1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số điểm tương đồng của phật giáo với truyền thống dân tộc việt nam

21 374 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 305,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, trong đó có những tôn giáo lớn của thế giới như: Phật giáo, Kitô giáo, Hồi Giáo… Các tôn giáo đã có những ảnh hưởng nhất định tới nền văn hóa của dân tộc. Các tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam muốn tồn tại và phát triển được đều phải có những sự biến đổi nhất định để phù hợp với điều kiện lịch sử, hoàn cảnh đời sống, phong tục của người Việt. Phật giáo là tôn giáo đã du nhập vào Việt Nam ngay từ những năm đầu Công nguyên. Trải qua hàng ngàn năm tồn tại trên đất nước Việt Nam, Phật giáo đã có những bước thăng trầm cùng lịch sử dân tộc. Phật giáo Việt Nam đã có những ảnh hưởng to lớn đến tinh thần, tâm lý, đời sống của người Việt Nam. Tinh thần Phật giáo dường như đã gắn liền với truyền thống dân tộc. So với Phật giáo trước khi du nhập và thời gian đầu tồn tại ở Việt Nam thì Phật giáo hiện nay đã có nhiều sự biến đổi. Nó đã trở thành một thứ tôn giáo Phật giáo mang bản sắc của Việt Nam, trở thành Phật giáo Việt Nam. Sự hòa nhịp đồng điệu của Phật giáo với truyền thống dân tộc đã góp phần làm đặc sắc nền văn hóa dân tộc, đồng thời có những đóng góp vào việc phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc khi đất nước bước vào thời kì đổi mới. Đã có rất nhiều công trình khoa học về tôn giáo nói chung và vấn đề Phật giáo Việt Nam nói riêng do những nhà nghiên cứu lịch sử, tôn giáo lâu năm thực hiện, trở thành những tư liệu rất có giá trị với đất nước. Tiểu luận này về đề tài “Tìm hiểu một số điểm tương đồng của Phật giáo với truyền thống dân tộc Việt Nam” được viết với mục đích làm phong phú nguồn tài liệu về tôn giáo, tạo thuận lợi cho sự nghiên cứu sâu hơn trong tương lai. II. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Tiểu luận sẽ khái quát lịch sử Phật giáo Việt Nam từ khi du nhập cho tới ngày nay, tìm hiểu những điểm tương đồng của Đạo Phật với truyền thống của dân tộc Việt Nam để qua đó giúp chúng ta thấy được sự gần gũi của Phật giáo với dân tộc, thấy được sự tác động qua lại của tinh thần Phật giáo với tinh thần dân tộc, tạo nên tôn giáo Phật giáo mang bản sắc dân tộc Việt Nam. III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nội dung tiểu luận nghiên cứu về một vấn đề vừa có tính lịch sử, lại vừa mang giá trị thời đại nên trong quá trình thực hiện đề tài người thực hiện đã có sự kết hợp của nhiều phương pháp khác nhau: phương pháp hệ thống, phương pháp logic lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh… nhằm mang lại hiệu quả nghiên cứu cao nhất. IV. CẤU TRÚC TIỂU LUẬN Tiểu luận gồm 3 phần chính: Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài Nhiệm vụ nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Cấu trúc tiểu luận Phần nội dung: Chương I: Khái quát lịch sử Phật giáo Việt Nam Chương II: Một số điểm tương đồng của Phật giáo với truyền thống dân tộc Việt Nam Phần kết luận: Tổng hợp, kết luận vấn đề đã trình bày. Ngoài ra Tiểu luận còn có danh mục các tài liệu tham khảo. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM I. SỰ DU NHẬP CỦA PHẬT GIÁO VÀO VIỆT NAM Người sáng lập ra Phật giáo là Thái tử Cồ đàm Tấtđạtđa, vào cuối thế kỷ VI TCN. Ông là con vua Souddhodana ở tiểu vương quốc Kapilavaxtu nay thuộc Nêpan gần núi Hymalaya. Sau khi ra đời, Phật giáo đã thể hiện được những giá trị của mình và đã được truyền bá rộng rãi sang các nước khác, trong đó có Việt Nam. Theo các tài liệu phát hiện được cho tới ngày nay, Phật giáo được truyền trực tiếp vào Việt Nam từ Ấn Độ. Sử sách cổ của Trung Hoa có ghi rằng ở thế kỷ thứ II (sau công nguyên) tồn tại một trung tâm Phật giáo là Luy Lâu thuộc quận Giao Chỉ (lãnh thổ Việt Nam thuộc phương Bắc thời gian đó). Cuối thế kỉ thứ II, trung tâm Phật giáo này phát triển rất rực rỡ. Điều đó chứng tỏ Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Trong quá trình buôn bán của các tàu buôn Ấn Độ qua vùng đất Giao Chỉ, các chủ tàu buôn đã mang theo văn hóa của người Ấn Độ như những sinh hoạt tín ngưỡng, lễ nghi. Đồng thời, những tăng sĩ mà các thương nhân đem theo trên thuyền buôn nhằm làm công việc cầu khấn sự phù trợ của đức Phật, là những người đã trực tiếp truyền bá Phật giáo và lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu. Phật giáo rất phù hợp với tín ngưỡng dân gian của người Việt khi đó cho nên dường như nó không gặp trở ngại nào khi du nhập vào Việt Nam, thậm chí nó đã phát triển dễ dàng và nhanh chóng. Thời kỳ này cư dân Giao Chỉ vốn đã có những tín ngưỡng của riêng mình. Họ coi trời là đấng tối cao, biết rõ mọi việc, người hiền kẻ ác dưới trần gian, có thể giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu. Bên cạnh đó, họ cũng thờ các vị thần như Sơn thần, Thủy thần…, họ tin vào nguồn gốc Con rồng cháu tiên của mình… Những tín ngưỡng đó có nhiều điểm phù hợp với Phật giáo nên Phật giáo được tiếp nhận một cách khá thuận lợi. Người Giao Chỉ xưa quan niệm Phật như là một vị Bụt (xuất phát từ “Buddha”), có phép thần thông, có lòng thương người, có thể hiện ra dưới nhiều hình thức để cứu người, giúp đời. Họ cũng bắt đầu có những quan niệm đầu tiên về nghiệp báo, luân hồi, linh hồn bất diệt. Quan niệm về Tăng khi đó chỉ dừng lại ở tăng môn, chưa phải tăng đoàn. Đó là những tu sĩ khoác áo vàng. Đầu cạo trọc, rời bỏ gia đình, của cải, thờ Bụt, đọc kinh Phạn. Người ta cũng quan niệm về từ bi, về công đức. Làm công đức cho kiếp sau được tốt đẹp là dâng thức ăn cho tăng môn, bố thí cho người nghèo khó. Quan niệm tiết dục cũng là ở chỗ bỏ bớt những hưởng thụ cho riêng mình, để cho người khốn khó. Sau đó, các tăng đoàn hình thành, các nghi lễ đã có tổ chức, các tăng sĩ bắt đầu dịch kinh, sáng tác, chùa chiền cũng đã được xây cất. Niết bàn đã là mục đích của người xuất gia. Luân hồi và nghiệp báo vẫn tiếp tục tồn tại trong tín ngưỡng dân gian. Quan niệm vô ngã đã được nói đến trong Tứ thập nhị chương, nhưng chưa phổ biến lắm trong trong dân gian, có lẽ vì bị xem như mâu thuẫn với quan niệm linh hồn bất tử. Tuy vấp phải sự cản trở từ phía phương Bắc đang ra đẩy mạnh việc truyền bá văn hóa Hán nhưng Phật giáo vẫn có những bước phát triển đều đặn. Sang thế kỷ III, Phật giáo vẫn tiếp tục tự phát triển mạnh mẽ, với sự xuất hiện của Tăng Hội (? 