1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá rủi ro độc tính sinh thái và khung quản lý liên quan đến những dòng thải bệnh viện đổ vào nhà máy xử lý nước thải

25 722 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Rủi Ro Độc Tính Sinh Thái Đối Với Nước Thải Bệnh Viện
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng
Chuyên ngành Môi Trường
Thể loại tiểu luận
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 485,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các bệnh viện, có một lượng lớn và đa dạng những chất sử dụng cho mục đích y khoa như chẩn đoán và nghiên cứu

Trang 1

MỤC LỤC

1 ĐÁNH GIÁ RỦI RO ĐỘC TÍNH SINH THÁI ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN 1

1.1.Giới thiệu 1

1.2 Những ảnh hưởng của nước thải bệnh viện lên các hệ sinh thái dưới nước 3

1.3 Lý thuyết đánh giá rủi ro sinh thái 4

1.3.1.Xác định vấn đề 4

1.3.2 Giai đoạn phân tích 4

1.3.3 Giai đoạn mô tả đặc tính rủi ro 4

1.4 Phương pháp luận đánh giá rủi ro độc học sinh thái của nước thải bệnh viện 5

1.4.1 Đánh giá mối nguy hại 5

1.4.2 Miêu tả ngữ cảnh của đánh giá rủi ro độc tính sinh thái 7

1.4.3 Sự phát triển mô hình ý niệm và lựa chọn các thông số đánh giá 8

1.5 Tài liệu và phương pháp 10

1.5.1 Lấy mẫu và đo pH 10

1.5.2 Phân tích hóa lý 10

1.5.3 Phân tích vi sinh và thí nghiêm độ độc 11

1.5.4 Đánh giá rủi ro 12

1.6 Kết quả và thảo luận 12

1.6.1 Kết quả phân tích lý hóa 12

1.6.2 Đặc tính vi sinh 14

1.6.3 Đặc tính độc học sinh thái của nước thải từ IDTT 14

1.6.4 Đánh giá mối nguy hại 16

1.6.5 Đánh giá rủi ro Sinh thái 17

1.6.5.1 Những tác động vào hệ thống xử lý nước thải 17

1.6.5.2 Những tác động của hệ sinh vật tự nhiên trong nước 19

1.7 Kết luận 20

2 ĐÁNH GIÁ RỦI RO ĐỘC TÍNH SINH THÁI ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN DUNG QUẤT – TỈNH QUẢNG NGÃI 21

2.1 Sơ lược về bệnh viện Dung Quất 21

2.2 Phân tích 21

2.2.1 Đặc tính tiếp xúc 21

2.2.2 Đặc tính tác động sinh thái 21

2.3 Nhận diện rủi ro 22

2.3.1 Kết quả phân tích lý hóa 22

2.3.2 Đặc tính vi sinh 22

2.4 Đánh giá rủi ro độc tính sinh thái 23

3 KẾT LUẬN 23

Trang 2

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 Hệ sinh thái được đề cập 8

Bảng 2 Các đặc trưng lý hóa và vi sinh của nước thải bệnh viện từ ITDD 12

Bảng 3 Các đặc tính độc học sinh thái của nước thải bệnh viện 16

Bảng 4 So sánh nồng độ cực đại với nồng độ tiêu chuẩn 17

Bảng 5 Kết quả phân tích lý hóa (mẫu lấy tại bể tập trung toàn bệnh viện trước xử lý) .22 Bảng 6 Các chỉ điểm vệ sinh về vi sinh tại bể tập trung toàn bệnh viện trước xử lý 22

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1 Nước thải bệnh viện và những tác động đến WWTP và môi trường tự nhiên 2

Hình 2 Sơ đồ đánh giá rủi ro độc học sinh thái 5

Hình 3 Kịch bản sự kết nối của hệ thống thoát nước thải bệnh viện với mạng lưới thoát nước sinh hoạt 7

