trình bày sức ép của phát triển kinh tế - xã hội đối với môi trường
Trang 1CHƯƠNG II SỨC ÉP CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI
MÔI TRƯỜNG 2.1 Tăng trưởng kinh tế
Kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2009
ước đạt 6.431,63 tỷ đồng, tăng 21,0% so với năm 2008; trong đó, khu vực nông - lâm nghiệp và thủy sản đạt 1.600,53 tỷ đồng, tăng 3,4%; khu vực công nghiệp- xây dựng đạt gần 2.779,47 tỷ đồng, tăng 42,1%; khu vực dịch vụ đạt 2.051,63 tỷ đồng, tăng
13,1%
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá:
Tỷ trọng giá trị tăng thêm theo giá thực tế của khu vực công nghiệp và xây dựng đã tăng từ 36,2% năm 2008 lên 44,7% năm 2009; tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 31,2% năm 2008 xuống 26,6% năm 2009 và khu vực dịch vụ chiếm
tỷ trọng 32,6% năm 2008 giảm xuống còn 28,7% trong tổng sản phẩm trong tỉnh
2.1.1 Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp có mức tăng trưởng khá cao: Giá trị sản suất năm 2009
ước đạt 6.930,1 tỷ đồng, tăng 144,7% so với năm 2008; trong đó, khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt gần 4.191,73 tỷ đồng, gấp 8,4 lần; kinh tế ngoài nhà nước ước đạt gần 2.581,87 tỷ đồng, tăng 10,7%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 156,5 tỷ đồng, gấp 182,4 lần so với năm 2008
Sản xuất công nghiệp tăng cao là do có sản phẩm lọc hoá dầu và một số sản phẩm mới được sản xuất Mặt khác, để thúc đẩy sản xuất phát triển, UBND tỉnh đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ với các doanh nghiệp và ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các ngành, các cấp kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp; trong
đó tập trung chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện các giải pháp cấp bách của Chính phủ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu nên nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh vẫn duy trì tốc độ tăng khá cao
Một số sản phẩm chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước như: thuỷ sản chế biến, nước khoáng và nước tinh khiết, phân bón, dăm gỗ nguyên liệu giấy, tinh bột mỳ, đã sản xuất được 1.523,8 ngàn tấn sản phẩm lọc hoá dầu và nhiều sản phẩm cấu kiện kim loại của Công ty TNHH 1 thành viên Doosan Việt Nam
2.1.2 Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và tài nguyên - môi trường
Sản xuất nông nghiệp: Thời tiết trong năm 2009 thuận lợi cho sự sinh trưởng và
phát triển của cây trồng nhưng không thuận lợi cho việc gieo sạ và thu hoạch lúa Đầu năm mưa kéo dài làm trên 10.000 ha lúa vừa gieo sạ bị ngập nước, trong đó diện tích
bị hư hại hoàn toàn là 2.420 ha phải gieo sạ lại, nhiều diện tích rau màu bị hư hại, tiến
độ gieo trồng chậm; cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu, lúa đang trong thời kỳ thu hoạch
và chuẩn bị thu hoạch bị mưa lớn kéo dài gây ngập úng làm ảnh hưởng đến năng suất
và chất lượng lúa; từ ngày 03 đến ngày 09/9/2009, mưa lớn kéo dài làm thiệt hại 5.219
ha lúa (trong đó diện tích lúa bị mất trắng là 1.987 ha) và 5.606 ha rau đậu và nhất là cơn bão số 9 kèm theo lũ lớn đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản của nhân dân trong tỉnh nói chung và lĩnh vực nông nghiệp nói riêng với 41 người chết, 2.064 nhà
Trang 2sập đổ hoàn toàn, 59.481 nhà bị tốc mái, hư hại, tổng giá trị thiệt hại khoảng 4.375 tỷ đồng
Giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 1.675 tỷ đồng năm 2009, tăng 4,3% so với