280) và tư tưởng thiền của ông. Nhưng Phật giáo từ phương Bắc, cho dù có hình thành những trung tâm muộn hơn, cũng đã bắt đầu có ảnh hưởng trở lại lên Phật giáo Giao Chỉ. Sử sách cũng ghi nhận rằng trong thế kỷ này, các kinh sách về thiền đã được đem từ Lạc Dương xuống, và Tăng Hội cũng là một người đã học tập, lĩnh hội được tư tưởng Phật giáo Đại thừa Trung Hoa. Đại thừa (Mahayana) hoàn toàn không xa rời Phật pháp, nhưng về chủ trương, nó khác với Tiểu thừa (Hinayana) vốn xuất phát từ Phật giáo Nguyên thủy (Thérévada). Đại thừa không cố chấp vào kinh điển, trong khi Tiểu thừa thì phải nhất nhất bám sát vào đó. Đại thừa chủ trương “tự giác” và “giác tha”, tức giác ngộ cho chính mình và cho người khác, trong khi Tiểu thừa chỉ nhắm vào việc giác ngộ cho bản thân. Tiểu thừa chỉ thờ một Phật Thích Ca và bậc tu cao nhất là đến La Hán. Đối với Đại thừa, họ thờ nhiều Phật, và bậc tu cao nhất lên đến Bồ Tát. Có thể nói những quan niệm, chủ trương của Đại thừa một trong những tông phái lớn nhất của Phật giáo (một tông phái lớn khác là Kim Cang thừa) có xuất phát điểm từ Trung Hoa, đã có một sự thâm nhập mạnh mẽ xuống phương Nam kể từ thế kỷ thứ ba trở đi, để lại những dấu ấn phổ biến trong sinh hoạt Phật giáo, cũng như trong tín ngưỡng dân gian. Sự thâm nhập của Phật giáo phương Bắc sau đó còn được thể hiện ở việc các thiền sư lớn, những người sáng lập ra những thiền phái có vị trí lớn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, đều ít nhiều có liên hệ và tiếp thu Phật giáo Trung Hoa. Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam được cho là hoàn tất vào thế kỉ X. Phật giáo Việt Nam đã có những nền tảng vững chắc để phát triển rực rỡ trong giai đoạn sau này. II. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X CHO ĐẾN NGÀY NAY 1. Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI Đây được coi là giai đoạn Phật giáo Việt Nam phát triển mạnh, và rực rỡ nhất là dưới triều đại nhà Lý và nhà Trần. Sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán (năm 938), chấm dứt một ngàn năm Bắc thuộc, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự chủ cho dân tộc Việt Nam, Phật giáo có những điều kiện hết sức thuận lợi để mở rộng, phát triển. Triều đại nhà Đinh, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, vua Đinh Tiên Hoàng lập chức Tăng thống Phật giáo (đứng đầu Giáo hội) và đặt chức quan Tăng lục, điều này chứng tỏ thời bấy giờ đã có nhiều tăng sĩ và nhiều cư sĩ. Chùa chiền được xây dựng nhiều, kinh sách được thỉnh về khá đầy đủ. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi: “Năm thái bình thứ hai (971), bắt đầu quy định cấp bậc văn, võ, tăng đạo... Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng lục ...”. Đại sư Ngô Chân Lưu là tăng tài xuất chúng đã phò tá vua Đinh, khuông phò nước Việt. Sau đó, Đại sư tiếp tục phò tá vua Lê Đại Hành. Đời Lý được đánh dấu bằng sự kiện vua Lý Thái Tổ lên ngôi, dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Người có công lớn trong việc này là thiền sư Vạn Hạnh, ông là vị sư có tài đa văn, quảng kiến, một lòng vì nước. Hình ảnh của quốc sư Vạn Hạnh là hình ảnh tiêu biểu nhất về những gì mà Phật giáo Việt Nam và một tu sĩ Phật Giáo Việt Nam có thể đóng góp cho dân tộc Việt Nam. Ngay sau khi dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, vua Lý Thái Tổ đã sai người đi thỉnh đại tạng kinh từ Trung Quốc, cho xây dựng hàng loạt ngôi chùa tại kinh đô, trong và ngoài thành như chùa Hưng Phước, Thắng Nghiêm; năm sau (1011) lại sai dựng các chùa Vạn Tuế, Tứ đại Thiên Vương, Cẩm Y, Long Hưng Thánh Thọ, và nhiều đài kinh các. Năm 1024 lại dựng chùa Chân Giáo ngay tại nội thành để làm nơi tu tập, tụng kinh bái sám của nhà vua. Đặc biệt, nhà vua cổ xúy hàng thanh niên ưu tú Thăng Long xuất gia với mục đích không chỉ là do mộ Phật, đáp nghĩa các sư, mà động cơ chính là mục tiêu chính trị, văn hóa. Phật giáo Việt Nam tạo nên nét văn hóa Đại Việt độc lập với văn hóa phương Bắc (vốn nặng màu Khổng, Lão), vừa góp phần cô kết lòng dân, nuôi dưỡng tinh thần tự chủ, độc lập, tự cường của dân tộc (giáo lý Phật giáo đề cao tự chủ, trừ bỏ nô lệ). Thời vua Lý Thái Tông (ở ngôi 1028 1054), nhà vua đã phát tâm xây dựng hàng trăm ngôi chùa, trong đó đặc biệt là chùa Diên Hựu (dựng năm 1049) ngay giữa kinh đô Thăng Long (tức chùa Một Cột tại Hà Nội ngày nay) và hình ảnh của nó đã đi vào lòng mọi người trên thế giới, trở thành một biểu tượng cho đất nước Việt Nam. Dưới triều Lý, bên cạnh các dòng thiền ra đời trước đó vẫn tồn tại thì cũng đánh dấu sự ra đời của dòng thiền Thảo đường, với sự xuất hiện của các thế hệ truyền thừa chính thức không phải là giới xuất gia như trước mà đa phần là cư sĩ. Đây là một đặc điểm nổi bật của Phật giáo trong tình hình phát triển mới của dân tộc. Bởi lẽ, Phật giáo nếu thực sự đi vào đời thì không chỉ giới hạn trong giới Tăng sĩ, mà cần phải phổ biến trong giới tại gia cư sĩ. Điểm nổi bật của dòng thiền này là lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, vai trò của giới cư sĩ được khẳng định một cách chính thức, phù hợp với yêu cầu phát triển mới của dân tộc, của việc đưa đạo vào đời, nhằm định hướng cho đời sống tâm linh, văn hóa của dân tộc. Chủ trương này được phát triển mạnh mẽ vào đời Trần, với đỉnh cao là tư tưởng cư trần lạc đạo của nhà vuathiền sư Trần Nhân Tông.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, trong đó có những tôn giáo lớncủa thế giới như: Phật giáo, Kitô giáo, Hồi Giáo… Các tôn giáo đã có nhữngảnh hưởng nhất định tới nền văn hóa của dân tộc Các tôn giáo từ nước ngoài

