1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá vai trò của các tổ chức môi giới CGCN về KHCN trong lĩnh vực thẩm định công nghệ

26 178 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 161,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hoạt động này, hệ thống văn bản pháp quy đã được ban hànhtương đối đầy đủ và khoa học tạo thuận lợi cho việc thực hiện cấp phép các dự án đầu tư vào Việt Nam và các doanh nghiệp tr

Trang 1

Nội dung Trang

1 Tình hình hoạt động thẩm định công nghệ ở Việt Nam. 2

2.3 Vai trò của các tổ chức môi giới CGCN về KHCN (Về tính

MỤC LỤC

Trang 2

1 Tình hình hoạt động thẩm định công nghệ ở Việt Nam.

Thẩm định công nghệ là một hoạt động liên quan đến nhiều ngành, trong

đó, ngành khoa học và công nghệ (KH&CN) được giao trách nhiệm là cơ quanđầu mối Trong hoạt động này, hệ thống văn bản pháp quy đã được ban hànhtương đối đầy đủ và khoa học tạo thuận lợi cho việc thực hiện cấp phép các dự

án đầu tư vào Việt Nam và các doanh nghiệp trong nước tiến hành đầu tư đổimới, cải tiến công nghệ thông qua chuyển giao các công nghệ tiên tiến từ nướcngoài

Từ những năm về trước, thực hiện chính sách mở cửa nhằm huy độngcác nguồn lực cho phát triển đất nước, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiềuchính sách quan trọng, trong đó có chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vàoViệt Nam Bộ KH&CN (ủy ban Khoa học Nhà nước - vào thời điểm này và BộKhoa học, Công nghệ và Môi trường - KH,CN&MT - sau đó) được phân công

là một trong những cơ quan tham gia vào quá trình xem xét, thẩm định cấp giấyphép đầu tư cho các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Nhận thức

rõ tầm quan trọng của công tác này, ủy ban đã đề nghị Chính phủ cho thành lập

Vụ Giám định Công nghệ thuộc Uỷ ban (sau đổi tên thành Văn phòng Thẩmđịnh về Công nghệ và Môi trường các Dự án Đầu tư và nay là Vụ Đánh giá,Thẩm định và Giám định Công nghệ - Vụ ĐTG) để tham mưu cho Lãnh đạo ủyban trong việc thẩm định công nghệ

Hệ thống văn bản pháp quy và việc triển khai cụ thể hoạt động này tậptrung vào 2 mảng chính: Thẩm định dự án đầu tư và thẩm định hợp đồngchuyển giao công nghệ (CGCN)

1.1 Về công tác thẩm định dự án đầu tư

Thông tư số 1940/1997/TT-BKHCNMT ngày 15.11.1997 của BộKH,CN&MT là văn bản pháp quy đầu tiên được ban hành nhằm hướng dẫnthống nhất công tác này ở cả trung ương, các tổ chức quản lý về KH,CN&MTcủa các bộ/ngành và các địa phương Văn bản này đã phát huy hiệu lực, tạo cơ

sở pháp lý cho cán bộ thẩm định trong góp ý kiến cho cơ quan cấp phép đầu tư

Trang 3

Năm 2000, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được bổ sung, sửa đổinhằm tạo sự thông thoáng cho các nhà đầu tư nước ngoài Để phù hợp với Luậtmới này, ngày 23.7.2002, Bộ KH,CN&MT đã ban hành Thông tư số55/2002/TT-BKHCNMT thay thế cho Thông tư số 1940/1997/TT-BKHCNMTnêu trên

Năm 2005, nhằm thực hiện chủ trương của Chính phủ trong tạo môitrường thuận lợi cho các nhà đầu tư, không phân biệt đối xử giữa nhà đầu tưtrong và ngoài nước, Luật Đầu tư mới đã được ban hành (trên cơ sở thống nhất:Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Luật Khuyến khích đầu tư trongnước) Ngày 24.4.2009, Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số 10/2009/TT-BKHCN hướng dẫn công tác thẩm định công nghệ theo Luật Đầu tư năm 2005

