Hiện nay Việt Nam là một trong 12 nước đứng đầu thế giới cả về diện tích, sản lượng và khối lượng xuất khẩu chè.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận chung về sức cạnh tranh của hàng hóa và sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu 5
1.1 Cơ sở lý luận chung về sức cạnh tranh của hàng hóa 5
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh và sức cạnh tranh 5
1.1.2 Các cấp độ của sức cạnh tranh 6
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu 8
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu 12
1.1.5 Các công cụ thường dùng để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu 16
1.1.6 Kinh nghiệm của một số nước về nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu trên thị trường Mỹ 18
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Mỹ 22
1.2.1 Vai trò to lớn của mặt hàng chè xuất khẩu đối với Việt Nam: 22
1.2.2 Mỹ là một thị trường nhập khẩu chè đầy tiềm năng đối với Việt Nam 23
1.2.3 Những cơ hội và thách thức đối với mặt hàng chè xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Mỹ trong điều kiện hội nhập WTO 25
CHƯƠNG 2: Thực trạng sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Mỹ trong thời gian qua 29
2.1 Những đặc điểm và quy định của thị trường Mỹ đối với mặt hàng chè xuất khẩu 29
2.1.1 Đặc điểm thị trường Mỹ 29
2.1.2 Các quy định của thị trường Mỹ đối với mặt hàng chè nhập khẩu 36
2.2 Khái quát chung về tình hình xuất khẩu mặt hàng chè của Việt Nam trong thời gian qua 38
2.2.1 Kim ngạch xuất khẩu chè 38
2.2.2 Chủng loại mặt hàng chè xuất khẩu 39
Trang 22.2.3 Thị trường mặt hàng chè xuất khẩu 40
2.3 Phân tích thực trạng sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Mỹ trong thời gian qua 42
2.3.1 Sản lượng, mức doanh thu chè xuất khẩu 42
2.3.2 Thị phần mặt hàng chè xuất khẩu 44
2.3.3 Chi phí sản xuất và giá bán của mặt hàng chè xuất khẩu 46
2.3.4 Chất lượng mặt hàng chè xuất khẩu 48
2.3.5 Mức độ uy tín của mặt hàng chè xuất khẩu 49
2.3.6 Mức độ vệ sinh công nghiệp, đảm bảo môi trường mặt hàng chè xuất khẩu 50
2.4 Các biện pháp Việt Nam đã áp dụng để nâng cao sức cạnh tranh của chè xuất khẩu 52
2.4.1 Biện pháp của Nhà nước 52
2.4.2 Biện pháp của Hiệp hội Chè Việt Nam 52
2.4.3 Biện pháp của doanh nghiệp 53
2.5 Đánh giá chung về sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu trong thời gian qua 54
2.5.1 Những điểm mạnh 54
2.5.2 Những điểm yếu và nguyên nhân 55
CHƯƠNG 3: Định hướng và giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Mỹ trong thời gian tới 61
3.1 Định hướng phát triển xuất khẩu mặt hàng chè của Việt Nam 61
3.2 Một số giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Mỹ 62
3.2.1 Giải pháp từ phía Nhà nước 62
3.2.2 Giải pháp từ phía Hiệp hội Chè Việt Nam 66
3.2.3 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 67
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện nay Việt Nam là một trong 12 nước đứng đầu thế giới cả về diện tích,sản lượng và khối lượng xuất khẩu chè Xuất khẩu chè đang từng bước trở thànhngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam, đóng góp một phần đáng kể vào tổng thunhập quốc dân Vì vậy, nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng xuất khẩu chủ lựcnày dựa trên phát huy hiệu quả lợi thế so sánh của đất nước đang là vấn đề mà Nhànước, cơ quan các cấp đặc biệt quan tâm
Mỹ là một trong những thị trường nhập khẩu chè thuộc diện lớn nhất trên thếgiới Tuy nhiên,sản lường chè của Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ chỉ chiếm một tỷ lệrất nhỏ Từ đó có thể thấy, sức cạnh tranh của mặt hàng chè Việt Nam trên thịtrường Mỹ còn rất hạn chế Để giải quyết những vấn đề khó khăn mà ngành chèViệt Nam đang gặp phải, đồng thời giúp cho doanh nghiệp có thêm thông tin,giảipháp cụ thể để từ đó nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu trên thịtrường thế giới nói chung, thị trường Mỹ nói riêng, em quyết định chọn đề tài:
”Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh mặt hàng chè xuất khẩu trên thị trường
Mỹ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là mặt hàng chè xuất khẩu của Việt Nam
- Pham vi nghiên cứu là nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuấtkhẩu trên thị trường Mỹ từ năm 2001-nay
4.Phương pháp nghiên cứu:
Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương phápphân tích tổng hợp,phương pháp thống kê, phương pháp so sánh đối chiếu, phươngpháp quy nạp, phương pháp diễn dịch để nghiên cứu đề tài
Trang 55.Kết cấu đề tài: Đề tài gồm 3 phần:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về sức cạnh tranh của hàng hóa và sự cần thiếtphải nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu
- Chương 2: Thực trạng sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu của nước
ta trên thị trường Mỹ trong thời gian qua
- Chương 3: Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao sức cạnh tranhcủa mặt hàng chè xuất khẩu Việt Nam trong thời gian tới
Trang 6
CHƯƠNG 1
Cơ sở lý luận chung về sức cạnh tranh của hàng hóa và sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu
1.1 Cơ sở lý luận chung về sức cạnh tranh của hàng hóa
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh và sức cạnh tranh
1.1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Khái niệm “cạnh tranh”( được hiểu là cạnh tranh kinh tế ) xuất hiện trongquá trình hình thành và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa.Cạnh tranh làmột trong những quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường Nó là động lực thúcđẩy các doanh nghiệp không ngừng cải tiến hoạt động sản xuất – kinh doanh, đổimới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.Vì vậy, cạnh tranh cũng
là động lực nâng cao hiệu quả hoạt động của mỗi nền kinh tế
Giáo trình kinh tế học chính trị Mác – Lênin nêu ra định nghĩa : Cạnh tranh
là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất – kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất – kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh.
Theo từ điển kinh tế, cạnh tranh được hiểu là quá trình ganh đua hoặc tranh
giành giữa ít nhất hai đối thủ nhằm có được những nguồn lực hoặc ưu thế về sản phẩm hoặc khách hàng về phía mình, đạt được lợi ích tối đa.
Các quan niệm trên đây có sự khác biệt trong diễn đạt và phạm vi, nhưng cónhững nét tương đồng về nội dung Từ đó, có thể đưa ra một quan niệm tổng quát
sau đây về cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường : ”Cạnh tranh là quan hệ kinh tế
mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh
tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, khu vực thị trường có lợi nhất.Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, đối với người sản
Trang 7xuất – kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.”
1.1.1.2 Khái niệm về sức cạnh tranh
Cạnh tranh ở đây là nói đến hành vi của chủ thể, vì vậy có hành vi của doanhnghiệp kinh doanh, của cá nhân kinh doanh và của một nền kinh tế không có hành
vi của hàng hóa Trong quá trình các chủ thể cạnh tranh với nhau, để giành lợi thế
về phía mình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì vàphát triển vị thế của mình trên thị trường Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh,một khả năng hoặc một năng lực nào đó của chủ thể, được gọi là sức cạnh tranh củachủ thể đó hoặc khả năng cạnh tranh của chủ thể đó Khi muốn chỉ một sức mạnh,một khả năng duy trì được vị trí của một hàng hóa nào đó trên thị trường ( hàng hóanày phải thuộc một doanh nghiệp nòa đó, một quốc gia nào đó ) thì ta cũng dùngthuật ngữ “sức cạnh tranh của hàng hóa”, đó cũng là chỉ mức độ hấp dẫn của hànghóa đối với khách hàng
Sức cạnh tranh của hàng hóa có thể hiểu là sự vượt trội so với các sản phẩmcùng loại về chất lượng và giá cả với điều kiện các sản phẩm tham gia cạnh tranhđều đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng Có nghĩa là, những sản phẩm manglại giá trị sử dụng cao nhất trên 1 đơn vị giá cả là những sản phẩm có khả năng cạnhtranh cao hơn
1.1.2 Các cấp độ của sức cạnh tranh
Ngày nay khi thị trường hàng hoá càng phát triển thì sự cạnh tranh diễn racàng gay gắt Một chủ thể kinh tế khi tham gia vào thị trường bao giờ cũng phảichịu sức ép cạnh tranh từ rất nhiều phía khác nhau của nền kinh tế Dựa vào nhữngquan sát, các nhà kinh tế học đã phân chia cấp độ của sức cạnh tranh một cáchtương đối bao gồm: sức cạnh tranh của quốc gia, sức cạnh tranh của doanhnghiệp/ngành, sức cạnh tranh của sản phẩm trong cùng 1 ngành
1.1.2.1 Sức cạnh tranh của quốc gia
Theo diễn đàn kinh tế thế giới ( WEF ) năm 1997: ”Năng lực cạnh tranh
quốc gia là năng lực của nền kinh tế quốc dân đạt và duy trì mức tăng trưởng cao
về kinh tế, thu nhập và việc làm.”