du nhập vào Việt Nam muốn tồn tại và phát triển được đều phải có những sựbiến đổi nhất định để phù hợp với điều kiện lịch sử, hoàn cảnh đời sống,phong tục của người Việt Phật giáo là tôn giáo đã du nhập vào Việt Namngay từ những năm đầu Công nguyên Trải qua hàng ngàn năm tồn tại trênđất nước Việt Nam, Phật giáo đã có những bước thăng trầm cùng lịch sử dântộc Phật giáo Việt Nam đã có những ảnh hưởng to lớn đến tinh thần, tâm lý,đời sống của người Việt Nam Tinh thần Phật giáo dường như đã gắn liền vớitruyền thống dân tộc So với Phật giáo trước khi du nhập và thời gian đầu tồntại ở Việt Nam thì Phật giáo hiện nay đã có nhiều sự biến đổi Nó đã trở thànhmột thứ tôn giáo Phật giáo mang bản sắc của Việt Nam, trở thành Phật giáoViệt Nam Sự hòa nhịp đồng điệu của Phật giáo với truyền thống dân tộc đãgóp phần làm đặc sắc nền văn hóa dân tộc, đồng thời có những đóng góp vàoviệc phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc khi đất nước bước vào thời kìđổi mới Đã có rất nhiều công trình khoa học về tôn giáo nói chung và vấn đềPhật giáo Việt Nam nói riêng do những nhà nghiên cứu lịch sử, tôn giáo lâunăm thực hiện, trở thành những tư liệu rất có giá trị với đất nước Tiểu luận