Việc ra đời của Thông tư này đã góp phần hoàn thiện hệ thống văn bảnpháp quy về đầu tư, thực hiện chủ trương cải cách thủ tục hành chính, rút ngắnthời gian xem xét, cấp giấy chứng nhận đầu tư và thực hiện phân cấp mạnh mẽcho các địa phương

Từ năm 1990 đến nay, việc thẩm định công nghệ được tiến hành với mụctiêu xem xét, đánh giá sự phù hợp của công nghệ nêu trong dự án đầu tư vớimục tiêu của dự án; trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Nhà nước tại thờiđiểm thẩm định dự án để đưa ra kiến nghị với cấp có thẩm quyền về việc cấpphép đầu tư cho dự án Mặc dù chỉ là một trong những cơ quan tham gia vàoquá trình thẩm định, cấp phép đầu tư nhưng với trách nhiệm là cơ quan quản lýnhà nước về công nghệ, Bộ KH&CN (trước đó là Bộ KH,CN&MT) đã có nhiều

cố gắng trong việc đóng góp ý kiến cho các dự án đầu tư để đảm bảo nhập cáccông nghệ tiên tiến, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và đảm bảo tiến độ thựchiện các dự án đầu tư Trong quá trình thẩm định, thông qua tham vấn của VụĐTG, Bộ có ý kiến đề nghị không (hoặc chưa) cấp giấy phép đầu tư đối với các

dự án như: Dự án xúc rửa tàu dầu ở thành phố Hồ Chí Minh do chủ đầu tưSingapore thiết lập; Dự án thành lập Công ty LinkD - Tech - InternationalGroup (Hoa Kỳ) để nhập phế thải (vỏ nhựa, vỏ máy tính, kim loại phế liệu ) từ

Trang 4

nhập rác thải, phế liệu nhựa, vỏ ốc, vỏ trai vào Việt Nam để chế biến; Dự ánsản xuất tấm lợp Fibrôximăng của Tập đoàn Siam Cement Group (Thái Lan)

Bộ cũng đã có ý kiến buộc một số dự án phải thay đổi phương án công nghệ,hoặc chuyển đổi sử dụng nguyên, nhiên liệu khác: Dự án chế biến dầu ăn thựcvật (liên doanh giữa Trung Quốc và thành phố Đà Nẵng) dự kiến sử dụng côngnghệ và thiết bị của Trung Quốc với công đoạn tinh chế bằng phương pháp hóahọc, đã được đề nghị thay bằng phương pháp vật lý trong công đoạn tinh chếnhằm đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng thời giảm thiểuđược các chất thải độc hại và phương án xử lý chất thải đơn giản, tiết kiệm hơn

so với phương pháp được đề xuất ban đầu; Dự án Nhà máy điện Phú Mỹ 1 dựkiến sử dụng công nghệ đốt nhiên liệu theo phương pháp cổ truyền, đã được đềnghị chuyển sang áp dụng công nghệ tuốc bin khí hỗn hợp - giúp giảm đáng kểsuất đầu tư và tăng hiệu suất của Nhà máy; với Dự án đầu tư xây dựng Nhàmáy sản xuất quặng hoàn nguyên trực tiếp tại Bà Rịa - Vũng Tàu dùng côngnghệ Midrex - là công nghệ sử dụng loại quặng sắt chứa đến 0,1% tạp chấtkẽm, việc xử lý rất tốn kém và phức tạp… nên Bộ đã đề nghị không khuyếnkhích, buộc nhà đầu tư phải tìm phương án khác

Để khuyến khích các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài áp dụngcông nghệ cao vào sản xuất công nghiệp, Bộ đã xem xét và cấp chứng nhậnDoanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao cho 12 doanh nghiệp theo quy định tạiThông tư số 02/2001/TT-BKHCNMT, trong đó có 11 doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài của Nhật Bản và 1 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài củaHàn Quốc Các lĩnh vực tập trung chủ yếu vào sản xuất các linh kiện quangđiện, cơ quang điện tử, bảng mạch in…

Cùng với việc trực tiếp thẩm định công nghệ, hàng năm, Bộ cũng đã chútrọng việc phổ biến, triển khai công tác này ở các Sở KH&CN nhằm giúp chođội ngũ cán bộ quản lý ở các địa phương nắm vững các quy định cũng như kỹnăng thẩm định công nghệ, dần từng bước đáp ứng yêu cầu phân cấp quản lýcủa Chính phủ