Trang 8Năng lực cạnh tranh quốc gia được cấu thành từ 8 nhóm yếu tố chính (với
155 chỉ tiêu ) bao gồm: độ mở cửa của nền kinh tế, vai trò và hiệu lực của Chínhphủ, hệ thống tài chính tiền tệ, trình độ phát triển công nghệ, cơ sỏ hạ tầng, trình độquản lý của doanh nghiệp, số lượng và chất lượng lao động và trình độ phát triểncủa thể chế
1.1.2.2 Sức cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành
Sức cạnh tranh của doanh nghiệp theo cách hiểu đơn giản nhất có thể hiểu là
“ khả năng nắm giữ thị phần nhất định với mức độ hiệu quả chấp nhận được, vì vậykhi thị phần phát triển lên cho thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đượcnâng cao ” Sức cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng hãng đã bán được hàngnhanh, nhiều hơn so với đối thủ cạnh tranh trên một thị trường cụ thể về một loạihàng hóa cụ thể Quan điểm này có thể áp dụng đối với từng doanh nghiệp, cũngnhư đối với một ngành công nghiệp của một quốc gia trong cuộc cạnh tranh trên thịtrường khu vực và thế giới
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp ( HLFIC ) của OECD địnhnghĩa sức cạnh tranh của doanh nghiệp là “ khả năng của các doanh nghiệp, cácngành, các quốc gia hoặc khu vực tạo ra thu nhập tương đối cao hơn và mức độ sửdụng lao động cao hơn, trong khi vẫn đối mặt với cạnh tranh quốc tế.”.Đây là mộtcách định nghĩa đã kết hợp cả cấp độ doanh nghiệp, ngành, và cấp độ quốc gia
Xét ở góc độ ngành, một ngành kinh tế được coi là có năng lực cạnh tranhkhi các doanh nghiệp trong ngành và sản phẩm chủ đạo của ngành có sức cạnhtranh trên thị trường Các yếu tố quyết định sức cạnh tranh của một ngành kinh tếbao gồm: lợi thế so sánh của ngành, môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinhdoanh của ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành và sức cạnhtranh của sản phẩm hoặc dịch vụ đặc thù của ngành
1.1.2.3 Sức cạnh tranh của hàng hóa
Sức cạnh tranh của một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó trên thị trườngtrong nước và quốc tế là sự thể hiện tính ưu việt hoặc tính hơn hẳn của nó cả địnhtính và định lượng với các chỉ tiêu như: chất lượng sản phẩm, thương hiệu và mức
độ vệ sinh công nghiệp hoặc vệ sinh thực phẩm, khối lượng và sự ổn định chấtlượng của sản phẩm, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm, môi trường thương mại, mức độ
Trang 9giao dịch và uy tín của sản phẩm trên thị trường, sự ổn định về môi trường kinh tế
vĩ mô và chính sách thương mại như thuế, tỷ giá tín dụng, đầu tư, mức độ bảo hộ…
và cuối cùng là chỉ tiêu về giá thành và giá cả sản xuất
Cùng với quá trình tăng trưởng và phát triển của mỗi nền kinh tế thì các quan
hệ thương mại cũng phát triển, theo đó diễn ra sự mở rộng thị trường trao đổi hànghóa và dịch vụ Mỗi sản phẩm do từng nhà sản xuất đưa ra thị trường sẽ được ngườitiêu dùng phản ứng với các mức độ cao thấp khác nhau Sự phản ứng của người tiêudùng thể hiện qua việc mua hoặc không mua sản phẩm, đó là biểu hiện tổng quátcuối cùng về sức cạnh tranh của sản phẩm đó Nói cách khác, cạnh tranh giữa cácsản phẩm trên một thị trường là quá trình thể hiện khả năng hấp dẫn tiêu dùng củacác sản phẩm đối với khách hàng trên một thị trường cụ thể và trong một thời giannhất định
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu
Sức cạnh tranh của sản phẩm trong thương mại quốc tế là tổng hòa sức cạnhtranh của doanh nghiệp, ngành và quốc gia Như vậy có thể nói các yếu tố ảnhhưởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm trong thương mại quốc tế bao hàm các yếu
tố từ phạm vi doanh nghiệp, ngành đến phạm vi quốc gia.Nhìn chung, các yếu tốảnh hưởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm trong thương mại quốc tế có thể đượctập hợp thành 4 nhóm cơ bản: Nhóm các yếu tố thuộc về lợi thế so sánh, nhóm cácyếu tố thuộc về khả năng tăng trưởng kinh tế đất nước, nhóm các yếu tố thuộc vềmôi trường kinh doanh của doanh nghiệp, nhóm các yếu tố thuộc về hoạt động củadoanh nghiệp
1.1.3.1 Nhóm các yếu tố thuộc về lợi thế so sánh
Các yếu tố này trước hết chính là sự dồi dào về tài nguyên thiên nhiên cũngnhư nguồn lực con người (lao động) và nguồn vốn.Các yếu tố này được thể hiệnqua mức giá bình quân thấp và đó cũng chính là cơ sở căn bản của lợi thế so sánh vàsức cạnh tranh.Một yếu tố khác là năng suất lao động của nhà sản xuất được phảnánh bằng các hệ số đầu vào thấp Lợi thế so sánh sẽ giúp một nước xác định đượcmặt hàng cần sản xuất và nên sản xuất Có thể coi lợi thế so sánh là điều kiện cần để
có được khả năng cạnh tranh quốc tế về sản phẩm xuất khẩu nhưng đây chưa phải làđiều kiện đủ
Lợi thế so sánh không phải là yếu tố tĩnh như nhiều quan điểm vẫn thường đưa
Trang 10ra, mà có thể thay đổi năng động do lợi thế so sánh của một nước không chỉ phụthuộc vào các yếu tố tương đối tĩnh như tài nguyên thiên nhiên và đất đai mà nó cònphụ thuộc vào các yếu tố động là lao động và vốn ( công nghệ,máy móc,thiết bị ).
Vì vậy lợi thế so sánh có thể thay đổi nhờ vào ứng dụng những công nghệ mới,thêm vào đó phân tích lợi thế so sánh còn cần tính đến khả năng nâng cao trình độthành thạo của công nhân và thay đổi mô hình sản xuất của các nước
1.1.3.2 Nhóm các yếu tố thuộc về khả năng tăng trưởng kinh tế đất nước
Theo Fargerberg thì sức cạnh tranh quốc tế là khả năng của một đất nướctrong việc nhận thức rõ mục đích của chính sách kinh tế tập trung, đặc biệt là đốivới tăng trưởng thu nhập và việc làm mà không gặp phải các khó khăn trong cáncân thanh toán Tăng trưởng kinh tế của một quốc gia được xác định bởi năng suấtcủa nền kinh tế quốc gia đó, trong khi đó năng suất là yếu tố cơ bản tạo thành sứcmạnh cạnh tranh quốc tế Tăng trưởng kinh tế tác động trực tiếp đến sức mua của xãhội, tạo điều kiện để sản phẩm mở rộng quy mô sản xuất
Nhóm các yếu tố thuộc về khả năng tăng trưởng kinh tế đất nước có 3 yếu tốđặc biệt liên quan đến viễn cảnh tăng trưởng kinh tế đất nước và tạo ra khả năngcạnh tranh: Tài trợ và nợ nước ngoài, tiết kiệm và đầu tư, tỷ giá hối đoái
1.1.3.3 Nhóm các yếu tố thuộc về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
* Môi trường kinh doanh vĩ mô ở trong và ngoài nước
- Nhóm các yếu tố trong môi trường nội địa
Môi trường nội địa bao gồm (1) môi trường luật pháp, chính trị: sự ổn địnhchính trị, hệ thống pháp luật đầy đủ, nghiêm minh sẽ tạo điều kiện nâng cao vị thếcủa hàng hóa xuất khẩu trên thị trường quốc tế.Trong đó, hệ thống chính sách điềutiết kinh tế có tác động rõ rệt nhất, như chính sách thương mại có ảnh hưởng đến cơchế khuyến khích xuất khẩu, rào cản thương mại trong nước và tiếp cận thị trườngnước ngoài; chính sách tỷ giá liên quan đến tỷ giá hối đoái thực và tỷ giá hối đoái sosánh thực giữa nước xuất khẩu và nước bạn hàng; (2) môi trường kinh tế: là sự ổnđịnh và phát triển của nền kinh tế trong nước: (3) cấu trúc cạnh tranh: là sự đa dạngnhiều hình thức kinh doanh, sự tham gia của các đối thủ cạnh tranh trong và ngoàinước
- Nhóm các yếu tố của thị trường nước ngoài
Là các yếu tố tương tự như những yếu tố trong môi trường nội địa, ngoài racòn kèm theo các yếu tố khác: (4) trình độ công nghệ: sự chênh lệch về trình độ và
Trang 11hiệu quả ứng dụng công nghệ; (5) cấu trúc phân phối: là khả năng phân phối có hiệuquả sản phẩm ra thị trường nước ngoài; (6) yếu tố địa lý, cơ sở hạ tầng của nướcngoài; (7) các yếu tố văn hóa: là sự khác biệt về văn hóa, tôn giáo, con người dẫnđến những thói quen tiêu dùng, tập quán kinh doanh khác nhau.
*Môi trường kinh doanh vi mô, bao gồm:
- Sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại trong ngành
Các đối thủ hiện tại trong ngành quyết định tính chất và mức độ tranh đuanhằm giành giật lợi thế trong ngành mà mục đích cuối cùng là giữ vững và pháttriển thị phần hiện có, đảm bảo cho mức độ lợi nhuận được cao nhất có thể Thườngthì cạnh tranh trở nên khốc liệt khi ngành đang ở giai đoạn bão hòa, suy thoái hoặc
có đông đối thủ cạnh tranh bằng vai phải lứa với các chiến lược kinh doanh đa dạng
và do các rào cản kinh tế làm cho các doanh nghiệp khó tự do di chuyển sang ngànhkhác
- Quyền thương lượng của người mua
Đối với các doanh nghiệp bất kỳ thì mọi việc chỉ có ý nghĩa khi tiêu thụ đượcsản phẩm và có lãi Chính vì vậy, sự tín nhiệm của khách hàng luôn là tài sản có giátrị quan trọng của doanh nghiệp và doanh nghiệp có được điều đó là do biết cáchthỏa mãn tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với các đối thủ cạnhtranh khác Còn về phía người mua luôn muốn trả giá cho sản phẩm thấp vì vậy họ
sẽ thực hiện ép giá, gây áp lực đòi hỏi chất lượng cao hơn hoặc được phục vụ nhiềuhơn đối với doanh nghiệp khi có điều kiện, điều này làm giảm lợi nhuận của doanhnghiệp
- Nguy cơ đe dọa từ các sản phẩm thay thế
Các sản phẩm thay thế luôn có tác động lớn đến mức lợi nhuận tiềm năngcủa ngành, nhất là những sản phẩm có chu kỳ sống ngắn Vì phần lớn các sản phẩmthay thế là kết quả của việc đổi mới công nghệ nên thường có ưu thế về chất lượng
và giá thành sản phẩm, mặc dù giá thành ban đầu có thể cao so với các sản phẩmhiện có bán trên thị trường Biện pháp chủ yếu được sử dụng để hạn chế sự tác độngcủa sản phẩm thay thế là tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao trình độquản lý….nhằm giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc tăng cườngtính độc đáo khác biệt của sản phẩm trên thị trường
Trang 121.1.3.4 Nhóm các yếu tố thuộc về hoạt động của doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu
*Vốn của doanh nghiệp:
Nhân tố vốn hay tư bản bao gồm tiền và tài sản dùng để mua trang thiết bị,vật tư, công nghệ, lao động và các nhu cầu khác cho sản xuất Trong nhân tố nàycũng cần các tri thức về quản lý tư bản sao cho việc sử dụng có hiệu quả Mặt kháctrong kinh doanh luôn tồn tại nhu cầu về vốn Doanh nghiệp nào tìm được biệnpháp có thể giải quyết hữu hiệu vấn đề vốn sẽ có thuận lợi lớn trong hoạt động kinhdoanh của mình và dễ dàng chiếm ưu thế trong cuộc cạnh tranh với đối thủ
*Nhân sự
Ngày nay tất cả các doanh nghiệp dù là mới thành lập,hay hoạt động lâunăm, dù có xuất khẩu hay không xuất khẩu hàng hóa thì nhân sự vẫn là vấn đề thenchốt đối với sự tồn tại của doanh nghiệp.Một doanh nghiệp muốn có những chiếnlược cạnh tranh tốt thì họ cần một đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn, năng lựcquản lý bởi họ chính là những người sẽ định hướng cho sự phát triển của doanhnghiệp Nhân sự có thể coi là tài nguyên của doanh nghiệp, tuy nhiên để có thể quản
lý tốt được nhân sự là một vấn đề không hề đơn giản, điều đó đòi hỏi nghệ thuật củangười lãnh đạo
*Công nghệ sản xuất
