Phải đến cuối tháng 5, thị trường mới lóe lên đ iểm sáng với một đợt hồi phục ngắn trong khoảng 3 tuần đến giữa tháng 6.Tuy nhiên đợt phục hồi n ày mang khá nh iều tính kỹ thuật do mặt b
Trang 1CHUYÊN ĐỀ NHÓM 2 : DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
Trang 2Năm 2011 là một năm kh á khó khăn c ủa nền k inh tế Viêt Nam theo đó thị trường chứng khoán, vốn là phong vũ biểu c ủa nền kinh tế, c ũng phản ánh rõ điều này với
xu hướng giảm điểm là xu hướng chính và chủ đạo Trong c ả năm, thị trường c hỉ
có được hiếm hoi hai đợt hồi phục ngắn vào cuối tháng 5 và khoảng g iữa tháng 8, toàn bộ khoảng thời gian còn lại thị trường c hủ yếu đi xuống trong sự chán nản và mệt mỏi của các nhà đầu tư Chốt phiên ngày 30/12/2011, VN Index và HNX Index lần lượt đóng cửa ở 351,55 và 58,74 điểm, như vậy so với đầu năm 2011 sàn
Hồ Chí Minh đã giảm mạnh 27,46% còn sàn Hà Nội thì lao dốc đến hơn 48% Không chỉ chịu áp lực giảm về mặt điểm số, diễn biến giao dịch trên thị trường càng ngày càng theo hướng trầm lắng và ảm đạm hơn, thể hiện qua sự khô kiệt của tính thanh khoản, so với c on số của năm 2010 thì giá trị trung bình mỗi ph iên g iao dịch của mỗi sàn đều sụt giảm mạnh đến xấp xỉ 60% Nguyên nhân chủ yếu c ủa hiện tượng này trước hết đến từ phía các vấn đề vĩ mô c ơ bản trong nước, đặc biệt
là áp lực tỷ giá, lạm phát và lãi suất Tình hình lạm phát mặc dù về cuối năm đã dần trở nên ổn định và được k iểm soát nhưng nếu so với năm ngoái thì vẫn ở mức cao, mặt bằng lãi suất đã hạ nhiệt sau một loạt các biện pháp mạnh mẽ và quyết liệt của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhưng chưa thực sự thấp Không chỉ có vậy, trong thời gian qua thị trường chứng khoán Việt Nam còn chịu ảnh hưởng bởi những thông tin tiêu cực trên thị trường thế giới mà nổi bật nhất là v ấn đề nợ công
ở Châu Âu vẫn chưa được giải quyết và khả năng suy thoái kép của nền kinh tế toàn cầu
Trang 3Trong hai quý đầu của năm 2011, khi mà những bất ổn từ phía kinh tế vĩ mô trong
nước dần bộc lộ, đặc biệt là bắt đầu từ lúc tỷ giá điều chỉnh tăng thêm 9,3% và lạm
phát tăng mạnh trong tháng 2, thì cũng là lúc xu hướng giảm điểm chiếm ưu thế
trên thị trường Cùng với việc chính sác tiền tệ được điều chỉnh theo hướng chặt
chẽ hơn hướng tới mục tiêu đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô thì càng giao dịch, diễn
biến và bầu không khí giao dịch trên thị trường cũng càng trở nên ảm đạm hơn
Phải đến cuối tháng 5, thị trường mới lóe lên đ iểm sáng với một đợt hồi phục ngắn
trong khoảng 3 tuần đến giữa tháng 6.Tuy nhiên đợt phục hồi n ày mang khá nh iều
tính kỹ thuật do mặt bằng giá cổ phiếu đã thấp hơn đáng kể nên chỉ cần những
thông tin hỗ trợ dù không thực sự mạnh,như mức tăng CPI của tháng 5 tuy giảm so
với tháng 4 nhưng thực tế vẫn khá cao, cũng đủ để kích thích cầu bắt đáy,dòng tiền
mang tính đầu cơ theo đó đổ mạnh vào thị trường, tập trung nhiều vào cổ phiếu
nóng với tính thanh khoản cao.Cũng vì đà tăng này không có được ủng hộ mạnh từ
phía các yếu tố vĩ mô cơ bản cho nên tính thiếu bền vững của nó nhanh chóng