Trang 5

1.2 Về công tác thẩm định hợp đồng CGCN

Trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, hoạt động CGCN chủ yếu

là từ nước ngoài vào Việt Nam thông qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoàitại Việt Nam và một số dự án đầu tư trong nước có nhập khẩu công nghệ Pháplệnh về CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam được ban hành năm 1988 có thểcoi là văn bản đầu tiên điều chỉnh hoạt động CGCN trong thời kỳ thực hiệnchính sách mở cửa, tiếp theo là Bộ luật Dân sự (năm 1995) với nội dung quyđịnh về CGCN đã đánh dấu bước phát triển mới của hoạt động này tại ViệtNam

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam vừa trải qua thời gian dài của cơchế kế hoạch hóa tập trung, các doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp nhànước) chưa được tiếp cận và cọ sát trong môi trường cạnh tranh của kinh tế thịtrường, việc kiểm soát chặt chẽ hoạt động CGCN như quy định tại các văn bảnnêu trên là thực sự cần thiết Các quy định như khống chế giá trần CGCN, ràngbuộc một số điều kiện khi chuyển giao và tiếp nhận chuyển giao đối với cácliên doanh (trong đó phía Việt Nam có sử dụng vốn nhà nước để CGCN) đãthực sự phát huy tác dụng, góp phần giúp các doanh nghiệp trong đàm phán,thương thảo hợp đồng CGCN với các đối tác nước ngoài Việc phê duyệt cáchợp đồng CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam quy định tại Thông tư số 28/TT-QLKH ban hành ngày 22.1.1994 và Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ban hànhngày 1.7.1998 đã giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam không phải thanh toánphí CGCN cao hơn giá trị thực của công nghệ Điển hình như: Hợp đồngCGCN sản xuất đèn hình cho ti vi và màn hình máy tính giữa Orion ElectricCo., Ltd (Hàn Quốc) và Công ty TNHH đèn hình Orion Hanel; hợp đồngCGCN sản xuất xe máy VMEP Việt Nam; hợp đồng CGCN sản xuất lốp cao suInoue Việt Nam

Tiếp đó, thực hiện chủ trương cải cách hành chính, tăng cường tính tựchủ của các doanh nghiệp, chính sách của Nhà nước về CGCN đã có những

Trang 6

bãi bỏ những quy định mang tính kiểm soát, khống chế của Nhà nước (như việcphê duyệt của Nhà nước đối với giá CGCN); các thủ tục cũng ngày càng thôngthoáng và đơn giản nhằm góp phần thu hút công nghệ tiên tiến và giảm thiểu ônhiễm môi trường tại Việt Nam

Trước sức ép của thị trường (cạnh tranh với các sản phẩm do các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sản xuất), nhiều doanh nghiệptrong nước (đặc biệt là các doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt may, điện tử, cơkhí, thực phẩm và dược phẩm) đã phải đầu tư đổi mới công nghệ (thông quanhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ tiên tiến) để nâng cao chất lượng, hạgiá thành sản phẩm, chiếm lĩnh thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu

Có thể nói, nhờ có được các công nghệ tiên tiến này, các doanh nghiệp đã tạo

ra được nhiều sản phẩm có chất lượng cao và mẫu mã đẹp, đáp ứng tốt hơn nhucầu của thị trường trong nước và xuất khẩu

Thông qua hoạt động CGCN trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài

đã hạn chế đến mức tối đa các sản phẩm trước đó phải nhập khẩu với khốilượng lớn như: Vật liệu xây dựng, hàng gia dụng, phương tiện giao thông…;trình độ công nghệ sản xuất trong nước đã được nâng cao rõ rệt so với trước,đặc biệt trong một số ngành như: Viễn thông, dầu khí, xây dựng cầu đường…

đã tiếp thu được công nghệ tiên tiến đạt trình độ hiện đại của thế giới Mặtkhác, các trang thiết bị trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đãđược đổi mới hoặc nâng cấp, trình độ cơ khí hóa, tự động hóa được nâng cao(như: Lắp ráp các bản mạch điện tử; lắp ráp tổng đài điện thoại kỹ thuật số; lắpráp các sản phẩm điện tử gia dụng; lắp ráp ô tô, xe máy…)

