1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Bài giảng giải phẫu so sánh động vật có xương sống PGS TS ngô đắc chứng

232 2K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 232
Dung lượng 11,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ bài tiết gồm các tiểu cầu thận tập hợp trong hai quả thận và một đôi ống dẫn niệu, dẫn các sản phẩm bài tiết.. • Năm 1816, Blainville đã đề nghị chia làm năm lớp: Cá, Lưỡng cư, Bò sá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ

PGS.TS NGÔ ĐẮC CHỨNG

Bài giảng

GiẢI PHẪU SO SÁNH ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG

Trang 2

CÁC YÊU CẦU CỦA HỌC PHẦN

1. Số tiết: 45

2. Trọng số: Tiểu luận: 4

Thi kết thúc HP: 6

3 Tiểu luận: tham khảo tài liệu tiếng

Anh để soạn một vấn đề liên quan đến nội dung HP

4 Hình thức thi: viết có sử dụng tài

liệu

Trang 3

5 Tài liệu học tập:

- Ngô Đắc Chứng: Bài giảng Giải phẫu so sánh động vật có xương sống (bản thảo)

- K.V.Kardong and E.J.Zalisco, 2002:

Comparative Vertebrate Anatomy Mc

Graw Hill, New York

- A Beaumont et P Cassier, 1972: Les

Cordés anatomie compareé des vertébrés Dunod, Paris

Trang 4

Chương 1 Đại cương Ngành Dây sống (Chordata)

Trang 5

Đặc điểm chung về cấu tạo cơ thể

Động vật dây sống là những động vật đa bào chính thức, có thể xoang,

cơ thể đối xứng hai bên và có những đặc điểm chung như sau:

1 Có dây sống chạy dọc sống lưng cơ thể con vật

2 Có hệ thần kinh hình ống

Trang 6

3.Phần đầu của ống tiêu hoá gọi là hầu có thủng nhiều đôi khe mang, làm khoang hầu thông ra ngoài

4 Có đuôi nằm phía sau hậu môn

5 Hệ tuần toàn là hệ kín (trừ phân ngành có bao - Tunicata).

Trang 7

Đặc điểm cơ bản giống với nhiều ngành động vật không xương sống

1 Có xoang cơ thể thứ sinh (coelum)

2 Có miệng thứ sinh (Deuterostomia)

3 Có sự phân đốt cơ thể

4 Cơ thể có đối xứng hai bên

Trang 8

Hệ thần kinh và giác quan

Cơ quan tiêu hóa và hô hấp

Hệ tuần hoàn

Hệ niệu sinh dục

Trang 10

III Phân ngành Có sọ (Craniota)

hay Có xương sống ( Vertebrata)

Trang 11

3.2 Cấu tạo

1 Vỏ da

2 Trung bì thân lõm vào thành thể xoang

3.Ống thần kinh lưng phình to ở phía trước hình thành não bộ chính thức gồm năm

phần: não trước, não trung gian, não giữa, hành tủy và tiểu não Từ não bộ phát ra 10

- 12 đôi dây thần kinh não mà một trong

số đó liên quan với các cơ quan cảm giác

Trang 12

4.Dây sống thường biến mất ở giai

đoạn trưởng thành, được bao quanh bởi một bao xương có nguồn gốc

trung bì, phân đốt, tạo thành bộ

xương trục của cơ thể là cột sống

gồm nhiều đốt sống

5 Hầu thủng các khe mang (ít ra là ở giai đoạn phôi)

Trang 13

6 Cơ quan hô hấp của không hàm, cá

và ấu trùng lưỡng thê là mang và

cung mang Ở động vật có xương

sống ở cạn và một vài loài cá cơ quan

hô hấp là phổi

7 Hệ tuần hoàn máu là một hệ hoàn

toàn kín và độc lập với hệ bạch

huyết

Trang 14

8 Sự vận chuyển được thực hiện nhờ hai loại chi là vây bơi (vây chẵn và vây lẻ) và chi

năm ngón

9 Hệ bài tiết gồm các tiểu cầu thận tập hợp trong hai quả thận và một đôi ống dẫn

niệu, dẫn các sản phẩm bài tiết Tuỳ theo

vị trí và thời gian xuất hiện mà có ba loại thận: thận trước, thận giữa và thận sau.