được thể hiện, trước khi kết thúc quý II/2011, xu hướng giảm điểm đã trở lại
Bước sang quý III, đây là quý c ó thể xem như khởi sắc nhất của thị trường c hứng
khoán trong năm 2011 với một đợt tăng đ iểm khá dài của th ị trường c hứng khoán
kéo dài khoảng 1 tháng từ giữa tháng 8 đến giữa tháng 9 Trước đây nếu như
những khó khăn từ phía vĩ mô trong nước là nguyên nhân chính làm thị tường sụt
giảm thì khi mà những vấn đề đó đã có dấu hiệu c huyển biến tích cực hơn thì cũng
là lúc thị trường bứt phá Đầu tiên phải kể đến việc lạm phát đã dần được kiềm chế
Trang 4và ổn định hơn với thông tin mức tăng CPI trong tháng 8 của cả nước chỉ chưa đến 1% với con số 0,93% Không dừng lại ở đó, thị trường còn nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ khẳng định khá chắc c hắn c ủa NHNN về việc hạ mặt bằng lãi suất với nhiều biện pháp cứng rắn và quyết liệt thể hiện quy ết tâm cao đ ảm bảo đảm thực hiện mục t iêu k ể trên, đặc biệt đáng chú ý là quyết định áp trần lãi suất huy động 14% vào ngày 07/09 Kết quả là niềm tin vào thị trường dần được phục hồi, giao dịch ngày càng trở nên sôi động hơn qua từng phiên, dòng tiền có dấu hiệu trở lại thị trường chứng khoán trong sự hứng khởi của các nhà đầu tư
Mặc dù vậy trước khi quý III/2011 khép lại, từ khoảng giữa tháng 9 trở đi, thị trường chứng khoán Việt Namđã phải chịu tác động tiêu cực từ cả yếu tố trong nước, như những vấn đề nảy sinh sau khi hạ lãi suất mà đặc biệt là vấn đề tỷ giá, lẫn yếu tố thế giới, như diễn b iến xấu trong việc giải quyết vấn đề nợ công ở Châu
Âu mà kéo theo đó là tr iển vọng yếu kém của nền k inh tế toàn cầu Kết quả là từ cuối quý III đến hết quý IV/2011, thị trường chứng khoán cứ ảm đạm dần qua từng phiên v ới xu hướng giảm điểm là chủ đạo,không có đợt hồi phục nào đủ dài được ghi nhận Đáng chú ý là trong giai đoạn n ày, tình hình lạm phát đã d ần được kiềm chế và đi vào ổn đ ịnh v ới mức tăng lạm phát c ủa ba tháng cuối năm đều dưới 1% mặc dù vậy thị trường và các nhà đầu tư cũng không tỏ ra quá quan tâm đ ến đ iều này khi mà còn không ít những nỗi lo khác đang tồn tại
MỘT SỐ ĐIỂM NỔI BẬT CỦA THỊ TRƯỜNG TRONG NĂM 2011
Nhà đầu tư nước ngoài hạn chế giao dịch với thái độ thận trọng v à dè dặt với thị trường chứng khoán Việt Nam do chịu tác động tiêu cực từ những bất ổn của kinh tế vĩ mô trong nước lẫn thế giới
Nếu như trong năm 2010, thị trường c hứng khoán Việt Nam đ ã nhận được lực hỗ trợ rất mạnh của dòng vốn ngoại thì ngược lại, trong năm 2011, dòng vốn n ày lại
có dấu hiệu rút khỏi thị trường và theo đó cũng đã góp phần làm cho thị trường càng trở nên ảm đạm hơn Cũng c ần phải lưu ý thêm rằng năm 2011 là một năm không chỉ khó khăn đối với Việt Nam mà còn cả nền kinh tế thế giới nói chung với tâm điểm là cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu mà kéo theo đó chính là nguy