này về đề tài “Tìm hiểu một số điểm tương đồng của Phật giáo với truyền thống dân tộc Việt Nam” được viết với mục đích làm phong phú nguồn tài

liệu về tôn giáo, tạo thuận lợi cho sự nghiên cứu sâu hơn trong tương lai

II NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Tiểu luận sẽ khái quát lịch sử Phật giáo Việt Nam từ khi du nhập chotới ngày nay, tìm hiểu những điểm tương đồng của Đạo Phật với truyền thốngcủa dân tộc Việt Nam để qua đó giúp chúng ta thấy được sự gần gũi của Phậtgiáo với dân tộc, thấy được sự tác động qua lại của tinh thần Phật giáo vớitinh thần dân tộc, tạo nên tôn giáo Phật giáo mang bản sắc dân tộc Việt Nam

Trang 2

III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nội dung tiểu luận nghiên cứu về một vấn đề vừa có tính lịch sử, lạivừa mang giá trị thời đại nên trong quá trình thực hiện đề tài người thực hiện

đã có sự kết hợp của nhiều phương pháp khác nhau: phương pháp hệ thống,phương pháp logic - lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh…nhằm mang lại hiệu quả nghiên cứu cao nhất

IV CẤU TRÚC TIỂU LUẬN

Tiểu luận gồm 3 phần chính:

Phần mở đầu: - Lý do chọn đề tài

- Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu

- Cấu trúc tiểu luậnPhần nội dung: - Chương I: Khái quát lịch sử Phật giáo Việt Nam

- Chương II: Một số điểm tương đồng của Phật giáo với truyền thống dân tộc Việt Nam

Phần kết luận: - Tổng hợp, kết luận vấn đề đã trình bày

Ngoài ra Tiểu luận còn có danh mục các tài liệu tham khảo

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM

I SỰ DU NHẬP CỦA PHẬT GIÁO VÀO VIỆT NAM

Người sáng lập ra Phật giáo là Thái tử Cồ đàm Tất-đạt-đa, vào cuối thế

kỷ VI - TCN Ông là con vua Souddhodana ở tiểu vương quốc Kapilavaxtunay thuộc Nêpan gần núi Hymalaya Sau khi ra đời, Phật giáo đã thể hiệnđược những giá trị của mình và đã được truyền bá rộng rãi sang các nướckhác, trong đó có Việt Nam

Theo các tài liệu phát hiện được cho tới ngày nay, Phật giáo đượctruyền trực tiếp vào Việt Nam từ Ấn Độ Sử sách cổ của Trung Hoa có ghirằng ở thế kỷ thứ II (sau công nguyên) tồn tại một trung tâm Phật giáo là LuyLâu thuộc quận Giao Chỉ (lãnh thổ Việt Nam thuộc phương Bắc thời gian đó).Cuối thế kỉ thứ II, trung tâm Phật giáo này phát triển rất rực rỡ Điều đóchứng tỏ Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm Trong quá trình buônbán của các tàu buôn Ấn Độ qua vùng đất Giao Chỉ, các chủ tàu buôn đãmang theo văn hóa của người Ấn Độ như những sinh hoạt tín ngưỡng, lễnghi Đồng thời, những tăng sĩ mà các thương nhân đem theo trên thuyềnbuôn nhằm làm công việc cầu khấn sự phù trợ của đức Phật, là những người

đã trực tiếp truyền bá Phật giáo và lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu Phậtgiáo rất phù hợp với tín ngưỡng dân gian của người Việt khi đó cho nêndường như nó không gặp trở ngại nào khi du nhập vào Việt Nam, thậm chí nó