Luật CGCN có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2007 là văn bản pháp quy

có hiệu lực pháp lý cao nhất từ trước đến nay, quy định thống nhất về hoạtđộng CGCN trên lãnh thổ Việt Nam, từ Việt Nam ra nước ngoài và từ nướcngoài vào Việt Nam Trong đó, Luật đã đề cập một số vấn đề mới như: Banhành 3 danh mục công nghệ (khuyến khích chuyển giao, hạn chế chuyển giao

và cấm chuyển giao); không khống chế mức phí thanh toán tối đa cho CGCN;không quy định thời hạn tối đa của hợp đồng CGCN; về áp dụng pháp luật,

Trang 7

trường hợp hoạt động CGCN có yếu tố nước ngoài thì các bên có thể thỏathuận trong hợp đồng việc áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán thươngmại quốc tế (nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó khôngtrái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam); Nhà nước chỉ cấp phépCGCN đối với công nghệ thuộc danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao, cònđối với công nghệ thuộc danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao thì cácbên tham gia ký kết hợp đồng CGCN có quyền tự nguyện đăng ký để đượchưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật… Một điểm quan trọng nữa là Luật

đã dành hẳn một chương quy định về các biện pháp khuyến khích CGCN

Ngày 31.12.2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 133/2008/NĐ-CPquy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật CGCN Với việcban hành Nghị định này, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động CGCN

đã được phân cấp mạnh hơn cho các Sở KH&CN của các tỉnh/thành phố trựcthuộc trung ương

Với khung pháp lý đã tạo lập và những kết quả đã đạt được, trong thờigian tới, hoạt động CGCN cần tiếp tục phát huy vai trò tích cực của mình đểđáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Mặt khác, để có thể thúc đẩy, khuyếnkhích mạnh mẽ hơn nữa hoạt động CGCN, thu hút công nghệ tiên tiến từ nướcngoài vào Việt Nam cũng như khuyến khích phát triển công nghệ trong nướccần phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đối với hoạt động này Hiệnnay, được sự quan tâm chỉ đạo của Bộ KH&CN, Vụ ĐTG đang tích cực tiếnhành việc nghiên cứu, xây dựng để tiếp tục đề xuất với các cấp có thẩm quyềnban hành kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật về: Nội dung hoạt động,điều kiện thành lập và tổ chức hoạt động của các tổ chức dịch vụ CGCN (baogồm: Đánh giá, định giá công nghệ, tư vấn và môi giới công nghệ), tạo cơ sởpháp lý để thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa hoạt động CGCN tại Việt Nam trongthời gian tới

Trang 8

2 Đánh giá vai trò của các tổ chức môi giới CGCN về KHCN trong

lĩnh vực thẩm định công nghệ (xuất xứ, giá thành, sự đồng bộ của dây chuyền

công nghệ …)

Các tổ chức trung gian trong CGCN chủ yếu hoạt động dịch vụ về thôngtin, tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ Trong khi đó, có rất ít đơn vịchuyên về dịch vụ pháp lý sở hữu trí tuệ, dịch vụ tài chính đầu tư đổi mới côngnghệ; các quỹ đầu tư mạo hiểm, nhất là dịch vụ đánh giá - giám định công nghệcòn thiếu Có tình trạng này là vì đây là lĩnh vực đòi hỏi phải đầu tư một nguồnlực nhất định trong khi lợi nhuận thu được chưa nhiều, khó hấp dẫn tư nhântham gia

Ngoài ra, thể chế về thông tin thị trường chưa phát triển, hệ thống quản

lý lưu trữ thông tin về kết quả công nghệ còn yếu; việc phổ biến và thông tincho những đối tượng có liên quan đến công nghệ chưa được đẩy mạnh Sự pháttriển yếu kém của hệ thống tổ chức môi giới công nghệ, dịch vụ chuyển giao,đánh giá - thẩm định công nghệ và sở hữu trí tuệ là một trong những hạn chế,ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường công nghệ hiện nay