Trang 15

10 Phần lớn có cơ quan sinh dục phân tính và sinh sản hữu tính

Trang 16

3.3 Phân loại và đại cương về

sự tiến hóa

Từ năm 1758, Linnaeus phân động

vật có xương sống thành bốn Lớp:

Cá, Lưỡng cư, Chim và Động vật có

vú Nhưng, Linnaeus đưa thuật ngữ Lưỡng cư có nội dung rất khác với

nghĩa hiện nay vì nó bao gồm cả ếch nhái ( ếch, kỳ giông), bò sát (cá sấu, rùa, thằn lằn) và kể cả một số loài cá.

Trang 17

Năm 1816, Blainville đã đề nghị chia làm

năm lớp: Cá, Lưỡng cư, Bò sát, Chim và

Động vật có vú

Công trình nghiên cứu của nhà cổ sinh vật học Thụy Điển Stensiö (từ năm 1926) trên một loài cá hóa thạch là cá giáp không

hàm (Ostracodermi) đã phân chia Động vật

có xương sống thành hai Nhóm Không hàm

(Agnatha) Có hàm (Gnathostomata)

Trang 18

Phân ngành Có sọ (Craniota) hay

Có xương sống (Vertebrata)

Nhóm Động vật không hàm (Agnatha) Lớp Miệng tròn (Cyclostomata)

Trang 19

Trên lớp Bốn chân (Tetrapoda) Lớp Lưỡng cư (Amphibia)

Động vật có màng ối (Amniota) Lớp Bò sát (Reptilia)

Lớp Chim (Aves)

Lớp Động vật có vú (Mammalia) (*) Đã bị tuyệt chủng

Trang 20

Sơ đồ Phát sinh chủng loại của Động vật có xương sống

SƠ ĐỒ 1

SƠ ĐỒ 2

SƠ ĐỒ 3

Trang 21

Chương 2

Vỏ da và sản phẩm của vỏ da

I.Vỏ da

1.1 Đại cương

Vỏ da tạo thành một lớp áo bao bọc

bên ngoài cơ thể

Nguồn gốc từ hai lá phôi: biểu bì có

nguồn gốc từ lá phôi thứ nhất và bì là một loại mô liên kết có nguồn gốc từ

lá phôi thứ ba.

Trang 23

1.2 Cấu tạo chung

1.2.1 Biểu bì

Đó là một cấu trúc có nhiều tầng tế bào

Các tế bào biểu bì gắn chặt với nhau

nhưng có các đầu mút thần kinh và

các tế bào sắc tố.

Trang 24

Những tế bào nằm dưới lớp biểu bì làm thành tầng phát sinh (tầng

Malpighi)

Ở động vật có xương sống sống ở nước và ấu trùng của lưỡng cư, là những tế bào sống trong các tầng dày của biểu bì và bị thay thế mà

không chịu những biến đổi đặc biệt.

Trang 25

Ở động vật có xương sống ở cạn thì ngược lại Các tế bào ngoài cùng tẩm một loại

protein đặc biệt là kêratin Hiện tượng hóa kêratin được thực hiện theo hai quá trình khác nhau: một phần tổng hợp kêratin,

phần khác thủy phân các thành phần tế

bào Chất kêratin thấm vào các tế bào biểu

bì bị khô và chết Lớp kêratin hạn chế sự mất nước là sự thích nghi tốt đối với đời

sống ở cạn

Trang 26

Ở lưỡng cư trưởng thành, lớp hóa kêratin còn mỏng, chỉ có một lớp tế bào lại bị tách ra từng mảng không liên tục Nhờ vậy mà chúng vẫn có thể thấm nước khi điều hòa áp suất thẩm thấu và hô hấp qua da.

Trang 27

Ở động vật có màng ối, lớp sừng rất dày gồm nhiều lớp tế bào hóa

kêratin Biểu bì cũng trở nên khô hơn

và không thấm nước Ở Bộ Có vẩy

(Squamata), lớp này được thay thế từ một đến ba tháng một lần Sự thay

thế này chịu ảnh hưởng bởi hormon của tuyến giáp trạng.

