1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng hoạt động liên kết kinh tế trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.docx

28 1,4K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng hoạt động liên kết kinh tế trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Tác giả Nguyễn Tuấn Hiệp
Người hướng dẫn Cô Trần Thị Thạch Liên
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Quản lý công nghiệp
Thể loại Đề án
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 43,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng hoạt động liên kết kinh tế trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Trang 1

Mục lục:

I Liên kết kinh tế 3

1.1 Tính tất yếu khách quan của việt liên kết kinh tế 4

1.2 Các hình thức liên kết kinh tế 4

2 Khái quát chung về ngành dệt may 5

2.1 Các lĩnh vực trong ngành dệt may 5

2.2 Lịch sử phát triển ngành may 7

II Thực trạng hoạt động liên kết kinh tế trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam 9

1 Sự cần thiết 9

2 Đánh giá chung tình hình liên kết dệt may

11 2.1 Thượng vùng ngành may Việt Nam 12

2.2 Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp dệt may Việt Nam 13

3 Nguyên nhân dẫn đến mối quan hệ dệt may không hiệu quả 16

3.1 Ý kiến của các doanh nghiệp dệt 16

3.2 Ý kiến của các doanh nghiệp may 17

3.3 Ý kiến của các nhà nghiên cứu và quản lý 18

III Kiến nghị và giải pháp 19

1 Một số giải pháp 19

1.1 Các giải pháp pháp triển thượng nguồn may và tăng cường liên kết.19 1.2 Các giải pháp cụ thể 22

Trang 2

2 Kiến nghị 23

Đặt vấn đề

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là mục tiêu xuyên suốt thời kỳ quá độ lên Chủnghĩa xã hội ở nước ta Mục tiêu là năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành mộtnước công nghiệp Để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi sự nỗ lực của toàn dân,của mọi thành phần kinh tế Công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nhẹ là ngành

có vai trò quan trọng trong tiến trình này

Ngành dệt may có thể nói là ngành đi đầu trong các ngành công nghiệp nhẹ

Từ khi đổi mới, ngành đã có những đóng góp quan trọng trong nền kinh tế Thực

tế, vài năm gần đây, ngành đã có những bước phát triển vượt bậc Tuy nhiên,hiện nay năng lực cạnh tranh của ngành lại chưa cao nên gặp rất nhiều khó khăntrong việc thâm nhập các thị trường xuất khẩu Hoa Kì, EU Ngay trên thịtrường nội địa cũng bị sản phẩm của Trung Quốc, Ấn Độ chiếm lĩnh thịphần Có rất nhiều nguyên nhân đã được chỉ ra như : Tình trạng thiết bị máymóc cũ kĩ,công nghệ lạc hậu , năng suất lao động thấp , chất lượng sản phẩmchưa cao, mẫu mã chưa đa dạng… Nhưng theo tôi, nguyên nhân tổng hợp củacác nguyên nhân nói trên là xuất phát từ vấn đề tổ chức sản xuất trong ngành.Hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phầnkinh tế khác nhau chưa có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhau Nước ta lạivừa gia nhập tổ chức WTO nên các ngành khác cũng như dệt may cần liên kếtkại với nhau là tất yếu

Việc xây dựng đề án được sự giúp đỡ chi tiết và nhiệt tình của cô Trần ThịThạch Liên

Em xin chân thành cảm ơn

Hà Nội tháng 5 năm 2007 Sinh Viên

Nguyễn Tuấn Hiệp

Trang 3

I Liên kết kinh tế

1 Liên kết kinh tế là gì

Liên kết kinh tế là phạm trù phản ánh mối quan hệ phối hợp hoạt độngkinh tế giữa các chủ thể kinh tế với nhau với nhau, để thực hiện những nhiệm vụsản xuất kinh doanh nhất định , nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho mỗibên tham gia