Hình 4 Mô hình ý niệm của kịch bản được nghiên cứu 9

Hình 5 Bệnh viện Dung Quốc-Quảng Ngãi 21

Hình 6 Sơ đồ tuyến tiếp xúc 21

Trang 3

Trong các bệnh viện, có một lượng lớn và đa dạng những chất sử dụng cho mụcđích y khoa như chẩn đoán và nghiên cứu Sau khi được sử dụng, những chất dùng chochẩn đoán, chất tẩy uế và những dược phẩm không được chuyển hoá và bài tiết từ cácbệnh nhân đổ vào nước thải Dạng thải này có thể gây rủi ro cho các sinh vật sốngtrong nước

Mục tiêu của nghiên cứu này là: (i) các bước đánh giá rủi ro độc tính sinh thái và

khung quản lý liên quan đến những dòng thải bệnh viện đổ vào nhà máy xử lý nướcthải (WWTP) mà không qua xử lý sơ bộ (ii) kết quả những ứng dụng của nó đối vớinước thải từ Khoa bệnh nhiệt đới và truyền nhiễm của một bệnh viện phía Đông Namnước Pháp

Những đặc tính tác động được xây dựng dựa vào 2 giả thiết, liên quan đến: (a)những ảnh hưởng của nước thải bệnh viện lên quá trình xử lý sinh học của WWTP,đặc biệt đến nhóm sinh vật chủ đạo của quá trình phân huỷ sinh học chất hữu cơ (b)những ảnh hưởng lên sinh vật trong nước

COD và BOD5 được đo cho những nghiên cứu về ô nhiễm hữu cơ toàn cầu Việcđánh giá những hợp chất hữu cơ halogen hoá được thực hiện bằng cách sử dụng nhữngnồng độ của hợp chất hữu cơ halogen hoá có thể hấp thu vào than hoạt tính (AOX).Các kim loại nặng (Asen, Catmi, Crôm, đồng, thuỷ ngân, Niken, chì và kẽm) cũngđược đo Một lượng nhỏ có thể xảy ra của faecal coliforms cũng được xem xét là một

sự phát hiện gián tiếp sự hiện diện của thuốc tẩy uế và thuốc kháng sinh Đối với đánhgiá độc tính, thí nghiệm phát quang sinh học sử dụng Vibrio fischeriphotobacteria,72-h EC50 sự phát triển của tảo Pseudokirchneriella subcapitata

và 24-h EC50 trên Daphnia magna Kịch bản cho phép đưa đến một đặc tính rủi robán định lượng Cần chú ý đến các mối liên hệ sau: (i) đánh giá độc tính dài kỳ trêncác sinh vật chỉ thị (tích tụ sinh học chất ô nhiễm, độc tính di truyền,…); (ii) sự tươngtác độc tính sinh thái giữa dược phẩm, thuốc tẩy uế sử dụng trong cả chấn đoán và làmsạch bề mặt, và chất tẩy để làm sạch bề mặt; sự tác động đến mạng lưới cống rãnh,giữa nước thải bệnh viện và hệ sinh thái dưới nước

1 ĐÁNH GIÁ RỦI RO ĐỘC TÍNH SINH THÁI ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN

1.1.Giới thiệu

Các bệnh viện sử dụng rất đa dạng các loại hoá chất như dược phẩm, nuclit phóng

xạ, dung môi, chất tẩy uế sử dụng cho mục đích y học như chẩn đoán, tẩy uế và nghiêncứu [1-3]

Sau khi được sử dụng, những chất này và các loại thuốc không chuyển hoá được từcác bệnh nhân sẽ đổ vào dòng nước thải bệnh viện [4,5], sau đó hoà vào hệ thống cống

Trang 4

nước thải đô thị (Hình 1) mà không qua xử lý sơ bộ [6] Các dược phẩm không được

sử dụng thỉnh thoảng cũng được cho vào hệ thống cống của bệnh viện [5] Các chất ônhiễm từ bệnh viện được đo ở dòng ra của hệ thống xử lý nước thải (WWTP) và trongnước bề mặt [7] Các nghiên cứu và thí nghiệm [8] đã chứng tỏ có một lượng khôngthể chối cãi được của nhiều chất độc từ quá trình bài tiết vào môi trường nước

Hình 1 Nước thải bệnh viện và những tác động đến WWTP và môi trường tự nhiên.