năm 2008 Tổng diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt cả năm ước đạt 83.320ha, giảm so với năm trước 1,3%; sản lượng lương thực ước đạt 420,86 ngàn tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2008; trong đó, diện tích lúa đạt 72.452ha, giảm 1,9% với sản lượng ước đạt 370,43 ngàn tấn, tăng 4,5%; diện tích ngô đạt 10.868ha, tăng 2,2% với sản lượng ước đạt 50,44 ngàn tấn, giảm 6%
Diện tích trồng mía ước đạt 6.309ha, giảm 3,4% so với năm 2008; năng suất ước đạt 521,8 tạ/ha, giảm 2,1%; sản lượng đạt gần 329,23 ngàn tấn, giảm 5,4% so với
2008 Các cây còn lại như lạc có diện tích giảm; rau, đậu các loại có diện tích tăng so với năm trước
Công tác phòng chống dịch gia súc, gia cầm được duy trì thường xuyên Từ đầu
năm đến nay, bệnh cúm gia cầm, lở mồm long móng gia súc xảy ra rải rác trên địa bàn tỉnh nhưng đã được khống chế kịp thời Bệnh tai xanh ở lợn tuy không xảy ra nhưng đang có nguy cơ tái phát rất lớn Theo kết quả điều tra chăn nuôi thời điểm 01/10/2009, đàn trâu tăng 2,4%, đàn bò giảm 1,0%, đàn lợn tăng 1,9%; đàn gia cầm tăng 20,2% so với thời điểm 01/10/2008
Sản lượng thuỷ sản khai thác và nuôi trồng ước đạt 98.592 tấn, tăng 1,9% so với
cùng kỳ năm 2008 và bằng 102,2% kế hoạch năm; trong đó, khai thác nước mặn ước đạt 91.617 tấn, tăng 1,9%; sản lượng thuỷ sản nuôi trồng ước đạt 6.975 tấn, tăng 2,3% Giá trị sản xuất thuỷ sản ước đạt gần 794,8 tỷ đồng, tăng 1,5% so với năm 2008
Diện tích nuôi trồng thuỷ sản ước đạt 1.427 ha, giảm 4,3% so với cùng kỳ năm
2008 Diện tích tôm đạt 658,3 ha, giảm 15,3% so với cùng kỳ năm 2008 Sản lượng tôm nuôi thu hoạch ước đạt 5.806 tấn, bằng 107,5% kế hoạch
Công tác quản lý tàu cá được tăng cường, đã cấp 541 sổ danh bạ thuyền viên và
2.265 giấy phép Khai thác thủy sản Tàu thuyền đang tiếp tục có sự chuyển biến theo hướng phát triển tàu công suất lớn Đến nay, tổng số tàu đã đăng ký toàn tỉnh đạt 5.616 chiếc với tổng công suất là 475.667 CV; trong đó, tàu trên 20CV có 4.090 chiếc, tàu dưới 20 CV có 1.526 chiếc
Công tác chăm sóc, bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô được
tăng cường Đã trồng 8.377ha rừng tập trung, quản lý bảo vệ 107.000ha rừng, khai thác 181.000m3 gỗ rừng trồng Tình hình chặt phá rừng, khai thác gỗ trái phép, lấn chiếm đất rừng, vận chuyển và mua bán lâm sản trái phép vẫn còn diễn biến phức tạp Qua kiểm tra, đã phát hiện 299 vụ vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo
vệ rừng và quản lý lâm sản, lâm sản tịch thu gồm 299 m3 gỗ các loại, 264 kg động vật rừng, phá huỷ các hầm than và thu giữ 6.248 kg than, thu nộp ngân sách trên 1 tỷ đồng
Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, quản lý tài nguyên, khoáng sản và bảo vệ môi trường được triển khai theo kế hoạch; đã tổng kết công tác
đo bản đồ địa chính đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp tại 6 huyện miền núi, kết quả đo đạc bản đồ địa chính được 126.506 ha, cấp 101.750 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân; đã thẩm định quy hoạch sử dụng đất chi tiết các thị trấn Sông Vệ, La Hà, Sơn Tịnh, Ba
Tơ, Châu Ổ, Trà Xuân và 08 phường thuộc thành phố Quảng Ngãi; từ đầu năm đến
Trang 3nay, đã lập hồ sơ thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất với diện tích 2.170,8 ha; xây dựng phương án và dự toán Tổng kiểm kê đất đai năm 2010 toàn tỉnh; đã kiểm tra hồ
sơ, xem xét cấp Giấy phép thăm dò khai thác khoáng sản cho 4 đơn vị khai thác cát và
05 đơn vị khai thác đá làm vật liệu xây dựng Phối hợp với cảnh sát môi trường kiểm tra tình hình bảo vệ môi trường trong hoạt động của 11 đơn vị và phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh kiểm tra hiện trường nơi phát hiện chất độc hoá học tồn lưu sau chiến tranh tại xã Sơn Nhan, đồng thời phối hợp lập phương án tiêu huỷ,…