cơ suy thoái kép, điều này đã dẫn đ ến một làn sóng rút vốn đầu tư khỏi c ác tài sản rủi ro, đặc biệt ở những thị trường mới nổi, trong đó c ó Việt Nam Bên cạnh đó, một nguyên nhân quan trọng khác dẫn đến hiện tượng kể trên còn bắt nguồn từ chính những bất ổn của nền kinh tế trong nước, nhất là vấn đề tỷ giá Có thể thấy rằng từ sau khi tỷ giá được điều c hỉnh tăng khá mạnh, hơn 9%, vào giữa tháng 2 thì các nhà đầu tư nước ngoài cũng dần hạn c hế động thái mua ròng và đến khoảng giữa quý III trở đi thì xu hướng bán ròng trở nên rõ nét và chiếm ưu thế hơn hẳn
Trang 5Như đã đề cập ở trên, trong năm 2011, cả HNX và VN Index đều trượt giảm mạnh, tuy nhiên sau khi phân chia các c ổ phiếu trên 2 sàn theo các nhóm vốn hóa lớn, trung bình và nhỏ thì có thể thấy sự suy giảm này phần lớn là do ảnh hưởng từ sự tuột dốc của nhóm cổ phiếu vốn hóa vốn hóa trung bình và nhỏ trên thị trường Cụ thể, đóng cửa ngày 30/12/2011, nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn mức lợi suất-6,70%, nhỏ hơn rất nhiều so với con số sụt giảm của HNX và VN Index, còn nhóm cổ phiếu vốn hóa trung bình và nhỏ lần lượt có mức lợi suất âm lên t ới 29,66% và -43,09%.Không chỉ có vậy, mặc dù năm 2011 đã được ghi nhận là một năm với xu thế giảm điểm là chủ đạo trên thị trường chứng khoán nhưng căn cứ vào số liệu thống kê cũng như theo biều đồ trên, nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn trong suốt năm qua chủ yếu đi ngang với biên độ tương đối hẹp, thể hiện một khả năng chống chịu
và là trụ đỡ tốt cho thị trường Trong khi đó hai nhóm cổ phiếu c òn lại, chiếm số đông c ác mã niêm yết trên hai sàn, thì lại thể hiện rất rõ xu hướng đ i xuống c ùng chiều với thị trường
Ưu thế kể trên của nhóm vốn hóa lớn trước hết là do những cổ phiếu này thường là những c ổ phiếu c ủa các công ty, tập đoàn lớn đầu ngành, c ó uy tín thương hiệu tốt trên thị trường, tình hình tài chính lành mạnh với nguồn vốn lớn, đồng thời c ũng đã trải qua một thời g ian ph át triển nhất định v ới kinh nghiệm quản lý được tích lũy, theo đó những công ty này c ũng sẽ có triển vọng v à khả năng chống c hịu tốt hơn trong bối cảnh nền kinh tế đang gặp khó khăn Hơn thế nữa, những công ty như vậy luôn có được sự quan tâm ưu ái và nâng đỡ của dòng vốn ngoại, chính điều này cũng đã làm ưu thế của nhóm vốn hóa lớn c àng trở nên rõ nét hơn
Trang 6Động thái thay đổi cổ phiếu trong danh mục tính chỉ số của các quỹ đầu tư theo chỉ số đã tạo nên giao dịch đột biến về giá trị và khối lượng với một số cổ phiếu
Việc sụt giảm đáng kể của thị trường c hứng khoán Việt Nam trong năm 2011 đã dẫn tới việc thay đổi một số cổ phiếu trong rổ tính toán các c hỉ số chứng khoán Việt Nam của một số tổ chức uy tín nước ngoài, thông thường các ETF đầu tư theo chỉ số sẽ dựa vào các chỉ số này để có c hiến lược đầu tư hợp lý Trong năm qua, FTSE Index Company, tổ chức sở hữu chỉ số FTSE Vietnam Index và FTSE Vietnam All-share Index, trong báo cáo công bố vào quý III đã đưa MSN cùng IJC vào rổ tính toán chỉ số FTSE Vietnam Index và PNJ vào rổ tính toán chỉ số FTSE Vietnam All-share Index, đồng thời loại bỏ một số cổ phiếu khác
Trước khi thông tin chính thức được c ông bố, cũng đã có khá nhiều nhận định và