Sự tiếp xúc của các chất ô nhiễm bệnh viện với hệ sinh thái dưới nước gây nên rủi

ro trực tiếp đến cân bằng sinh học trong môi trường tự nhiên Rủi ro là khả năng xuấthiện các ảnh hưởng gây độc sau sự tiếp xúc của sinh vật với chất nguy hại [9] Trướctình trạng nước thải bệnh viện chứa các chất nguy hại, đặc biệt là thuốc thẩy uế, dượcphẩm không được chuyển hoá và nuclit phóng xạ được thải vào hệ sinh thái dướinước, cần thiết phải xem xét đến khả năng gây rủi ro đối với các sinh vật trong nước.Diễn biến của các dược phẩm trong môi trường nước đã được báo cáo trong nhiều tàiliệu, tạp chí khác nhau [3,4,7,10] Rủi ro sinh thái của Glutar-aldehyde, một Di-aldehyde thường được giới thiệu là chất tẩy uế cho đèn nội soi quang học có thể sửdụng lại được cũng được xem xét trong nghiên cứu này [8] Tuy nhiên, hiếm có nghiêncứu nào xét đến rủi ro tổng gây ra từ sự tiếp xúc đồng thời với nhiều chất ô nhiễm khácnhau trong nước thải bệnh viện

Luật pháp nước Pháp quy định những điều kiện cho việc đấu nối hệ thống nước thảibệnh viện vào hệ thống cống rãnh đô thị [11] Ở Hướng dẫn số 793/93, trong phần tiếpxúc của hệ sinh thái và con người đối với những chất độc đã được phân loại, Uỷ banChâu Âu [12] đòi hỏi tất cả các nước thành viên phải thực hiện một đánh giá rủi ro

Những dòng thải từ hoạt động chẩn đoán và nghiên cứu(dược phẩm, nuclit phóng xạ, thuốc tẩy uế, chất làm

Trang 5

sinh thái và vệ sinh cho các chất như: thuốc, chất tẩy uế, chất phóng xạ Quản lý rủi roliên quan đến sức khoẻ của con người cân bằng sinh học trong hệ sinh thái tự nhiên

Mục tiêu của nghiên cứu này là:

(i) Một framework được thực thi cho quá trình quản lý nước thải bệnh viện, baogồm 2 bước: 1 bước nhẹ (“light” step) dựa trên sự đánh giá mối nguy hại liên quan đếnnước thải bệnh viện và, nếu xuất hiện những bằng chứng về sự tồn tại của mối nguyhại, sẽ tiếp tục bước tiếp theo, bước nặng (“heavy” step) Bước này dựa trên một đánhgiá rủi ro sinh thái của nước thải bệnh viện đổ vào hệ thống nước thải đô thị, sau đóvào môi trường tự nhiên

(ii) Các bước chi tiết của “đánh giá mối nguy hại” và “đánh giá rủi ro”

(iii) Các kết quả ứng dụng lên dòng thải của Khoa bệnh nhiệt đới và truyền nhiễmcủa một bệnh viện thuộc một thành phố lớn phía Đông Nam nước Pháp

1.2 Những ảnh hưởng của nước thải bệnh viện lên các hệ sinh thái dưới nước

Bệnh viện tiêu thụ một lượng nước lớn mỗi ngày Sự tiêu thụ nước trong gia đìnhtối thiểu là 100 lit/người/ngày [14], ngược lại, nhu cầu cho bệnh viện là từ 400-1200lit/người/ngày [6] Ở Mỹ, nhu cầu trung bình cho bệnh viện là 968 lit/giường/ngày[15] Ở Pháp, khoảng 750 lit/giường/ngày [6] Ở các nước phát triển, nhu cầu nàytrong khoảng 500 lit/giường/ngày [16] Việc tiêu thụ nhiều nước trong bệnh viện tạonên một lượng nước thải lớn đáng kể Kết quả của các nghiên cứu độc tính sử dụng vi

khuẩn Bioluminescence và Daphnia magna đã hiển thị kết quả độc tính của nước thải

bệnh viện đến sinh vật trong nước [17]