Liên kết kinh tế diễn ra ở phạm vi không gian hẹp như ở trong cùng khucông nghiệp ,một điạ phương, vùng kinh tế Nhưng cũng có thể diễn ra ở phạm

vi không gian rộng như toàn quốc gia , giữa các quốc gia với nhau Nó có thểthực hiện trong khoảng thời gian ngắn và cũng có thể diễn ra một cách liên tục ,thường xuyên ,nhiều năm

1.1 Tính tất yếu khách quan của việc liên kết

- Do yêu cầu bảo đảm tính thống nhất của quá trình tái sản xuất - xă hội, táisản xuất mở rộng là một quá trình thống nhất Đảm bảo tính thống nhất quá trìnhtái sản xuất xã hội đòi hỏi phải kết hợp các khâu Có nhiều cách để thực hiện sựkết hợp trên , sự kết hợp thông qua quan hệ liên kết kinh tế thường mang tínhchặt chẽ và đảm bảo hiệu quả kinh tế cao

- Do tác động của quy luật tích tụ , tập trung hóa sản xuất và xã hội hóa sảnxuất Mỗi doanh nghiệp độc lập là một tế bào của nền kinh tế nó không ngừngvận động phát triển dưới sự tác động của quy luật kinh tế khách quan Liên kếtkinh tế giữa các doanh nghiệp để tích lũy vốn tăng khả năng sản xuất nâng caotrình độ xã hội hóa của nền sản xuất là xu thế khách quan

- Do tác động của quy luật cạnh tranh và quy luật tối đa hóa lợi nhuận Cạnh tranh để giành ưu thế trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là quy luật vốn

Trang 4

có của các doanh nghiệp trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường Liên kết kinh

tế là hoạt động có quan hệ gắn bó mật thiết với cạnh tranh Các doanh nghiệpphát triển quan hệ liên kết kinh tế để tăng sức mạnh thực hiện cạnh tranh thắnglợi với các đối thủ khác trong nước

- Do tác động của cuộc cánh mạng khoa học công nghệ hiên đại Trongmấy thập kỷ lại đây cuộc cách mạng khoa học công nghệ có bước phát triển mớisâu rộng chưa từng có trực tiếp tác động vào mọi ngành kinh tế quốc dân, mọilĩnh vực của đời sống xã hội của các quốc gia trên thế giới Các doang nghiệpphải tăng cường liên kết kinh tế để nắm bắt ứng dụng nhanh các thành tựu mới.Liên kết kinh tế để tăng khả năng sản xuất ra các sản phẩm mới đapfs ứng nhucầu kịp thời mới phát sinh

1.2 Các hình thức liên kết kinh tế

1.2.1 Căn cứ vào nội dung kinh tế của hoạt động liên kết kinh tế theo trình tự thực hiện các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng

a Liên kết kinh tế để tạo các yếu tố đầu vào:

- Liên kết để tạo nguồn vốn : Có nhiều phương thức để tạo nguồn vốn chosản xuất công nghiệp Các chủ thể sở hữu vốn liên kết kinh tế với nhau liêndoanh dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ phần

- Liên kết để tạo và sử dụng nguyên liệu : Liên kết kinh tế giữa doanhnghiệp chế biến công nghiệp với cơ sở khai thác sản xuất nguyên liệu nguyênthủy

- Liên kết để tạo phụ tùng, thiết bị, máy móc : Dể có nguồn thiết bị phụtùng cung ứng thường xuyên cho công tác sửa chữa , hiện đại hóa máy móc thiết

bị, doanh nghiệp sử dụng thiết bị có thể thiết lập quan hệ liên kết kinh tế vớidoanh nghiệp chế tạo thiết bị

- Liên kết để đào tạo bồi dưỡng đội ngũ lao động , cán bộ kỹ thuật quản lí

Trang 5

b Liên kết kinh tế ở khâu sản xuất

- Liên kết ngang : Liên kết giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất mặt hàng ,nhóm sản phẩm tương tự

- Liên kết dọc : Liên kết giữa các doang nghiệp sản xuất bán thành phẩmcung cấp cho nhau để tiếp tục chế biến ra sản phẩm cuối cùng