Công nghệ là yếu tố không kém phần quan trọng đối với sản xuất của cácdoanh nghiệp trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập Công nghệ đang dần trởthành nhân tố cạnh tranh đối với các doanh nghiệp xuất khẩu vì chỉ có những côngnghệ sản xuất tiên tiến mới có thể tạo ra những sản phẩm có chất lượng đồng thờiđảm bảo được năng suất lao động cao
*Thương hiệu của sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, yếu tốthương hiệu ngày càng đóng vai trò quan trọng Một thương hiệu sản phẩm chứađựng trong đó nhiều hơn một cái tên, một logo….vì nó chính là sự thể hiện nănglực, uy tín, tiềm năng của doanh nghiệp cũng như sức cạnh tranh của sản phẩm Cóthể nói thương hiệu là sự phản ánh trung thực việc sản phẩm đó đáp ứng nhu cầutiêu dùng như thế nào Chỉ có những sản phẩm có thương hiệu mới đủ sức cạnhtranh trong một môi trường quốc tế với rất nhiều đối thủ từ khắp các khu vực vớinhững lợi thế riêng vốn có của mình
Trang 13*Các nhân tố khác:
Ngoài những nhân tố trên còn có những nhân tố khác như trang thiết bị củadoanh nghiệp, vấn đề tài chính… mỗi yếu tố đều có tác động nhất định đến sứccạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu do doanh nghiệp sản xuất ra Vì vậy chỉ có một
sự kết hợp đồng bộ các nhân tố này sẽ là tiền đề cho sự phát triển bền vững, duy trìsức cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các quốc gia xuất khẩu khác trongdài hạn
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu
1.1.4.1 Các chỉ tiêu định lượng
*Sản lượng, mức doanh thu mà mặt hàng xuất khẩu đem lại từng năm
Đây là một chỉ tiêu đơn giản, dễ tính toán nhưng rất quan trọng vì nó nhằmđánh giá sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường Sản lượng là tổng khối lượnghàng hóa mà doanh nghiệp đã sản xuất ra trong một giai đoạn, một khoảng thời giannhất định Nếu sản lượng tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp tăng cao qua các năm,điều đó có nghĩa là thị trường tiêu thụ đầu ra của doanh nghiệp ổn định và doanhnghiệp đã tạo được cho mình một khả năng tốt trong việc duy trì và giữ vững thịphần so với đối thủ cạnh tranh, tình trạng hoạt động kinh doanh nói chung và hoạtđộng xuất khẩu nói riêng của doanh nghiệp vẫn đang tiến triển thuận lợi
Để có thể đánh giá chính xác hơn sức cạnh tranh của hàng hóa thì bên cạnhchỉ tiêu sản lượng người ta còn sử dụng chỉ tiêu doanh thu.Doanh thu bán hàng làtổng số tiền thực tế doanh nghiệp đã thu được trong một thời kỳ nhất định nhờ bánsản phẩm hàng hóa và dịch vụ của mình Nếu doanh thu qua các năm tăng với tốc
độ cao, chứng tỏ giá cả hàng hóa được duy trì ổn định, hàng hóa đó đứng vữngtrong cạnh tranh và được thị trường chấp nhận Nếu sản lượng tiêu thụ lớn màdoanh thu không cao có nghĩa là giá cả của hàng hóa thấp, trị giá xuất khẩu hànghóa của doanh nghiệp giảm và điều đó thể hiện sức cạnh tranh của hàng hóa giảm
Theo kinh tế học vi mô, doanh thu được xác định bởi công thức sau
Doanh thu = giá bán sản phẩm x sản lượng
*Thị phần của mặt hàng xuất khẩu
Đây là một trong những chỉ tiêu hay sử dụng nhất để đánh giá mức độ chiếmlĩnh thị trường của mình so với đối thủ cạnh tranh Thị phần của sản phẩm xuấtkhẩu một nước trong một thời kỳ ( thường được tính trong một năm ) là tỷ lệ phầntrăm mà sản phẩm xuất khẩu của một nước đã chiếm được trong thời kỳ đó
Trang 14Mỗi loại hàng hóa nhất định thường có những khu vực thị trường riêng với sốlượng khách hàng nhất định Khi hàng hóa đảm bảo được các yếu tố bên trong như
có chất lượng tốt hơn, giá cả thấp hơn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩmtốt v v…và có được những yếu tố bên ngoài như cơ hội kinh doanh xuất hiện, côngtác xúc tiến bán hàng hiệu quả, thương hiệu sản phẩm mạnh, kênh phân phối được
mở rộng v.v sẽ làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm và mở rộng được thị trườngtiêu thụ, buộc đối thủ cạnh tranh phải nhường lại từng thị phần đã bị chiếm lĩnh Để
có thể duy trì và chiếm lĩnh được thị trường, sự có mặt kịp thời của hàng hóa trênthị trường đáp ứng đòi hỏi của khách hàng và sự khéo léo, tài tình trong việc tổchức mạng lưới, chi nhánh phân phối để thu hút được khách hàng với quy mô lớn lànhững nhân tố quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường.Thị phần của hàng hóa xuất khẩu trên thị trường thường được tính theo công thứcsau:
MA là số lượng hàng hóa A được tiêu thụ trên thị trường
M là tổng số lượng hàng hóa cùng loại được tiêu thụ trên thị trường
Độ lớn của chỉ tiêu này phản ánh sức cạnh tranh của mặt hàng và vị trí củaquốc gia trên thị trường thế giới Một mặt hàng có thị phần càng lớn trên thị trườngthì mặt hàng đó càng có sức cạnh tranh cao, tiềm năng cạnh tranh lớn Ngược lại,một mặt hàng có thị phần nhỏ hay giảm sút trên thị trường thì mặt hàng đó có sứccạnh tranh yếu, khả năng ảnh hưởng của mặt hàng đối với thị trường là rất kém
*Chí phí sản xuất và giá bán của mặt hàng xuất khẩu
- Chí phí sản xuất hàng xuất khẩu
Chi phí sản xuất được hiểu là toàn bộ các khoản hao phí vật chất được tínhbằng tiền mà doanh nghiệp đã bỏ ra để thực hiên quá trình sản xuất sản phẩm, cóđặc điểm là luôn vận động, mang tính đa dạng và phức tạp gắn liền với tính đa dạng
và phức tạp của ngành nghề sản xuất, quy trình sản xuất
Cạnh tranh về chi phí sản xuất hàng hóa là xuất phát điểm và là điều kiện cần
để một sản phẩm có thể duy trì được ở trên thị trường quốc tế Nguồn gốc của khảnăng cạnh tranh về chi phí của sản phẩm là lợi thế so sánh của đất nước trong quátrình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó Khả năng cạnh tranh về chi phí của sản
Trang 15phẩm sẽ phụ thuộc vào hiệu quả của tất cả các khâu, bao gồm sản xuất , thu mua,vận chuyển, chế biến, kho bãi, cầu cảng, vận chuyển quốc tế để tạo ra và đưa sảnphẩm đó đến thị trường quốc tế Sự bất cập, không hiệu quả trong bất cứ khâu nàocũng sẽ làm gia tăng chi phí và giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm Khả năngcạnh tranh về chi phí chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ đối vớiviệc duy trì và mở rộng thị phần bởi vì sức cạnh tranh của sản phẩm còn phụ thuộcvào khả năng tiếp cận thông tin, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất vàxuất khẩu, năng lực marketing quốc tế, khả năng đối phó với rủi ro v.v.
- Giá bán mặt hàng xuất khẩu
Trong nền kinh tế thị trường, việc xác định giá của sản phẩm chịu sự tácđộng của nhiều nhân tố khác nhau như chi phí cho sản phẩm, nhu cầu thị trường vềsản phẩm, mức độ cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, các quy định của chínhphủ về luật pháp và thuế quan, cách tiếp thị và bán sản phẩm v v Không hẳn vớimột loại sản phẩm cùng loại, sản phẩm nào có giá thấp hơn sẽ có tính cạnh tranhcao hơn Có những sản phẩm có giá cao rất nhiều nhưng nhờ có thương hiêu, cóchất lượng vượt trội hơn hẳn mà vẫn được người tiêu dùng yêu thích và chọn lựa.Tuy nhiên, trong thực tế, cạnh tranh bằng cách đặt giá sản phẩm thấp hơn là mộtchiến lược mà nhiều doanh nghiệp đã áp dụng và đã thành công Những doanhnghiệp này sẵn sàng chấp nhận một mức lãi suất thấp nhưng bù lại có được sốlượng tiêu thụ sản phẩm lớn,và từ đó nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm vớingười tiêu dùng
Giá bán một đơn vị sản phẩm có thể tính là tổng của giá thành xuấtxưởng,chi phí vận chuyển, chi phí quảng cáo và lợi nhuận dự kiến của một sảnphẩm
Công thức:
Zxk = Zx + C1 +C2 + Pdk
Trong đó:
Zxk: Giá bán một sản phẩm xuất khẩu
Zx : Giá thành xuất xưởng cho 1 sản phẩm
C1 : Chi phí vận chuyển, bảo hiểm cho 1 sản phẩm
C2 : Chi phí quảng cáo, tiếp thị cho 1 sản phẩm
Pdk: Lợi nhuận dự kiến cho 1 sản phẩm
Trang 161.1.4.2 Các chỉ tiêu định tính
*Chất lượng của mặt hàng xuất khẩu
Chất lượng của hàng hóa thể hiện ở giá trị sử dụng và thời gian sử dụng củasản phẩm Trong xã hội phát triển, yêu cầu đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp, quốcgia là phải cung ứng những sản phẩm có chất lượng cao để thỏa mãn nhu cầu ngàycàng khắt khe của người tiêu dùng Người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn chonhững sản phẩm, dịch vụ cùng loại nhưng có chất lượng cao hơn Đặc biệt đối vớinhững mặt hàng thực phẩm thì chất lượng hàng hóa được xem như là tiêu chí quantrọng nhất, có ý nghĩa quyết định tới sức cạnh tranh của hàng hóa.Trước sự cạnhtranh ngày càng gay gắt trên thị trường thế giới, mặt hàng thực phẩm sản xuất ramuốn tiêu thụ được phải đảm bảo được chất lượng theo chuẩn mực và chất lượngvượt trội Những mặt hàng này phải đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng chuẩn mựctheo các tiêu chuẩn ISO quốc tế và phải được các tổ chức quốc tế xét duyệt và cấpchứng chỉ ISO Chất lượng vượt trội được hiểu là sản phẩm phải luôn được đổi mới,cải tiến để tạo ra sự khác biệt so với các sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranhtrên thị trường, là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của sản phẩm
*Thương hiệu và uy tín của mặt hàng xuất khẩu trên thị trường
Thương hiệu và uy tín của hàng hóa chính là sự tổng hợp các thuộc tính củasản phẩm như chất lượng, lợi ích, mẫu mã và dịch vụ của sản phẩm Thương hiệukhông những là dấu hiệu để nhận biết và phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp nàyvới sản phẩm của doanh nghiệp khác, mà nó còn là tài sản rất có giá trị của doanhnghiệp, là uy tín và thể hiện niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm
Ngày nay, phần lớn các hàng hóa xuất khẩu trên thị trường quốc tế đều có gắnvới thương hiệu Thương hiệu hàng hóa đã trở thành tài sản vô cùng quý giá và là
vũ khí quan trọng trong cạnh tranh Thương hiệu của một mặt hàng nào đó càng nổitiếng, càng mạnh thì sức cạnh tranh của hàng hóa đó càng lớn Điều đó có nghĩa là,nếu một sản phẩm nào đó đã có được uy tín và hình ảnh tốt đối với người tiêu dùngthì sản phẩm đó có một lợi thế cạnh tranh hơn hẳn so với sản phẩm của các đối thủcạnh tranh Đó chính là giá trị vô hình của thương hiệu hàng hóa
*Mức độ vệ sinh công nghiệp, đảm bảo môi trường của mặt hàng xuất khẩu
Ngày nay, trên thị trường các nước phát triển, xu hướng cạnh tranh khôngchỉ bằng chất lượng mà còn gắn với các yếu tố về môi trường và an toàn sản phẩm,
Trang 17đặc biệt đối với mặt hàng lương thực thực phẩm Để có thể cạnh tranh được trênnhững thị trường lớn như EU, Mỹ và Nhật Bản, các mặt hàng thực phẩm vừa phảiđáp ứng các yêu cầu về chất lượng, vừa phải thỏa mãn các yêu cầu liên quan đếnđảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm như dư lượng kháng sinh và chất bảo vệ thựcvật trong sản phẩm, các quy định về bảo vệ môi trường, các điều kiện tiêu chuẩn đốivới cơ sở chế biến xuất khẩu v v Một sản phẩm xuất khẩu đáp ứng được các yêucầu về vệ sinh công nghiệp và bảo vệ môi trường chắc chắn sẽ có được cảm tình caohơn của nước nhập khẩu và người tiêu dùng, và từ đó cũng sẽ có lợi thế cạnh tranhcao hơn.