Những chất gây ô nhiễm thường xuyên nhất trong nước thải bệnh viện là: virus và

vi khuẩn gây bệnh (một số chúng là những tác nhân hỗ trợ kháng khuẩn) [6], các dượcphẩm không sử dụng, không chuyển hoá được và bài tiết ra ngoài [4], các hợp chấthalogen hữu cơ (organohalogen), như hợp chất hữu cơ halogen hoá có thể hấp thụ vàothan hoạt tính (AOX) [5], các đồng vị phóng xạ [1,18]

Các kết quả của việc mô tả đặc tính vi sinh trong nước thải bệnh viện [6] cho thấynhững dòng thải này có nồng độ vi khuẩn thấp hơn 108 /100 mL đại diện của hệ thốngnước thải đô thị [19] Giá trị MPN (số khuẩn lạc đếm được trên 100ml mẫu) thấp được

phát hiện với fecal bacteria trong bệnh viện có thể do thuốc tẩy uế và kháng sinh [6] Những nghiên cứu về vi khuẩn thực vật (bacteria flora) trong nước thải bệnh viện đổ

vào WWTP chỉ ra rằng vi khuẩn đã bắt đầu có sự thích nghi [20] Điều này gây ranguy cơ về hiệu quả của các chất kháng khuẩn Việc tăng khả năng chống chịu các tácnhân kháng khuẩn của nhiều loại vi khuẩn gây bệnh làm tổn hại đến chế độ dinhdưỡng, chữa bệnh và khiến cho việc điều trị bệnh truyền nhiễm trở nên khó khăn hơn[4] Ba nhân tố chi phối quá trình phát triển và kéo dài sức đề kháng: (i) sự biến đổi

Trang 6

những gen hiện tại làm tăng khả năng đề kháng, (ii) sự chuyển đổi những gen đềkháng giữa các loại vi sinh vật khác nhau, (iii) việc tăng áp lực phải có lựa chọn vềnhững kháng thể [4,20-24].

Nước thải bệnh viện chứa các chất clo hữu cơ với nồng độ cao [6] AOX lên đến

10 mg/L được tìm thấy trong các dòng thải của các dịch vụ bệnh viện của một trungtâm đại học bệnh viện [25] AOX sinh ra từ các thành phần bị oxy hoá tạo sự tươngphản trong phim của khoa X-quang, dung môi, thuốc tẩy uế, máy làm sạch, và nhữngviên thuốc có chứa clo Hợp chất hữu cơ chứa brôm thì góp phần không đáng kể vàoAOX trong nước thải bệnh viện [5] Nói chung, sự phân bố cực đại của các loại thuốcvào AOX không vượt quá 11% [26] Nồng độ AOX trong nước tiểu của bệnh nhânkhông dùng thuốc rất thấp, thường trong khoảng 0.001 – 0.2 mg/L [27] Do được phaloãng nên ảnh hưởng từ nguồn này là không đáng kể [5] Đánh giá về AOX cho thấynhững chất ô nhiễm không theo quy ước này ít có khả năng bị vi khuẩn làm thối rữa và

bị hút bám [7]

1.3 Lý thuyết đánh giá rủi ro sinh thái

Đánh giá rủi ro độc tính sinh thái là tập con của đánh giá rủi ro sinh thái Đánh giárủi ro sinh thái là một quá trình đánh giá khả năng xảy ra của một hoặc nhiều xác suất[28] Quá trình này dựa trên 2 yếu tố: đặc tính tác động và đặc tính tiếp xúc và nhấnmạnh vào 3 giai đoạn của đánh giá rủi ro: xác định vấn đề, giai đoạn phân tích và giaiđoạn mô tả đặc tính rủi ro [29]

1.3.1.Xác định vấn đề

Xác định vấn đề là một quá trình tạo và đánh giá các giả thuyết vì sao các hoạtđộng của con người gây ra hoặc có thể gây ra ảnh hưởng đến sinh thái [29] Nó cungcấp cơ sở cho đánh giá rủi ro sinh thái tổng thể Kết quả của bước này là 3 sản phẩm:(i) sự đánh giá những điểm kết thúc thích hợp với mục tiêu của nhà quản lý và hệ sinhthái đại diện, (ii) các mô hình ý niệm mô tả những mối quan hệ chính giữa một xácsuất và đánh giá điểm kết thúc hoặc giữa nhiều xác suất với đánh giá nhiều điểm kếtthúc, (iii) một kế hoạch phân tích