2.1.3 Thương mại, dịch vụ và giá cả thị trường
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng ước đạt 13.400 tỷ đồng, tăng
25,1% so với năm 2008; trong đó kinh tế nhà nước đạt 1.222,2 tỷ đồng, tăng 22,7% và chiếm 9,12% thị phần; kinh tế cá thể đạt 9.461,5 tỷ đồng, tăng 28,6%, chiếm 70,61% thị phần; kinh tế tư nhân đạt 2.705,5 tỷ đồng, tăng 15,1%, chiếm 20,19% thị phần
Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhiều mặt hàng
xuất khẩu giảm sút so với năm 2008 nhưng có một số sản phẩm mới có giá trị kim ngạch xuất khẩu cao như: propylene, dầu kerosene (KO), thiết bị công nghiệp nặng của Doosan, nên tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm tăng cao so với năm trước Kim ngạch xuất khẩu cả năm ước đạt 182,224 triệu USD, tăng 205,9% so với năm 2008
Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.472,097 triệu USD, tăng 292,5% so với năm
2008 Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là dầu thô (1.239 triệu USD), máy móc thiết bị phụ tùng (183,5 triệu USD), sắt thép (38 triệu USD),
Hoạt động vận tải tiếp tục tăng trưởng khá nhờ một số phương tiện vận tải được
trang bị mới Trong năm ước vận chuyển được 1,77 triệu lượt khách với mức luân chuyển 459,08 triệu lượt khách-km, tăng 11,16% về lượt khách và 11,47% về lượt khách-km so với năm 2008 Vận tải hàng hóa ước đạt 2,83 triệu tấn với mức luân chuyển 516,49 triệu tấn-km, tăng 9,12% về tấn vận chuyển và 11,46% về T-km so với năm 2008 Doanh thu vận tải và các hoạt động dịch vụ liên quan đến vận tải ước đạt 422,48 tỷ đồng, tăng 17,4% so với năm 2008
Công tác quản lý thị trường được duy trì thường xuyên, các Đội quản lý thị
trường tập trung thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát, chống vận chuyển, buôn bán hàng lậu, hàng cấm, gian lận thương mại, đầu cơ nâng giá đối với một số mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống của nhân dân Kết quả cho thấy tình hình thị trường đã có nhiều diễn biến tích cực, góp phần tích cực phát triển sản xuất và ổn định đời sống nhân dân
2.1.4 Thu, chi ngân sách và tiền tệ
a) Thu, chi ngân sách nhà nước
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 4.046,923 tỷ đồng, bằng 190,8% dự
toán năm; trong đó thu nội địa đạt 1.857,763 tỷ đồng, bằng 90,5% dự toán năm; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 2.189,160 tỷ đồng Hầu hết các khoản thu đều đảm bảo tiến độ, đạt trên 100% dự toán năm và tăng so với cùng kỳ năm 2008; tuy nhiên, tổng thu nội địa đạt thấp hơn so với dự toán là do hai khoản thu chiếm tỷ trọng lớn nhưng phát sinh thấp là thuế tiêu thụ đặc biệt và thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 4.0829 tỷ đồng, bằng 141% dự toán
năm Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 1.690 tỷ đồng; chi thường xuyên đạt 1.980 tỷ đồng
Trang 4b) Về tiền tệ
Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng trên địa bàn trong năm
2009 có biến động nhưng biên độ tăng, giảm không lớn so với năm 2008 Tổng nguồn
vốn huy động đến ngày 31/12/2009 ước đạt 9.000 tỷ đồng, tăng 71,16% so với cùng kỳ
năm 2008 Tổng dư nợ cho vay đến ngày 31/12/2009 ước đạt 11.000 tỷ đồng, tăng
31,59% so với cùng kỳ năm 2008 Nhìn chung, hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng trên địa bàn trong những tháng cuối năm đã có tín hiệu khả quan hơn so với 6 tháng đầu năm do khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đã dần được khôi phục
Các chương trình cho vay kích cầu đã đạt được những kết quả đáng khích lệ
Tính đến 30/9/2009, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất các khoản vay ngắn hạn đến cuối