1.1.5 Các công cụ thường dùng để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu
Có thể hiểu công cụ cạnh tranh là tập hợp các yếu tố, các chính sách, kếhoạch, chiến lược mà doanh nghiệp sử dụng nhằm tạo ưu thế so với đối thủ cạnhtranh Việc lựa chọn các công cụ và biện pháp nào cho phù hợp để áp dụng trongtừng trường hợp cụ thể là cả một nghệ thuật trong cạnh tranh Nếu sử dụng đúng thìdành thắng lợi và ngược lại, không đúng sẽ nhận lấy thất bại, khi đó không nhữngkhông duy trì được vị thế mà còn làm cho vị thế đó giảm đi so với trước đó
1.1.5.1 Cạnh tranh bằng sản phẩm
*Cạnh tranh bằng cách đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu
Đa dạng hóa sản phẩm thực chất là quá trình mở rộng danh mục hàng hóa,tạo nên một cơ cấu sản phẩm có hiệu quả của doanh nghiệp, của quốc gia Sự tiến
bộ không ngừng của khoa học công nghệ, cùng với sự phát triển ngày càng cao củanhu cầu thị trường khiến vòng đời của sản phẩm đang ngày càng bị rút ngắn lại.Doanh nghiệp cần có nhiều chủng loại sản phẩm hàng hóa để hỗ trợ cho nhau.Trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp có thể thực hiện đa dạng hóa sảnphẩm với các hình thức khác nhau Có thể dùng hình thức hoàn thiện và cải tiến cácloại sản phẩm đang sản xuất để giữ vững thi trường hiện tại và thâm nhập thịtrường mới, có thể đa dạng hóa theo chiều sâu của mỗi loại sản phẩm hoặc đa dạnghóa theo bề rộng nhu cầu các loại sản phẩm, hoặc có thể sản xuất ra những sảnphẩm có giá trị sử dụng khác nhau nhưng có chung chủng loại nguyên liệu gốc
*Cạnh tranh bằng chất lượng mặt hàng xuất khẩu
Có thể hiểu chất lượng sản phẩm là mức độ, là thước đo biểu thị giá trị sử
Trang 18dụng của nó Chất lượng sản phẩm là vũ khí cạnh tranh lợi hại trên thị trường Khinền kinh tế thị trường phát triển, thu nhập của người tiêu dùng ngày càng cao thìchất lượng sản phẩm ngày càng được chú trọng Đặc biệt, để đưa hàng hóa vàonhững thị trường khó tính như EU, Mỹ, Nhật Bản thì chất lượng hàng hóa cần phảiđạt được mức “chất lượng hàng hóa quốc tế” và phải được một số tổ chức có uy tínchứng nhận Tổ chức tiêu chuẩn hàng hóa quốc tế ISO đưa ra khái niệm: “Chấtlượng sản phẩm là tổng thể những chỉ tiêu, những đặc trưng kinh tế kỹ thuật của sảnphẩm, thể hiện được sự thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác địnhphù hợp với công dụng của sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn” Nếu theonhư khái niệm này thì chất lượng có thể hiểu theo hai nghĩa, chất lượng với các chỉtiêu kinh tế kỹ thuật và chất lượng sản phẩm với sự phù hợp nhu cầu thị trường.Nâng cao chất lượng sản phẩm phải xem xét cả hai khía cạnh trên.
1.1.5.2 Cạnh tranh bằng giá bán của mặt hàng xuất khẩu
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm mà người bán hay doanhnghiệp dự định có thể nhận được từ người mua qua việc trao đổi sản phẩm trên thịtrường Giá cả có một vai trò rất quan trọng, đối với doanh nghiệp nó là khâu cuốicùng của quá trình sản xuất kinh doanh hàng hóa, còn đối với người tiêu dùng nó làmột trong những yếu tố quyết định đến hành vi mua hàng Giá cả là dấu hiệu tin cậyphản ánh tình hình biến động thị trường Thông qua giá cả, doanh nghiệp có thểnắm bắt được sự tồn tại, sức chịu đựng cũng như sức cạnh tranh của sản phẩm trênthị trường
Trong cạnh tranh, giá cả được sử dụng như một công cụ cạnh tranh hữu hiệuthông qua những chính sách định giá bán, như: Chính sách định giá thấp, chính sáchđịnh giá cao, chính sách ổn định giá, chính sách định giá theo thị trường, chính sáchgiá phân biệt, chính sách bán phá giá Khi lựa chọn một trong những chính sáchđịnh giá này doanh nghiệp cần phải xem xét các vấn đề như: Lượng cầu đối với sảnphẩm, chi phí sản xuất và giá thành đơn vị sản phẩm, tuy nhiên, nhiều trường hợpdoanh nghiệp phải chấp nhận bán với giá thấp hơn giá thành vì những mục tiêukhác như: để thâm nhập thị trường dễ dàng hơn, chiếm được cảm tình của kháchhàng Điều cuối cùng là phải nhận dạng đúng thị trường cạnh tranh, từ đó có chínhsách định giá riêng cho mỗi loại thị trường nhằm đảm bảo sự phù hợp với nhu cầu
và giá bán sản phẩm
Trang 191.1.5.3 Cạnh tranh bằng hệ thống kênh phân phối sản phẩm xuất khẩu
Đối với mỗi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, sản xuất tốt chưa
đủ để khẳng định khả năng tồn tại và phát triển của mình, mà còn phải biết tổ chứcmạng lưới bán hàng, đó là tập hợp các kênh đưa sản phẩm hàng hoá từ nơi sản xuấtđến người tiêu dùng sản phẩm ấy Thông thường kênh tiêu thụ sản phẩm của doanhnghiệp được chia thành: A là kênh trực tiếp ngắn, từ doanh nghiệp đưa sản phẩmđến tay người tiêu dùng, B là kênh trực tiếp dài ( từ DN tới người bán lẻ, sau đó đếntay người tiêu dùng), C là kênh gián tiếp ngắn ( từ DN tới các đại lý, tiếp đó phântới các người bán lẻ và sau cùng đến tay người tiêu dùng)
Bên cạnh đó, để thúc đẩy quá trình bán hàng doanh nghiệp có thể tiến hànhmột loạt các hoạt động hỗ trợ như: Tiếp thị, quảng cáo, yểm trợ bán hàng, tổ chứchội nghị khách hàng, tham gia các tổ chức liên kết kinh tế v…v
1.1.6 Kinh nghiệm của một số nước về nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu trên thị trường Mỹ
Với mục đích có được định hướng và giải pháp đúng đắn để phát triển mặthàng chè xuất khẩu sang thị trường Mỹ, dưới đây đề án xin được đề cập đến một sốkinh nghiệm của các nước xuất khẩu chè sang thị trường Mỹ đã đạt được thànhcông trong thời gian qua là Trung Quốc, Ấn Độ và để từ đó rút ra được bài học kinhnghiệm cho Việt Nam trên con đường phát triển
1.1.6.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là một nước có đất tự nhiên rộng, người đông, nhưng đất canh tác
ít (chiếm khoảng 10,9% tổng diện tích đất tự nhiên) Tuy nhiên, sau hơn 20 nămthực hiện cải cách và mở cửa, ngành nông nghiệp Trung Quốc nói chung và ngànhchè nói riêng đã có được những bước phát triển mạnh và đạt được nhiều thành tựuquan trọng Hiện tại, Trung Quốc là một trong 4 quốc gia có sản lượng xuất khẩuchè lớn nhất thế giới (Bảng phụ lục 2), đồng thời chè Trung Quốc cũng là một trongnhững thương hiệu có uy tín lâu năm trên thị trường Để có được những thành côngnhư vậy, Chính phủ cũng như ngành chè Trung Quốc đã thực hiện một số biện phápcăn bản sau:
Trước hết, Trung Quốc đã hướng vào việc nâng cao giá trị chè xuất khẩu
thông qua tăng đầu tư vào khâu bảo quản và chế biến chè bắt đầu từ những năm cảicách và mở cửa nền kinh tế Trung Quốc đã xây dựng hơn 1000 kho bảo quản chè,
Trang 20trong đó có 78% là các kho có hệ thống điều khiển nhiệt, ẩm hiện đại nhằm mụcđích giảm những tổn thất sau thu hoạch Đối với khâu chế biến: Trung Quốc đã xâydựng và phát triển mô hình xí nghiệp Đầu Rồng về chế biến nông sản, trong đó cómặt hàng chè Để thúc đẩy xí nghiệp Đầu Rồng phát triển, Nhà nước hỗ trợ về nhiềumặt như các ngân hàng khi xem xét phân bổ vốn cho vay thì phải ưu tiên cho các xínghiệp Đầu Rồng vay vốn lưu động Nhà nước miễn toàn bộ thuế sử dụng đất đốivới những doanh nghiệp sản xuất chè tái đầu tư để mở rộng sản xuất Ngoài ra, Nhànước còn miễn thuế thu nhập công ty cho phần doanh thu có được từ chuyển giaocông nghệ, tư vấn và các dịch vụ kỹ thuật.
Thứ hai, Trung Quốc rất coi trọng đầu tư và ứng dụng những thành tựu của
khoa học công nghệ vào phát triển ngành sản xuất chè Chủ trương của Chính phủTrung Quốc là lấy khoa học kỹ thuật làm vũ khí, lấy công nghiệp hiện đại làm chỗdựa Một trong những chương trình thành công nhất tạo nền tảng tiến bộ khoa học
kỹ thuật cho ngành nông nghiệp nói chung, trong đó có ngành sản xuất chè là
“Chương trình Đốm Lửa”, bắt đầu thực hiện từ ngày 24/7/1985 và đã được Liên
Hiệp Quốc đánh giá cao Cách thức triển khai chương trình này tự nguyện và từdưới lên, theo phương châm “Nhà nước và dân cùng làm” Các đơn vị thuộc mọithành phần kinh tế muốn tham gia chương trình phải tự đề xuất dự án, chứng minhđược tính khả thi và hiệu quả của dự án Bên cạnh đó, Trung Quốc đã cho xây dựngmột số các viện nghiên cứu chè để nghiên cứu tạo ra những giống mới cho chấtlượng và năng suất cao cũng như phương thức cạnh tác hiệu quả Trong thời giangần đây, Trung Quốc đang chuyển dần sang mô hình trồng chè hữu cơ, áp dụngnhững công nghệ trồng chè mới để cho sản phẩm sạch và an toàn
Thứ ba, Trung Quốc là một trong những quốc gia rất coi trọng vai trò của đội
ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật với triết lý: thiết bị là phần “cứng”, công nghệ là phần
“mềm”, nhân lực có trình độ cao là phần “sống”, trong đó phần “sống” đóng vai tròquan trọng, thiếu phần “sống” cả hai phần còn lại đều không thể hoạt động và cóhiệu quả được Để khuyến khích đội ngũ khoa học kỹ thuật thực sự làm việc tận tâm
và có hiệu quả, Chính phủ quy định hệ số chênh lệch tiền lương giữa lương khởiđiểm của cử nhân trong các cơ quan nghiên cứu và lương tối thiểu của nền kinh tế là2,7 Ngoài ra, Chính phủ còn rất nhiều khuyến khích khác như: lương cho cán bộkhoa học chuyển về làm việc tại vùng nông thôn, vùng sâu khó khăn được hưởngthêm với hệ số trung bình là 1,5 Các cơ quan được phép ký hợp đồng không hạn
Trang 21chế mức lương với cán bộ nghiên cứu.
