PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN I.1 Khái niệm lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản LSCB là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà N ước Việt N am N HN N VN trong ngắn hạn.. LSC
Trang 1TRƯỜN G ĐẠ I HỌC KINH TẾ TH ÀNH PH Ố H Ồ CH Í M IN H
KH OA ĐÀ O TẠ O SAU Đ ẠI HỌ C
oOo
Đề tài:
Bàn về công cụ lãi suất cơ bản
ở Việt Nam hiện nay
GVHD : TS TRƯƠ NG Q UANG THÔ NG SVTH: Nguyễn Thị Tú Anh
Nguyễn N gọc Yến Đ iệp Trần Thị H ợi
Lê Duy Khánh Lâm Thục Linh Lương Thị Quỳnh Nga Đặng Thị Mỹ Ngân Nguyễn H oàng O anh Đào Thị Bảo Phương Trần Thị H oài Phương
Lê Thụy Minh Phương Dương Thị Kim Thanh Nguyễn Thị Phương Thủy
Đỗ Thị Thu Q uỳnh
Lớp: Ngân hàng Đ êm 2 – K18
Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 04 Năm 2010
Trang 2MỤC LỤC
Bàn về công cụ lãi suất cơ bản ở Việt Nam hiện nay
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.1 Khái niệm lãi suất cơ bản
I.2 Vai trò của lãi suất cơ bản
PHẦN II: THỰC TRẠNG LÃI S UẤT C Ơ BẢN Ở VN HIỆN N AY
II.1 Một số quan điểm về lãi suất cơ bản ở VN
II.2 Thực trạng lãi suất cơ bản VN hiện nay
II.2.1 G iai đoạn 2000 – 2007
II.2.2 G iai đoạn 2008 – nay
II.3.Quá trình điều chỉnh lãi suất cơ bản của NH TW
II.3.1 N guyên nhân điều chỉnh
II.3.2 Tác động của việc điều chỉnh
PHẦN III: KẾT LUẬN
III.1 Thành tựu và những vấn đề còn tồn tại trong quá trình điều hành lãi suất cơ bản III.2 Đ ịnh hướng điều hành lãi suất cơ bản ở VN hiện nay
Trang 3PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.1 Khái niệm lãi suất cơ bản
Lãi suất cơ bản (LSCB) là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà N ước Việt N am (N HN N VN ) trong ngắn hạn Theo điều 9 khoản 12 của luật NH NN
VN , LSCB được định nghĩa như sau: “ LSCB là lãi suất do NHN N công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng (TCTD ) ấn định lãi suất kinh doanh”
Theo Luật NHNN, LSCB chỉ áp dụng cho Đ ồng Việt nam do NH NN công bố, làm cơ
sở cho các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh LSCB được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của N HN N, lãi suất huy động
đầu vào của TCTD và xu hướng biến động cung-cầu vốn.Theo Luật D ân sự, các TCTD không được cho vay với lãi suất cao gấp 1,5 lần LSCB Tuy được nhắc đến trong Luật
NH NN và luật này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 1998, song LSCB chỉ được công bố
lần đầu vào ngày 30 tháng 5 năm 2000 Trong lần đầu được công bố, LSCB ở mức 7,2%/năm Vào thời điểm tháng 6 năm 2008, LSCB là 14%/năm Điều này có nghĩa là các TCTD có thể quyết định mức lãi suất cho vay của mình cao tới 21%/năm Hiện nay, mức LSCB do NH NN công bố là 8%/năm
Các công cụ điều hành chính sách tiền tệ của các N gân hàng trung ương (NHTW) nước ngoài tương tự như lãi suất cơ bản của NHN N VN là Fed Funds Rate của H oa Kỳ, London Interbank Offered Rate (LIBO R) Anh, Tokyo Inter-Bank O ffered Rate (TIBOR) của Nhật Bản, Euro Interbank Offered Rate của Liên minh Châu Âu Các lãi suất trên đôi khi cũng được dịch sang tiếng Việt là LSCB
LSCB do NH NN bao hàm hai loại:
- Lãi suất huy động do chính phủ mà ở Việt nam được thực hiện thông qua việc phát hành các trái phiếu kho bạc các N gân hàng thương mại (N HTM) sẽ nhận được tín hiệu từ phía N HN N về mức lãi suất cho vay tối thiểu có thể đạt được với mức rủi ro bằng không Nếu N HN N muốn thu hẹp lượng cung tiền của các N HTM ra nền kinh tế thì sẽ tăng mức lãi suất huy động và ngược lại