dự báo được đưa ra trước đó Vì vậy trong quý III, ba cổ phiếu kể trên đều có những đột biến nhất định về giá tr ị và khối lượng giao dịch, những c ổ phiếu này không c hỉ thu hút được lực cầu từ các quỹ ETF đầu tư theo chỉ số mà còn c ả những nhà đầu tư trong nước
Đáng chú ý là do được sự hỗ trợ mạnh c ủa các quỹ ETF nên các cổ phiếu trong rổ chỉ số có sức chống c hịu khá tốt trước xu thế giảm điểm của thị trường trong bối cảnh khó khăn chung và hứa hẹn đem lại một lợi nhuận hấp dẫn Ngoài ra những
cổ phiếu được lưa chọn đưa vào rổ tính toán chỉ số thường là c ổ phiếu c ủa những công ty đã được c ác tổ chức uy tín trên thế giới đánh giá và kiểm định với tiềm năng cơ bản tốt Có lẽ cùng vì vậy mà MSN, IJC và PNJ đã tỏ ra khá nổi bật và thu hút được một lượng lớn c ác nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm Tính riêng trong giai đoạn 6 tháng cuối năm 2011, thị giá của PNJ nhảy vọt thêm hơn 55%, IJC nhích thêm 6,33%, còn MSN giảm nhẹ chỉ 6,70%
Dự báo trong năm 2012, việc thay đổi c ơ cấu trong rổ danh mục tính toán chỉ số là hoàn toàn có khả năng sẽ xảy ra và c hắc hẳn những cổ phiếu mới được đưa thêm vào có khả năng cao sẽ đột phá, trong khi đó những cổ phiếu vẫn duy trì sự hiện diện c ủa mình trong danh mục sẽ tiếp tục nổi bật và th ậm chí có thể còn là trụ đỡ quạn trọng cho thị trường
Phần đông các công ty chứng k hoán gặp k hó k hăn và chịu thua lỗ trong năm
2011
Cùng với sự sụt giảm cả về điểm số lẫn giá trị giao dịch của thị trường chứng khoán Việt Nam thì, theo thống kê c hưa đầy đủ , trong năm 2011, số lượng công ty chứng khoán chịu thua lỗ chiếm ưu thế áp đảo Trong số hiếm hoi những c ông ty
có lợi nhuận thì các khoản này chủ yếu đến từ mảng kinh doanh khác ngoài dịch vụ môi giới cũng như tự doanh Để tiếp tục tồn tại, một số công ty đã phải cắt giảm nhân sự thậm chí là loại bỏ một số nghiệp vụ, trong đó có môi giới cụ thể như
Trang 7trường hợp của công ty chứng khoán SME, chứng khoán Gia Anh, chứng khoán Đông Dương và chứng khoán Hà Nội Không chỉ có vậy, một số công ty chứng khoán còn bị Trung tâm Lưu ký c ảnh c áo vì mất khả năng thanh toán gây hoang mang cho các nhà đầu tư, vốn đã khá mệt mỏi và e dè trong suốt một thời gian dà i thị trường trượt giảm
Với triển vọng và dự báo của thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2012 còn không ít khó khăn thì hiện tượng thua lỗ của các công ty c hứng khoán c ó lẽ sẽ chưa dừng lại Theo đó thị trường c ó thể sẽ xuất hiện ra những xáo trộn nhất định trong ngành chứng khoán, một số công ty có khả năng đứng trước yêu cầu phải thay đổi, tái c ơ cấu, sáp nhập hoặc bị thâu tóm bởi công ty khác và thậm chí xấu hơn là phá sản Điều này trong ngắn hạn sẽ có tác động xấu với thị trường chứng khoán cũng như tâm lý của các nhà đầu tư Tuy nhiên chúng tôi đánh giá đây là một hiện tượng hợp lý và cần thiết trong giai đoạn hiện nay, những công ty c òn tồn tại được sau thời kỳ khó kh ăn là minh chứng tốt nhất cho sức khỏe và tình hình tài c hính lành mạnh cũng như năng lực quản lý để từ đó có thể đem lại lợi ích tối đa cho thị trường và các nhà đầu tư Sau một thời gian phát triển thì rõ ràng thị trường lúc này cần c ó sự thanh lọc để đảm bảo những bước tiến chắc c hắn và bền vững trong dài hạn