tháng đạt 2.256 tỷ đồng/1.382 khách hàng, chiếm tỷ trọng 20,24%/tổng dư nợ, số luỹ
kế cho vay hỗ trợ lãi suất trong 8 tháng (từ 01/02/2009 đến 30/9/2009) là 19.115 khách
hàng với số lãi tiền vay đã hỗ trợ cho khách hàng hơn 36 tỷ đồng; dư nợ cho vay hỗ trợ
lãi suất các khoản vay trung, dài hạn đến cuối tháng đạt 430 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng
3,85% tổng dư nợ với số lãi tiền vay đã hỗ trợ cho 4.315 khách hàng là 1,9 tỷ đồng; dư
nợ cho vạy ưu đãi lãi suất đối với các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a đạt 12 tỷ
đồng/858 khách hàng
Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tiếp tục đẩy mạnh cho vay xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, cho vay nông nghiệp - nông thôn, cho vay đối với thành phần kinh tế dân doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa Tính đến ngày 20/10/2009, dư nợ cho vay xuất khẩu đạt 358 tỷ đồng, chiếm 3,21% tổng dư nợ; dư nợ cho vay nhập khẩu 1.913 tỷ đồng, chiếm 17,16% tổng dư nợ; dự nợ cho vay nông nghiệp - nông thôn đạt 4.267 tỷ đồng, chiếm 38,29% tổng dư nợ; dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 2.386 tỷ đồng, chiếm 21,41% tổng dư nợ
2.1.5 Đầu tư phát triển, đăng ký kinh doanh và thu hút đầu tư vào các Khu công nghiệp tỉnh và Khu kinh tế Dung Quất
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn trong năm 2009 ước đạt
16.390 tỷ đồng, bằng 67,0% so năm trước Trong đó, vốn khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 10.836 tỷ đồng, bằng 56,3%; vốn ngoài nhà nước ước đạt 4.118 tỷ đồng, tăng 23,4%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 1.436 tỷ đồng, bằng 75,6% so năm trước Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh kế hoạch năm 2009 dùng để cân đối cho các dự án là 1.803,07 tỷ đồng, ngoài ra nguồn vốn thuộc kế hoạch năm 2008 được kéo dài thanh toán đến 30/6/2009 theo chính sách kích cầu của Chính phủ là 232,26 tỷ đồng Kết quả giải ngân kế hoạch vốn từ đầu năm đến 31/10/2009 đạt 898,4 tỷ đồng, bằng 50% kế hoạch; trong đó Vốn ngân sách đạt 503,2 tỷ đồng, bằng 55,5%, Vốn trái phiếu Chính phủ đạt 203,136 tỷ đồng, bằng 35,2%, Vốn nước ngoài đạt 192 tỷ đồng, bằng 60% kế hoạch Ước cả năm 2009 giải ngân đạt 94,4% kế hoạch, trong đó Vốn ngân sách nhà nước ước đạt 99,7%, Vốn trái phiếu Chính phủ ước đạt 83%, Vốn nước ngoài ước đạt 98% kế hoạch
Về tình hình thu hút đầu tư: Hoạt động xúc tiến đầu tư trong năm 2009 đã có sự
chuyển hướng tích cực; dự kiến trong năm 2009, có 02 dự án FDI được cấp giấy chứng nhận đầu tư với vốn đầu tư đăng ký là 28,5 triệu USD; tính đến cuối năm 2009, trên địa bàn toàn tỉnh còn có 15 dự án có vốn FDI với tổng vốn đăng ký gần 3,392 tỉ USD Có 44 dự án đầu tư trong nước được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 8.580 tỉ đồng Trong số các dự án được cấp mới trong năm, có một số dự án
Trang 5có qui mô vốn khá lớn như dự án Nhà máy Giấy Tân Mai - Quảng Ngãi (vốn khoảng
1.948 tỉ đồng), dự án Khu Dân cư Sơn Tịnh (vốn đăng ký 1.237 tỉ đồng), Khu dân cư
Phú Mỹ (vốn đăng ký khoảng 1.240 tỉ đồng), Nhà máy Nhiệt điện Lý Sơn (vốn đăng
ký 220 tỉ đồng), Nhà máy tuyển quặng sắt Vạn Lợi (vốn đăng ký gần 260 tỉ đồng)
2.1.6 Điều kiện xã hội
Dân số và mật độ phân bố dân số đến hết năm 2008 tại tỉnh Quảng Ngãi được thể
hiện trong bảng sau:
Bảng 2.1 Số đơn vị hành chính, diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2008
Huyện, TP Diện tích (km 2 ) trung bình (người) Dân số Mật độ dân số (người/km 2 )
Bình Sơn 468 184.655 395 Sơn Tịnh 344 197.745 575
Tư Nghĩa 228 183.901 807
Trà Bồng 419 30.204 72