- Lãi suất cho vay đối với các NH TM hay nói cách khác đi chính là lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn nhằm tác động đến đầu vào của các N HTM
Trang 4I.2 Vai trò của lãi suất cơ bản
LSCB của N HTW là một công cụ quan trọng, nếu không nói là chủ yếu, của chính sách tiền tệ quốc gia, nhắm đến những mục tiêu kinh tế vĩ mô như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, duy trì một tình trạng thăng bằng toàn dụng
LSCB là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của N HN N trong ngắn hạn: lãi suất này được quyết định bởi NH TW để tăng hoặc giảm lãi suất hiện hành cho các khoản vay ngắn hạn D ù các ngân hàng không nhất thiết thu lãi đúng như mức công bố, thường thì thu cao hơn và đôi khi thấp hơn, LSCB được xem là cơ sở để các mức lãi khác tham khảo áp dụng hoặc dựa vào đó để điều chỉnh
LSCB được xem là lãi suất chính, bởi vì các khoản vay dành cho các khách hàng nhỏ hơn cũng sẽ phải dựa theo lãi suất này Ví dụ, một công ty Blue Chip có thể vay tại lãi suất 5%, nhưng một công ty nhỏ hơn có thể phải vay với lãi suất tăng thêm 2, tức là 7% tại cùng ngân hàng đó N hiều khoản vay tiêu dùng như cho mua nhà, mua ô tô, thế chấp, và khoản vay tín dụng phụ thuộc vào lãi suất cơ bản
Vai trò và tác dụng của LSCB trong 13 năm Luật NHNN có hiệu lực (1997 – 2009)
Luật N HNN được Quốc hội thông qua tháng 10/1997 đến tháng 10/1998 có hiệu lực; tháng 8/2000, NH NN hoàn tất việc xây dựng cơ chế và việc công bố LSCB có hiệu lực Trong giai đoạn từ năm 2000-2007, vai trò của LSCB rất mờ nhạt, thậm chí có những thời gian LSCB còn “hơi bị” lạc lõng Qua đồ thị theo dõi diễn biến của LSCB và lãi suất kinh doanh của các TCTD, nhiều khi hai đồ thị này diễn biến trái chiều nhau như khi lãi suất kinh doanh của các TCTD có xu hướng tăng thì LSCB lại có xu hướng giảm Vì vậy, nhiều lúc chúng tôi cảm thấy LSCB không có tác dụng gì tới thị trường, kể cả vai trò định hướng
Đến năm 2008, do diễn biến của nền kinh tế thế giới và trong nước có nhiều điều bất
ổn, lạm phát gia tăng hai con số với tốc độ cao, kinh tế bắt đầu suy giảm, thị trường tiền tệ mất ổn định Lúc đó, NHN N mới sử dụng LSCB và quy định của Luật Dân sự để ổn định thị trường Nhờ có thay đổi cơ chế điều hành LSCB mà thị trường tiền tệ đã ổn định trở lại
Tuy nhiên, nó có những mặt tiêu cực, bởi dù LSCB có tác dụng trực tiếp với các TCTD, nhưng vẫn không phải là lãi suất thực, việc hình thành LSCB vẫn trên cơ sở thiếu khoa học Và cũng nên hiểu rằng LSCB và cơ chế trần cho vay không vượt quá 150% LSCB chỉ phù hợp với lúc thị trường không ổn định Đ iều nguy hiểm hơn, ở Việt Nam lại quay trở lại cơ chế trần lãi suất, cơ chế hành chính trong điều hành lãi suất mà ta đã mất rất nhiều công sức để điều chỉnh thị trường bỏ dần cơ chế hành chính sang cơ chế lãi suất
Trang 5thị trường Do đó, còn duy trì cơ chế này, là đã lấy đi tính thị trường của lãi suất trên thị trường tiền tệ, là trái với các chủ trương của Bộ Chính trị và Chính phủ, trái với chiến lược phát triển ngành ngân hàng đến năm 2010 đã được Bộ Chính trị và Thủ tướng thông qua Thực tế, hiện nay với cơ chế trần lãi suất, cho dù LSCB tăng hay giảm thường xuyên thì cũng là cái áo quá chật và quá cứng cho thị trường, mà thị trường thì yêu cầu có một cơ chế linh hoạt, mềm dẻo, theo quan hệ cung cầu
