định về kiến thức chuyên môn, năng lực sư phạm, phẩm chất đạo đức và phải không ngừng nỗ lực phấn đấu vươn lên

để nâng cao năng lực và kinh nghiệm của bản thân

Vai trò của đội ngũ giảng viên còn được thể hiện ở việc nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy nhằm đào tạo NNL

phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH Vai trò quan trọng này của đội ngũ giảng

viên được hình thành một cách tất yếu khách quan từ nhiệm vụ của người giảng viên, từ bối cảnh chung của thời đại, từ những đòi hỏi ngày càng cao về chất

Trang 31

lượng NNL của toàn xã hội, từ yêu cầu, mục tiêu đào tạo Cao đẳng, Đại học và từ quan điểm đổi mới phương pháp giảng dạy

Nhu cầu về NNL cho sự nghiệp CNH, HĐH là rất lớn với những yêu cầu, đòi hỏi rất cao và nghiêm ngặt về trình độ, tác phong và tính kỷ luật trong lao động Người lao động phải được trang bị một cách cơ bản, có hệ thống về những kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, khả năng thích nghi với môi trường lao động đội ngũ giảng viên là những người trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo ra NNL chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước - lực lượng giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện chuyển giao và đổi mới công nghệ, giữ gìn và phát triển các giá trị văn hóa của dân tộc Bên cạnh đó tiếp thu có chọn lọc, hiệu quả những giá trị văn hóa tiên tiến của nhân loại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (khóa VIII) của Đảng đã nêu rõ “lấy phát triển giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học làm yếu tố cơ bản, coi đó là khâu đột phá” để bước vào tương lai Giáo dục nói chung và giáo dục Cao đẳng nói riêng đã và đang góp phần quan trọng vào

sự phát triển tiềm năng trí tuệ con người cho đất nước, nâng cao chất lượng NNL

và qua đó biến những tri thức, những phát minh khoa học thành những giá trị thực tiễn

Sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay đang đặt ra yêu cầu lớn trong việc khai thác và sử dụng các nguồn lực trong đó nguồn lực con người là quan trọng nhất CNH, HĐH cũng phải đặt trong bối cảnh hiện nay - bối cảnh của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang phát triển như vũ bão, lao động trí tuệ ngày càng gia tăng, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đang trở thành yêu cầu khách quan, xu thế phổ biến của nhân loại NNL chất lượng cao phải là những người được giáo dục và đào tạo kỹ lưỡng trong nhà trường hiện đại, được rèn luyện trong môi trường xã hội lành mạnh Thông qua hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tích cực, chủ động, sáng tạo Đội ngũ giảng viên Cao đẳng

đã và đang đào tạo ra những lớp người lao động mới, hữu ích, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, có năng lực làm chủ được những công nghệ tiên tiến, có khả năng đổi mới, cải tiến và hiện đại hóa những công nghệ truyền thống qua đó từng bước sáng tạo ra những công nghệ mới, hiện đại phù hợp với con người, điều

Trang 32

lượng xung kích, trực tiếp xây dựng nền giáo dục Đại học Việt Nam tiên tiến, góp phần quan trọng vào việc chấn hưng nền giáo dục nước nhà, từng bước hội nhập với sự phát triển chung của thế giới, mà còn trực tiếp tạo ra NNL mới, nâng cao chất lượng NNL góp phần nâng cao tiềm lực công nghệ quốc gia, định hướng cho việc phát triển của khoa học - công nghệ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của kinh tế - xã hội và sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Đội ngũ giảng viên còn giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục phẩm chất đạo đức cho học sinh, sinh viên góp phần xây dựng con người mới XHCN

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: để có CNXH trước hết phải có con người mới XHCN Con người mới XHCN là những con người từ xã hội cũ

và cả những con người được sinh ra trong xã hội mới, con người sống dưới chế

độ XHCN, mang những nét đặc trưng của CNXH nhưng vẫn chịu ảnh hưởng bởi những tư tưởng, tác phong, thói quen của xã hội cũ Vì vậy, quá trình xây dựng con người mới XHCN là quá trình diễn ra cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, cái tiến bộ và cái lạc hậu, với mục tiêu con người mới XHCN phải giữ được những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc đồng thời tiếp thu những tiến bộ của thời đại để phát triển

