1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình tổ chức và nghiên cứu công nghệ sinh học trên thế giới và những vấn đề đáng quan tâm

30 393 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 710,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những thay đổi trong chính sách công nghiệp, kết hợp với các nguồn nguyên liệu phong phú là một cơ sở khoa học dẫn đầu về miễn dịch học, sinh học phân tử và các khoa học thực vật, đã khu

Trang 2

VIỆN DI TRUYỀN NÔNG NGHIỆP

TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VÀ NGHIÊN CỨU

CNSH TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐÁNG QUAN

TÂM

Trang 3

1 Cơ quan chịu trách nhiệm xuất bản:

Viện Di truyền Nông nghiệp

Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp Thực phẩm

2 Loại tổng luận: Phân tích tổng kết

3 Tên tổng luận : Tình hình tổ chức và nghiên cứu CNSH trên thế giới và những

vấn đề đáng quan tâm

4 Người biên soạn : T.S Trần Duy Quý

Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp

5 Nơi xuất bản : Hà nội

6 Năm xuất bản : 1994

Trang 4

cố gắng để tạo khả năng lựa chọn những kỹ thuật và phương pháp thích hợp có tác động tích cực nhất Mô hình sử dụng và phát triển các CNSH ở các nước phát triển và đang phát triển

vì vậy rất khác nhau Tài liệu này nhằm giới thiệu các mô hình tổ chức và nghiên cứu CNSH

ở một số nước tiêu biểu trên thế giới, cả những nước phát triển và những nước đang phát triển,, sự khác nhau giữa hai hại mô hình này, từ đó có thể rút ra một số vấn đề đáng quan tâm đối với nước ta

Trang 5

A CNSH Ở MỘT SỐ NƯỚC PHÁT TRIỂN TIÊU BIỂU

1 Ôxtrâylia

Sự cam kết của Chính phủ đối với nghiên cứu CNSH được Tổ chức Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp của Liên bang (gồm có 6 viện và 35 phân viện) ủng hộ Năng lực nghiên cứu của Ôxtrâylia đặc biệt mạnh trong lĩnh vực nông nghiệp và sức khỏe con người, nhất là

về miễn dịch học và nội tiết học Các nhà khoa học Ôxtrâylia đã tìm ra các nhân tố sinh trưởng của tế bào máu và nhân dòng được các hocmon quyết định, như hocmon sinh trưởng của người và intelơkin 3

Các Chính phủ Liên bang ở Nam Wales Mới, Victoria và Tây Ôxtrâylia cũng ủng hộ việc làm nói trên Sự ủng hộ này thể hiện ở chỗ thành lập một cơ quan phụ trách vấn đề CNSH ở một bang để liên hệ với các nước Đông Nam Á khác nhằm phát triển các thị trường mới

CNSH được Chính phủ Liên bang coi là một công nghệ được phép, và một Ủy ban đặc biệt tài trợ cho nghiên cứu CNSH trên cơ sở cạnh tranh đã được thành lập Những thay đổi trong chính sách công nghiệp, kết hợp với các nguồn nguyên liệu phong phú là một cơ sở khoa học dẫn đầu về miễn dịch học, sinh học phân tử và các khoa học thực vật, đã khuyến khích Ôxtrâylia phát triển các phương pháp CNSH

Hiện nay, có 65 doanh nghiệp dựa vào CNSH hiện đại (kể cả đồ uống nhưng không

kể phomát, rượu và thực phẩm) ở Ôxtrâylia, được gần 200 công ty ủng hộ và cung cấp các dịch vụ kinh doanh, nghiên cứu và tài trợ Các công ty CNSH có thể sử dụng lợi nhuận của một số chương trình công nghiệp lớn, kể cả các khoản trợ cấp khuyến khích đôi với thuế R và

D và hàng loạt các dịch vụ tư vấn thông qua dịch vụ triển khai công nghiệp quốc gia

Qui chế về CNSH ở qui mô Liên bang do Ủy ban tham vấn về kỹ thuật di truyền (GMAC) thể hiện Được thành lập năm 1938 để giám sát tất cả các đề nghị về công việc nghiên cứu và thương mại có liên quan đến kỹ thuật di truyền, kể cả việc đưa ra thực địa có

kế hoạch, Ủy ban có cả một khoa đại học gồm nhiều lĩnh vực Vì là thành viên không đáng chê trách, GMAC đang được coi là độc lập với các tập đoàn có lợi nhuận và do đó được quần chúng công nhận Do CNSH có nhiều ứng dụng khác nhau trong nhiều ngành công nghiệp, nên nhiều cơ quan có thẩm quyền được tham gia

Trang 6

Cơ quan cấp chứng chỉ của Ôxtrâylia (APO) có cách nhìn thoáng đối với vấn đề cấp chứng chỉ; bất cứ cái gì cũng có thể chứng nhận được nếu nó đáp ứng các tiêu chuẩn thông thường (ví dụ tính mới lạ, tính không rành mạch) Điều luật về chứng chỉ được cộng đồng CNSH xem như có ích, qua đối thoại rõ ràng với APO