PHẦN II: THỰC TRẠNG LÃI SUẤT CƠ BẢN Ở VN HIỆN NAY
II.1 Một số quan điểm về lãi suất cơ bản ở VN
II.1.1 Quan điểm 1: Nên bãi bỏ lãi suất cơ bản
NH NN nên thay việc công bố lãi suất cơ bản hiện nay bằng việc công bố lãi suất mục tiêu và sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để bảo vệ mục tiêu đã được công bố Mục đích là nhằm hạn chế cho vay nặng lãi của công cụ lãi suất cơ bản, nên được thay bằng lãi suất cho vay trung bình của các N HTM lớn được NH NN hoặc Hiệp hội ngân hàng công bố hằng ngày (Đ ịnh hướng cơ chế lãi suất cho Việt N am-TS H oàng Công Gia K hánh, khoa Kinh Tế - ĐH QG Tp HCM)
Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright đề xuất, cần thay đổi định nghĩa về LSCB, để công cụ này phát huy hiệu quả cao hơn trong điều hành chính sách tiền tệ Bất cứ một quy định pháp lý nào cũng vậy, chứ không riêng gì quy định về LSCB, khi có quá nhiều người vượt rào, thì phải xem xét quy định đó có hợp lý trên thực tiễn không, để có hướng điều chỉnh H iện LSCB và lãi suất trần không có mối tương quan và không có tính thị trường, bởi vậy gây nên những hệ luỵ nêu trên D o đó, điều quan trọng nhất là cần thay đổi định nghĩa về LSCB Theo đó, LSCB nên được hiểu là lãi suất trung bình cho vay tốt nhất của các N HTM lớn tại VN Với cách làm này sẽ tạo ra khoảng không hợp lý giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay, để tạo thuận lợi cho các NH TM hoạt động Nếu khống chế cứng trần lãi suất như hiện nay sẽ tác động không lành mạnh đến thị trường tiền tệ
Thực tế, hiện nay với cơ chế trần lãi suất, cho dù LSCB tăng hay giảm thường xuyên thì cũng là cái áo quá chật và quá cứng cho thị trường, mà thị trường thì yêu cầu có một cơ chế linh hoạt, mềm dẻo, theo quan hệ cung cầu Vì vậy, khi LSCB không có ý nghĩa kinh
tế, là một lãi suất không có thực, không có tác động mang tính thị trường mà mang nặng tính hành chính thì nên bỏ và thay vào đó là lãi suất thực, lãi suất mà NH NN sử dụng thực
Trang 6sự trong mối quan hệ với các TCTD , để thông qua đó điều tiết thị trường, nhất là trong điều kiện nền kinh tế VN hiện đã tiến sâu theo cơ chế thị trường, thị trường tiền tệ đã phát triển, hệ thống TCTD đã phát triển, các công cụ của thị trường cũng phát triển, hoàn cảnh
và tình thế không còn giống thời kỳ năm 1997 nữa D o vậy, không thể duy trì khái niệm LSCB như năm 1997 đã sử dụng mà nên trả lại vị trí cho lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu như thông lệ các nước đang làm Do vậy, quy định như Điều 15 trong dự thảo Luật là hợp lý, đúng với nguyên lý và nguyên tắc hoạt động của NHN N (Quan điểm của Tiến sĩ Dương Thu H ương, Tổng thư ký Hiệp hội N gân hàng VN)
Ngay cả trong quá trình thảo luận dự án Luật NH NN (sửa đổi) gần đây, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cũng nói: “ LSCB của chúng ta hiện nay là không có thực, vì lãi suất này không có mối quan hệ vay mượn nào giữa ngân hàng trung ương với tổ chức tín dụng”
PG S-TS Trần H oàng N gân, Phó hiệu trưởng Trường Đại học K inh tế TPHCM , cho biết NHN N có thể can thiệp vào lãi suất cho vay của các ngân hàng không chỉ bằng công