Xét về tốc độ tăng trưởng, TTCK Việt Nam được c oi là có tốc độ tăng trưởng rất cao, tới 60 – 70%, nhưng xem xét một cách toàn diện thì TTCK rất bất ổn Thị trường cổ phiếu lên xuống thất thường, thị trường trái phiếu (TTTP) Chính phủ vẫn
Trang 8chưa phát triển Sự biến động của TTCK cũng như thị trường vàng, thị trường ngoại tệ ở Việt Nam chẳng theo một quy luật nào đã cho thấy những bất ổn của thị trường phát sinh từ chính những yếu tố nội tại c ủa thị trường như thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận của TTCK (thị trường sơ cấp, sở giao dịch, thị trường UpCoM, TTTP chuyên biệt), giữa TTCK với thị trường ngoại hối, thị trường tín dụng và thị trường vàng Thị trường tài c hính bị phân khúc, chưa có sự minh bạch trong quản trị điều hành và trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý, giám sát
ở tầm vĩ mô, cũng như các thông tin thị trường chưa được cập nhật một cách chuẩn xác đến các nhà đầu tư, trong khi yếu tố tâm lý luôn bị chi phối nặng nề bởi c ác tin đồn; trên thị trường vẫn có khoảng trống pháp lý cho những nhà kinh doanh, đầu
cơ có điều kiện thôn tính, lũng đoạn thị trường Vì vậy vấn đề cấp thiết hiện nay là làm thế nào để TTCK Việt Nam phát tr iển ổn định?
* Giải pháp cho sự phát triển bền vững TTCK Việt Nam
Thứ nhất, Tiếp tục tái c ấu trúc TTCK một cách sâu, rộng theo hướng minh bạch,
đồng bộ và thống nhất phù hợp với chuẩn mực quốc tế Việc c huyển đổi từ Trung tâm giao d ịch c hứng khoán Tp.HCM, Hà Nội thành Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) hoạt động theo mô hình Công ty TNHH Nhà nước một thành viên; tách bộ phận lưu ký thành Trung tâm lưu ký c hứng khoán độc lập hoạt động theo mô hình Công ty TN HH Nhà nước một thành viên, xây dựng TTTP c huyên biệt…đó cũng là kết quả bước đầu của việc tái c ấu trúc TTCK, tuy rất then chốt, nhưng chưa đủ cho một TTCK phát triển minh bạch, ổn định Một trong những chính sách tác động mạnh đến TTCK đó là chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT) Đối với CSTT, trong đó đặc biệt nhấn mạnh việc điều hành CSTT Với việc điều hành CSTT theo hướng nới lỏng hoặc thắt chặt đều tác động không nhỏ đến tính thanh khoản trên TTCK Chỉ với một biện pháp của Ngân hàng Nhà nước nhằm chấn c hỉnh công tác tín dụng c ủa hệ thống ngân hàng(5), ngay lập tức khối lượng cổ phiếu giao dịch cả hai sàn và giá cả của chúng đều giảm mạnh Tình trạng này nói lên điều gì? tiền dùng để đầu tư, kinh doanh chứng khoán chủ yếu là nguồn nào? Tại sao TTCK lại quá nhạy c ảm theo sự
mở rộng hay thu hẹp tín dụng c ủa các ngân hàng thương mại (NHTM)? Việc này
có lý giải được phần nào những băn khoăn của người dân khi Chính phủ cho phép các NHTM triển kha i gó i kích thích kinh tế với mức hỗ trợ lãi suất 4%? TTCK tại sao luôn lên xuống theo tin đồn? Nhìn vào những bất cập của thị trường sẽ thấy cần phải tiếp tục tái cấu trúc TTCK, để TTCK phải đúng ngh ĩa là kênh huy động vốn trung và dài hạn thiết thực cho doanh nghiệp phục vụ cho sản xuất, kinh doanh