Cuối cùng là những kinh nghiệm của Trung Quốc trong điều chỉnh chính sách
nông nghiệp nói chung cho phù hợp với quy định của WTO Trong quá trình gianhập WTO, chính phủ Trung Quốc đã phát triển khuôn khổ pháp lý và sửa đổi cácluật lệ, quy định; dỡ bỏ các hạn chế về số lượng đối với hàng xuất khẩu và nhậpkhẩu; mở rộng quyền trao đổi ngoại thương từ hệ thống phê duyệt đến đăngký Bên cạnh đó, chính phủ tiếp tục thực hiện điều chỉnh chính sách nông nghiệptheo hướng thúc đẩy hình thành hệ thống thông tin thị trường, hệ thống tiêu chuẩn,
an ninh và chất lượng, điều chỉnh các chính sách bảo hộ và hỗ trợ cho nông nghiệpđang áp dụng cho phù hợp với quy định của WTO, tái cấu trúc nghiên cứu khoa họccông nghệ nông nghiệp và hệ thống khuyến nông Những điều chỉnh chính sáchnông nghiệp theo hướng thông thoáng hơn này đã góp phần tạo điều kiện thuận lợicho chè của Trung Quốc xuất khẩu ra thị trường thế giới và có được những lợi thếcạnh tranh nhất định
1.1.6.2 Kinh nghiệm của Ấn Độ
Ấn Độ là một trong 4 nước có sản lượng chè xuất khẩu lớn nhất thế giới.Trong thời gian gần đây, tuy sản xuất được duy trì ở mức ổn định nhưng tốc độ sảnxuất chè của Ấn Độ đang giảm dần do nhu cầu tiêu thụ trong nước ngày càng tănglên Năm 2004, lượng chè xuất khẩu của Ấn Độ chỉ chiếm 12% tổng lượng chè xuấtkhẩu của thế giới, giảm 30% so với những năm 90 và 70% so với những năm 50trước đây Tuy nhiên, Ấn Độ vẫn là một cường quốc về sản xuất và xuất khẩu chè,những biện pháp nâng cao sức cạnh tranh chè xuất khẩu đã được Ấn Độ áp dụngthành công là:
Ấn Độ tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, lấy chất lượng làm nền tảngcạnh tranh với sản phẩm các nước khác Ấn Độ có truyền thống trồng chè lâu đờivới những giống chè cho năng suất cao và kỹ thuật canh tác hiệu quả như kỹ thuậttrồng chè ô vuông, cây bóng mát, cây phân xanh…Đồng thời Ấn Độ còn tập trungcho phát triển khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm và đã sử dụngrất nhiều công nghệ hiện đại như: máy sấy Sirocco, máy vò Đavidson….Sắp tới, Ấn
Độ dự kiến thiết lập một cơ sở dữ liệu địa lý phán đoán từ xa trên diện tích đấtkhông trồng chè, bên cạnh việc trồng cây xem kẽ như các giống cây ngoại lai, giavị….Trong thời gian vừa qua, Ấn Độ đã đầu tư xây dựng những vùng trồng chè hữu
Trang 22cơ, chè sạch và an toàn nhằm tạo ra những sản phẩm chất lượng cao đáp ứng đượctiêu chuẩn quốc tế.
Ấn Độ chú trọng công tác xúc tiến thương mại Uỷ ban chè Ấn Độ và hiệphội chè Ấn Độ thường xuyên tổ chức các cuộc viếng thăm những quốc gia sản xuấtchè khác như Trung Quốc, Việt Nam….để trao đôi, học tập kinh nghiệm Đồng thờinhững cuộc khảo sát, tìm kiếm thông tin về thị trường xuất khẩu tiềm năng như AiCập, Nga, Mỹ, EU……cũng thường xuyên diễn ra Hệ thống cung cấp thông tin vềthị trường xuất khẩu, tư vấn về môi trường kinh doanh cũng rất được Ấn Độ chútrọng đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực có chuyên môn và kỹ thuật cao là chiếnlược trọng điểm của Ấn Độ Không chỉ đầu tư phát triển nguồn nhân lực trongnước, Ấn Độ còn có những chính sách thu hút người Ấn Độ làm việc ở nước ngoài
về nước như: được hưởng quyền lợi như người dân trong nước, ra vào Ấn Độ khôngcần thị thực, được quyền sở hữu nhà đất tại Ấn Độ, thành lập các thành phố dànhriêng cho Ấn kiều với cơ sở hạ tầng hiện đại…Những chính sách này đã thu hútđược hàng nghìn Ấn kiều về nước sinh sống và làm việc
1.1.6.3 Những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Từ việc phân tích những kinh nghiệm thực tế của các nước trên thế giới chothấy sự tăng trưởng của sản xuất và xuất khẩu chè đều xuất phát từ các lợi thế vốn
có và biết tạo ra các lợi thế mới trên cơ sở điều chỉnh và đổi mới chính sách, ápdụng khoa học công nghệ, tăng vốn đầu tư vào thị trường Từ kinh nghiệm của cácnước có thể rút ra một số kinh nghiệm đối với ngành chè Việt Nam như sau:
Trước hết, ngành sản xuất chè Việt Nam cần tận dung hiệu quả hơn nữa
những lợi thế so sánh của mình Muốn tận dụng hiệu quả những lợi thế so sánh này,trước hết Nhà nước cần hoàn thiện quy hoạch vùng sản xuất chè theo hướng hợp lý,đồng bộ giữa vùng nguyên liệu và sản xuất, tận dụng lợi thế của từng vùng, từ đóxây dựng vùng sản xuất chuyên canh tập trung xuất khẩu quy mô lớn
Thứ hai, các doanh nghiệp sản xuất chè Việt Nam cần tăng cường đầu tư
trang thiết bị dây chuyền công nghệ chế biến chè tiên tiến, đảm bảo sự kịp thời,đồng bộ để nâng cao chất lượng sản phẩm chè xuất khẩu, đáp ứng được thị hiếungày càng phong phú của người tiêu dùng Bên cạnh đó, cần phải đầu tư đồng bộ cơ
sở hạ tầng phục vụ xuất khẩu chè và tập trung nghiên cứu, triển khai, ứng dụng các
Trang 23tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất.
Thứ ba, cần phải đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại chè xuất khẩu, tăng
cường đổi mới hệ thống tiếp thị phát triển các khâu từ sản xuất, chế biến đến xuấtkhẩu, coi trọng chữ tín để tạo lập thị trường mới Đồng thời chú trọng đến công tácđào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ có chuyên môn trong trồng vàsản xuất chè
Cuối cùng là cần điều chỉnh hệ thống chính sách và quản lý liên quan tới
xuất khẩu chè Trước hết các cơ quan chức năng cần tăng cường hơn nữa nhữngbiện pháp kiểm soát sản xuất chè từ khâu trồng, chế biến, bảo quản đến xuất khẩu.Đồng thời, Chính phủ ta cần từng bước xây dựng hệ thống tiêu chuẩn về chất lượngchè phù hợp với những tiêu chuẩn quốc tế hiện nay
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Mỹ
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, đặc biệt sau khi Hiệpđịnh thương mại Việt - Mỹ (BTA) được ký kết và chính thức có hiệu lực vào năm
2001, và sự kiện Việt Nam tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới WTO, quan
hệ thương mại quốc tế giữa Việt Nam với các nước khác nói chung và Mỹ nói riêngngày càng được mở rộng Đồng thời trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt nam,
tỷ lệ mặt hàng chè xuất khẩu đang ngày càng gia tăng, đóng góp một phần đáng kểvào tổng KNXK của cả nước, và dần trở thành một trong những ngành phát triểnmũi nhọn của nước ta Đứng trước những cơ hội cũng như những thách thức đó,nâng cao sức cạnh tranh của chè xuất khẩu là một vấn đề rất cấp thiết được cấpĐảng, cấp Bộ, cấp ngành và doanh nghiệp sản xuất chè đặc biệt quan tâm
1.2.1 Vai trò to lớn của mặt hàng chè xuất khẩu đối với Việt Nam:
Thực tế cho thấy, mặt hàng chè xuất khẩu đóng một vai trò rất quan trọngtrong nền kinh tế Việt Nam được biểu hiện qua các mặt sau đây
Thứ nhất, chè xuất khẩu đang dần trở thành ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam Với những đặc điểm về thời tiết, địa hình nước ta là một trong số hơn 30
quốc gia trên thế giới có những điều kiện phù hợp để nuôi trồng và sản xuất chè.Đồng thời với đặc điểm thuận lợi như thời gian thu hồi vốn nhanh, quy mô vốn đầu
tư thấp, đòi hỏi một nguồn lao động dồi dào và giản đơn, ngành chè đang dần trỏ
Trang 24thành một trong những ngành trọng điểm của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Tính trong 8 tháng đầu năm
2008, sản lượng chè xuất khẩu của Việt năm đã đạt được 330,4 nghìn tấn với kimngạch là 161,6 triệu USD Những con số này đã nói lên sản lượng cũng như quy môngày càng tăng của ngành sản xuất chè, xứng đáng là một ngành phát triển mũinhọn của nước ta
Thứ hai, ngành chè nói chung và xuất khẩu nói riêng đã và đang góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động Với đặc trưng riêng của ngành là
sử dụng nhiều lao động với quá trình đào tạo nhanh đã có thể đi vào sản xuất Trongkhi Việt Nam lại là nước có nguồn lao động dư thừa rất nhiều và đặc điểm chung làkhả năng tiếp thu và học hỏi khá nhanh Theo ông Nguyễn Kim Phong, chủ tịchHiệp hội chè Việt nam có trụ sở tại Hà Nội, cho biết hiện nay có khoảng 6 triệu dânsông trong vùng chè và số người sản xuất chè và tham gia những lĩnh vực liên quancũng tới 2 triệu người, và con số này đang có xu hướng ngày càng tăng khi mà cácnhà máy, xí nghiệp nhỏ lẻ sản xuất chè đang gia tăng ngày càng nhiều
Thứ ba, ngành chè xuất khẩu đang góp phần mở rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế Kể từ khi nền kinh tế Việt nam mở cửa sau thời kỳ tập trung bao cấp, Nhà
nước đã đưa ra mục tiêu mở rộng mối quan hệ với các nước trên thế giới trên mọilĩnh vực kinh tế- xã hội Cho đến nay, quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế ngàymột trở nên sâu đậm và đạt được những kết quả như mong muốn, và thành tựu lớnnhất chính là việc Việt Nam gia nhập tổ chức WTO Để có được những thành côngđáng kể như thế thì hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động xuất khẩu chènói riêng đã có đóng góp rất lớn trong việc mở rộng hơn, tạo mối quan hệ bền chặthơn với các nước và các tổ chức khác nhau trên thế giới
Như vậy, nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu là một chủ
trương và chính sách rất đúng đắn của Đảng và Chính phủ, phù hợp với tình hìnhphát triển của Việt Nam trong thời kỳ hiện nay
1.2.2 Mỹ là một thị trường nhập khẩu chè đầy tiềm năng đối với Việt Nam
Mỹ là một nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới với số dân trên
200 triệu người, nhu cầu về hàng hoá hàng năm của Mỹ là rất lớn Các sản phẩmnhập khẩu đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Mỹ và là thị trường chiến
Trang 25lược lớn đối với nhiều nước xuất khẩu Mỹ luôn được đánh giá là thị trường xuấtkhẩu tiềm năng số 1 của Việt Nam, đặc biệt là đối với mặt hàng chè xuất khẩu.Cụthể như sau:
1.2.2.1 Mỹ là một đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam
Tính đến trước khi ký Hiệp định thương mại Việt Mỹ năm 2001, so với cácquốc gia đang phát triển khác, mô hình thương mại của Việt Nam có sự khácthường trong cơ cấu hàng hoá, với sự tập trung vào các mặt hàng chưa qua chế biến
và chủ yếu tập trung vào các thị trường Châu Á và Châu Âu KNXK vào Mỹ trướcnăm 2001 thậm chí chưa đạt đến 1 tỷ USD, cụ thể: năm 2000 là 0,8213 tỷ USD,năm 1999 là 0,6084 tỷ USD Tỷ lệ xuất khẩu vào thị trường Mỹ thấp như vậy là hệquả của việc Việt Nam không được hưởng Quy chế tối huệ quốc
Ngay sau khi Hiệp định thương mại Việt Mỹ có hiệu lực, Mỹ đã mở cửa thịtrường Mỹ cho hàng xuất khẩu Việt Nam như: giảm thuế suất trung bình đối vớinhập khẩu từ Việt Nam vào Mỹ giúp cho xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường
Mỹ đạt được mức tăng trưởng vượt bậc chỉ đúng một năm sau khi có Hiệp địnhthương mại
Bảng 1.1 Kim ngạch xuất khẩu 2 chiều giữa Việt Nam và Mỹ
Như vậy, kể từ ngày hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao(12/7/1995) cho đến nay, quan hệ kinh tế nói chung và thương mại nói riêng giữahai nước ngày càng phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, thể hiện qua KNXKngày càng tăng, và một loạt những Hiệp định sau Hiệp định thương mại Việt Mỹ
Trang 26được ký kết, như: Hiệp định Dệt may (2003), Hiệp định Hàng không (2003), ThưThỏa thuận về Sáng kiến cạnh tranh Việt Nam v v Với những tiềm năng lớn và sựthuận lợi trong quan hệ thương mại như vậy, đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng chè củaViệt Nam sang thị trường Mỹ đã và đang trở thành mục tiêu và mối quan tâm củacác đơn vị, tổ chức của Việt Nam.