cụ LSCB mà có thể bằng lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, hoặc có thể bằng dự trữ ngoại hối
Ông Lê X uân N ghĩa, Phó chủ tịch Ủ y ban giám sát tài chính quốc gia, cho rằng một quy định về lãi suất cho vay không được vượt quá 150% LSCB đã không còn phù hợp với nền kinh tế hiện nay Và theo ông, trong năm nay có thể việc bỏ LSCB sẽ được Q uốc hội chấp thuận để lãi suất được tự do điều chỉnh bởi thị trường
II.1.2 Quan điểm 2: Không nên bãi bỏ lãi suất cơ bản
Ý kiến bà Lê Thị N ga – Phó Chủ tịch UB Pháp luật Quốc Hội cho rằng nếu bỏ quy định về LSCB, N hà nước sẽ mất vai trò định hướng, thị trường lãi suất có thể dẫn đến cuộc chay đua lãi suất huy động và lãi suất cho vay, gây rối loạn thị trường, đẩy người dân
và doanh nghiệp phải vay với lãi suất cao, góp phần làm mất giá đồng tiền Việt Nam Theo Ủy viên Ủ y ban Kinh tế N guyễn Đức K iên, đề xuất bỏ quy định về LSCB của
NH NN không chỉ vướng với Bộ luật D ân sự, Bộ luật H ình sự mà còn vướng ngay với thực
tế của 70% dân số nước ta đang sống tại khu vực nông thôn Một thành viên khác của Ủy ban Kinh tế cho rằng: nếu thực hiện lãi suất thỏa thuận sẽ dẫn đến tình trạng, cứ không huy động được vốn thì các NH TM lại đẩy lãi suất lên Với quy định này, bảo đảm được lợi ích của các NHTM hiện nay nhưng đổi lại, cả nền kinh tế sẽ phải gánh chịu hậu quả
Trang 7UBTVQH đã kiên quyết không chấp thuận đề nghị bãi bỏ quy định về LSCB trong các lần trình trước Kỳ họp thứ sáu về Dự án Luật N gân hàng vì không thể chấp nhận tư
duy lập pháp theo kiểu gọt chân cho vừa giày
II.2 Thực trạng lãi suất cơ bản VN hiện nay
II.2.1 Giai đoạn 2000 – 2007
Trước năm 2000, N HN N chưa sử dụng khái niệm LSCB thay vào đó là sử dụng chính sách lãi suất cao nhất (lãi suất trần) Chẳng hạn đầu năm NHN N ra quyết định số
381/QĐ-NH 1 ngày 28/12/1995 có hiệu lực từ 01/01/1996 quy định cho vay ngắn hạn 1.75%/tháng, cho vay trung dài hạn 1.7%/tháng, cho vay nông thôn: 2%/tháng (đối với khối Ngân hàng
TM CP) còn quỹ tín dụng Nhân D ân thì 2.5%/tháng, chệnh lệch bình quân của tiền gởi và cho vay là 0.35%/tháng Đ ến gần cuối năm 1996 có quyết định số 266/QĐ-NH 1 ngày 27/09/1996 có hiệu lực từ 01/10/1996, cho vay ngắn hạn 1.25%/tháng, cho vay trung dài hạn 1.35%/tháng, cho vay nông thôn: 1.5%/tháng còn quỹ tín dụng Nhân Dân là 1.8%/tháng., nợ quá hạn 150% chệnh lệch bình quân của tiền gởi và cho vay là 0.35%/tháng Đây là giai đoạn đầu xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á Bên cạnh đó, thời gian này trong Bộ luật dân sự năm 1995 tại khoản 1 điều 473 qui định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 50% của lãi suất cao nhất” Năm 2000, LSCB do nhnn công bố là 9%/năm, NH NN đưa ra một cơ chế lãi suất mới trong đó lãi suất cho vay nội tệ của ngân hàng được điều chỉnh theo LSCB do N HN N công
bố Tuy nhiên, các ngân hàng không được tính lãi suất cho vay vượt quá LSCB + 0,3%/tháng đối với vốn ngắn hạn và + 0,5%/tháng đối với vốn trung, dài hạn
Cơ chế giới hạn biên độ lãi suất so với LSCB về bản chất không khác gì so với trần lãi suất áp dụng trước đây Tuy nhiên, trên thực tế mức trần (LSCB + biên độ) được định ở mức cao hơn trần lãi suất theo cơ chế cũ rất nhiều H ình 1 cho thấy lãi suất cho vay của ngân hàng luôn thấp hơn giới hạn biên độ cho phép Trước thời điểm áp dụng LSCB, lãi suất cho vay bình quân của 4 Ngân hàng quốc doanh đã kịch trần (0,85%/tháng)