và là kênh hút vốn nhàn rỗi của các c á nhân và các tổ chức trong và ngoài nước Nguyên tắc tái cấu trúc phải đảm bảo sự ổn định của hệ thống, theo đó xây dựng và vận hành có hiệu quả hệ thống thị trường tài chính (thị trường tiền tệ, TTCK, thị
Trang 9trường tín dụng, TTTP Chính phủ…), thực hiện c ác chuẩn mực tốt nhất trong quản trị công ty, c huẩn mực kế toán và công bố thông tin Thực hiện vấn đề này theo hướng:
- Phân định rõ từng thị trường để quản lý chúng: thị trường c ổ phiếu: nơi n iêm yết
cổ phiếu của các doanh nghiệp lớn; thị trường các doanh nghiệp vừa và nhỏ; thị trường UpCoM; thị trường OTC; thị trường công c ụ nợ và thị trường c ông cụ phái sinh Hoàn thiện thị trường giao dịch cổ phiếu công ty đại chúng chưa niêm yết (UpCoM) để khắc phục ngay những quan ngại v ề tính thanh khoản c ủa thị trường này
- Thực hiện c huyển đổi sở hữu c ủa SGDCK v à Trung tâm lưu ký c hứng khoán từ Công ty TNHH Nhà nước một thành viên sang công ty c ổ phần, trong đó Nhà nước vẫn nắm giữ cổ phần chi phối (trên 51%) Cho phép đại diện Công ty chứng khoán (CTCK), Tổ chức niêm yết, một số chuyên gia kinh tế tham gia vào Hội đồng quản trị của SGDCK Khi đó SGDCK là công ty cổ phần đại chúng, hoạt động sẽ năng động và minh bạch vì mục tiêu phát triển lành mạnh của TTCK
- Đối với c ác CTCK c ũng cần thực hiện tái c ấu trúc theo hướng nâng cao yêu cầu
về vốn điều lệ tối thiểu, yêu cầu về cơ sở vật chất, năng lực quản trị công ty và nguồn nhân lực, song song với v iệc thực hiện sát nhập, mua lại… để giảm bớt về
số lượng CTCK, hướng một số CTCK lớn phát triển thành Tập đoàn, cũng như c ác nhà tạo lập thị trường Hiện nay trên TTCK Việt Nam có 105 CTCK, xét về thị phần môi giới cổ phiếu c ho khối nhà đầu tư nước ngoài, thì 10 CTCK đứng đầu đã chiếm tới 95,18%, nếu xét thị phần môi giới cho khối nhà đầu tư trong nước, thì 10 CTCK đứng đầu đã chiếm 48,18%(6) Như vậy rõ ràng thị phần cho 95 CTCK c òn lại là quá nhỏ, trong đó có một số công ty vốn điều lệ rất thấp, hiệu quả kinh doanh chủ yếu là hoạt động tự doanh Vì vậy, để thị trường hoạt động c ó hiệu quả cũng rất cần sắp xếp các CTCK có qui mô quá nhỏ, năng lực tài chính yếu này
- Phát triển một số tổ chức tạo lập thị trường Ở một số nước, nhà tạo lập thị trường thường là các NHTM, CTCK, c ông ty bảo hiểm, quĩ đầu tư, quĩ hưu trí, công ty tài chính… Đây là những tổ chức có năng lực tài chính mạnh, kinh doanh chuyên nghiệp, có khả năng liên kết cao Nhưng ở Việt Nam hiện nay, không phải tất cả các tổ chức đều có thể trở thành nhà tạo lập thị trường Vì vậy, trước mắt lựa chọn một số NHTM, CTCK lớn đáp ứng các điều kiện qui định thực hiện c hức năng nhà tạo lập thị trường Sự năng động và minh bạch của thị trường phụ thuộc không nhỏ
Thứ hai, hoàn thiện c ác văn bản pháp lý, c ơ chế chính sách cho sự phát triển của
TTCK