Hiện nay, nền kinh tế thị trường bên cạnh những mặt tích cực của nó thì nó cũng đang có những ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của xã hội Đặc biệt là những ảnh hưởng của nó đến lối sống trong một bộ phận không nhỏ học sinh, sinh viên như: lối sống thực dụng, cách ứng xử, trang phục, lời nói thiếu văn hóa,

ý thức tiết kiệm kém, thiếu tôn trọng các giá trị đạo đức văn hóa truyền thống của dân tộc, ý thức chấp hành nội quy, quy tắc và trật tự an toàn xã hội chưa tốt, tình trạng bạo lực học đường không ngừng gia tăng trong những năm gần đây đã gióng lên hồi chuông cảnh báo đối với toàn xã hội về tình trạng xuống cấp của một bộ phận học sinh, sinh viên

Trước thực trạng đó đặt ra đối với những người làm công tác giáo dục nói chung và ĐNGV nói riêng nhiệm vụ mang tính cấp bách là quán triệt nội dung giáo dục lý tưởng đạo đức, lối sống, phải tăng cường hơn nữa những biện pháp, phương pháp giáo dục nhằm chấn chỉnh, giáo dục lối sống, phẩm chất đạo đức lối

Trang 33

sống lành mạnh cho học sinh, sinh viên Để làm được nhiệm vụ trên người giảng viên nhất thiết phải chủ động, tích cực, sáng tạo trong hoạt động giảng dạy để bằng lao động sáng tạo của mình, bằng phẩm chất, năng lực của nhà giáo, bằng lòng nhiệt huyết yêu nghề, yêu người của người thầy, người cô tác động vào người học nhằm đào tạo họ trở thành những người lao động sáng tạo, có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn, có khả năng thích ứng cao, có nhân sinh quan khoa học giúp họ biết cách tự hoàn thiện nhân cách của mình

Cơ chế thị trường không chỉ có ảnh hưởng tiêu cực đến học sinh, sinh viên

mà nó còn tác động đến cả đội ngũ giảng viên Đó là tình trạng xuống cấp về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận giảng viên, bệnh thành tích, tiêu cực trong học tập và thi cử Điều này đòi hỏi mỗi người giảng viên cũng phải không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” Đội ngũ giảng viên không chỉ là người trí thức nói chung mà họ còn là một nhà giáo Do đó, việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong, lối sống… phải rất được coi trọng vì người giảng viên phải thật sự là tấm gương sáng cho những học sinh, sinh viên, những trí thức trẻ trong tương lai Chính năng lực và phẩm chất của người thầy, người cô có sức lôi quấn, khích lệ rất lớn đối với học sinh, sinh viên trong quá trình học tập, nghiên cứu

Phẩm chất chính trị, đạo đức của người giảng viên phải được biểu hiện ở lòng yêu nước, yêu CNXH được cụ thể hóa thành: 1 Lòng yêu nghề, yêu người, gương mẫu chấp hành tốt những chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, hoàn thành xuất sắc chức trách, nhiệm vụ của người giảng viên, 2

Có lối sống lành mạnh, giản dị, trung thực, có quan hệ tốt với đồng nghiệp, đoàn kết, chia sẻ, giúp đỡ đồng nghiệp, khiêm tốn học hỏi, bao dung, nhân ái, vị tha 3

Có ý thức tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, luôn tận tâm với nghề Có như vậy mới có thể làm tấm gương, mới có thể lôi quấn, khích lệ đối với học sinh, sinh viên và làm cho chất lượng giáo dục được nâng lên

Tóm lại những yêu cầu trên là tiêu chí cơ bản để thực hiện vai trò của người giảng viên Tuy nhiên, mỗi giảng viên không thể thực hiện tốt vai trò của

Trang 34

mình nếu không liên hệ chặt chẽ với đồng nghiệp, với tổ chức trong mối quan hệ của toàn đội ngũ giảng viên Sản phẩm của đội ngũ giảng viên là đào tạo ra NNL

có chất lượng, có trình độ cao Vì vậy, cá nhân mỗi giảng viên không thể tự mình đào tạo ra NNL ấy mà đó là kết quả hoạt động của cả đội ngũ giảng viên Đánh giá hiệu quả hoạt động giáo dục Cao đẳng phải căn cứ vào nhiều yếu tố nhưng năng lực và phẩm chất của đội ngũ giảng viên là yếu tố quan trọng nhất Tuy nhiên, không chỉ căn cứ vào năng lực, phẩm chất, trình độ, vai trò của từng cá nhân mà phải căn cứ vào khả năng phối hợp của họ đối với đồng nghiệp với đội ngũ giảng viên của toàn trường, toàn ngành Từ đó vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo, yêu cầu về kiến thức chuyên môn, năng lực sư phạm và phẩm chất chính trị - đạo đức của mỗi giảng viên chỉ được xác định khi nó gắn với cả đội ngũ