-Liên kết hỗn hợp : Liên kết "ngang" & "dọc" giữa các doanh nghiệp khaithác,chế biến tiêu thụ

- Liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất chế biến từng bộ phận chi tiết đểlắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh

- Liên kết để thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ

1.2.2 Căn cứ hình thức tổ chức thực hiện liên kết kinh tế

a Liên kết thông qua hợp đồng kinh tế

b Liên kết thông qua việc hình thành tổ chức thực hiện liên kết kinh tế

- Liên kết chặt : Sự hình thành tổ chức liên kết kinh tế gắn liền với sự tậptrung quản lí có sự phân cấp quản lí Tất cả các thàn viên đều chịu sự chỉ huycủa mọt đầu mối Mức độ độc lập các thành viên được xác định theo vị trí vàtính chất của chúng

- Liên kết lỏng : Các thành viên tham gia loại hình này vẫn giữ nguyêntính độc lập trong kinh doanh Tổ chức liên kết kinh tế chỉ điều hành nhữngquan hệ liên kết mà các thành viên nhất trí phối hợp thực hiện theo nghị quyếtchung

2 Khái quát chung về ngành dệt may.

2.1 Các lĩnh vực trong ngành dệt may

Ngành công nghiệ dệt may được chua thành ba lĩnh vực dệt , nhuộm và may

2.1.1.Lĩnh vực dệt sợi (sợi tự nhiên sợi hóa học).

Trang 6

Hoạt động cụ thể của lĩnh vực này là sản xuất sợi và chỉ.Sợi có thể chia làmsợi tự nhiên và sợi hóa học.Sợi tự nhiên gồm sợi thực vật , sợi động vật,sợikhoáng vật còn sợi hóa học gồm sợi tái sinh sợi tổng hợp , sợi vô cơ Sản xuấtsợi tự nhiên có liên quan mật thiêt với lĩnh vực nông nghiệp, khoang sản Sảnxuất sợi hóa học thì lại liên quan nhiều tới lĩnh vực công nghiệp hóa học.

Sợi tùy theo độ dài có thể chia làm sợi loại ngán và sợi loại dài.Sợi ngắn(Staple) la sợi có độ dài ngắn, được chế biếnthành chỉ, bao gồm nhiều loại sợi tựnhiên như bong, lông cừu, đay Nhưng lụa la một loại sợi tự nhiên được xếp vàoloại sợi dài (trừ tơ lụa đã dệt) Trái với sợi ngắn, loại sợi có nguyên liệu dài gọi

là sợi dài(filament- sợi nhân tạo).Đặc trưng của sợi dài là không gồm sợi trongcông đoạn làm chỉ Rất nhiều sợi nhân tạo là sợi tổng hợp như là polieste, nilonhay sợi tái sinh như la leon, axetat Nhưng cũng có khi người ta cắt ngắn các sợidài như là polieste, nilon để làm sợi ngắn Ví dụ như loại sợi pha giữa bong vàpolieste(T/C) được tổng hợp từ sợi dài nhân tạo và sợi bong ngắn.Trong giacông dệt có nhiều công đoạn quan trọng không chỉ ảnh hưởng đến chất lượngcủa chỉ mà còn quyết định khả năng cung cấp Trong ngành dệt may, đây là lĩnhvực cần ưu tiên tập trung vốn, đặc biệt lĩnh vực sản xuất sợi dài Lĩnh vục này cótính quy mô nên đòi hỏi đầu tư cho thiết bị lớn hơn so với các lĩnh vực khác