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi, 2008
Trong đó, cơ cấu dân số chia theo giới tính như sau
Bảng 2.2 Dân số trung bình phân theo giới tính 2008
Nam Nữ Tổng số
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi, 2008
Đến năm 2008, dân số Quảng Ngãi trong độ tuổi lao động là 694.792 người,
chiếm 53,8% dân số toàn tỉnh Đây chính là lực lượng lao động khá dồi dào phục vụ
cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa của tỉnh Trong đó, nữ trong độ tuổi lao
động chiếm khoảng 51,1% tổng số lao động
Tỷ lệ sinh và chết của người dân Quảng Ngãi giảm trong những năm gần đây
Bảng 2.3 Tỷ lệ sinh và chết giai đoạn 2005-2008
Năm Tỷ lệ sinh (‰) Tỷ lệ chết (‰) Tỷ lệ tăng tự nhiên
Trang 62006 16,75 5,88 10.87
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi, 2008
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 11,10‰ năm 2005 xuống còn 10‰ năm 2008
(Báo cáo hàng năm của tỉnh Quảng Ngãi) Diễn biến quá trình giảm dân số thể hiện là
tỷ lệ gia tăng dân số giảm xuống còn 1,1% giai đoạn 2006-2010, do đó, tổng số dân
năm 2010 khoảng 1.400.000 người Chất lượng dân số - lao động được nâng cao thông
qua các chương trình giáo dục và dạy nghề
Đã chuyển đổi cơ cấu lao động và giải quyết việc làm, tính đến năm 2010 số lao
động xã hội là 848.000 người (chiếm khoảng 56,5% dân số) Cơ cấu sử dụng lao động
theo ngành có sự dịch chuyển theo hướng giảm tương đối tỷ trọng lao động nông
nghiệp, tỷ lệ người chưa có việc làm giảm còn 6,1% năm 2005 và xuống 3% vào năm
2010
Tỉnh đã có các chính sách và biện pháp đồng bộ nhằm khai thác có hiệu quả tiềm
năng lao động tạo đủ việc làm và có thu nhập đủ sống cho người lao động Chuyển
hướng tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ, giảm dần lao động nông nghiệp,
sử dụng hết lao động nông thôn Đã thực hiện các chính sách hỗ trợ về vốn, cơ chế
chính sách Đồng thời thực hiện tốt dịch vụ cung ứng lao động nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho cung cầu lao động Dự kiến lao động trong các ngành được bố trí trong
bảng 2.4
Bảng 2.4 Dự kiến bố trí lao động trong các ngành của tỉnh Quảng Ngãi đến năm
2010
Năm 1994 Năm 2000 Năm 2010
Nguồn: Quy hoạch phát triển KT - XH của tỉnh (1996 -2010)
Trang 72.2 Các chỉ tiêu phát triển ngành nghề chủ yếu của tỉnh
2.2.1 Chỉ tiêu về kinh tế:
- Phấn đấu đạt mức tăng tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) bình quân giai đoạn 2006 2010 khoảng 17-18% GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 950-1.000 USD
- Giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp tăng bình quân 4,5 - 5%
- Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 32-33%, trong đó:
+ Công nghiệp: 41-42%;
+ Xây dựng: 13-14%
- Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 13-14%
- Tỷ trọng các ngành kinh tế trong GDP đến năm 2010:
+ Công nghiệp - xây dựng: 62-63%
+ Nông - lâm - ngư nghiệp: 15-16%
- Tỷ trọng cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế chủ yếu đến năm 2010: Công nghiệp 14,61%, dịch vụ 21,59% và nông nghiệp 63,8%
- Sản lượng lương thực năm 2010 đạt 420.000 tấn
- Sản lượng mía cây năm 2010 đạt 500.000 tấn
- Sản lượng thuỷ sản năm 2010 đạt 95.000 tấn
- Kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010: trên 100 triệu USD
- Thu ngân sách năm 2010 trên 1.500 tỷ đồng
- Vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt 68.000-70.000 tỷ đồng
- Số thuê bao điện thoại bình quân/100 dân năm 2010 đạt 30 máy
2.2.2 Chỉ tiêu xã hội:
- Giảm tỷ suất sinh bình quân hàng năm xuống khoảng 0,4-0,5%0 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2010 là 1,02%