Nhận thức đúng đắn và phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên trong giáo dục đào tào là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển nhân tố con người của Việt Nam Phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên, thực chất là sự kết hợp các quan điểm, phương hướng, biện pháp, làm bộc lộ, hình thành, phát triển và sử dụng đúng vai trò chủ thể, tích cực, tự giác, sáng tạo của đội ngũ giảng viên trong hoạt động giảng dạy và hoạt động nghiên cứu khoa học, hướng vào mục đích phát triển toàn diện năng lực và tiềm năng của cá nhân cũng như của cả đội ngũ giảng viên nhằm phục vụ cho sự nghiệp “trồng người”, đáp ứng yêu cầu về NNL của đất nước

Đội ngũ giảng viên các trường Cao đẳng Thành phố Việt Trì Tỉnh Phú Thọ

trên cơ sở thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ của người giảng viên theo quy định của Luật Giáo dục, điều lệ trường Cao đẳng ban hành theo Thông tư số 14/2009/TT – BGDĐT của Bộ Giáo dục và đào tạo cũng như là những tiêu chí, quy chế đào tạo riêng của mỗi trường nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục – đào tạo để có những “sản phẩm” giáo dục có chất lượng phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH của Tỉnh và của cả nước Để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục đội ngũ giảng viên các trường Cao đẳng Thành phố Việt Trì cần làm tốt hơn nữa vai trò của mình cụ thể: Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện

Trang 35

công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường; giữ gìn phẩm chất,

uy tín, danh dự của nhà giáo, tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người học; không ngừng học tập để nâng cao phẩm chất, đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÁC TRƯỜNG CAO

ĐẲNG THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

2.1 Khái quát hệ thống các trường Cao đẳng ở Thành Phố Việt Trì

Tỉnh Phú Thọ nói chung và thành phố Việt Trì nói riêng hiện nay không chỉ là trung tâm kinh tế chính trị, xã hội của vùng Trung du Bắc Bộ mà còn là nơi

có rất nhiều trường Cao Đẳng, Đại học, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề của cả trung ương và địa phương

2.1.1 Trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm

Trường Trung học Kỹ thuật Công nghiệp Thực phẩm được thành lập tháng

5 năm 1976 theo Quyết định số 446/CNn - TCCB của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ Tiền thân của trường là ngành Thực phẩm và phân tích thực phẩm của Trường Trung học Kỹ thuật Công nghiệp nhẹ Hà Bắc Và đến ngày 9/10/2006 trường được đổi tên thành trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm theo Quyết định số 5619/ QĐ - BGDĐT

Gần nửa thế kỷ trôi qua, qua năm lần tách nhập trực thuộc các Bộ chủ quản khác nhau Sau hai lần đổi tên trường Nhà trường đã và đang đào tạo được 48 khóa trung cấp và 6 khóa Cao đẳng Học sinh, sinh viên ra trường được đánh giá cao về tay nghề, phát huy tốt trên các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, quản lý kỹ thuật trên mọi miền đất nước

Trường hiện đóng tại Phường Tân Dân - Thành phố Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ Qua gần 50 năm xây dựng và phát triển trường đã đào tạo và đào tạo lại cho

xã hội một số lượng lớn cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật lành nghề

Trang 37

Trường Cao đẳng Công nghiệp Thực Phẩm đào tạo đa bậc học và đa ngành nghề cho ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm phục vụ cho nền kinh tế của đất nước nói chung Quy mô Nhà trường ngày càng được mở rộng Hiện nay, Nhà trường là một cơ sở đào tạo có uy tín của các Tỉnh Trung du và Miền núi phía Bắc

Trong quá trình xây dựng và phát triển Nhà trường đã đạt được rất nhiều thành tích, những danh hiệu và phần thưởng cao quý

- Năm 2006 trường được tặng Huân chương Lao động hạng Ba

- Năm 2009 trường nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ

- Năm 2011 trường nhận cờ thi đua của Bộ Công thương và cờ thi đua của Tỉnh Phú Thọ