Xem xét sửa đổi, bổ sung Luật chứng khoán theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật cho phù hợp với xu thế hội nhập c ủa nền kinh tế; ban hành các văn bản hướng dẫn về một số nghiệp vụ chứng khoán như giao dịch bán khống, vay và
Trang 10cho vay chứng khoán, giao dịch phái sinh; giao dịch chuyển nhượng của c ổ đông sáng lập…Trong bối cảnh nền k inh tế suy thoái, cầu t iêu dùng trong dân c ư giảm mạnh, đi đôi với gói giải pháp kích c ầu trung và dài hạn đến năm 2011, cần xem xét chính sách thuế để đảm bảo sự phát triển bền vững của TTCK Phối hợp CSTT với CST K trong việc thúc đẩy sự phát triển c ủa TTCK Việt Nam Mục tiêu cuối cùng c ủa CSTT là ổn định tiền tệ, còn mục tiêu của CSTK là đạt đến một chính sách ngân sách minh bạch, tạo sự ổn định sản lượng, c ải thiện ph ân bổ nguồn lực và kiểm soát ảnh hưởng c ủa phân phối Hai chính sách này có mối quan
hệ mật thiết, ràng buộc lẫn nhau và tác động đến nền kinh tế và hệ thống thị trường tài c hính Nếu quản lý tài khoá yếu kém, sẽ tăng kỳ vọng lạm phát, có thể làm tăng lãi suất và c ung tiền, điều này ảnh hưởng lớn đ ến v iệc vay nợ của Chính phủ trên TTCK Ngược lại, lạm phát và lãi suất tăng cao, không những làm giảm nguồn thu cho Chính phủ, mà còn làm cho giá chứng khoán biến động mạnh theo xu hướng giảm, làm nản lòng nhà đầu tư trên thị trường do tính thanh khoản của thị trường bị ảnh hưởng Vì vậy rất cần một sự nhận thức đúng và đầy đủ về mối quan hệ giữa hai c hính sách, nhằm tăng cường sự kết nối và g iảm sung đột giữa chúng để cùng
Thứ ba, tạo hàng hoá có chất lượng tốt cho thị trường Tiếp tục thực hiện cổ phần hoá để tạo hàng hoá có c hất lượng c ao cho TTCK Tạo điều kiện cho các nhà đầu tư c hiến lược (trong và ngoài nước) mua cổ phiếu của các doanh nghiệp Việt Nam theo phương thức thoả thuận, hoặc đấu giá giữa các nhà đầu tư c hiến lược với nhau, để cải thiện nhanh h ơn về năng lực tài c hính, c hất lượng quản trị doanh ngh iệp Thực tế tại một số NHTM c ổ phần đã có yếu tố nước ngoài cho thấy, khi có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài với tỷ lệ 20%, các NHTM Việt nam đã nhanh chóng xoá đi những yếu kém về năng lực tài chính, trình độ công nghệ, cùng chia sẻ vì lợi ích c ủa cả hai bên Vì vậy, để cải thiện một bước về năng lực tài c hính c ủa c ác NHTM cũng như các doanh nghiệp sau cổ phần hóa, để tăng tính hấp dẫn về cổ phiếu c ủa các loại hình doanh nghiệp này, trong đó
có cổ phiếu của các NHTM, Chính phủ có thể đưa mức sở hữu c ủa các tổ chức
Thứ tư, tăng cường công tác thanh tra giám sát hoạt động của của các tổ chức
tham gia thị trường, xử lý nghiêm các vi phạm về công bố thông tin, về tin đồn gây bất lợi cho hệ thống thị trường tài chính, về rò rỉ thông tin
Sự rò rỉ thông tin bất luận từ khâu nào đều được coi là tệ hại và nguyên nhân cơ bản để tin đồn có “đất” lộng hành chính từ sự rò rỉ thông tin Vậy, có khắc phục được tình trạng này không? Đây là việc làm không đơn giản, nhưng không phải không hạn chế được vấn nạn này Một là: Rà soát lại thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc công bố thông tin và áp dụng thống nhất cho việc công bố thông