1.3.2 Giai đoạn phân tích

Phân tích là một quá trình kiểm tra 2 thành phần cốt yếu của rủi ro, tiếp xúc và tácđộng, các mối quan hệ giữa chúng với nhau và đặc tính hệ sinh thái [29]

1.3.3 Giai đoạn mô tả đặc tính rủi ro

Đây là giai đoạn cuối cùng của đánh giá rủi ro sinh thái và là điểm cao nhất của kếhoạch, xác định vấn đề, phân tích dự đoán hoặc quan sát những ảnh hưởng lên hệ sinhthái liên quan đến việc đánh giá các điểm kết thúc [34] Tồn tại một dãy (sắp xếp cóthứ tự) các phương pháp hợp lý [13] và sự lựa chọn các phương pháp phụ thuộc vào

Trang 7

mức độ nghiêm trọng của vấn đề và bộ dữ liệu sẵn có Riviere [9] lưu ý rằng “rủi ro

sinh thái có thể được hiển thị bằng nhiều cách khác nhau: định tính (có hoặc không có rủi ro), bán định lượng (rủi ro yếu, trung bình hoặc cao), rủi ro theo xác suất (rủi ro

là x%)”.

Phương pháp được biết đến “the quotient” (thương số) là một phương pháp phổbiến nhất của mô tả đặc tính rủi ro bán định lượng Phương pháp này chủ yếu tính tỷ lệ(hoặc thương số) biểu thị cho nồng độ dự báo (PEC) được chia bởi một nồng độ dựbáo ngưỡng (PNEC) [29] Giá trị nồng độ ngưỡng này có thể được ước lượng từ các

dữ liệu sẵn có trong tài liệu cho những chất tinh khiết, và sử dụng những giá trị đo đạcthí nghiệm (các thí nghiệm sinh học –bioassays) đối với nước thải bệnh viện Mặc dùđộc tính của hỗn hợp các hoá chất có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn so với dự báo độc tínhcủa những chất riêng lẻ trong hỗn hợp, nhưng phương pháp thêm vào một thương số(quotient) thừa nhận rằng đặc tính độc đã được thêm vào [29] Sự thừa nhận này có thểđược áp dụng tốt khi hoạt động của các hoá chất trong một hỗn hợp là tương tự nhau.Tuy nhiên, cũng có bằng chứng cho thấy các hoá chất với hoạt động không tương đồngcũng có tác động cộng dồn tương tự [29-31]

Khi giá trị thương số (quotient) Q >1, rủi ro được xem là đáng kể, Q càng lớn thìrủi ro càng lớn Ngược lại, khi Q<1, rủi ro được xem là thấp Nồng độ ngưỡng trong

cơ thể sinh vật, thực tế, được đại diện một cách tổng quát bởi EC10 hay EC20, hoặcNOEC, được chia bởi 1 hệ số an toàn (ví dụ 10) Trong trường hợp không có EC10hoặc NOEC thì EC50 thỉnh thoảng được sử dụng kèm theo một hệ số an toàn [13]

1.4 Phương pháp luận đánh giá rủi ro độc học sinh thái của nước thải bệnh viện 1.4.1 Đánh giá mối nguy hại

Việc đánh giá mối nguy hại của nước thải bệnh viện đối với hệ sinh thái căn cứ vàođặc tính của nước thải bệnh viện (Hình 2), bao gồm:

- Đặc tính hóa học (được đo đạc bởi các thông số chung, các thông số ô nhiễm vô

cơ và hữu cơ);

- Đặc tính vi sinh;

- Đặc tính độc học

Hình 2 Sơ đồ đánh giá rủi ro độc học sinh thái

Trang 8

Các thông số được lựa chọn đặc trưng cho những đặc tính này như sau:

- Thông số COD và BOD5 được chọn để đo tải lượng hữu cơ tổng;