2.1.2 Lĩnh vực nhuộm: dệt vải, dệt kim.

So với lĩnh vực dệt thì lĩnh vực này tốn niều nhân công hơnvà có đặc trưng

về kỹ thuật và sản xuất đa dạng nhất Trong sản xuất sợi tổng hợp để chế biếnvải, lĩnh vực này cũng đòi hỏi đầu tư nhiều vốn để hoạt động mang tính quy mô

về kinh tế Nhưng đối với sợi tư nhiên như bông thì không liên quan nhiều tớiquy mô, nhất là sản xuất dệt kim với quy mô nhỏ cũng có thẻ triển khai được Ởđây ta gộp dệt vải và dệt kimvào lĩnh vực nhuộm lĩnh vực nhuộm ngòai đặcđiểm tập trung nhiều nhân lục so với lĩnh vực dệt còn có đặc điểm về tỏ chứcsản suât mang tính quy mô hóa Việc chuyên môn hóa được thực hiện thông quacác công đoạn nhuộm, hiêu chỉnh, gia công in và hoàn thiện sản phẩm

Trang 7

2.1.3 Lĩnh vực may.

Lĩnh vực may yêu cầu nhân lực ít nhất và tinh quy mô về kinh tế thấp nhấtnên thu hút nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ Sản xuất trong lĩnh vực nàyđòi hỏivốn đầu tư ban đầu nhỏ, không bị ứ đọng nên được đầu tư nhiều ở các nướcđang phát triển Nội dung hoạt động chủ yếu của lĩnh vực này là sản xuất hangdệt may với công đoạn: Cắt vải, may, hoàn thiện sản phẩm( giặt là)

2.2 Lịch sử phát triển ngành dệt may Việt Nam

Ngành dệt may là một trong nhũng ngành công nghiệp có lịch sử phát triểnlâu dài ở Việt Nam Đặc biệt, ngành dệt sợi có từ lâu và phát triển mạnh trongthời kỳ thực dân Pháp đô hộ Trước khi thực dân Pháp xâm lược Đông Dương

đã tồn tại nhiều nhà sản xuất vải tại Việt Nam sử dụng sợi nhập khẩu Khi caitrị, thực dan Pháp đã tăng thuế nhập khẩu sợi làm cho sản xuất vải tại nước tagặp nhiều khó khăn.Nhưng trong thời kỳ này nhiều nhà máy dệt hiện đại doPháp đầu tư đã được thành lập Năm 1889, nhà máy dệt đầu tiên được Pháp xâydựng tại Nam Định, tiếp theo là năm 1894 tại Hàn Nội và sau đó là tại HảiPhòng Năm 1912, ba nhà máy hợp nhất thành “ Công ty dệt vải Đong KInh”.Chín phủ thực dân Pháp thu được nhiều lợi nhuận nhờ việc kinh doanh độcquyền ngành này

Sau đại chiến thứ hai, ngành dệt may Việt Nam có những bước phát triểnđáng kể Vào thời gian đó, các doanh nghiệp ở miền Bắc nhập máy móc thiết bịdệt sợi từ Trung Quốc, Liên Xôvà các nứoc Đông Âu, trong khi đó các doanhnghiệp miền Nam nhập máy móc thiết bị từ các nước phương Tây để đẩy mạnhsản xuất hàng dệt may Năm 1975 sau khi nước ta thống nhất, các công ty dệtmay quy mô lớn của miền Nam được quốc hữu hóa và đưa vào hệ thống kinhdoanh bao cấp Ủy ban Kế Hoạch nhà nước giao chỉ tiêu sản xuất cho các doanhnghiệp dệt nhuộm, may nên hoạt động sản xuất lưu thông hoàn toàn dựa vào kế

Trang 8

hoạch Kế hoạc và việc sản xuất hàng dệt may được sản xuất theo quá trình:trước tiên Ủy ban Kế hoạch Nhà nước giao chỉ tiêu cho cácn doanh nghiệp may

về kế hoạch sản xuất, lượng và giá Các doanh nghiệp may căn cứ vào đó để tính

số lượng nguyên vật liệu đầu vào rồi trình lên ban Ủy ban Kế hoạchvề cácdoanh nghiệp dệt có thể đáp ứng yêu cầu Sau đó căn cứ vào các đề nghị này,