- Năm 2012 trường nhận Huân trương Lao động hạng Ba

Lịch sử hình thành và phát triển của trường được xem như một quá trình không ngừng đổi mới nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo NNL cho sự nghiệp CNH, HĐH của Tỉnh và của đất nước

Chức năng nhiệm vụ của trường

Chức năng Trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm là cơ sở đào tạo công lập nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Trường có chức năng đào tạo cán bộ kỹ thuật hệ Cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề Đồng thời là cơ sở nghiên cứu, triển khai khoa học phục vụ cho sản xuất kinh doanh, phục vụ nhu cầu đào tạo NNL cho sự phát triển của ngành và xã hội

Trường chịu sự lãnh đạo và quản lý trực tiếp của Bộ Công nghiệp, sự quản

lý Nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo Trường hoạt động theo điều lệ trường Cao đẳng công lập ban hành kèm theo Quyết định số 56/2003/QĐ

- BGD & ĐT ngày 10/12/2003 của Bộ giáo dục và đào tạo

Nhiệm vụ, trường có nhiệm vụ cụ thể:

- Đào tạo cán bộ kỹ thuật hệ Cao đẳng, THCN và dạy nghề có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp, có sức khỏe, có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội

Trang 38

- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, công chức, viên chức theo yêu cầu của Bộ công nghiệp

- Nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất, dịch vụ khoa học và công nghệ

- Liên kết với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học và các đơn vị sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước

- Quản lý sử dụng và khai thác có hiệu quả đội ngũ cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên, học viên, cơ sở vật chất tài sản, các nguồn vốn Nhà nước giao, đảm bảo đời sống, giữ gìn trật tự, an ninh an toàn xã hội trong nhà trường và địa phương

Cơ sở vật chất của trường

Cơ sở vật chất kỹ thuật của trường phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, với tổng diện tích sử dụng hàng nghìn m2

Trang 39

Bảng 2.1 Cơ sở vật chất trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm

tính

Tổng số

Cơ sở 1 Cơ sở 2 Cơ sở 3 …

I

Diện tích đất đai đang quản lý sử

dụng (chỉ tính địa điểm đã được

2 Máy tính sử dụng được máy 305

3 Máy tính nối mạng ADSL máy 305

2 Thiết bị thực hành chuyên dung thiết bị

X Ký túc xá thuộc cơ sở đào tạo

quản lý

1 Số sinh viên ở trong KTX SV 420

4 Diện tích bình quân/sinh viên m2/SV 6,3

XI Diện tích nhà ăn sinh viên thuộc

2

1080

Nguồn: Phòng Quản trị vật tư trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm

Phú Thọ

Trang 40

Đội ngũ giảng viên

Bảng 2.2: Đội ngũ giảng viên Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm

Chức danh Trình độ đào tạo

Giáo

Phó Giáo

Cao đẳng

Ngày đăng: 07/12/2015, 20:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quốc Anh (1999) “Đội ngũ trí thức trẻ trong các trường Đại học, Cao đẳng”, Báo Nhân dân (24/4), tr 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đội ngũ trí thức trẻ trong các trường Đại học, Cao đẳng"”, "Báo Nhân dân
2. Vũ Anh (1999), “Giáo dục Đại học thế kỷ XXI: tầm nhìn và hành động”, Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp (4), tr 13-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Đại học thế kỷ XXI: tầm nhìn và hành động”, Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
Tác giả: Vũ Anh
Năm: 1999
3. Hoàng Chí Bảo (1993), “Ảnh hưởng của văn hóa đối với việc phát huy nguồn lực con người”, Tạp chí Triết học (1), tr .13-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của văn hóa đối với việc phát huy nguồn lực con người"”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1993
4. Hoàng Chí Bảo (2001), “Toàn cầu hóa kinh tế và những tác động, ảnh hưởng của nó đối với giáo dục đào tạo ở nước ta”, Viện Khoa học Chính trị - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa kinh tế và những tác động, ảnh hưởng của nó đối với giáo dục đào tạo ở nước ta
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2001
5. Đặng Quốc Bảo (2003), “Kinh tế học giáo dục”, Tài liệu giảng dạy lớp cao học Quản lý giáo dục, Khoa Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học giáo dục”
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2003
6. Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Khải Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Khải Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), “Ngành giáo dục - đào tạo thực hiện nghị quyết trung ương hai khóa 8 và nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX”, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành giáo dục - đào tạo thực hiện nghị quyết trung ương hai khóa 8 và nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX”
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
8. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2005), “Niên giám thống kê Lao động Thương binh và xã hội năm 2004”, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Lao động Thương binh và xã hội năm 2004”
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
Năm: 2005
9. Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan (2001), “Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: P"hát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam”
Tác giả: Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
10. Phạm Văn Diễn (2005), “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý của trường đại học bách khoa Hà nội”, Tạp chí Giáo dục (110), tr. 42-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý của trường đại học bách khoa Hà nội"”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Phạm Văn Diễn
Năm: 2005
11. Nguyễn Thị Doan (1999), “Giáo dục đại học chuẩn bị hành trang để hội nhập và phát triển trong thế kỷ XXI”, Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp (2), tr. 17-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đại học chuẩn bị hành trang để hội nhập và phát triển trong thế kỷ XXI"”, "Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Năm: 1999
12. Nguyễn Văn Duệ (1997), “Đội ngũ cán bộ giảng dạy đại học- thực trạng và kiến nghị”, Tạp chí Kinh tế và phát triển (17), tr. 57-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đội ngũ cán bộ giảng dạy đại học- thực trạng và kiến nghị”, Tạp chí Kinh tế và phát triển
Tác giả: Nguyễn Văn Duệ
Năm: 1997
13. Phạm Đình Đạt (2001), “Giảng viên với việc nâng cao chất lượng bài giảng”, Tạp chí Khoa học chính trị (6), tr. 29-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng viên với việc nâng cao chất lượng bài giảng"”, "Tạp chí Khoa học chính trị
Tác giả: Phạm Đình Đạt
Năm: 2001
14. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1987), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6”, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6”
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
15. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1991), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 7”, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 7”
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
16. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1991), “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
17. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1993), “Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
18. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1993), “Văn kiện Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa VII”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa VII”
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
19. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1993), “Văn kiện Hội nghị lần thứ tư ban chấp hành trung ương khóa VII”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư ban chấp hành trung ương khóa VII”
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
20. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1996), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII”
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Đội ngũ giảng viên Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm - Vai trò của đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn nhân lực các trường cao đẳng thành phố việt trì hiện nay
Bảng 2.2 Đội ngũ giảng viên Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm (Trang 40)
Bảng 2.3: Cơ sở vật chất trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Thọ - Vai trò của đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn nhân lực các trường cao đẳng thành phố việt trì hiện nay
Bảng 2.3 Cơ sở vật chất trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Thọ (Trang 43)
Bảng 2.4: Đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Thọ - Vai trò của đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn nhân lực các trường cao đẳng thành phố việt trì hiện nay
Bảng 2.4 Đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Thọ (Trang 44)
Bảng 2.5: Cơ sở vật chất trường Cao đẳng Dược Phú Thọ - Vai trò của đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn nhân lực các trường cao đẳng thành phố việt trì hiện nay
Bảng 2.5 Cơ sở vật chất trường Cao đẳng Dược Phú Thọ (Trang 46)
Bảng 2.6: Đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng Dược Phú Thọ - Vai trò của đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn nhân lực các trường cao đẳng thành phố việt trì hiện nay
Bảng 2.6 Đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng Dược Phú Thọ (Trang 47)
Bảng 2.7. Cơ cấu ĐNGV theo tuổi của các trường cao đẳng - Vai trò của đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn nhân lực các trường cao đẳng thành phố việt trì hiện nay
Bảng 2.7. Cơ cấu ĐNGV theo tuổi của các trường cao đẳng (Trang 50)
Bảng 2.8: Cơ cấu trình độ (Thạc sỹ, Tiến sỹ) - Vai trò của đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn nhân lực các trường cao đẳng thành phố việt trì hiện nay
Bảng 2.8 Cơ cấu trình độ (Thạc sỹ, Tiến sỹ) (Trang 52)
Bảng 2.9: Chi trả tiền vượt giờ tiêu chuẩn của giảng viên - Vai trò của đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn nhân lực các trường cao đẳng thành phố việt trì hiện nay
Bảng 2.9 Chi trả tiền vượt giờ tiêu chuẩn của giảng viên (Trang 73)
Bảng 2.5: Tỷ lệ tốt nghiệp so với số tuyển vào (%) - Vai trò của đội ngũ giảng viên trong đào tạo nguồn nhân lực các trường cao đẳng thành phố việt trì hiện nay
Bảng 2.5 Tỷ lệ tốt nghiệp so với số tuyển vào (%) (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w