- Hợp chất Halogen hữu cơ hấp phụ trên than hoạt tính (AOX) được lựa chọn

để đo hàm lượng các hợp chất Halogen hữu cơ;

- Kim loại nặng (As, Cd, Cr, Cu, Hg, Ni, Pb va Zn) được chọn để đo ô nhiễm

vô cơ;

- Thông số: số lượng lớn nhất có thể của fecal coliforms được chọn để đo ô

nhiễm vi sinh (thông số này được xem xét trong nghiên cứu như sự phát hiệngián tiếp sự tồn tại khối lượng lớn các chất tiệt trùng và/hoặc chất kháng sinh);

- Thông số EC50 của nước thải bệnh viện (dựa vào thí nghiệm độc học trên sự

phát quang của vi khuẩn (Vibrio fischeri), phát triển của tảo (Pseusự

dokirchneriella subcapitata) và sự di động của D magna) được chọn để đánh

giá độc học của dòng nước thải

Kết quả đạt được của những thông số này được so sánh với giá trị ngưỡng thiết lậptheo cách thức sau:

- Thông số chung: giá trị ngưỡng được căn cứ theo quy đinh của Pháp vềdòng thải;

- Thông số độc học: giá trị ngưỡng của thí nghiệm độc học được căn cứ theogiá trị của hai đơn vị độc học (UT) do cơ quan nước của Pháp đề xuất cho nướcthải công nghiệp;

Trang 9

- Thông số vi sinh: giá trị ngưỡng là 1x108 coliform/100ml, tương ứng hàm

lượng trung bình của các fecal coliforms trong mạng lưới thoát nước sinh hoạt

1.4.2 Miêu tả ngữ cảnh của đánh giá rủi ro độc tính sinh thái

Miêu tả này nhằm tóm tắt một cách toàn diện nhất có thể sự phơi nhiễm về mặtsinh thái của nước thải bệnh viện và phục vụ cho công tác quản lý nước thải bệnh viện

ở các nước phát triển

Viễn cảnh vạch ra tình huống sự kết nối của hệ thống thoát nước thải bệnh viện vớimạng lưới thoát nước sinh hoạt, cũng như hệ thống xử lý nước thải sinh học (WWTP)

mà nguồn tiếp nhận nước thải sau xử lý là môi trường tự nhiên (Hình 3)

Hình 3 Kịch bản sự kết nối của hệ thống thoát nước thải bệnh viện với mạng lưới

thoát nước sinh hoạt

Các chất ô nhiễm trong nước thải bệnh viện xuất hiện trong hệ sinh thái tự nhiên dohiệu quả kém của WWTP, dòng ra của WWTP được thải trực tiếp vào nước sông nênviễn cảnh được xem xét ở đây là các tác động có thể của nước thải bệnh viện lên hệsinh thái sông

Hai loại hệ sinh thái bị phơi nhiễm bởi nước thải bệnh viện trong kịch bản đượcnghiên cứu là:

- Hệ sinh thái nhân tạo, đại diện bởi WWTP;

Trang 10

- Hệ sinh thái tự nhiên, đại diện bởi không khí, đất, nước mặt và nước ngầm.Các nhân tố nhạy cảm của hai hệ sinh thái này dễ bị tác động khi bị phơi nhiễm bởinước thải bệnh viện được tóm tắt trong Bảng 1.

Bảng 1 Hệ sinh thái được đề cập

Vi khuẩn, tảo và động vật nguyên sinh (trong trường hợp các bể

xử lý sinh học xảy ra phản ứng phân hủy theo phương thức hiếu khí)

Nước

ngầm Bảo vệ tài nguyên nước ngọt.