- Đến năm 2010 có 80-85% hộ gia đình; 70-75% thôn, tổ dân phố; 90-95% cơ quan đạt tiêu chuẩn văn hoá
- Tạo việc làm, giải quyết thêm việc làm mỗi năm 33.000 lao động Tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 28-30%
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 20% vào năm 2010 (theo chuẩn mới)
- Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 20% vào năm 2010
- 100% trạm y tế có bác sỹ vào năm 2010
- Đến năm 2007 đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở, phổ cập tiểu học Tiến hành phổ cập THPT những nơi có điều kiện, riêng thành phố Quảng Ngãi đạt chuẩn phổ cập giáo dục THPT vào năm 2010 Xây dựng 10% trường mầm non, 50% trường tiểu học, 50% trường THCS, 50% trường THPT đạt chuẩn quốc gia
- Đến năm 2010 phủ sóng phát thanh và truyền hình 100% toàn tỉnh
- Hoàn thành xoá 17.000 nhà tạm cho hộ nghèo
2.2.3 Chỉ tiêu về tài nguyên môi trường:
- Độ che phủ của rừng đến năm 2010 khoảng 45%
- Tỷ lệ dân nông thôn dùng nước sạch 85%
- Tỷ lệ cây xanh ở thành phố 80%, các thị trấn và trung tâm huyện lỵ đạt 50%
Trang 8- 100% đô thị và các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề được thu gom và có biện pháp xử lý rác thải, nước thải
- Hoàn thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp ngay từ những năm đầu kế hoạch
2.2.4 Chỉ tiêu quốc phòng - an ninh:
- Đảm bảo 100% chỉ tiêu giao quân hàng năm
- Xây dựng 85-90% xã, phường, thị trấn vững mạnh về quốc phòng, an ninh
- Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ ổn định 2% so với dân số
2.3 Các nhiệm vụ chủ yếu để thực hiện kế hoạch
a) Phát triển công nghiệp với tốc độ nhanh, đi đôi với nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế là nhiệm vụ đột phá của tỉnh
Tập trung thúc đẩy phát triển Khu kinh tế Dung Quất, trọng tâm là xây dựng hoàn thành đúng tiến độ Nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất, nhà máy đóng tàu, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Tiếp tục đầu tư phát triển các Khu công nghiệp Tịnh Phong và Quảng Phú, hình thành, phát triển Khu công nghiệp Phổ Phong, các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp vừa và nhỏ ở các địa phương
Đối với Khu Kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp tỉnh, chú trọng phát triển các ngành công nghiệp, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước và hướng mạnh vào xuất khẩu như lọc hóa dầu và công nghiệp hóa chất, cơ khí luyện kim và đóng tàu biển; khai thác mỏ và vật liệu xây dựng; chế biến đường và sản phẩm sau đường; chế biến thủy, hải sản, súc sản; sản xuất hàng tiêu dùng; phát triển một số ngành công nghiệp phụ trợ, phục vụ công nghiệp của tỉnh và khu kinh tế Dung Quất
Đối với các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở các địa phương, tập trung phát triển các ngành nghề sử dụng tài nguyên, nguyên liệu và lao động tại chỗ như sản xuất vật liệu xây dựng, da giày, may mặc; chế biến nông lâm thủy sản; phục hồi và phát triển các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống
Coi trọng đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm công nghiệp, tạo được nhiều mặt hàng chủ lực có sức cạnh tranh cao đối với thị trường trong nước và tham gia xuất khẩu
b) Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tạo bước chuyển
về chất, về nền sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng hàng hóa bền vững
Phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm ngư nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm nền tảng để đảm bảo nhu cầu lương thực, tạo nguồn nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến, đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo; cải thiện đời sống của nhân dân trong tỉnh