đã phát triển dễ dàng và nhanh chóng Thời kỳ này cư dân Giao Chỉ vốn đã cónhững tín ngưỡng của riêng mình Họ coi trời là đấng tối cao, biết rõ mọiviệc, người hiền kẻ ác dưới trần gian, có thể giúp người tốt, trừng phạt kẻxấu Bên cạnh đó, họ cũng thờ các vị thần như Sơn thần, Thủy thần…, họ tinvào nguồn gốc Con rồng cháu tiên của mình… Những tín ngưỡng đó có nhiềuđiểm phù hợp với Phật giáo nên Phật giáo được tiếp nhận một cách khá thuậnlợi Người Giao Chỉ xưa quan niệm Phật như là một vị Bụt (xuất phát từ

Trang 4

“Buddha”), có phép thần thông, có lòng thương người, có thể hiện ra dướinhiều hình thức để cứu người, giúp đời Họ cũng bắt đầu có những quan niệmđầu tiên về nghiệp báo, luân hồi, linh hồn bất diệt Quan niệm về Tăng khi đóchỉ dừng lại ở tăng môn, chưa phải tăng đoàn Đó là những tu sĩ khoác áovàng Đầu cạo trọc, rời bỏ gia đình, của cải, thờ Bụt, đọc kinh Phạn Người tacũng quan niệm về từ bi, về công đức Làm công đức cho kiếp sau được tốtđẹp là dâng thức ăn cho tăng môn, bố thí cho người nghèo khó Quan niệmtiết dục cũng là ở chỗ bỏ bớt những hưởng thụ cho riêng mình, để cho ngườikhốn khó

Sau đó, các tăng đoàn hình thành, các nghi lễ đã có tổ chức, các tăng sĩbắt đầu dịch kinh, sáng tác, chùa chiền cũng đã được xây cất Niết bàn đã làmục đích của người xuất gia Luân hồi và nghiệp báo vẫn tiếp tục tồn tạitrong tín ngưỡng dân gian Quan niệm vô ngã đã được nói đến trong Tứ thậpnhị chương, nhưng chưa phổ biến lắm trong trong dân gian, có lẽ vì bị xemnhư mâu thuẫn với quan niệm linh hồn bất tử Tuy vấp phải sự cản trở từ phíaphương Bắc đang ra đẩy mạnh việc truyền bá văn hóa Hán nhưng Phật giáovẫn có những bước phát triển đều đặn

Sang thế kỷ III, Phật giáo vẫn tiếp tục tự phát triển mạnh mẽ, với sựxuất hiện của Tăng Hội (? - 280) và tư tưởng thiền của ông Nhưng Phật giáo

từ phương Bắc, cho dù có hình thành những trung tâm muộn hơn, cũng đã bắtđầu có ảnh hưởng trở lại lên Phật giáo Giao Chỉ Sử sách cũng ghi nhận rằngtrong thế kỷ này, các kinh sách về thiền đã được đem từ Lạc Dương xuống, vàTăng Hội cũng là một người đã học tập, lĩnh hội được tư tưởng Phật giáo Đạithừa Trung Hoa Đại thừa (Mahayana) hoàn toàn không xa rời Phật pháp,nhưng về chủ trương, nó khác với Tiểu thừa (Hinayana) vốn xuất phát từ Phậtgiáo Nguyên thủy (Thérévada) Đại thừa không cố chấp vào kinh điển, trongkhi Tiểu thừa thì phải nhất nhất bám sát vào đó Đại thừa chủ trương “tự giác”

và “giác tha”, tức giác ngộ cho chính mình và cho người khác, trong khi Tiểuthừa chỉ nhắm vào việc giác ngộ cho bản thân Tiểu thừa chỉ thờ một PhậtThích Ca và bậc tu cao nhất là đến La Hán Đối với Đại thừa, họ thờ nhiều

Trang 5

Phật, và bậc tu cao nhất lên đến Bồ Tát Có thể nói những quan niệm, chủtrương của Đại thừa - một trong những tông phái lớn nhất của Phật giáo (mộttông phái lớn khác là Kim Cang thừa) có xuất phát điểm từ Trung Hoa, đã cómột sự thâm nhập mạnh mẽ xuống phương Nam kể từ thế kỷ thứ ba trở đi, đểlại những dấu ấn phổ biến trong sinh hoạt Phật giáo, cũng như trong tínngưỡng dân gian Sự thâm nhập của Phật giáo phương Bắc sau đó còn đượcthể hiện ở việc các thiền sư lớn, những người sáng lập ra những thiền phái có

vị trí lớn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, đều ít nhiều có liên hệ và tiếp thuPhật giáo Trung Hoa

Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam được cho là hoàn tất vào thế kỉ

X Phật giáo Việt Nam đã có những nền tảng vững chắc để phát triển rực rỡtrong giai đoạn sau này

II KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X CHO ĐẾN NGÀY NAY

1 Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI

Đây được coi là giai đoạn Phật giáo Việt Nam phát triển mạnh, và rực

rỡ nhất là dưới triều đại nhà Lý và nhà Trần

Sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán (năm 938), chấm dứt mộtngàn năm Bắc thuộc, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự chủ cho dân tộc Việt Nam,Phật giáo có những điều kiện hết sức thuận lợi để mở rộng, phát triển

Triều đại nhà Đinh, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, vua Đinh TiênHoàng lập chức Tăng thống Phật giáo (đứng đầu Giáo hội) và đặt chức quanTăng lục, điều này chứng tỏ thời bấy giờ đã có nhiều tăng sĩ và nhiều cư sĩ.Chùa chiền được xây dựng nhiều, kinh sách được thỉnh về khá đầy đủ Đại

Việt Sử Ký Toàn Thư ghi: “Năm thái bình thứ hai (971), bắt đầu quy định cấp bậc văn, võ, tăng đạo Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng lục ” Đại sư Ngô Chân Lưu là tăng tài

xuất chúng đã phò tá vua Đinh, khuông phò nước Việt Sau đó, Đại sư tiếptục phò tá vua Lê Đại Hành

Trang 6

Đời Lý được đánh dấu bằng sự kiện vua Lý Thái Tổ lên ngôi, dời đô từHoa Lư về Thăng Long Người có công lớn trong việc này là thiền sư VạnHạnh, ông là vị sư có tài đa văn, quảng kiến, một lòng vì nước Hình ảnh củaquốc sư Vạn Hạnh là hình ảnh tiêu biểu nhất về những gì mà Phật giáo ViệtNam và một tu sĩ Phật Giáo Việt Nam có thể đóng góp cho dân tộc Việt Nam.Ngay sau khi dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, vua Lý Thái Tổ đã sai người

đi thỉnh đại tạng kinh từ Trung Quốc, cho xây dựng hàng loạt ngôi chùa tạikinh đô, trong và ngoài thành như chùa Hưng Phước, Thắng Nghiêm; nămsau (1011) lại sai dựng các chùa Vạn Tuế, Tứ đại Thiên Vương, Cẩm Y, LongHưng Thánh Thọ, và nhiều đài kinh các Năm 1024 lại dựng chùa Chân Giáongay tại nội thành để làm nơi tu tập, tụng kinh bái sám của nhà vua Đặc biệt,nhà vua cổ xúy hàng thanh niên ưu tú Thăng Long xuất gia với mục đíchkhông chỉ là do mộ Phật, đáp nghĩa các sư, mà động cơ chính là mục tiêuchính trị, văn hóa Phật giáo Việt Nam tạo nên nét văn hóa Đại Việt độc lậpvới văn hóa phương Bắc (vốn nặng màu Khổng, Lão), vừa góp phần cô kếtlòng dân, nuôi dưỡng tinh thần tự chủ, độc lập, tự cường của dân tộc (giáo lýPhật giáo đề cao tự chủ, trừ bỏ nô lệ) Thời vua Lý Thái Tông (ở ngôi 1028 -1054), nhà vua đã phát tâm xây dựng hàng trăm ngôi chùa, trong đó đặc biệt

là chùa Diên Hựu (dựng năm 1049) ngay giữa kinh đô Thăng Long (tức chùaMột Cột tại Hà Nội ngày nay) và hình ảnh của nó đã đi vào lòng mọi ngườitrên thế giới, trở thành một biểu tượng cho đất nước Việt Nam

Dưới triều Lý, bên cạnh các dòng thiền ra đời trước đó vẫn tồn tại thì cũngđánh dấu sự ra đời của dòng thiền Thảo đường, với sự xuất hiện của các thế

hệ truyền thừa chính thức không phải là giới xuất gia như trước mà đa phần là

cư sĩ Đây là một đặc điểm nổi bật của Phật giáo trong tình hình phát triểnmới của dân tộc

Bởi lẽ, Phật giáo nếu thực sự đi vào đời thì không chỉ giới hạn tronggiới Tăng sĩ, mà cần phải phổ biến trong giới tại gia cư sĩ Điểm nổi bật củadòng thiền này là lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, vai trò củagiới cư sĩ được khẳng định một cách chính thức, phù hợp với yêu cầu phát

Trang 7

triển mới của dân tộc, của việc đưa đạo vào đời, nhằm định hướng cho đờisống tâm linh, văn hóa của dân tộc Chủ trương này được phát triển mạnh mẽvào đời Trần, với đỉnh cao là tư tưởng "cư trần lạc đạo" của nhà vua-thiền sưTrần Nhân Tông