1.4.3 Sự phát triển mô hình ý niệm và lựa chọn các thông số đánh giá

Nội dung này tập trung nghiên cứu về WWTP, nước sạch và các loài ở mắc xíchđầu tiên trong chuỗi thức ăn (Hình 4)

Trang 11

Hình 4 Mô hình ý niệm của kịch bản được nghiên cứu

Các hệ sinh thái và các loài khác không được xem xét trong bước đầu tiên này củaphương pháp luận

Đối với tính chất của tác động, hai giả định đã được xây dựng để xem xét Chúngliên quan đến giá trị sinh thái cần được bảo vệ:

- Việc thải bỏ nước thải bệnh viện vào WWTP sẽ không tác động đến quátrình xử lý sinh học của WWTP, mà có khả năng tác động rất bất lợi đến cộngđồng tảo tham gia vào sự phân hủy các vật chất hữu cơ;

- Dòng ra khỏi WWTP sẽ không gây độc đến các loài đang tồn tại (đặc biệt là

vi khuẩn, tảo và giáp xác) trong môi trường nước tự nhiên

Độc tính sinh thái của nước thải bệnh viện đối với sự sinh trưởng của vi khuẩn, tảo

và sự tồn tại của giáp xác đã được nghiên cứu dựa vào thí nghiệm độc học theo tiêu

chuẩn Pháp Trong đó, vi khuẩn được đại diện bởi ‘V fischeri’, sinh vật sản xuất đầu tiên (phytoplankton) được đại diện bởi tảo ‘P subcapitata’, và giáp xác nước ngọt đại diện cho sinh vật tiêu thụ đầu tiên là ‘Daphnia magna Strauss’ Đối với kịch bản được

đề xuất, kết quả của thí nghiệm độc học trên vi khuẩn và giáp xác được xem là các tácđộng có thể nhìn thấy của nước thải bệnh viện lên hệ sinh thái sông, trong khi giá trị

EC50 từ thí nghiệm trên tảo được sử dụng để nghiên cứu các tác động của các mẫunghiên cứu lên cả WWTP và sông

Trang 12

1.5 Tài liệu và phương pháp

1.5.1 Lấy mẫu và đo pH

Nước thải từ một bệnh viện tại miền Đông Nam nước Pháp được sử dụng cho giaiđoạn thí nghiệm của nghiên cứu này Tổng số giường bệnh của bệnh viện ước tính là

750 giường Tổng lượng nước tiêu thụ khoảng 750 m3/ngày Nước thải từ các khoakhác nhau được thải vào cống thoát nước của bệnh viện Hệ thống này bao gồm một sốống thu gom bị vỡ do hoạt động của bệnh viện hoặc các hoạt động khác có liên quan.Bệnh viện có hệ thống thu gom chung Tình trạng hệ thống như vậy có thể làm giatăng nồng độ của các hợp chất chứa N trong suốt những ngày mưa đầu tiên và làmtăng quá trình pha loãng tất cả các chất ô nhiễm trong những ngày mưa còn lại [33].Ngoài ra, hệ thống này còn làm gia tăng nồng độ tức thời của một số kim loại, đặc biệt

là đồng

Hai đợt lấy mẫu (năm 2001 và 2002) thực hiện việc lấy mẫu tại dòng thải phát sinh

từ Khoa bệnh nhiệt đới và lây nhiễm (ITDD) của bệnh viện nói trên với quy mô 144giường Quy mô khoa này chiếm 19,2% toàn bộ quy mô của bệnh viện Trong suốtthời gian lấy mẫu, khoa này hoạt động tối đa công suất (100% giường bệnh đang được

sử dụng)

Nước thải được gom lại trước khi thải vào hệ thống thoát nước chung của bệnhviện Sau đó, hệ thống này dẫn toàn bộ nước thải đổ vào hệ thống thoát nước thải đôthị của khu vực mà không qua xử lý Cống gom nước thải từ Khoa bệnh nhiệt đới vàlây nhiễm không tiếp nhận các thành phần bị oxy hóa tạo sự tương phản trong film củakhoa X quang, các thành phần này chủ yếu đóng góp vào sự hình thành AOX trong

nước thải bệnh viện [8] Mẫu nước được lấy bằng telescopic perch trong bình thuỷ tinh

dung tính 1 lít pH được đo trực tiếp tại hiện trường sau khi lấy mẫu bằng thiết bị đo

pH HI 8417 (độ chính xác pH ±0,01; mV±0,2,±1; ◦C±0,4) Tất cả các mẫu nước thải vàhỗn hợp được giữ ở 4◦C cho đến khi phân tích