Hiện nay, Bộ KH&CN đang xúc tiến để hình thành các tổ chức trung gian trong thị trường công nghệ vì công nghệ không thể có tổ chức trung gian, thị trường công nghệ cũng như mọi thị trường khác phải có người tư vấn, ngườimôi giới, người định giá, thẩm định công nghệ cho nhà khoa học và doanh nghiệp, rồi sau đó học có thể đến được với nhau Thông qua các tổ chức môi giới có chuyên môn, nghiệp vụ sẽ giúp cho doanh nghiệp, người dân hiểu, nhà khoa học xác định được giá trị thực tiễn của kết quả nghiên cứu, và tài sản trí

tuệ (tài sản vô hình) của mình

2.1 Vai trò của các tổ chức môi giới CGCN về KHCN về xuất xứ của công nghệ:

Theo thống kê 200 DN, chúng tôi thấy số lượng công nghệ đã tiếp nhậnchuyển giao hiện nay phần lớn vẫn là trong nước

Trang 9

Số lượng công nghệ đã tiếp nhận chuyển giao

trong 03 năm (200 doanh nghiệp)

Hình 1 Số lượng công nghệ đã tiếp nhận chuyển giao

Tỷ lệ các nguồn công nghệ đã tiếp nhận chuyển giao

cả một số công nghệ cao hàng đầu thế giới

Trang 10

Hiện nay, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay khálớn, song trình độ công nghệ nhìn chung còn lạc hậu Để tăng sức cạnh tranhcho sản phẩm, nhất là trong xu thế hội nhập, việc đổi mới công nghệ cần phảiđặt lên hàng đầu.

Công nghệ để chuyển giao phải thỏa mãn các điều kiện như: công nghệ

đã hoàn thiện; công nghệ phải bao hàm đủ các nội dung để chuyển giao như: tàiliệu, đào tạo, trợ giúp kĩ thuật Bên cạnh đó, một tiêu chí quan trọng được cảbên mua và bên bán công nghệ quan tâm là cần xác định rõ vấn đề liên quanđến chuyển giao các đối tượng sở hữu công nghiệp như: nhãn hiệu hàng hóa,sáng chế, kiểu dáng công nghiệp

2.2 Vai trò của tổ chức CGCN về giá thành (định giá công nghệ)

Việc thẩm định công nghệ là cung cấp một cơ sở cho các đầu mối để xácđịnh công nghệ có tiềm năng lớn nhất để chuyển giao Công nghệ này bao gồmcác sản phẩm, dây chuyền, kỹ thuật, và các thiết bị chủ lực Luật sở hữu trí tuệ

Tuy vậy trong thời kỳ đầu đấy mới chỉ là những công nghệ hạng ba,hạng tư Lúc đó, vai trò của định giá công nghệ càng trở nên cấp thiết hơn baogiờ hết Thực chất của việc này chính là xác định giá cả của công nghệ đượcchuyển giao đúng với giá trị thực của nó, mang lại lợi ích cho cả nhà cung cấp

và bên được cung cấp công nghệ Việc định giá này có thể được thực hiện bằngnhiều cách thức, như so sánh hay cạnh tranh Thông thường, cả bên mua lẫnbên bán đều có nhu cầu định giá công nghệ, nhưng yêu cầu mà công nghệ cầnthỏa mãn trước khi tiến hành định giá lại không giống nhau đối với các bên

Thực tế, định giá công nghệ là một việc khá phức tạp và tốn kém Do đó,định giá công nghệ không thể tiến hành tràn lan mà phải có mục đích cụ thể vàđịa chỉ áp dụng rõ ràng Một điều mà các doanh nghiệp cần lưu ý là giá củacông nghệ trong các hợp đồng chuyển giao nói chung là do hai bên thỏa thuận

Việc định giá công nghệ chỉ mang tính chất tham khảo cho các bên, tấtnhiên giá cuối cùng là do các bên quyết định

Trang 11

Mặc dù vậy, cá nhân hoặc tổ chức tiến hành hoạt động đánh giá công nghệ phải định giá một cách khách quan, trung thực dựa trên cơ sở khoa học

và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình.