Trang 8Biểu đồ biến động lãi suất cơ bản
từ năm 2000 đến 01/10/2009
9
7.8
7.5 7.8
8.75
13 12 11 10 8.5
7 7
8.25 8.25
7.44 7.2 7.5
14 14
12 12
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
1 0
1 1
1 2
1 3
1 4
1 5
01 /
03/2
004
01/
01
005
01/
02/2
005 1/1 2/20 0
01/
01/2
0 06
01 /
01/2
007
01 /
01/2
008
01/
05/2
008
19/
05
008
01/
06/2
008
11/
06/2
0 08
01 /
10/2
008
21/
10/2
008
05 /
11/2
008
21/
11/2
008
05/
12/2
0 08
22 /
12/2
008
01/
02/2
009
01 /
10/2
009
0
2
4
6
8
10
12
14
16
06/98 12/98 06/99 12/99 06/00 12/00 06/01 12/01 06/02
Áp dụng lãi
s uất cõ bản
Tự do hóa lãi suất USD
Tự do hóa lãi suất VND
Lãi suất tiền gửi VND (3 tháng)
Lãi suất c ho vay ngắn hạn VND
Trần lãi suất cho
v ay ngắn hạn
Lãi s uất cõ bản cộng biên ðộ
Lãi suất cõ bản
Nguồn: Tính toán từ cơ sở dữ liệu tài chính quốc tế IFS của IMF
Năm 2001 LSCB do N HN N công bố là 7.8%/năm; và trần lãi suất cho vay ngoại tệ được xóa bỏ, từ đó cho phép những người vay ngoại tệ trong nước có thể thương lượng lãi suất với các ngân hàng nội địa và ngân hàng nước ngoài
Năm 2002 LSCB do N HN N công bố là 7.2%/năm, lãi suất được tự do hóa hoàn toàn với việc các ngân hàng được phép xác định lãi suất cho vay trên cơ sở tự thẩm định và thương lượng với khách hàng
Nguồn số liệu tổng hợp lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Trang 9Từ tháng 12/2005 đến cuối 2007, LSCB giữ ở mức 8,25%/năm Theo thống kê thì lượng cung tiền M2 tăng trên dưới 30% mỗi năm
Cuối tháng 5/2007, NH NN ban hành Chỉ thị số 03 buộc các ngân hàng phải giảm dư
nợ và chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán xuống dưới mức 3% Thời điểm chậm nhất là ngày 31/12/2007 Trong 6 tháng đầu năm 2007, N HN N rút ra khỏi lưu thông 90 nghìn tỉ tỷ đồng, so với 112 nghìn tỷ đồng được “bơm” ra mua USD
1/6/2007, NH NN đã điều chỉnh tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc lên gấp đôi đối với cả nội tệ
và ngoại tệ: từ 5% lên 10% đối với tiền gửi VN D kỳ hạn dưới 12 tháng và từ 2% lên 4% đối với kỳ hạn từ 12 tháng đến 24 tháng, tăng từ 8% lên 10% đối với tiền gửi ngoại tệ kỳ hạn dưới 12 tháng và từ 2% lên 4% đối với kỳ hạn từ 12 tháng đến dưới 24 tháng
Tháng 11/2007, cầu VN D đẩy lãi suất trên thị trường liên ngân hàng vọt lên 17%
NH NN bơm thêm hơn 10.000 tỷ đồng vào thị trường, lãi suất dần hạ về 8% Lạm phát tăng vọt vào cuối năm
II.2.2 Giai đoạn 2008 – nay
Công cụ LSCB của NH NN đã p hát huy hiệu quả trong năm 2008 và 6 tháng đầu năm
2009 ở bối cảnh kinh tế vĩ mô có nhiều biến động, LSCB đã được điều chỉnh tăng/giảm nhiều lần, góp phần kiềm chế lạm phát rồi chống suy giảm kinh tế Cụ thể:
- 30/1/2008, N HNN thông báo điều chỉnh các lãi suất: LSCB từ 8,25%/năm tăng lên 8,75%/năm, tăng 0,5%/năm; lãi suất tái cấp vốn từ 6,5%/năm tăng lên 7,5%/năm, tăng 1,0%/năm; lãi suất chiết khấu từ 4,5%/năm tăng lên 6,0%/năm, tăng 1,5%/năm
- N gày 30/1/2008, N HN N bơm thêm 12.000 tỉ đồng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của các ngân hàng Ngày 31/1/2008, N HN N thông báo đưa thêm ra thị trường 15.000 tỉ đồng với thời hạn 2 tuần