Trang 29

cừu, dê để làm da giày, găng tay, đồ da

Trang 30

Ăn sâu vào bì có rất nhiều mạch

máu, mạch bạch huyết, các đầu mút thần kinh và các tế bào sắc tố Ở

lưỡng cư, các mạch máu này cùng với lớp da mỏng và ẩm ướt giúp cho việc

hô hấp qua da

Trang 31

Mô liên kết dưới da hay hạ bì: Ngoại trừ miệng tròn và cá, da động vật có xương sống tách khỏi các cơ quan

vận chuyển bên dưới (cơ và xương) bởi một lớp mô liên kết mỏng là hạ bì.

Trang 32

Ở lưỡng cư, lớp hạ bì này lõm vào

Trang 39

II Các sản phẩm của vỏ da

II.1 Sản phẩm của biểu bì

Các sản phẩm của biểu bì thường hóa kêratin mạnh, phát triển trên bề mặt của biểu bì

- Ở cá miệng tròn, chúng tồn tại dưới dạng các “răng” sừng trên lưỡi,

miệng và trên riềm da bao quanh

miệng

Trang 40

Các sản phẩm biểu bì không chỉ được biết ở các loài cá xương nước ngọt

thuộc Họ Cá chép mà còn thấy ở các loài cá khác Ở cá đực một số loài vào mùa sinh sản, trên đầu, lưng và vây

có các mấu sừng nhỏ sắp xếp từng

hàng và có liên quan với vẩy bên

dưới

Trang 41

Ấu trùng lưỡng cư không đuôi có các mỏ

sừng dùng để lấy thức ăn thực vật Các sản phẩm này biến mất trong quá trình biến

thái

Ở các loài khác, các sản phẩm này phát

triển ở giai đoạn trưởng thành: các hạt

sừng ở đầu các ngón chân (Bufo,

Pelobates), các túi sừng dạng vuốt ở ba

ngón chân thứ nhất (Xenopus), lớp sừng ở gan bàn chân (Pelobates)

Trang 42

2.2 Tuyến da

Các tế bào tuyến độc lập thường tròn hay hình trụ Chúng có thể tạo nên các ống hay túi.

- Các tế bào tuyến nhờn tiết ra chất

mucine (mucus) Thành phần của mucine

là mucopolysaccharit và protein axit hay

trung tính Các tế bào tuyến quánh (tế bào tiết dịch quánh) tiết các dịch quánh với

thành phần là protein ở dạng hạt chiết

quang bị nhuộm màu bởi axit.

Trang 45

Toàn tiết (holocrine) nếu tất cả tế bào

tham gia chế biến và phân huỷ khi tiết:vd tuyến bả

Phân tiết (merocrine) nếu tế bào vẫn tồn tại trong nhiều chu kỳ tiết (tuyến mồ hôi)

Tiết rụng đầu (apocrine) khi tiết, tế bào bỏ lại phần chóp cùng với chất tiết (tuyến vú).

Trang 47

Tế bào tuyến của cá sụn và cá xương

là những tế bào hình trụ toàn tiết,

đôi khi biến đổi thành tuyến độc

Tuyến da có thể biến đổi thành cơ

quan phát sáng

Trang 48

Lưỡng cư: tuyến da hình chùm, nằm trong lớp bì, mở ra ngoài bằng những ống ngắn Phần lớn tuyến da là tuyến quánh nằm giữa lớp biểu bì tiết lớp

phủ collagen, lớp cơ nhẵn giúp cho

việc tiết khi co rút Vd tuyến mang tai của giống Bufo, hoặc Salamandra.

Trang 49

Bò sát: chỉ có một số tuyến độc lập

hay tạo thành dạng hạt Không có

tuyến nhầy, các tuyến ở dạng chùm, toàn tiết Chúng thường nằm ở hàm,

lỗ huyệt (lỗ đùi của thằn lằn), hai bên lưng cá sấu Chất tiết được tạo ra vào mùa sinh sản.