Ủy ban Kế hoạch lại giao các chỉ tiêu sản lượng cho các doanh nghiệp dệtnhuộm ấn trình về giá và ngày giao hàng Dụa vào giá cả và ngày giao hàng, cácdaonh nghiệp nhuộm lại tính lượng sợi cần thiết rồi trình lên ban Kế hoạch vềnhà sản xuất sợi có thể đáp ứng yêu cầu Cuối cùng, Ủy ban Kế hoạch Nhà nướcgiao chỉ thị cho doanh nghiệp sợi sản xuất lượng sợi cần thiết như kế hoạchđược trình bày ở trên

Trong nèn kinh tế kế hoạch, nối quan hệ giữa các doanh nghiệp dệt, nhuộm,may rất mật thiết Các doanh nghiệp may tiến hành sản xuất theo thiết kế, sốlượng và giá đã được Ủy ban Kế hoạch nhà nước quy định Các doanh nghiệpnày thường xuyên nắm bắt những thông tin như loại vải nào thì sản xuất ở doanhnghiệp nào và giữ mối quan hệ mật thiết với các doanh nghiệp nhuộm Đơn giá,mẫu mã,… của vải sử dụng ở các doanh nghiệp may do Ủy ban Kế hoạch Nhànước quy định, nhưng nhà cung cấp vải lại do các doanh nghiệp may trình lên

Ủy ban Kế hoạch Nhà nước nên thực chất quyết định cuối cùng là do các doanhnghiệp này đưa ra.Đồng thời cá doanh nghiệp nhuộm cũng giữ mối quan hệkhăng khít với các doanh nghiệp dệt Xết trên toàn ngành, mối quan hệ khăngkhít cùng chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp được duy trì khá tốt.Tuynhiên,mối quan hệ khăng khít này đã có sự thay đổi lớn từ khi có Hiệp định thươngmại gia công ủy thác được ký kết giữa chính phủ Liên Xô cũ và Chính phủViệtNam vào năm 1986 Theo hiệp định này, Chính phủ Việt Nam nhập khẩunguyên liệu tuqf Liên Xô để tiến hành sản xuất hàng may măc tại cácn daonhnghiệp nhà nứớc, sau đó xuất khẩu trở lại Liên Xô.Quy định này đã làm giảmhẳn nhu cầu đối với các sản phẩm của các doanh nghiệp nhuộm và dệt trong

Trang 9

nước và mối quan hệ mật thiế giữa các doanh nghiệp cũng bị rạn nứt Viếc cácdoanh nghiệp dệt, nhuộm đầu tư vào ngành may đã đẩy nhanh rạn nứt này.Cácnhà doanh nghiệp dệt nhuộm cùng hoạt động trong cả lĩnh vực may và để tồn tại

họ cần nhận được những đơn đặt hàng gia công ủy thác từ Liên Xô Các doanhnghiệp trong các lĩnh vực dệt, nhuộm, may từ mối quan hệ hợp tác đã trở thànhđối thủ cạnh tranh của nhau Người ta cho rằng đó là nguyên nhân lịch sử chủyếu cho sụ phân ngành trong ngành dệt may Việt Nam chưa phát triển

II Thực trạng hoạt động liên kết kinh tế trong các doanh nghiệp

dệt may Việt Nam.

1 Sự cần thiết phải tăng cường mối quan hệ dệt-may ở Việt Nam.

Quan hệ chiều dọc của ngành dệt may có thể biể thị như sau:

Nguyên liệu -> Kéo sợi -> Dệt vải -> In nhuộm -> May

Trong thực tế, mặc dù không nhất thiết phải phát triển tất cả các khâu trong

hệ thống sản xuất dệt may một cách đồng đều, nhưng nếu tạo ra được mối liên

hệ chặt chẽ giữa các khâu trong điều kiện sẵn có thì sẽ có tác động to lớn trongviệc đảm bảo tính chủ động, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăngsức cạnh tranh của sản phẩm may Việt Nam trên thị trường trong nước và thếgiới

Sự cần thiết tăng cường mối quan hệ dệt may có thể thể hiện trên các khíacạnh sau đây:

- Liên kết giữa khâu dệt và khâu may có thể góp phần nâng cao chất lượngnguyên liệu cho các doanh nghiệp may do ngành dệt có thể bám sát hơn nhu cầucửa ngành may về các nguyên liệu Ngành may mặc, mặc dù có kim ngạch xuấtkhẩu tăng nhanh , chủ yếu vẫn thể hiện phương thức gia công xuất khẩu( CMT),

Trang 10

do dố cần chuyển dần sang phương thức tự sản xuất và xuất khẩu(FOB) để đạthiệu quả cao hơn Nhưng ngoài khó khăn về nhãn mác, thương hiệu, nguồn vải

và phụ liệu ổn định, kịp thời và đam bảo chất lượng cũng là một trở ngậi lớn đốivới ngành dệt may hiệ nay

- Tăng cường liên kết dệt may tạo điều kiện giảm chi phí do giảm được cácchi phí trung gian Điều này càng có ý nghĩa quan trọng hơn nếu xem xét số liệu

về cơ cấu hàng dệt may nhập khẩu Chẳng hạn, tỷ lệ vải nguyên liệu trong hànghóa dệt-may năm 1994 là 99,9%, đến năm 1997, tỷ lệ này giảm đi nhưng vẫn ởchiếm đến 90% Theo đánh giá của hiệp hội Dệt May Việt Nam, sản phẩm maymặc xuất khẩu của Việt Nam đang đắt hơn sản phẩm cùng loại trong khu vực từ10-15% Do trong nước chưa chủ động được nguyên liệu hoặc nguyên liệu sảnxuất trong nước có giá cao

- Liên kết dệt may cho phép giảm bớt nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, tănggiá trị gia tăng cho ngành dệt may và tăng đóng gốp của ngành vào nên kinh tếquốcdân

Bảng 1 Tỷ trọng ngành dệt- may trong tổng kim nhạch xuất khẩu và nhập khẩu của nền kinh tế.

Nguồn: Viện kinh tế khoa học Hà Nội, trang 29.

Viện ngiên cứu thương mại, Bộ thương mại.

Các số liệu trong bảng 1 cho thấy, mặc dù đóng góp của ngành dệt may trongxuất khẩu của cả nước đang tăng lên, nhưng phần nhập khẩu của ngành cũngtăng tương ứng Vì vậy, tăng cường liên kết giữa dệt may là nhu cầu cấp thiếthiện nay

Trang 11

- Liên kết dệt- may góp phần tạo điều kiện cung cấp vải sợi ổn định, chủđộng cho may xuất khẩu Thực tế cho thấy, việc nhập khẩu vải sợi và phụ liệukhiến các doanh nghiệp gặp bất lợi, không chủ động được thời gian giaohàng.Có những doanh nghiệp do vải và phụ kiện chậm, chịu chi phí bổ sung cao

do phải vận chuyển hàng bằng đường không nhằm bảo đảm thời hạn giao hàng

Vì vậy, nếu được cung cấp vải và phụ liệu ổn địnhtrong nước, các doanh nghiệpmay sẽ giảm bót được rủi ro trông xuất khẩu

- Liên kết dệt may tạo đièu kiện mở rộng thị trường của ngàn dệt từ đó tăngquy mô để đạt lợi thế về quy mô, giảm giá ngành, tăng súc cạnh tranh của ngànhdệt, tăng tích lũy để tiếp tục tái đầu tư cho công nghệ mới nhằm đáp ứng yêu cầucủa ngành may

2 Đánh giá chung tình hình liên kết dệt may Việt Nam

2.1 Thượng nguồn ngành may Việt Nam

Hiện nay nguyên liệu cho công nghiệp dệt sợi Việt Nam chủ yếu phải nhập

từ nước ngoài Từ năm 1997 trở lại đây , trung bình mỗi năm cả nước nhập từ 91triệu đến 109.7 triệu USD bông xơ tương đương với 5-6 vạn tấn bông xơ

Nguồn : Niên giám thống kê 2001.