- N gày 13/2/2008, NHN N thông báo sẽ phát hành tín phiếu N HN N bằng VND vào ngày 17/3/2008 dưới hình thức bắt buộc đối với 41 NH TM với tổng giá trị tín phiếu phát hành là 20.300 tỷ đồng, kỳ hạn là 364 ngày, lãi suất là 7,80%/năm
- N gày 18/2/2008, N HN N đã thay đổi cách thức đấu thầu trên thị trường mở hằng ngày bằng việc công khai lộ trình và khối lượng các phiên đấu thầu trong cả tuần để tất cả các ngân hàng được rõ Khối lượng tiền đưa ra cũng tăng từ 3.000 tỉ đồng/ngày lên 5.000
tỉ đồng/ngày
Trang 10- N gày 19/2/2008 và 20/2, NH NN bơm ra 23 nghìn tỉ đồng qua thị trường mở, Ngày 21/2, NHN N bơm thêm 10 nghìn tỉ đồng qua thị trường mở
- Từ tháng 5 - 9/2008, NH NN điều hành chính sách tiền tệ "thắt chặt", các mức lãi suất chủ đạo được điều chỉnh tăng, LSCB từ 12%/năm lên 14%/năm
NH NN VN áp dụng cơ chế điều hành LSCB, mà theo đó, các NHTM ấn định lãi suất cho vay tối đa bằng 150% LSCB do NH NN công bố trong từng thời kỳ Đây là công cụ trực tiếp để kiểm soát lãi suất kinh doanh của NH TM ; đồng thời, NH NN tiếp tục điều hành linh hoạt các mức lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu để điều tiết lãi suất thị trường tiền tệ LSCB được xác định và công bố trên cơ sở xu hướng biến động cung-cầu vốn thị trường, mục tiêu của chính sách tiền tệ và các nhân tố tác động khác của thị trường tiền tệ, ngoại hối ở trong và ngoài nước
Từ tháng 10/2008 đến 11/2009, N HN N chuyển hướng điều hành chính sách tiền tệ từ
"thắt chặt" để chống lạm phát sang "nới lỏng" nhằm mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế, điều chỉnh giảm mạnh lãi suất cơ bản từ 14% - 13% - 11% - 8,5% - hiện nay
là 7%/năm
Nhằm mục tiêu góp phần duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế bền vững trong năm 2010, Thống đốc NH NN đã ký các quyết định số 2664, 2665/Q Đ điều chỉnh LSCB tăng từ 7%/năm lên 8%/năm, lãi suất tái cấp vốn tăng từ 7%/năm lên 8%/năm, lãi suất chiết khấu tăng từ 5%/năm lên 6%/năm, thời điểm áp dụng
là 1/12/2009 Việc điều chỉnh tăng các mức LSCB, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu với mục đích nhằm kiểm soát chặt chẽ quy mô và chất lượng tín dụng, phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô theo N ghị quyết của Q uốc hội và chủ trương của Chính phủ Các quyết định này còn tạo điều kiện cho các NH TM huy động các nguồn vốn từ nền kinh tế 26/2/2010 NH NN đã ban hành Thông tư số 07/2010/TT-NHN N cho phép các ngân hàng được phép áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận với các khách hàng vay trung và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đầu tư phát triển Cơ chế này cũng áp dụng với các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn để trực tiếp phục vụ đời sống của cá nhân và hộ gia đình của khách hàng vay; các hoạt động cho vay tiêu dùng thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
Thông tư 07 có hiệu lực đã nhận được rất nhiều phản ứng tích cực từ các TCTD, các chuyên gia, các doanh nghiệp và toàn xã hội Các chuyên gia cho rằng lãi suất dẫn được trả về cho thị trường, qua đó khơi thông được nguồn vốn tín dụng trung-dài hạn và mang lại lợi ích cho các TCTD (doanh thu, cơ hội kinh doanh ), cho doanh nghiệp (tiếp cận vốn
dễ dàng, sử dụng vốn một cách hợp lý hơn…) và cho nền kinh tế Điều này có thể thấy rõ