2 Pháp

Chính phủ Pháp đã đặt CNSH vào một lĩnh vực ưu tiên của nước này năm 1982 Tài trợ của nhà nước cho nghiên cứu CNSH tăng lên, đạt tới đỉnh cao năm 1985 Việc cấp kinh phí cho CNSH được tập trung vào các trung tâm quốc gia về nghiên cứu khoa học, nông học, sức khỏe và y học, nghiên cứu nguyên tử, cũng như cho Viện Pasteur (Viện nghiên cứu tư nhân nổi tiếng về miễn dịch học) và tài trợ trực tiếp cho công nghiệp Pháp có một truyền thống phong phú về nghiên cứu khoa học (như phát triển vacxin), có một cơ sở nổi tiếng như Viện Pasteur, có các khuyến khích về thuế v.v để động viên hoạt động khoa học trong khu vực công

Gần 700 công ty bị thu hút vào việc triển khai CNSH ở Pháp, trong đó 100 công ty có vai trò lớn R và D Công Nghiệp thường do các công ty lớn thực hiện, trong đó có nhiều công

ty đã hoặc đang được quốc hữu hóa Nông nghiệp, các vacxin, mỹ phẩm và việc xử lý nước là những lĩnh vực hàng đầu trong ứng dụng CNSH ngày nay

Việc tăng cường chuyển giao công nghệ từng đặt ra các vấn đề ở Pháp Điều này là do một sự tách rời truyền thống bên trong các Viện giữa khoa học cơ bản (thường được dạy trong các trường đại học) và đào tạo kỹ thuật (chỉ thuộc các trường chuyên nghiệp) Ngoài ra, các điều kiện nghiên cứu CNSH thương mại thường thiếu chuyên gia khoa học

Thao tác xử lý ADN do công việc cùa phòng thí nghiệm tốt và những qui định thực hiện sản xuất tốt chỉ đạo Đồng thời, Ủy ban Kỹ thuật Di truyền thuộc Bộ Nghiên cứu và Công nghệ có trách nhiệm phân loại tất cả các vi sinh vật theo mức rủi ro gắn liên với việc thả lỏng chúng Có một Ủy ban hướng vào các vấn đề đạo đức nảy sinh từ CNSH Ủy ban Kỹ thuật về phân tử sinh học chịu trách nhiệm thỏa thuận sơ bộ việc giải phóng các vi sinh vật có kiểm soát Ủy ban này gồm có các đại diện của cộng đồng khoa học, các tập thể người tiêu dùng và Đảng Xanh của Pháp

Pháp là nước bênh vực và ủng hộ mạnh mẽ sự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, là nước ký những hiệp định quốc tế quan trọng về các bằng phát minh/ sáng chế, quyền tác giả và nhãn hiệu

Trang 7

3 Đức

Đức chiếm vị trí đứng đầu trong CNSH ở Châu Âu, là nước đầu tiên tung ra một chương trình CNSH quốc gia năm 1974 và là nước đầu tiên thành lập một viện nghiên cứu của nhà nước chỉ dành cho CNSH

Tỉ lệ cấp kinh phí của liên bang so với bang cho R và D xấp xỉ là một trên hai Kinh phí của liên bang rót toàn bộ vào các trung tâm cỡ lớn và các viện nghiên cứu công nhỏ hơn, còn các bang cam kết chỉ tài trợ nghiên cứu cho các cơ sở và các trường đại học nằm trong phạm vi tương ứng của mình

Đầu tư của công nghiệp vào R và D là khá cao 58% tổng đầu tư trong nước và mô hình mở rộng sang CNSH Phần lớn các hoạt động CNSH đang được các công ty lớn thực hiện, như Bayer, BASF, Boehringer Ingelheim, Boehringer Mannheim và Hoechst Các hiệp định cấp giấy phép, liên minh chiến lược và cả tiếp quản thu hút các công ty Mỹ đang giúp các công ty Đức tiếp cận được với công nghệ mũi nhọn này

Nhiều người Đức chống lại việc ứng dụng các kỹ thuật CNSH mới, đặc biệt những kỹ thuật nào có liên quan với kỹ thuật di truyền Dù kết quả của những cuộc tranh cãi về quy chế như thế nào đi nữa, Cộng hòa Liên bang Đức có lẽ vẫn là nước tham gia mạnh vào lĩnh vực CNSH trong tương lai