Trang 50

Chim: chỉ có tuyến phao câu ở các

loài chim bay và chim bơi Đó là loại tuyến bả hai thuỳ, toàn tiết, nằm ở mặt lưng của xương phao câu Sản phẩm tiết là chất béo chống sự thấm nước và là nguồn cung cấp tiền

Vitamin D Ở các loài gà còn có các tuyến dạng tổ ong nằm ở ống tai

ngoài.

Trang 51

Thú có các tuyến như sau:

Trang 52

Tuyến sữa:

+có ở tất cả các loài thú, nhưng ở thú đơn

huyệt mỗi ống của tuyến đổ ra ở phần gốc của

lông Các yếu tố tập hợp thành nhóm một hay

nhiều đôi vú mở ra trên núm vú

+Ở giai đoạn phôi, lúc đầu là hai mào vú mọc lên giữa vùng ngực và vùng bẹn, từ đó hình thành chồi vú Chồi vú nối với các ống tiết sữa nguyên thuỷ Sau đó mỗi ống sữa phân thành nhiều chồi dạng tổ ong phức tạp ở phần đáy (thuỳ sữa) Sự thoái hoá của các chồi vú tạo nên xoang chứa

sữa, núm vú được tạo thành do sự lồi ra của chồi vú.

Trang 53

Allophore: sắc tố màu đỏ hay đỏ nâu,

không tan trong rượu.

Guanophore: chứa các hạt guanin nhỏ kết tinh, sinh ra các màu nhiễu xạ.

Trang 54

Sự thay đổi màu: hình dạng của sắc tố đen

là cố định, nhưng những thay đổi trong

việc phân bố các sắc tố kết quả làm phân tán các hạt vào trong các chân giả hay tập trung ở phần thân của tế bào Sự thay đổi này là do hệ thần kinh hay hormone hoặc

cả hai điều khiển Ở cá là phần sau tuyến yên và chồi và các sợi của hệ mạch sau Ở ếch nhái là phần giữa tuyến yên.

Trang 56

2.3 Vẩy

2.3.1 Vẩy cá

- Vẩy tấm: vẩy tấm của cá sụn được tạo nên từ các nếp bì và biểu bì Chất răng

xuất hiện trước, sau đó phủ lớp men

(émail) ở bên ngoài Xoang tuỷ bên trong phân thành nhiều nhánh hình mạng lưới

Vẩy cắm sâu vào bì nhờ tấm gốc và được

gắn chặt bằng những sợi collagen (sợi

sharpey) của tấm gốc là chất răng, xi măng hay chất xương.

Trang 57

- Vẩy cosmin: là kiểu vẩy đặc trưng của cá vây tay và cá phổi cổ Bì

khoáng hoá theo bề dày.Lớp đáy có nhiều tầng isopedin mỏng, ở giữa là đám rối hệ mạch có nhiều khoang

rỗng.

Trang 58

- Vẩy láng (vẩy ganoin): là kiểu vẩy của cá vây tay Cấu trúc nguyên thuỷ của kiểu vẩy này là vẩy láng của cá

xương cổ và cá nhiều vây Trên tầng

cơ bản dày bằng chất isopedin là chất dentin và hệ mạch, trên cùng là các

tấm ganoin.

Trang 59

- Vẩy xương: có ở cá xương Vẩy là tấm xương mỏng gồm nhiều lớp

isopedin, ngoài cùng là lớp ganoin mỏng Mép ngoài vẩy xương có thể nhẵn là vẩy tròn hoặc có dạng răng cưa là vẩy lược.

Trang 63

2.3.2 Vẩy ếch nhái

Ở nhóm Răng rối (Labyrinthodontia) vẩy ít khi hoá xương và thường tạo thành bộ

giáp ở bụng, hầu, chi và đuôi.

Một vài loài ếch nhái không đuôi có các

tấm xương hoá sừng ở thân (Ceratophrys) hay ở đầu (Celyptophalus).

Trang 64

2.3.3 Vẩy bò sát, chim và thú

Ở các lớp này vẩy thường bao phủ một

phần cơ thể, nằm giữa lớp biểu bì, ít hoá

kêratin Các tấm vảy của rùa lớn, giẹp, xếp sát nhau và không cử động được Mặt dưới hàm cá sấu vẩy gắn thành một túi sừng và người ta cho chúng tương tự mỏ của rùa

và chim.