Trang 9Phấn đấu bình quân hằng năm giá trị sản xuất nông nghiệp tăng từ 4-4,5%, lâm nghiệp tăng 9,5%, thuỷ sản tăng 7,6%
Tập trung nâng cao trình độ thâm canh và ứng dụng công nghệ cao trên một số lĩnh vực nhằm tăng năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi Bảo đảm nhu cầu lương thực trong tỉnh; hướng mạnh vào việc hình thành và nâng cao chất lượng các vùng nguyên liệu tập trung như mía, mì, điều ghép, quế và các loại cây khác phù hợp với điều kiện tự nhiên và nhu cầu của thị trường Chú trọng phát triển các vùng cây rau quả, tạo vùng rau an toàn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội
Phát triển chăn nuôi theo hướng trở thành ngành sản xuất chính; đến năm 2010,
tỷ trọng chăn nuôi đạt 32,4% Tăng nhanh số lượng, gắn với nâng cao chất lượng đàn gia súc, gia cầm và tăng cường phòng chống dịch bệnh; đặc biệt là phòng chống gia cầm (H5N1) Khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung với qui mô lớn Phấn đấu đến năm 2010, đàn trâu đạt 46.000 con, bò 250.000 con (bò lai đạt 50-60%), lợn 650.000 con Phát triển cụm công nghiệp - làng nghề và dịch vụ thương mại ở nông thôn, nhằm chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông thôn Tiếp tục đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất là giao thông, thủy lợi, hệ thống điện, chợ, các thiết chế văn hóa, góp phần xây dựng nông thôn mới và thực hiện đô thị hóa nông thôn theo qui hoạch Tổ chức sản xuất đa dạng, coi trọng và có chính sách hỗ trợ để kinh tế hợp tác phát triển, khuyến khích mở rộng kinh tế trang trại, phát huy vai trò tự chủ của kinh tế
hộ trong sản xuất kinh doanh
Điều chỉnh, bổ sung qui hoạch đất lâm nghiệp, xác định rõ diện tích, ranh giới các loại rừng, bảo đảm diện tích rừng phòng hộ, tăng diện tích rừng sản xuất, nhất là rừng nguyên liệu giấy Tăng cường công tác quản lý rừng và đất lâm nghiệp, chấn chỉnh việc quản lý đất của các lâm trường, đẩy mạnh việc giao đất, giao rừng cho dân, tăng nhanh diện tích rừng có chủ, hạn chế tối đa các vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, nhất là nạn phá rừng Khuyến khích, bảo đảm cho người trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng có lợi ích thỏa đáng và làm giàu từ nghề rừng Phấn đấu đến năm
2010, diện tích rừng trồng mới 58.000 ha, khoanh nuôi, tái sinh 8.000 ha, quản lý, bảo
vệ rừng 143.000 ha
Phát triển kinh tế thủy sản đồng bộ, bền vững, gắn kết giữa khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ thủy sản Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng giá trị nuôi trồng và chế biến Khai thác thủy sản đi đôi với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, kết hợp bảo vệ chủ quyền lãnh hải Tổ quốc Phát triển nuôi trồng thủy sản trên cơ sở qui hoạch hợp lý mặt nước, diện tích đất có khả năng nuôi trồng theo hướng công nghiệp, bền vững, phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Đến năm 2010, sản lượng khai thác 95.000 tấn, trong đó nuôi trồng 5.500 tấn (tôm nuôi 4.200 tấn)
Tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển mạnh các cơ
sở chế biến thủy sản, tăng nhanh sản phẩm xuất khẩu Đẩy mạnh đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng thủy sản, trước hết là cảng cá Sa Huỳnh, vũng neo đậu tàu thuyền và dịch vụ nghề cá Lý Sơn, bến neo đậu tàu thuyền Tịnh Hòa, cảng cá Sa Cần,
Sa Kỳ; chuẩn bị và triển khai xây dựng cảng cá Mỹ Á, Cửa Đại - Cổ Lũy
c) Phát triển nhanh và nâng cao chất lượng ngành thương mại dịch vụ và du lịch