1.2.2.2 Xu hướng nhập khẩu chè đang tăng lên ở Mỹ
Xu hướng nhập khẩu này xuất phát từ chính xu hướng uống chè đang ngàycàng gia tăng trên đất Mỹ Mỹ hiện nay là nước tiêu thụ chè lớn thứ 8 trên thế giới,với cơ cấu 84% là chè đen, còn lại là chè xanh và các loại chè khác Số quán chètrên toàn nước Mỹ hiện đã lên tới khoảng 2000 quán, cách đây một thập kỷ thì con
số này chỉ ở mức 200 Một nguyên nhân quan trọng dẫn đến kết quả này là ngườidân Mỹ ngày càng nhận thấy những tác dụng có lợi cho sức khoẻ của chè Cácnghiên cứu khoa học mới đây cho thấy chè, nhất là chè xanh, có chứa các chấtchống ôxy hoá giúp ngăn ngừa các bệnh về tim mạch, ung thư và làm chậm quátrình lão hoá
Với tiềm năng tiêu dùng lớn như vậy, Mỹ hoàn toàn là một thị trường đầyhứa hẹn đối với chè Việt Nam Vậy nguyên nhân do đâu mà hiện nay chè Việt namvẫn chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng sản lượng nhập khẩu của Mỹ (khoảng
2 % )? Điều này sẽ được phân tích sâu hơn ở phần sau, nhưng nguyên nhân rõ nhất
mà ta có thể nhìn thấy ngay đó chính là chất lượng chè xuất khẩu của Việt Nam cònthấp, không thể vượt qua những rào cản thương mại về chất lượng của Mỹ
1.2.3 Những cơ hội và thách thức đối với mặt hàng chè xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Mỹ trong điều kiện hội nhập WTO
Sau năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chứcthương mại thế giới WTO Những cơ hội và thách thức đã được mở ra đối với nềnkinh tế Việt Nam nói chung và cũng ảnh hưởng đến mặt hàng chè xuất khẩu củaViệt Nam nói riêng, đặc biệt là trên thị trường Mỹ
1.2.3.1 Những cơ hội đối với mặt hàng chè xuất khẩu của Việt Nam
Hội nhập WTO giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có động lực thúc đẩyphát triển, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, sản phẩm và tạo điều kiện
Trang 27tiếp cận với nhiều thị trường lớn, điển hình là Mỹ, EU, Nhật Bản Trong đó, đối với
Mỹ, ngay từ sau BTA, thuế nhập khẩu đối với đa số các mặt hàng của Việt Nam đềugiảm từ 40% xuống còn 3% hoặc 5%, tương đương với mức thuế suất thông thường
mà Mỹ áp dụng với các nước khác, đồng thời các biện pháp phi thuế quan cũngđược yêu cầu loại bỏ và hạn chế áp dụng Tất cả những quy định nay đều phù hợpvới yêu cầu của WTO
Ngoài ra, cơ hội lớn khi Việt Nam gia nhập WTO là việc thay đổi chính sáchquản lý, điều hành nền kinh tế theo hướng rõ ràng hơn, giảm dần sự phân biệt đối
xử giữa các thành phần kinh tế Bên cạnh đó, với việc hoàn thiện hệ thống pháp luậtkinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công khaiminh bạch các thiết chế quản lý theo quy định của WTO, môi trường kinh doanhViệt Nam ngày càng được cải thiện, thúc đẩy tiến trình cải cách của Việt Nam đồng
bộ hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có tiền đề tốt để thực hiện hoạtđộng xuất khẩu có hiệu quả
Cuối cùng, tham gia Tổ chức thương mại thế giới WTO còn đem lại cơ hộihợp tác và học tập kinh nghiệm cho Việt Nam từ nhiều nước trên thế giới về cácmặt như: kinh nghiệm quản lý, khoa học công nghệ hiện đại, cách thức nâng caochất lượng sản phẩm, cách thức tận dụng tối đa lợi thế so sánh của đất nướcmình v v
1.2.3.2 Những thách thức đối với mặt hàng chè xuất khẩu của Việt Nam
Thách thức đầu tiên đối với mặt hàng chè xuất khẩu của Việt Nam trên thịtrường quốc tế đó là chất lượng và uy tín còn thấp, và có thể nói là chè chưa có têntuổi Chè Việt Nam thường được các nước nhập khẩu đấu trộn với cốt các loại chèkhác hoặc để chiết xuất rồi đóng gói thành phẩm bán ra với một thương hiệu khác.Chè Việt Nam thường yếu ở khâu bảo quản (độ ẩm cao), lẫn loại, không đen, kémxoăn và nước không sánh, chè thường nhiều vụn và lẫn tạp chất Những yếu kém vềchất lượng này chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mặt hàng chè xuất khẩu củaViệt Nam không có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, đặc biệt là thị trường
Mỹ, một thị trường mà mặt hàng chè xuất khẩu được coi là khó nhập khẩu và chấtlượng bị kiểm soát chặt chẽ bởi Cơ quan quản lý an toàn thực phẩm và dược phẩm
Mỹ (FDA) Theo luật Mỹ, chè không đủ độ tinh khiêt, không đạt chất lượng và
Trang 28không phù hợp cho tiêu dùng theo các tiêu chuẩn thống nhất sẽ không đuợc phépnhập khẩu.
Xuất phát từ chất lượng và uy tín thấp như vậy nên giá cả mặt hàng chè xuấtkhẩu của Việt nam rất thấp so với giá chè trung bình của thế giới (bằng 1-2% giáchè thế giới) Vì vậy nên mặc dù sản lượng chè xuất khẩu hàng năm của ta rất cao
và tăng qua từng năm, nhưng khi quy đổi ra giá trị xuất khẩu lại thấp và có khi giátrị lại thấp hơn mặc dù sản lượng năm sau cao hơn năm trước Hiện tượng này đãcho thấy sự không ổn định về giá của chè Việt Nam, suy rộng ra nó thể hiện sự pháttriển thiếu bền vững của ngành chè Ngoài nhân tố chất lượng, các nhân tố ảnhhưởng đến giá chè xuất khẩu còn là: do tình hình thế giới, do sự biến động rất lớncủa cung cầu về chè trên thị trường v…v
Thách thức tiếp theo là việc đầu tư cho phát triển và quản lý quá trình sảnxuất chè ở Việt Nam còn rất thấp Đầu tư cho việc nhập khẩu các giống tốt củanước ngoài và cho nghiên cứu phát triển các giống mới còn thấp, đồng thời khâuchọn giống tiến hành còn chậm và chưa có quy hoạch cụ thể, đây chính là nhữngnguyên nhân căn bản dẫn đến chè Việt Nam kém chất lượng Mặt khác, nguồnnguyên liệu đầu vào chưa được sàng lọc, chưa được tiêu chuẩn hoá và thiếu ổnđịnh Hiện nay, có một vấn đề đang đặt ra cho ngành chè Việt Nam là dư lượngthuốc trừ sâu trong chè nguyên liệu còn rất cao, một trong những cản trở khiến chèViệt Nam không thể tăng khối lượng xuất khẩu vào những thị trường khó tính và
có những yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm cao như: Mỹ và EU Những vấn đề vàthách thức đặt ra này đã cho thấy sự yếu kém ngay từ khâu quản lý của các cơ quanNhà nước, của ngành chè đối với những doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chè, đồngthời cũng thể hiện nhận thức, hiểu biết về yêu cầu chất lượng, vệ sinh an toàn thựcphẩm ở người sản xuất chè còn thấp
*
* *
Tóm lại, chương 1 đã hệ thống hoá và phân tích những lý luận cơ bản về
cạnh tranh và sức cạnh tranh của hàng hoá Nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá
là cơ sở để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế quốc gia Đểđánh giá sức cạnh tranh của hàng hoá cần phải dựa vào các tiêu chí như sản lượng
Trang 29và doanh thu, chí phí sản xuất, thị phần, giá cả, chất lượng, thương hiệu và uy tíncủa hàng hoá đó so với các đối thủ cạnh tranh.
Xét trong lĩnh vực thương mại quốc tế, xuất khẩu chè đang được coi là mộttrong những ngành xuất khẩu mũi nhọn, góp phần giải quyết công ăn việc làm, đồngthời thúc đẩy quan hệ hợp tác của Việt Nam với các nước trên thế giới Thị trườngxuất khẩu chè của Việt Nam đang ngày càng mở rộng và Mỹ chính là một thịtrường đầy tiềm năng mà Việt Nam đang hường đến hiện nay Ngành chè Việt Namcần tăng cường xuất khẩu chè vào thị trường Mỹ là do: (i) Mỹ là một đối tác thươngmại quan trọng của Việt Nam; (ii) Mỹ là thị trường tiêu thụ chè lớn thứ 8 thế giớivới xu hướng uống chè đang tăng lên
Những bài học chủ yếu rút ra cho Việt Nam sau khi nghiên cứu kinh nghiệmcủa Trung Quốc và Ấn Độ là Nhà nước cần phải quan tâm hơn nữa cho ngành chèxuất khẩu trên cơ sở tận dụng hiệu quả hơn lợi thế so sánh của đất nước; cần đầu tưcho công tác nghiên cứu, triển khai, ứng dụng khoa học công nghệ mới trong sảnxuất chè; cần phải đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, chú trọng đào tạo cán bộ
có chuyên môn Toàn bộ những lý luận cơ bản về cạnh tranh, sức cạnh tranh củahàng hoá và bài học kinh nghiệm rút ra từ những đối thủ cạnh tranh là cơ sở quantrọng để phân tích và đánh giá trong chương 2
Trang 30CHƯƠNG 2 Thực trạng sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu của
Việt Nam trên thị trường Mỹ trong thời gian qua
2.1 Những đặc điểm và quy định của thị trường Mỹ đối với mặt hàng chè xuất khẩu
2.1.1 Đặc điểm thị trường Mỹ
2.1.1.1 Thị hiếu người tiêu dùng
Nước Mỹ nằm phía Tây bán cầu, hiện nay gồm 50 bang và một quận (đặckhu Columbia) Về dân số, nước Mỹ là nước đông dân thứ 3 trên thế giới sau TrungQuốc và Ấn Độ Trong đó, bộ phận dân nhập cư chiếm khoảng 30% dân số Mỹ.Chính vì vậy đây là quốc gia đa dân tộc với nền văn hóa rất đa dạng và phong phú,trong đó đại đa số là người da trắng chiếm 77,1% dân số, còn lại là người da đen,người gốc Châu Á, người gốc Latin và thổ dân Mỹ
Do đặc trưng của một quốc gia đa văn hóa, đa sắc tộc, thêm vào đó là ảnhhưởng của lối sống, mức thu nhập nên thị hiếu người tiêu dùng Mỹ là rất khác nhau.Yêu cầu của người tiêu dùng Mỹ với hàng hóa có nhiều loại từ hàng hóa có phẩmcấp thấp cho tới hàng hóa có phẩm cấp cao Thông thường hàng hóa của Việt Namkhi xuất khẩu vào thị trường Mỹ được đánh giá là hàng hóa có phẩm cấp thấp vàtrung bình
Đối với những hàng hóa có phẩm cấp thấp và trung bình, người tiêu dùng
Mỹ ưa chuộng những mặt hàng có mẫu mã đơn giản, tiện dụng, không quá cầu kỳnhư thị hiếu của người tiêu dùng Châu Âu Đặc biệt người Mỹ rất ưa thích nhữngsản phẩm mới lạ và độc đáo Trên thị trường Mỹ, đôi khi yếu tố giá cả có sức cạnhtranh cao hơn cả chất lượng sản phẩm Người tiêu dùng Mỹ thường không muốn trảtiền theo giá niêm yết Hàng hóa bán ở Mỹ phải kèm theo các dịch vụ sau bán hàng
Số lượng và chất lượng của dịch vụ này là điểm mấu chốt cho sự tín nhiệm đối vớingười bán hàng Tuy người Mỹ luôn thích những sản phẩm mới lạ, độc đáo nhưng
họ cũng rất mau chán, vì thế nhà sản xuất phải liên tục sáng tạo và nhanh chóng
thay đổi sản phẩm của mình, thậm chí phải có “phản ứng trước”.