1.5.2 Phân tích hóa lý

Nồng độ BOD5 của các mẫu lấy vào năm 2001 và năm 2002 được xác định nhờtiêu chuẩn phân tích của Pháp và Châu Âu NF EN 1899-1 Nồng độ COD trong mẫunăm 2001 được đo bằng potassium dichromate với phương pháp so màu HACH 2010

và quy trình thí nghiệm tuân thủ theo hướng dẫn của nhà cung cấp Tiêu chuẩn Pháp

NF T90-001 được tuân thủ trong quá trình xác định nồng độ COD của các mẫu năm

2002 AOX được xác định nhờ tiêu chuẩn Châu Âu EN 1485

Kim loại nặng được xác định theo ISO 11 với mẫu được lọc (giấy lọc 0,45_m) và

sử dụng acid nitrit để acid hóa mẫu (pH<2) và sử dụng phương pháp ICP-AES

Ngoài ra, các thông số hóa lý khác như TOC, Clo, TSS và Amonia được thực hiện

Ngày đăng: 25/04/2013, 16:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Nước thải bệnh viện và những tác động đến WWTP và môi trường tự nhiên. - đánh giá rủi ro độc tính sinh thái và khung quản lý liên quan đến những dòng thải bệnh viện đổ vào nhà máy xử lý nước thải
Hình 1. Nước thải bệnh viện và những tác động đến WWTP và môi trường tự nhiên (Trang 4)
Hình 3.  Kịch bản sự kết nối của hệ thống thoát nước thải bệnh viện với mạng lưới - đánh giá rủi ro độc tính sinh thái và khung quản lý liên quan đến những dòng thải bệnh viện đổ vào nhà máy xử lý nước thải
Hình 3. Kịch bản sự kết nối của hệ thống thoát nước thải bệnh viện với mạng lưới (Trang 9)
Bảng 1. Hệ sinh thái được đề cập - đánh giá rủi ro độc tính sinh thái và khung quản lý liên quan đến những dòng thải bệnh viện đổ vào nhà máy xử lý nước thải
Bảng 1. Hệ sinh thái được đề cập (Trang 10)
Hình 4. Mô hình ý niệm của kịch bản được nghiên cứu - đánh giá rủi ro độc tính sinh thái và khung quản lý liên quan đến những dòng thải bệnh viện đổ vào nhà máy xử lý nước thải
Hình 4. Mô hình ý niệm của kịch bản được nghiên cứu (Trang 11)
Bảng 3. Các đặc tính độc học sinh thái của nước thải bệnh viện - đánh giá rủi ro độc tính sinh thái và khung quản lý liên quan đến những dòng thải bệnh viện đổ vào nhà máy xử lý nước thải
Bảng 3. Các đặc tính độc học sinh thái của nước thải bệnh viện (Trang 18)
Bảng 4. So sánh nồng độ cực đại với nồng độ tiêu chuẩn - đánh giá rủi ro độc tính sinh thái và khung quản lý liên quan đến những dòng thải bệnh viện đổ vào nhà máy xử lý nước thải
Bảng 4. So sánh nồng độ cực đại với nồng độ tiêu chuẩn (Trang 19)
Hình 5. Bệnh viện Dung Quốc-Quảng Ngãi - đánh giá rủi ro độc tính sinh thái và khung quản lý liên quan đến những dòng thải bệnh viện đổ vào nhà máy xử lý nước thải
Hình 5. Bệnh viện Dung Quốc-Quảng Ngãi (Trang 23)
Hình 6. Sơ đồ tuyến tiếp xúc - đánh giá rủi ro độc tính sinh thái và khung quản lý liên quan đến những dòng thải bệnh viện đổ vào nhà máy xử lý nước thải
Hình 6. Sơ đồ tuyến tiếp xúc (Trang 23)
Bảng 5. Kết quả phân tích lý hóa (mẫu lấy tại bể tập trung toàn bệnh viện trước xử lý) - đánh giá rủi ro độc tính sinh thái và khung quản lý liên quan đến những dòng thải bệnh viện đổ vào nhà máy xử lý nước thải
Bảng 5. Kết quả phân tích lý hóa (mẫu lấy tại bể tập trung toàn bệnh viện trước xử lý) (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w