Bông và xơ tổng hợp là 2 loại nguyên liệu chính cho công nghiệp dệt.Ngành dệt Việt Nam hiện phải nhập hơn 90% nguyên liệu bông xơ 100% xơ sợi

Trang 12

tổng hợp thuốc nhuộm và chất phụ trợ Sự phụ thuộc về các yếu tố đầu vàokhông những làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế ngành dệt may mà còn gaynên tình tràn bị động trong điều hành sản xuất tổ chức các quan hệ liên kết dệtmay.

Để giả quyết khó khăn trên từ các kết quả điều tra cơ bản về điều kiện tựnhiên, chính phủ Việt Nam đã có định hướng phát triển cây bông để tạo nguồnnguyên liệu trong nước cho công nghiệp sợi dệt và đã triển khai những chínhsách cụ thể

Năm Diện tích (ha) Năng suất(tạ/ha) Sản lượng bông hạt (tấn)

Nguồn : Cục khuyến nông ,Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 2002

Trong 5 năm qua tốc độ tăng bình quân của sản xuất bông là 16% / năm cả

về diện tích và sản lượng Vụ bông năm 2001- 2002 cả nước trồng 29573 habông đạt sản lượng 29000 tấn bông hạt chế biến được 10500 tấn bông xơ so năm

2001 tăng 27.2 % về diện tích và tăng 59.93% về sản lượng Sản lượng này đủcho 12% nhu cầu trong nước

Tuy có sự chuyển biến tích cực nhưng ngành trồng bông Việt Nam vẫn cónhiều bất cập bảo đảm của công nghiệp sợi dệt trong nước cả về sản lượng chấtlượng và chi phí Để bảo đảm chất lượng sợi, các doanh nghiệp sợi không thể

sử dụng bông Việt Nam mà phải nghiên cứu để đưa ra công thức pha trộng giữabông nhập ngoại và bông nội địa Việc mở rộng diện tích tăng năng suất nângcao chất lượng và hạ giá thành sản xuất đòi hỏi phải có đầu tư lớn Mặt khácviệc thu mua và chế biến bông xơ cũng còn bất cập , năng lực chế biến bông xơcòn thấp kém so với nhu cầu

Trang 13

2.2 Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp dệt và may Việt Nam.

Điểm yếu nhất của ngành dệt nước ta hiện nay là chưa đủ khả năng đápứng các loại vải cho các doanh nghiệp may hàng xuất khẩu cả về số lượng chủngloại và chất lượng Theo đánh giá các chuyên gia trong nước thì vải Việt Namkém hơn nhiều so với các nước trong khu vực nhưng giá thành lại cao hơn Tỷ lệvải trong nước có chất lượng đáp ứng được yêu cầu ngành may xuất khẩu chỉkhoảng 10 tới 15 % còn các loại nguyênphuj liệu như xơ , sợi , hóa chất, thuốcnhuộm hầu hết là phải nhập khẩu Chính vì vậy , mặc dù kim ngạch xuất khẩucủa ngành dệt may Việt Nam đạt gần 2 tỷ USD vào năm 2001 nhưng giá trị làm

ra trong nước chỉ chiếm 1/4 còn lại là vải và phụ liệu nhập từ nước ngoài Theođánh giá của các doanh nghiệp và các tổ chức liên quan mối quan hệ dệt may ởViệt Nam hiện nay còn thấp và chưa hiệu quả

Quan hệ dệt may được thể hệ qua nhiều hình thức các doanh nghiệp dệtcung cấp nguyên liệu cho các doanh nghiệp may, các doanh nghiệp may tự cungcấp cho mình bắng sản phẩm tự sản xuất, quan hệ liên kết giữa các doanh nghiệpdệt với nhau và với các doanh nghiệp may nhằm đảm bảo nguyên liệu và tiêuthụ sản phẩm của nhau hỡ trợ lẫn nhau

Bảng 4 cho thấy nguồn nguyên liệu nhập khẩu của các doanh nghiệp maychiếm 50 % tổng nguồn nguyên liệu tuy nhiên khả năng đáp ứng nhu cầu vềnguyên liaauj của các doanh nghiệp dệt trong nước đối với các doanh nghiệpmay thực tế còn thấp hơn nhiều so với cong số nói trên nhất là đối với các sảnphẩm may xuất khẩu