Ở các nước phát triển, thị trường công nghệ đã có từ lâu nên hoạt độngđịnh giá công nghệ rất phát triển Theo thống kê, Hàn Quốc đã nhanh chóng trởthành nước công nghiệp mới phát triển nhờ việc đổi mới công nghệ Trongvòng 17 năm (từ 1962 đến 1979), có trên 1.500 hợp đồng chuyển giao côngnghệ (CGCN) mới nhập vào với nhịp độ ngày càng gia tăng Từ năm 1962 đến

1966 có 31 hợp đồng CGCN; từ năm 1967 đến 1972 có 325 hợp đồng CGCN;

từ năm 1973 đến 1977 có 538 hợp đồng CGCN và từ 1978 đến 1979 có 573hợp đồng CGCN Họ rút ra kết luận: muốn đẩy nhanh tốc độ CGCN và hiệuquả tốt ngoài việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thì định giá công nghệ làhoạt động tất yếu và cấp bách phục vụ cho hoạt động CGCN

Hiện nay trên thế giới có một số phương pháp định giá công nghệ có thể

áp dụng ở Việt Nam như: phương pháp so sánh với một công nghệ tương tự đãchuyển giao trước; phương pháp cạnh tranh giữa các nhà cung cấp công nghệ;phương pháp quy tắc ngón tay cái, phương pháp "giá trần" (một số Chính phủcông bố giới hạn tối đa cho phí CGCN); phương pháp phân chia lợi nhuận,phương pháp chi phí, phương pháp thị trường; phương pháp thu nhập Trong

số này, theo kinh nghiệm của các nước, phương pháp thu nhập được áp dụngphổ biến nhất Mặc dù mỗi phương pháp đều có ưu, nhược điểm riêng và điềukiện áp dụng khác nhau, điều quan trọng là khi vận dụng cụ thể cho từngtrường hợp định giá công nghệ cần xem xét điều kiện của từng phương pháp

Để thúc đẩy hoạt động định giá công nghệ, theo các nhà khoa học, Việt Nam nên sớm hình thành các tổ chức sự nghiệp chuyên sâu, đặc biệt là tổ chức môi giới chuyển giao công nghệ Những đơn vị này cần có sự quản lý thống nhất về hoạt động định giá công nghệ Điều này có lợi cho nhà sản xuất, người tiêu dùng và sâu xa hơn là cả nền KH&CN nước nhà

Trang 12

2.2.1 Định giá theo thị trường

Trong phương pháp định giá theo thị trường, người ta phân tích các giaodịch có thể so sánh được để xác định giá trị một công nghệ Để có được kết quảchính xác từ phương pháp này cần có các điều kiện sau: Một thị trường năngđộng với các công nghệ có thể so sánh được; Các công nghệ có thể so sánhđược được bán và các điều khoản hợp đồng mua bán là đã biết; Các bên giaodịch độc lập và có thiện chí Với công nghệ thuộc các lĩnh vực như: dượcphẩm, hoá mỹ phẩm, giải khát DN có thể áp dụng phương pháp định giá này

để có được các kết quả chính xác nhất

Nguyên tắc 3 - 5%: Khi chuyển giao quyền sử dụng các công nghệ quantrọng, đối với nhiều ngành công nghiệp thông thường, mức giá kỳ vụ (royalty)của công nghệ thường từ 3 đến 5% giá bán sản phẩm được sản xuất theo côngnghệ được chào Do mức giá này là phổ biến, nên bên nhận chuyển giao quyền

sử dụng thường cảm thấy thoải mái với mức giá kỳ vụ này, và ngược lại, họ sẽthấy không thoải mái với mức giá kỳ vụ cao hơn

Chuẩn công nghiệp: Việc định giá công nghệ dựa trên các chuẩn công nghiệp làmột trong những cách thường được sử dụng nhất trong chuyển giao quyền sửdụng công nghệ Giá công nghệ trong các ngành công nghiệp cụ thể như sau:

Ngành công nghiệp máy tính: Mức giá kỳ vụ ở ngành công nghiệp máytính phần cứng thường vào khoảng 1-5%, bị ảnh hưởng bởi việc IBM áp dụng

tỷ lệ này trong chính sách chuyển giao quyền sử dụng của họ năm 1988 Trongkhi đó, các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng công nghệ phần mềm máytính lại có thể có các mức giá kỳ vụ rất cao (đến 25%) do lãi ròng của các sảnphẩm phần mềm này lớn Chương trình cơ sở, bán kèm cùng với phần cứngmáy tính, thường được chuyển giao quyền sử dụng với giá ít nhất là từ 0,5 đến

Trang 13

tỷ lệ chia lợi nhuận đối với ngành công nghệ này thường ở mức 50/50, nếu tínhthành mức phí kỳ vụ thì tương đường từ 8 đến 12% giá bán lẻ.

Ngành công nghiệp ô tô: mức giá kỳ vụ đối với các công nghệ được muavào thường dưới 5%, chủ yếu là dưới 2% Đối với các công nghệ được bán,mức giá kỳ vụ thấp và thường là ở ngưỡng từ 5 đến 10%

Ngành công nghiệp chăm sóc sức khoẻ: mức giá kỳ vụ trong các hợpđồng chuyển giao quyền sử dụng công nghệ đối với các thiết bị chăm sóc y tếthường là từ 2 đến 10%, và đối với các hợp đồng bán công nghệ thường là từ 5đến 10%

Ngành công nghiệp điện gia dụng: các mức giá kỳ vụ thường thấp dokhối lượng sản phẩm đồ gia dụng được sản xuất và bán ra rất lớn và lợi nhuậnthuần thấp và thường là dưới 1% (đối với các sản phẩm có giá bán cao) và đếnkhoảng 3% (đối với các sản phẩm có giá bán thấp)

Mức giá kỳ vụ đối với các công nghệ có kết hợp phần mềm thường nằmtrong khoảng từ 0% (ví dụ cho việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệuDolby trên các sản phẩm máy cassett compact) đến tận 50% (đối với các sảnphẩm là phần mềm trò chơi điện tử)

Đấu giá: Đấu giá có lẽ là phương pháp đơn thuần nhất để xác định giá trịthị trường của một công nghệ Theo lý thuyết, giá cao nhất được trả sẽ phảnánh đúng nhất giá trị thị trường của công nghệ mà không cần sử dụng bất cứphương pháp định giá nào khác

2.2.2 Định giá theo chia sẻ lợi nhuận

Tất cả các phương pháp định giá công nghệ đều đưa ra kết quả ước tínhgiá trị công nghệ theo lý thuyết Khi chuyển giao quyền sử dụng công nghệ, lợinhuận do công nghệ sinh ra phải được chia công bằng cho cả bên chuyển giao

và bên nhận chuyển giao công nghệ theo cách có thể chấp nhận được Việcphân chia lợi nhuận mà công nghệ mang lại trước tiên phụ thuộc vào giai đoạnphát triển của công nghệ đó

Với một công nghệ đã được phát triển đầy đủ, đã được chứng minh qua

Ngày đăng: 07/12/2015, 14:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Số lượng công nghệ đã tiếp nhận chuyển giao - Đánh giá vai trò của các tổ chức môi giới CGCN về KHCN trong lĩnh vực thẩm định công nghệ
Hình 1. Số lượng công nghệ đã tiếp nhận chuyển giao (Trang 9)
Hình 2: Tỷ lệ công nghệ đã tiếp nhận - Đánh giá vai trò của các tổ chức môi giới CGCN về KHCN trong lĩnh vực thẩm định công nghệ
Hình 2 Tỷ lệ công nghệ đã tiếp nhận (Trang 9)
Bảng 1. Tính đồng bộ của máy móc thiết bị  (Đơn vị: %) - Đánh giá vai trò của các tổ chức môi giới CGCN về KHCN trong lĩnh vực thẩm định công nghệ
Bảng 1. Tính đồng bộ của máy móc thiết bị (Đơn vị: %) (Trang 21)
Hình 3 . Mức độ tự động hóa của dây chuyền sản xuất - Đánh giá vai trò của các tổ chức môi giới CGCN về KHCN trong lĩnh vực thẩm định công nghệ
Hình 3 Mức độ tự động hóa của dây chuyền sản xuất (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w