Trang 31Đối với đồ uống, bên cạnh những sản phẩm đã được tiêu dùng từ rất lâu tại
Mỹ và có rất nhiều thương hiệu nổi tiếng như: rượu, cà phê, nước có ga thì trongthời gian gần đây trà cũng là loại đồ uống đang rất được ưa chuộng tại Mỹ do nhữngích lợi về sức khỏe của nó Người Mỹ không đòi hỏi quá cao sự tinh tế về độ ngon,hương vị của trà như người Trung Quốc và Nhật Bản nhưng chất lượng và an toànsức khỏe thì lại đòi hỏi rất cao Nếu sản phẩm chè của Việt Nam muốn cạnh tranhvới những thương hiệu chè hiện đang nổi tiếng trên thị trường Mỹ cũng như các loại
đồ uống khác thì cần phải nâng cao hơn nữa chất lượng chè, phương thức phânphối, quảng cáo và tiếp thị sản phẩm chè đến người dân Mỹ
2.1.1.2 Hệ thống kênh phân phối
Hệ thống tiêu thụ thực phẩm của Mỹ rất tiện lợi, trong đó có các hệ thốngcung ứng nhà hàng, hệ thống cung ứng cho các cơ sở ăn uống công cộng, các chợ
và các hộ gia đình Hệ thống bán lẻ ở Mỹ bao gồm: hệ thống các siêu thị; hệ thốngcác nhà hàng, cửa hàng tổng hợp, nhà ăn công cộng, và phục vụ ăn nhanh; hệ thốngcác chợ, các cửa hàng câu lạc bộ Trong đó, doanh số bán qua hệ thống các nhàhàng, cửa hàng, nhà ăn công cộng và phục vụ ăn nhanh có xu hướng tăng lên do sự
eo hẹp trong thời gian của người Mỹ Hệ thống kênh bán buôn bao gồm các nhàphân phối trên khắp cả nước Mỹ và các công ty chuyên kinh doanh thực phẩm hàngđầu Mỹ Như vậy, các sản phẩm nhập khẩu vào thị trường Mỹ sẽ được nhà xuấtkhẩu phân phối cho các nhà nhập khẩu và các đại lý của hãng xuất khẩu, rồi tiếp tụcđến tay các nhà phân phối vè hệ thống bán lẻ
Sản phẩm chè nhập khẩu vào thị trường Mỹ đầu tiên sẽ thông qua nhữngkênh bán buôn, sau đó trực tiếp đến tay người tiêu dùng thông qua hệ thống kênhbán lẻ, mà chủ yếu là hệ thống các cửa hàng chuyên cung cấp trà và các siêu thị.Tính đến năm 2006, hệ thống các cửa hàng phục vụ đồ uống trà đã lên tới 2000quán Theo Hiệp hội Chè Mỹ, doanh số bán chè đã đạt 6,2 tỷ USD năm 2005, caogấp 4 lần so với đầu thập niên 1990 Hiện nay thị trường Mỹ có rất nhiều hãng cungcấp chè nổi tiếng với mô hình cửa hàng đa dạng, từ phong cách hiện đại phươngTây cho đến những cửa hàng theo phong cách truyền thống phương Đông Hiện nay
ít nhất có hai mô hình cửa hàng kinh doanh về mặt hàng chè đang nổi lên ở Mỹ: môhình cửa hàng tâp trung vào tầng lớp khách hàng cao cấp của các hãng chè nổi tiếng
Trang 32và mô hình tập trung vào nhóm khách hàng bình dân như hệ thống cửa hàngTempest của vợ chồng bác sĩ Brian và Jody Rudman Nhìn chung, những hệ thốngcửa hàng chè-cà phê này được người dân Mỹ rất yêu thích bởi sự thích hợp của nóvới đời sống bận rộn của người Mỹ.
2.1.1.3 Các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng
Mỹ có rất nhiều luật để bảo vệ người tiêu dùng Những luật này được ápdụng cho gần như mọi sản phẩm sản xuất, phân phối hay bán trên thị trường này.Các doanh nghiệp xuất khẩu chè của Việt Nam cần nắm được điều này để hiểu rõtrách nhiệm của mình đối với sản phẩm hay dịch vụ cung cấp và tránh các rắc rốipháp lý
a,Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm
Theo thông luật bảo vệ người tiêu dùng (Common Law ConsumerProtection) hay còn gọi là Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm (Products LiabilityLaw), cơ quan luật pháp Hoa Kỳ yêu cầu các nhà sản xuất, phân phối và bán lẻ phải
có trách nhiệm đối với thương tật và thiệt hại do những khuyết tật của sản phẩm gây
ra cho người sử dụng hoặc những người ở gần sản phẩm đó Trách nhiệm sản phẩmthường dựa trên các nguyên tắc pháp lý về sự bất cẩn, vi phạm bảo hành hoặc tráchnhiệm tuyệt đối
Hàng hóa sản xuất ở nước ngoài bị phát hiện có khuyết tật có khả năng gâyhại cho người sử dụng sẽ không được phép nhập khẩu vào Hoa Kỳ hoặc phải thuhồi (nếu như đã bán cho người tiêu dùng) để sửa chữa hoặc thay thế miễn phí.Những trường hợp như vậy chắc chắn sẽ gây tổn hại về kinh tế hoặc bị kiện tụngcho người nhập khẩu, phân phối, hoặc bán lẻ Để tránh những tổn thất này, chắcchắn các nhà nhập khẩu, phân phối hoặc bán lẻ phải rất cẩn thận trong việc lựa chọnnguồn cung cấp
b,Các luật liên bang bảo vệ người tiêu dùng
Hoa Kỳ có rất nhiều đạo luật liên bang bảo vệ người tiêu dùng Mỗi đạo luậtđược thực thi và giám sát bởi một cơ quan chính phủ liên bang Sau đây là một số
cơ quan và những đạo luật chính liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng
Trang 33*Ủy ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng Hoa Kỳ (CPSC) là một cơ quan liên
bang độc lập được thành lập theo Luật An toàn Sản phẩm Tiêu dùng (CPSA) Bằng luật này, Quốc hội giao trách nhiệm cho CPSC “bảo vệ công chúng tránh nguy cơ bị
thương hay tử vong liên quan đến các sản phẩm tiêu dùng” Không phải tất cả cácsản phẩm tiêu dùng đều thuộc thẩm quyền của CPSC, song cơ quan này chịu tráchnhiệm quản lý hơn 15 ngàn loại sản phẩm Danh mục các sản phẩm này có thể tìmthấy trên trang web của CPSC tại địa chỉ là: www.cpsc.gov/ Trang web này cũnghướng dẫn đầy đủ các yêu cầu của các đạo luật liên quan và cách thử nghiệm sảnphẩm để đảm bảo phù hợp với các tiêu chuẩn qui định
Một số luật liên bang thuộc thẩm quyền của CPSC như là Luật An toàn Sản
phẩm Tiêu dùng (Consumer Product Safety Act); Luật về đóng gói phòng ngộ độc (Poison Prevention Packaging Act)
*Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm (FDA) có nhiệm vụ bảo đảm
thực phẩm an toàn và không có độc tố, mỹ phẩm không gây hại, thuốc men, cácthiết bị y tế, và các sản phẩm tiêu dùng có phát phóng xạ (như lò vi sóng) an toàn vàhiệu quả Cơ quan này cũng kiểm tra thức ăn cho các vật nuôi trong gia đình và tạicác nông trường và quy định các loại dược phẩm dùng cho các súc vật này FDAthực thi Đạo luật về thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm (Food, Drug and CosmeticAct - FDCA) và một vài luật khác về y tế cộng đồng Hàng năm, cơ quan này kiểmtra việc sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, lưu giữ và bán hàng trị giá khoảng 1 nghìn
- Luật chống khủng bố sinh học
Luật An ninh Y tế và Sẵn sàng Đối phó với Khủng bố Sinh học năm 2002(Public Health Security and Bioterrorism Preparedness and Response Act of 2002),gọi tắt là Luật Chống Khủng bố Sinh học (the Bioterrorism Act) được Tổng thống
Trang 34Hoa Kỳ G.W Bush ký ngày 12/6/2002 nhằm tiến hành và áp dụng các biện phápcần thiết để đối phó với nguy cơ khủng bố nhằm vào nguồn cung thực phẩm chongười và động vật tại Hoa Kỳ.
*Bộ Nông nghiệp
Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ giám sát thực thi các quy định về kiểm dịch đối vớiviệc nhập khẩu thực vật và các sản phẩm thực vật, vật nuôi, thịt và gia cầm, các sảnphẩm sản xuất từ động vật, trong đó có lông chim và da động vật sống Các sảnphẩm nông nghiệp nhập khẩu phải tuân theo các tiêu chuẩn về cấp, kích cỡ, chấtlượng và độ chín
*Cơ quan bảo vệ môi trường (EPA)
Nhiệm vụ của cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ là bảo vệ sức khỏe conngười và bảo vệ môi trường thiên nhiên: không khí, nước và đất
Có một số sản phẩm nhập khẩu nằm dưới sự kiểm soát của EPA Cơ quan
này giám sát thực thi Luật kiểm soát chất độc (Toxic Substances Control Act) và
Luật kiểm soát thuốc trừ sâu môi trường (Environmental Pesticide Control Act).