Năm 1226, Trần Cảnh (1218 - 1277) được đưa lên làm vua lấy hiệu làThái Tông, mở ra một triều đại mới là nhà Trần Tuy nhiên, sự thay đổi đókhông làm ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của dân tộc, mà về cơ bản,đặc biệt là Phật giáo, vẫn tiếp tục phát triển với nền tảng của thời đại trướccho đến thời vua Trần Nhân Tông mới thực sự chuyển biến một cách rõ rệt.Vua Trần Nhân Tông là người lập ra dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử Tư tưởngcủa dòng thiền Trúc Lâm là phát triển đỉnh cao của quan niệm "Tức tâm tứcPhật" Những đặc điểm của phương pháp tu hành ở dòng Thiền này, nó khôngthuần túy pháp môn Thiền định mà bao gồm cả yếu tố Tịnh độ Theo tư tưởngcủa Trúc Lâm đầu đà thì những pháp môn Tịnh độ cũng chính là Thiền Đây

có thể nói là đặc điểm của Thiền tông Việt Nam Phật giáo ở đời Trần nóichung và Phật giáo mà vua Trần Nhân Tông thiết định nói riêng là một nềnPhật giáo nhập thế, đưa Phật pháp hòa vào cùng xã hội và làm một chuẩnmực đạo đức, định hướng cho đời sống của nhân dân Có thể nói, triều đạinhà Trần là một triều đại Phật giáo, với nhiều chiến công hiển hách, ba lầnđánh tan quân xâm lược Nguyên - Mông, và đạt được những thành tựu rực rỡtrong công cuộc xây dựng đất nước

Từ cuối thế kỉ XIV nhà Trần suy yếu Năm 1400, Hồ Quý Ly đã lật đổnhà Trần lập ra nhà Hồ Tuy nhiên, chính quyền của Hồ Quý Ly không đượclòng dân, không dám dựa vào dân, nên đã thất bại trước sự xâm lược của nhàMinh, để đất nước ta rơi vào một giai đoạn nước mất nhà tan Giặc Minh đãtiêu hủy những di sản văn hóa của dân tộc ta, thay vào đó, chúng áp đặt vănhóa Hán Phật giáo cũng phải đối mặt với thời kì đầy khó khăn

Năm 1428 cuộc kháng chiến chống Minh cứu nước do Lê Lợi lãnh đạothành công, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, mở ra triều đại nhà Hậu Lê Phật giáovẫn là một hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống của dân tộc Với sự lãnh đạo

Trang 8

của các vị vua Lê và các danh thần như Lê Sát, Trần Nguyên Hãn, Lê Ngân ,Phật giáo vẫn tiếp tục được phát triển Thiền sư Lê Mạnh Thát đã nhận địnhtổng quát: "Thời Lê là thời đại Phật giáo Việt Nam phát triển rầm rộ, do đốikháng lại với nền Phật giáo mà nhà Minh đưa sang" Phật giáo ở giai đoạnnày đã kế thừa các nền tảng hình thành trước, tiếp tục phát triển, nổi bật vớicác gương mặt Phật tử, danh Tăng như nhà toán học Phật tử Lương Thế Vinh;nhà chính trị - quân sự thiên tài Nguyễn Trãi (1380 - 1442), người đã lấy tưtưởng Phật giáo để xây dựng quan niệm nhân nghĩa trong tư tưởng quân sựcủa mình; ngài Viên Thái (1400 - 1460), người đầu tiên dịch kinh Phật ra chữNôm hiện biết được; Pháp Tính (1470 -1550), người viết Ngọc âm chỉ namgiải nghĩa, Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh… Về mặt lễ hội văn hóa tâmlinh và xây dựng chùa chiền, ở thời Lê vẫn diễn ra tuy không nhiều như trướcnhưng vẫn khá mạnh mẽ Đạo Phật đã thâm nhập và hòa quyện với văn hóadân tộc, đã trở nên một, bất khả phân ly Chùa chiền vẫn là nơi sinh hoạt tínngưỡng và văn hóa của các tầng lớp nhân dân

Có thể nói, dưới các triều đại Lý, Trần, Hậu Lê, Phật giáo không chỉgiải quyết được cuộc khủng hoảng tư tưởng của tự thân mà hơn thế nữa, đãthực sự hòa nhập với dân tộc, trở thành dòng tư tưởng chủ lưu trong đời sốngvăn hóa, chính trị của đất nước Phật giáo đã bổ sung làm giàu và làm mạnh

mẽ thêm cho bản lĩnh Việt Nam quật cường

Đến thế kỉ XVI, nhà Lê mục nát, đất nước rơi vào thời kỳ rối ren, phânchia thành Đàng Trong và Đàng ngoài Phật giáo Việt Nam cũng bước sanggiai đoạn mới

2 Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX

Thời gian này, các dòng thiền từ Trung Quốc được truyền bá vào nước

ta và có những ảnh hưởng nhất định Thế kỉ XVII, dòng thiền Tào động - mộtdòng thiền xuất phát từ Trung Quốc, có xu hướng sử dụng dịch lý - đượctruyền đến nước ta, ảnh hưởng trên cả Đàng trong và Đàng ngoài Ở Đàngngoài, cuối thế kỷ XVII và trong thế kỷ XVIII, dòng thiền Tào động đã có

Trang 9

những ảnh hưởng to lớn, và nó còn ảnh hưởng đến tận ngày nay, nhiều chùa ở

Hà Nội như Trấn Quốc, Hàm Long và Hòe Nhai đến nay vẫn xem là truyềnthừa của dòng thiền này Đối với Đàng trong, dòng thiền này không thật pháttriển Tuy nhiên, đối với Dòng thiền Lâm Tế thì ngược lại, dòng thiền này kháphát triển ở Đàng Trong