Trang 65

Lớp vẩy áo của các loài bò sát bao phủ

toàn bộ bề mặt cơ thể, trong khi chim chỉ

có ở chân sau Ở thú, trừ một số loài tê tê

và ta tu, vẩy chỉ có ở đuôi (thú túi, thú ăn sâu bọ ) hoặc trên các ngón chân (chuột, Myopotamus, Siren) Ngoài ra mỏ sừng là lớp sừng của môi trên và môi dưới của một vài loài thằn lằn cổ, rùa,chim và các loài

thú đơn huyệt dày lên và thay thế cho răng

đã bị tiêu giảm.

Trang 66

2.4 Sừng

Sừng dùng được gọi chung các khối u mọc

tự nhiên ở trên đầu các loài động vật Chỉ

có những sừng hóa kêratin mới được xem

là sản phẩm của biểu bì

2.4.1 Sừng lẻ ở mũi

Đặc và mọc thường xuyên ở tê giác: gồm một hoặc hai sừng và ở cả con đực và con cái Chúng được cấu tạo từ nhiều sợi kêratin giống như những sợi lông nằm

trên các nhú bì dài và bao quanh bởi lớp vỏ kêratin

Trang 67

Các loài tê giác hiện nay chỉ còn 5 loài ( 2 loài ở Châu Phi và 3 loài ở Châu Á) Tê giác hai sừng là các loài tê giác đen, tê giác

“trắng” ở Châu Phi và tê giác Sumatra có hai sừng nhọn trên mũi, sừng trước phát triển hơn sừng sau, dài đến 40 cm và nặng

từ 2-3 kg Tê giác một sừng là các loài tê giác ở Châu Á chỉ có một sừng dài khoảng

40 cm.

Trang 68

2.4.2 Sừng đôi ở trán

Rỗng và mọc thường xuyên ở thú nhai lại như trâu, bò, dê, cừu, sơn dương : dạng một ống hình nón hóa sừng phát triển

quanh một trục xương bì, gắn vào một

khối u của xương trán Chúng tồn tại ngay

cả con đực và con cái nhưng thường phát triển mạnh ở con đực

Ở bò thường chỉ có một đôi sừng ở trán Cá biệt ở loài linh dương Ấn Độ còn có thêm

một đôi sừng nhỏ ở trên mắt.

Trang 69

2.4.3 Sừng đôi ở trán

Đặc, phân nhánh và rụng hàng năm ở hươu, nai Sừng mới mọc lên từ vết sẹo ở

vị trí của sừng cũ

Trang 71

2.5 Vuốt, móng, guốc:

Đó là các tấm sừng phát triển quanh đầu mút các ngón tay và ngón chân của Động vật có màng ối

2.5.1 Vuốt

Vuốt có phần lưng và phần bên hóa

kêratin cứng là tấm sừng nằm trên lớp

biểu bì và có phần gốc ẩn dưới biểu bì

Phần bụng hóa kêratin mềm gọi là đệm

sừng

Trang 72

Vuốt của rùa, cá sấu và chim gia tăng bề

dày nhờ hóa kêratin nhiều hơn của toàn bộ tầng biểu bì Trong khi đó vuốt của Chủy đầu, Có vẩy và thú chỉ gia tăng chiều dài

do hóa kêratin phần dưới.

2.5.2 Móng

Móng gồm có tấm sừng giẹp ở mặt trên, phần đệm không phát triển Móng của linh trưởng giống như vuốt nhưng tấm sừng

mỏng và đệm sừng tiêu giảm ̣(khỉ) hay chỉ còn di tích (người).

Trang 73

2.5.3 Guốc

Guốc của thú móng guốc có cấu trúc khá phức tạp Guốc ngựa là một loại vuốt nhưng tấm sừng cuộn tròn với

một đệm sừng mềm bên dưới.

Trang 76

2.6 Lông

2.6.1 Lông vũ

- Các kiểu lông vũ: Có ba kiểu lông vũ tìm

thấy ở chim trưởng thành là lông bao, lông đệm và lông tơ.