Trên đây chỉ là một số các điều luật cơ bản, ngoài ra còn có các điều luật
như: Luật đối với hàng quá cảnh, Luật về bảo đảm bảo hành cho người tiêu dùngcácdoanh nghiệp cần phải xác định rằng sản phẩm của mình phải chịu sự giám sát củarất nhiều các điều luật, không chỉ các điều luật liên bang mà riêng từng bang còn cónhững điều luật khác nhau Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp xuấtkhẩu sang thị trường Mỹ nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu chè nói riêng làcần tìm hiểu kỹ càng hơn nữa những điều luật của nước Mỹ để tránh những vụ kiện
do sai sót của sản phẩm
2.1.1.4 Chính sách thương mại quốc tế của Mỹ
Chính sách thương mại quốc tế của Mỹ được xây dựng trên hệ thống luậtpháp tương đối phức tạp của toàn liên bang Mỹ và các nguyên tắc của các tổ chứcquốc tế như WTO, WB, IMF….Ngược lại với mô hình kiểm soát chặt chẽ đối vớihàng nông sản của EU, Mỹ thực hiện chính sách tự do hóa thương mại đối với mặthàng này Những vấn đề chính sẽ được trình bày trong chính sách thương mại quốc
tế của Mỹ đó là: Quy định về xuất xứ hàng hóa, thuế quan, hạn ngạch, các quy định
Trang 35tiêu chuẩn kỹ thuật, chính sách chống bán phá giá Các doanh nghiệp xuất khẩumuốn thâm nhập thành công vào thị trường Mỹ cần phải nắm rõ những vấn đề cơbản này.
* Quy định về xuất xứ hàng hóa
Quy định này được ghi trong Luật thuế quan năm 1930 và 1984, Luật thươngmại và cạnh tranh năm 1988 Trong đó đưa ra các quy định cụ thể như sau:
- Quy định về ghi tên hàng hóa và nước xuất xứ bắt buộc phải bằngtiếng anh và tại vị trí rõ ràng nhất trên vỏ bao bì của hàng hóa
- Quy định về mức phạt và các biện pháp xử lý có liên quan: Mức phạtđối với những nhà xuất khẩu vi phạm quy định về xuất xứ thường tương đương với10% giá trị hàng hóa khi đưa vào lãnh thổ hải quan của Mỹ
* Quy định về thuế quan
- Biểu thuế quan của Mỹ được chia làm 2 cột tương ứng với 2 nhómnước:
+ Cột 1 là thuế quan tối huệ quốc: được áp dụng đối với những nước có quan
hệ thương mại bình thường với Mỹ Tong đó, thuế quan được chia làm 2 loại là thuếquan thông thường và thuế quan ưu đãi Thuế quan thông thường được áp dụng đốivới những nước là thành viên của WTO và đã ký hiệp định thương mại với Mỹ.Thuế quan ưu đãi là mức thuế quan thấp dành cho các nước đã ký hiệp định thươngmại tự do với Mỹ (NAFTA) Các nước kém phát triển và các nước vùng Caribeđược hưởng hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)
+ Cột 2 là cột thuế quan không tối huệ quốc: được áp dụng với những nước
chưa có thỏa thuận về quan hệ thương mại bình thường với Mỹ và những nước bịcấm vận Những nước này phải chịu mức thuế quan cao gấp hàng chục lần so vớimức thuế quan trong thuế quan tối huệ quốc
- Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP): được áp dụng đối với các
nước kém phát triển một cách đơn phương và không kèm theo các điều kiện ràngbuộc với Mỹ Điều kiện đối với hàng hóa được hưởng GSP là:
+ Hàng hóa được vận chuyển thẳng từ các nước được hưởng GSP đến lãnhthổ hải quan, tức là những hàng hóa đó không được phép bốc dỡ và xử lý dọcđường
Trang 36+ Điều kiện về xuất xứ hàng hóa: quy định tỷ trọng giá trị nguyên liệu đầuvào và các chi phí sản xuất trực tiếp khác tại nước được hưởng GSP phải lớn hơnhoặc bằng 35% giá trị hàng hóa khi đưa vào lãnh thổ hải quan của Mỹ Trong điềukiện này Mỹ cũng áp dụng quy tắc xuất xứ gộp đối với hàng hóa được sản xuất tạicác nước được hưởng GSP và các nước cùng là thành viên của khối liên kết khuvực.
+ Hàng hóa được sản xuất phải đáp ứng được các quy định theo tiêu chuẩncủa Mỹ
Hàng năm các cơ quan thương mại của Mỹ đều tiến hành đánh giá điều kiện
áp dụng GSP đối với các nước kém phát triển Nếu hàng hóa của nước được hưởngđược đánh giá là có đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường thì sẽ không tiếp tụcđược hưởng GSP nữa Đồng thời nước Mỹ có thể đơn phương hủy bỏ chế độ GSPvới một nước cụ thể tùy theo điều kiện nền sản xuất trong nước và tình hình pháttriển kinh tế
* Quy định về hạn ngạch: chia làm 2 loại:
- Hạn ngạch tuyệt đối: quy định phần hàng hóa vượt quá mức hạn
ngạch sẽ không được phép đưa vào lãnh thổ hải quan của Mỹ, bên xuất khẩu sẽ phảilưu kho hải quan để chờ hạn ngạch năm sau hoặc thực hiện tái xuất khẩu
- Hạn ngạch thuế quan: theo quy định của hạn ngạch này thì phần hàng
hóa vượt quá mức hạn ngạch cho phép vẫn có thể được đưa vào lãnh thổ hải quannhững sẽ phải chịu mức thuế nhập khẩu cao hơn so với phần hàng hóa trong hạnngạch (thường là hàng chục lần)
* Các quy định tiêu chuẩn kỹ thuật:
- Quy đinh về an toàn và đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng: đặc biệt
đối với nhóm hàng thực phẩm, đồ uống nước xuất khẩu bị bắt buộc phải thực hiệnđầy đủ quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn của hệ thống HACCP
- Quy định về trách nhiệm xã hội (SA8000): Mỹ áp dụng theo tiêu
chuẩn quốc tế đối với việc sử dụng lao động theo độ tuổi, cho phép người lao độngđược đảm bảo quyền lợi và chế độ bồi thường, cho phép họ thực hiện quyền tự dohội họp và tham gia các hiệp hội khác
Trang 37- Quy định về bảo vệ môi trường (dựa theo tiêu chuẩn ISO14000): Các
nhà sản xuất phải tuân thủ các yêu cầu về thực hiện trách nhiệm xử lý ô nhiễm môitrường, các nguyên liệu sử dụng không làm mất cân bằng sinh thái và các sản phẩmsản xuất ra phải đảm bảo đạt các tiêu chuẩn không gây ô nhiễm môi trường
- Quy định về chất lượng hàng hóa (ISO 9000): đây không phải là quy
đinh bắt buộc đối với hàng hóa xuất nhập khẩu vào Mỹ, tuy nhiên những hàng hóađáp ứng được những tiêu chuẩn trong quy định này sẽ được các cơ quan thương mại
Mỹ và người tiêu dùng Mỹ tín nhiệm hơn, từ đó có sức cạnh tranh cao hơn trên thịtrường
* Chính sách chống bán phá giá:
Mỹ sẽ thực hiện việc điều tra hiện tượng bán phá giá hàng nhập khẩu khi có
đủ 50% số doanh nghiệp trong ngành sản xuất nội địa cùng tham gia ký vào đơnkiện đối với nước xuất khẩu
Cơ sỏ để Mỹ xác định chống bán phá giá là: Khi mức giá của sản phẩm nhậpkhẩu bán trên thị trường Mỹ thấp hơn mức giá bán ở thị trường nước xuất khẩu Vàkhi hàng hóa đã được xác định là vi phạm chính sách chống bán phá giá thì Bộthương mại Mỹ sẽ tiến hành điều tra dưới sự giám sát của cơ quan trọng tài và trungtâm thương mại quốc tế (ITC) Các biện pháp trừng phạt đối với hàng hóa vi phạmchính sách chống bán phá giá thông thường là áp dụng mức thuế nhập khẩu caohơn, hoặc có thể quy định hạn ngạch nhập khẩu hoặc mức trừng phạt cao nhất làcấm nhập khẩu Ngoài ra đối với một số hàng hóa có dấu hiệu về việc bán phá giáthì các cơ quan thương mại của Mỹ sẽ tiến hành áp dụng cơ chế giám sát trong mộtthời gian nhất định
2.1.2 Các quy định của thị trường Mỹ đối với mặt hàng chè nhập khẩu
Thị trường Mỹ có nhu cầu lớn về hàng hóa cung cấp nhưng đồng thời cũng
có các đòi hỏi về tiêu chuẩn cao của một thị trường chuyên nghiệp Ngoài các tiêuchuẩn tối thiểu như thời hạn giao hàng nhanh, chất lượng phù hợp với tiêu chuẩnquy định, khối lượng lớn và khả năng cung cấp ổn định, đó còn là các yêu cầu đặcbiệt liên quan đến chất lượng quản lý và quy trình sản xuất, các tiêu chuẩn về môitrường và quyền của người lao động v v…Đặc biệt đối với những sản phẩm làthực phẩm và đồ uống mức độ kiểm soát của Chính phủ Mỹ còn nghiêm ngặt hơn,
Trang 38nhằm mục đích bảo vệ cho người tiêu dùng Mỹ Trong đó, chè là một trong nhữngmặt hàng khó nhập khẩu vào Mỹ, chịu sự giám sát chặt chẽ của Cơ quan quản lý antoàn thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA)
Theo luật Mỹ, chè không đủ độ tinh khiết, không đạt chất lượng và khôngphù hợp cho tiêu dùng theo các tiêu chuẩn thống nhất sẽ không được phép nhậpkhẩu
Hàng năm chậm nhất vào ngày 15/2, Bộ trưởng Y tế và dịch vụ nhân dân sẽchỉ định một hội đồng gồm 7 thành viên là các chuyên gia về chè để giúp Bộ trưởngxác lập các tiêu chuẩn chè nhập khẩu Các tiêu chuẩn này bao gồm độ tinh khiết,chất lượng và phù hợp với người tiêu dùng Sau khi được Bộ trưởng chuẩn y, cácmẫu chè sẽ được mua và lưu giữ tại trụ sở cơ quan hải quan các cảng New York,Chicago, San Fransisco và một số cảng khác theo quyết định của Bộ trưởng Bộ y tếcũng sẽ mua đủ số mẫu tiêu chuẩn để cung cấp có thu tiền cho các nhà nhập khẩu vàkinh doanh chè có nhu cầu
Người nhập khẩu hoặc người nhận hàng có trách nhiệm cung cấp mẫu đạidiện cho từng loại chè có ghi trong hóa đơn giao hàng để FDA kiểm tra đối chiếuvới mẫu chè chuẩn, chi phí kiểm tra sẽ do người nhập khẩu chịu Nếu kết quả kiểmtra không đạt so với mẫu chuẩn thì người nhập khẩu phải tái xuất toàn bộ lô hàngtrong vòng 6 tháng kể từ ngày có kết quả kiểm tra cuối cùng Nếu hết 6 tháng chưađược tái xuất thì sẽ bị tiêu hủy
Bên cạnh đó, theo Luật chống khủng bố sinh học mới ban hành, những cơ sỏsản xuất, chế biến và đóng gói thực phẩm dành cho người và gia súc, trong đó cóchè, nếu muốn xuất khẩu vào Mỹ thì phải đăng ký với cơ quan FDA trước ngày31/12/2003 Ngoài ra, các cơ sở này phải lưu giữ chứng từ giao nhận nguyên liệu vàsản phẩm để tạo điều kiện cho FDA điều tra trong những trường hợp có nghi ngờxảy ra khủng bố sinh học Ngoài ra, những sản phẩm chè nhập khẩu còn bị kiểm tra
về tiêu chuẩn thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, diệt nấm bởi Cơ quan bảo vệ môi trườngEPA
Về chính sách thuế, sản phẩm chè xuất khẩu của Việt Nam được hưởng mứcthuế nhập khẩu tôi huệ quốc Theo đó, chè xanh có hương vị đóng gói không quá3kg/gói là 6,4%, và đối với các loại chè khác không phân biệt khối lượng đóng gói