Bên cạnh đó, dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử phát triển mạnh mẽ ở ĐàngNgoài

Từ thế kỷ thứ XVIII, xã hội nước ta rơi vào cuộc khủng hoảng ý thức

hệ trầm trọng Trong bối cảnh đó, Phật giáo đã có nhiều nỗ lực nhằm tìm cáchxây dựng một hệ ý thức mới phù hợp với yêu cầu cả thời đại Tuy nhiên, saukhi nhà Tây Sơn sụp đổ, Gia Long lên ngôi (1802), ông đã chủ trương phụchồi hệ ý thức Nho giáo cực kỳ phản động, đưa đất nước đến chỗ bế tắt, dântộc ta lại rơi vào đại họa ngoại xâm Năm 1858, thực dân Pháp chính thức nổsúng xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn hèn nhát đã sớm đầu hàngnhưng khắp nơi nhân dân tự dấy lên khởi nghĩa, và trong đó có những phảnứng của giới Phật giáo, điển hình là các cuộc khởi nghĩa chống Pháp cuối thế

kỷ XIX và đầu thế kỷ XX như các vị sư Nguyễn Văn Quý, Trần Văn Thành,Vương Quốc Chính, Cao Văn Long, v.v

3 Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ XX đến nay

Những năm đầu thế kỉ XX, Phật giáo Việt Nam chuyển sang giai đoạnchấn hưng và có sự khởi sắc Một bộ phận Phật giáo duy trì hoạt động có tổchức, một số cơ sở đào tạo tăng tài lần lượt ra đời và Phật giáo đã tạo ra đượcnhững phong trào lớn cho lịch sử Phật giáo và lịch sử dân tộc Thời kì đấtnước bị thực dân Pháp xâm lược, Phật giáo bị chèn ép vì chính quyền thựcdân dựa vào Công giáo để xây dựng bộ máy cai trị Chính vì vậy nhiều phongtrào Phật giáo đã nổ ra để chống sự kỳ thị và đàn áp Phật giáo, phát độngphong trào yêu nước chống đế quốc xâm lược Những phong trào đã làm cho

có sự khác biệt nhất định giữa Phật giáo ở hai miền Nam - Bắc Nếu như Phậtgiáo miền Bắc là khá thuần nhất thì bộ mặt Phật giáo miền Nam lại rất đa

Trang 10

dạng, không chỉ về hệ phái kiến trúc, về cách bố cục trong chùa, về giáo lý

mà còn cả trong sự hòa quyện với các tôn giáo khác, thậm chí là yếu tố tạothành các tôn giáo mới Phật giáo đã góp phần vào thắng lợi trong hai cuộckháng chiến chống Pháp và Mỹ của cả dân tộc

Sau khi đất nước thống nhất, năm 1981 các tổ chức hệ phái Phật giáotrong cả nước đã tổ chức đại hội, thống nhất làm một và lấy tên: “Giáo hộiPhật giáo Việt Nam” Đại hội đã thông qua hiến chương, chương trình hànhđộng và bầu ra cơ quan lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam bao gồm haiHội đồng ở Trung ương: Hội đồng chứng minh và Hội đồng trị sự ở các tỉnh,thành phố có các Ban trị sự, dưới nữa có các Ban đại diện Phật giáo Quận,Huyện, Thị

Theo thống kê, hiện nay cả nước có 14.303 ngôi tự viện, trong đó gồm13.312 tự viện Bắc tông, 469 tự viện Nam tông nguyên thủy và Khmer, 142tịnh xá khất sĩ, 95 tịnh thất và 185 niệm Phật đường Về tăng ni thì có 26.268

vị, có 3 Học viện Phật giáo, một trường Cao đẳng chuyên khoa Phật học, 30trường cơ bản Phật học, 1 trường đào tạo đội ngũ giảng viên hoằng pháp.Ngoài ra, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thành lập Viện nghiên cứu Phật họctại thành phố Hồ Chí Minh và Phân viện nghiên cứu tại Hà Nội, thành lậpHội đồng phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh Việt Nam

Đa số chức sắc tín đồ Phật giáo tiếp tục phát huy truyền thống yêunước, gắn bó với dân tộc, thực hiện chủ trương chính sách nhà nước theophương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” Gần đây, Phật giáobắt đầu chú ý đến việc nâng cao hiểu biết cho tăng ni và tín đồ bằng các lớphọc, các buổi thuyết giảng, in ấn các loại sách, tham gia vào các công tác xãhội từ thiện… và vào cả các công việc của nhà nước, chính quyền địa phươngvới tư cách là đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, ủy viên Hội đồng nhândân các cấp Phật giáo cũng góp phần tích cực vào việc giữ gìn truyền thốngvăn hóa, đạo đức của dân tộc và sự lành mạnh của xã hội

Ngày đăng: 07/12/2015, 18:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w