Các nguồn Nguồn trong nước Nguồn nhập khẩu Kênh nhập khẩu

Trong nước

Nhập khẩu

Mua nội bộ

Nguồn khác

C.ty mẹ/chi nhánh

Nguồn khác

Trực tiếp

Ủy thác

Trang 14

52 45 70

13 3 12

87 97 88

16 4 50

84 96 50

63 45 80

37 55 20

55 52 43 76

15 13 12 25

85 87 88 75

30 23 9 59

70 77 91 41

57 58 34 97

43 42 66 13

52 53 46 67

5 13 1 6

95 87 99 94

16 11 3 44

84 89 97 56

58 65 48 77

42 35 52 23

Nguồn: Tham khảo.

Theo ông Lê Quốc Ân cả nước có năng lực sản xuất 500 triệu m vải 1 nămnhưng chỉ có 20 % đạt tiêu chuẩn cung cấp cho ngành may xuất khẩu Các nhànghiên cứu cũng đều đồng ý rằng không chủ động được nguyên liệu từ nguồnnguyên liệu trong nước là một trong những nguyên hạn chính hạn chế sức cạnhtranh và gia tăng giá trị công nghiệp dệt may

Bông và xơ tổng hợp là 2 nguyên liệu dệt chính Hiện nay ngành dệt ViệtNam phải nhập hơn 90 % nguyên liệu bông xơ, 100 % xơ sợi tổng hợp thuốcnhuộm và chất trợ Trong những năm gần đây hàng năm ngành dệt may nhập vảivới giá trị trên 550 triệu USD Theo đánh giá các chuyên gia trong nước hiệnnay tỷ lệ nội địa hóa của các sản phẩm may xuất khẩu bao gồm cả vải và phụliệu là chỉ 25% phần còn lại là nhập khẩu Việc phụ thuộc vào nhiều yếu tố đầuvào làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế toàn ngành dệt may Không nhữngkhông tận dụng được liên kết dệt may mà còn gay mất chủ động trong quá trìnhhoạt động của cả doanh nghiệp dệt và may

Theo số liệu của Hiệp hội dệt may Việ Nam Tổng công ty dệt may ViệNam giữ vị trí chủ đạo của ngành với sản lượng sợi chiếm 88.2% , vaỉ lụa chiếm45.5% , sợi dệt kim chiếm 27.7% và sản phẩm may chiếm 27.5 % tổng sảnlượng cả nước Trong thời gian qua các doanh nghiệp thành viên của Tổng công

ty đã quan tâm và thúc đẩy mối quan hệ kinh doanh trong hệ thống Tổng công ty

Ngày đăng: 28/09/2012, 16:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tỷ trọng ngành dệt- may trong tổng kim nhạch xuất khẩu và nhập khẩu của nền kinh tế. - Thực trạng hoạt động liên kết kinh tế trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.docx
Bảng 1. Tỷ trọng ngành dệt- may trong tổng kim nhạch xuất khẩu và nhập khẩu của nền kinh tế (Trang 10)
Bảng 4 cho thấy nguồn nguyên liệu nhập khẩu của các doanh nghiệp may chiếm 50 % tổng nguồn nguyên liệu tuy nhiên khả năng đáp ứng nhu cầu về nguyên liaauj của các doanh nghiệp dệt trong nước đối với các doanh nghiệp may thực tế còn thấp hơn nhiều so với c - Thực trạng hoạt động liên kết kinh tế trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.docx
Bảng 4 cho thấy nguồn nguyên liệu nhập khẩu của các doanh nghiệp may chiếm 50 % tổng nguồn nguyên liệu tuy nhiên khả năng đáp ứng nhu cầu về nguyên liaauj của các doanh nghiệp dệt trong nước đối với các doanh nghiệp may thực tế còn thấp hơn nhiều so với c (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w