+ Lông bao: (Đó là loại lông nhìn thấy rõ bên ngoài, tạo nên hình dạng và màu sắc của chim Chúng được cấu tạo bởi một ống hình trụ gồm thân lông và gốc lông mang phiến lông.

Trang 77

+ Lông đệm: lông nhỏ rất đơn giản và giống nhau ở tất cả các loài chim Lông đệm nằm dưới lông bao, gồm một túm râu lông mọc trực tiếp trên một thân lông ngắn, không

có ống lông hoặc ống lông rất nhỏ Trên

mỗi râu lông sơ cấp có hai hàng râu lông thứ cấp dạng răng cưa Lông bao rất phát triển ở các loài chim sống ở nước, chúng

tạo thành một lớp áo bao bọc quanh cơ

thể Lông bao cũng thiếu ở các loài Chim chạy.

Trang 78

+ Lông tơ Lông tơ là những lông bị thoái hóa, chỉ có phần ống lông với một ít râu lông sơ cấp ở đầu

mút

- Sự phân bố lông trên cơ thể: Ngoại trừ các

loài chim không bay được như đà điểu, chim cánh cụt, lông chim không phân bố trên toàn bộ cơ thể Một số nơi trên cơ thể không có lông như: nách, háng, cổ và bụng gọi là vùng trụi giúp cho cánh, chân, cổ cử động dễ dàng và giúp cho việc ấp

trứng.

- Sự phát triển của lông:

Lông sinh ra từ một chồi biểu bì mọc trên một nếp bì nhiều mạch máu

Trang 80

2.6.2 Lông mao

Lông mao là những sợi hóa

kêratin đặc trưng của thú Chiều dài của lông mao thay đổi từ vài mm cho đến khoảng 1 m và đường kính của chúng từ 5 micromet đến vài mm.

Trang 81

Lông gồm có thân lông và bao lông

Thân lông gồm có màng vỏ lông ở

ngoài và vỏ lông ở trong Vỏ lông cấu tạo bằng những sợi sừng làm thân

lông chắc và đàn hồi Chính giữa lông

là tuỷ lông xốp gồm những tế bào

hoá sừng không có sợi Phần gốc lông

có nhiều mạch máu nhỏ để nuôi lông.

Ngày đăng: 07/12/2015, 20:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

4. Hình thức thi: viết có sử dụng tài liệu - Bài giảng giải phẫu so sánh động vật có xương sống   PGS TS  ngô đắc chứng
4. Hình thức thi: viết có sử dụng tài liệu (Trang 2)
1.1  1.1  Hình dạng Hình dạng - Bài giảng giải phẫu so sánh động vật có xương sống   PGS TS  ngô đắc chứng
1.1 1.1 Hình dạng Hình dạng (Trang 8)
3.1  3.1  Hình dạng Hình dạng và kích thước và kích thước - Bài giảng giải phẫu so sánh động vật có xương sống   PGS TS  ngô đắc chứng
3.1 3.1 Hình dạng Hình dạng và kích thước và kích thước (Trang 10)
Hình thành não bộ chính thức gồm năm - Bài giảng giải phẫu so sánh động vật có xương sống   PGS TS  ngô đắc chứng
Hình th ành não bộ chính thức gồm năm (Trang 11)
Hình trụ. Chúng có thể tạo nên các ống hay - Bài giảng giải phẫu so sánh động vật có xương sống   PGS TS  ngô đắc chứng
Hình tr ụ. Chúng có thể tạo nên các ống hay (Trang 42)
Hình mạng lưới. Một số cá sụn hiên nay cũng còn 7  hoặc 6 đôi cung mang. Nhưng phần lớn cá sụn và cá - Bài giảng giải phẫu so sánh động vật có xương sống   PGS TS  ngô đắc chứng
Hình m ạng lưới. Một số cá sụn hiên nay cũng còn 7 hoặc 6 đôi cung mang. Nhưng phần lớn cá sụn và cá (Trang 113)
Hình thành theo nhiều dạng rất khác nhau đôi - Bài giảng giải phẫu so sánh động vật có xương sống   PGS TS  ngô đắc chứng
Hình th ành theo nhiều dạng rất khác nhau đôi (Trang 157)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w