Tập trung phát triển các loại hình dịch vụ trên các lĩnh vực ăn, ở, nhà hàng, khách sạn, vui chơi, giải trí, du lịch, tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông, vận
Trang 10tải kho bãi, khuyến khích phát triển các loại hình dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là sự phát triển của Khu Kinh tế Dung Quất
Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, chú trọng phát triển du lịch sinh thái gắn với
hệ thống di tích văn hóa lịch sử; trước mắt tập trung đầu tư và thu hút đầu tư để sớm khai thác có hiệu quả các khu du lịch trọng điểm: Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Khe Hai, Vạn Tường, Cà Đam - Nước Trong Tạo môi trường hấp dẫn thu hút khách du lịch bằng việc phát triển số lượng và chất lượng các cơ sở lưu trú, sản phẩm du lịch, dịch vụ phục vụ du lịch, hình thành các điểm, khu, tuyến du lịch của tỉnh trong mối liên kết với các tỉnh trong khu vực và cả nước
Tăng cường xúc tiến thương mại, phát triển các loại thị trường, huy động các nguồn lực để đầu tư mở rộng mạng lưới chợ ở nông thôn, miền núi, gắn với hình thành các trung tâm dịch vụ thương mại ở các thị trấn; xây dựng một số siêu thị, trung tâm thương mại ở thành phố Quảng Ngãi; hình thành hệ thống dịch vụ thương mại, đáp ứng nhu cầu giao lưu, trao đổi hàng hóa thông suốt trên địa bàn tỉnh; liên kết với các trung tâm thương mại lớn ở các tỉnh trong khu vực
Tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển nhanh các loại hình dịch vụ; tăng cường quản lý Nhà nước về thương mại, cung ứng kịp thời, chủ động hàng hóa và mặt hàng thiết yếu cho đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa và trong các tình huống thiên tai
d) Cùng với Trung ương đẩy mạnh xây dựng và phát triển Khu Kinh tế Dung Quất
Phối hợp với Bộ/ngành Trung ương đẩy nhanh việc xây dựng phát triển Khu Kinh tế Dung Quất trong mối liên kết chặt chẽ với các Khu Kinh tế và vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung Tiếp tục hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật, văn hóa xã hội trong Khu Kinh tế như: Hệ thống giao thông, cảng biển, hạ tầng phân khu công nghiệp, trường học, trường đào tạo nghề, bệnh viện, trung tâm văn hóa thể thao Hoàn thành đúng tiến độ xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy đóng tàu giai đoạn
1, tạo tiền đề xây dựng các nhà máy hóa dầu, cơ khí, luyện kim,…Thu hút đầu tư vào các phân khu công nghiệp, chú trọng công nghiệp chế biến, sản xuất hàng tiêu dùng và đầu tư phát triển các ngành dịch vụ
Nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước của tỉnh và Ban Quản lý Khu Kinh tế Dung Quất; bảo đảm phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, thực hiện có hiệu quả qui chế hoạt động của Khu Kinh tế Dung Quất đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tạo môi trường thông thoáng, lành mạnh để thu hút đầu tư, tạo bước chuyển đột phá về sự phát triển của Khu Kinh tế Dung Quất
Thực hiện tốt trách nhiệm của tỉnh trong việc cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi tối đa cho các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, gắn liền với việc lập khu tái định cư, ổn định sản xuất và đời sống nhân dân; phát triển các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của Khu Kinh tế Dung Quất và bảo đảm quốc phòng, an ninh Coi trọng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu về lao động và chuẩn bị đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý đáp ứng yêu cầu phát triển của Khu Kinh tế Dung Quất và thành phố Vạn Tường
e) Đẩy mạnh kinh tế đối ngoại, tăng cường quản lý tài chính, tiền tệ, huy động, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế - xã hội