Năm 1984, Nghị viện Đức đã chỉ định một Uy ban theo dõi các triển vọng và rủi ro của kỹ thuật di truyền Tháng 1 - 1987 ủy ban này đã đệ trình một báo cáo nhấn mạnh việc chấp nhận hơn 170 biện pháp đặc thù bao hàm các lĩnh vực này như nhân dòng con người(*), giải phóng các tế bào được xử lý về mặt di truyền, những ai thuê phân tích bộ gen và những

cơ quan thực hiện pháp luật Điều này đã dẫn đến khai thông một “đạo luật về gen” dự kiến, xác định chặt chẽ môi trường luật pháp trong đó công nghiệp có thể tiến hành R và D, khiến

một số công ty đã bắt đầu chuyển hướng đầu tư sang các môi trường thuận lợi hơn ở các nước

khác Một yếu tố nữa có thể đẩy lùi xu hướng đối lập của Đức đối với CNSH là sự hòa nhập vào thị trường châu Âu năm 1992 Điều này có thể buộc Đức vận dụng các quy định của mình để đáp ứng những quy định của các nước châu Âu khác, thường ít gò bó hơn Đức là nước tham gia vào các hiệp định quốc tế chính về sở hữu trí tuệ Các công ty và công dân Mỹ được đối xử tương tự như các kiều dân Đức (nghĩa là đạo luật của Đức không phân biệt giữa các quốc tịch về quyền đã đăng ký)

(*) Có thể hiểu là nhân dòng gen người, thụ tinh trong ống nghiệm tinh trùng và trứng được xử lý trước khi cấy lại phôi - TG

Trang 8

4 Ailen

Ở Ailen, trong khi chính phủ coi CNSH là một ưu tiên quốc gia thì các trường đại học

đã bộc lộ như là lực lượng chính trong việc đẩy mạnh CNSH Chính phủ đã tài trợ lúc đầu cho BRI, một tổ chức nghiên cứu khoán được thành lập năm 1987 để khai thông việc thương mại hóa CNSH bằng cách xây dựng, trang bị và cung cấp cán bộ cho các trung tâm nghiên

cứu CNSH Từ năm 1989, 5 trung tâm đã được thành lập ở các trường đại học hiện có,

chuyên môn hóa về các lĩnh vực chẩn đoán được phẩm, thực phẩm, nuôi cấy mô và tế bào, CNSH nông nghiệp và thú y

Vì coi CNSH là một lĩnh vực ưu tiên chiến lược, chính phủ đã thành lập cơ quan trực thuộc Bộ trưởng Bộ khoa học năm 1987 Một chương trình CNSH quốc gia đã ra đời từ đó

Có 3 cơ quan hướng dẫn chính sách CNSH quốc gia ơ Ailen: (1) BRI; (2) Cơ quan Phát triển Công nghiệp (IDA Ireland), hỗ trợ sự tăng trưởng trong sản xuất và các ngành công nghiệp dịch vụ và thúc đẩy Ailen trở thành nơi đầu tư của nước ngoài; và (3) Cơ quan Khoa học và Công nghệ Ailen (EOLAS), thúc đẩy khoa học, công nghệ và cung cấp các dịch vụ kỹ, thuật cho công nghiệp

Chính phủ Ailen đã tiếp thu một chiến lược rất tổng hợp để thúc đẩy CNSH Chính sách CNSH của nước này là định hướng rõ ràng vào việc tăng cường sức sống thương mại của các ngành công nghiệp CNSH và thu hút doanh nghiệp mới từ bên ngoài

Môi trường pháp định của Ailen có những trở ngại không đáng kể đối với sự phát triển công nghiệp Các nguyên tắc chỉ đạo của NIH (Viện Nghiên cứu sức khỏe của Mỹ) đã được tiếp thu và áp dụng ở Ailen Ailen cũng áp dụng các nguyên tắc chỉ đạo pháp định rộng rãi của EC và có một ủy ban chịu trách nhiệm về ADN tái tổ hợp từ năm 1983

Chính phủ đang dự thảo điều luật sẽ cho phép Ailen trở thành một bên ký kết với EPC (Ủy ban cấp chứng chỉ Châu Âu) Điều luật sẽ áp dụng việc bảo vệ chứng chỉ ngắn hạn (l0 năm) sẵn có mà không điều tra tỉ mỉ và được ấn định để đáp ứng các nhu cầu của những ngành công nghiệp nhỏ trong nước

Chính phủ Ailen khuyến khích sự đầu tư của nước ngoài, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp có công nghệ cao như CNSH Do đó, việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là một phần quan trọng trong chính sách doanh nghiệp của nhà nước Công tác bảo vệ thường ngang hàng với các nước phát triển khác ở Châu Âu và Chính phủ đáp ứng với các vấn đề nảy sinh

Trang 9

Việc thương mại hóa CNSH ở Nhật đã chín mùi và phát triển qua hàng loạt ngành công nghiệp Các nhà nghiên cứu công nghiệp làm việc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên đông hơn các đồng nghiệp ở đại học và cơ quan nhà nước (xấp xỉ hai trên một) Phần lớn các điều kiện nghiên cứu CNSH dựa trên cơ sở hợp nhất Ngoài ra, các chiến lược của chính phủ

để thúc đẩy CNSH ở Nhật luôn luôn nhằm vào sự phát triển thương mại Phần lớn tài trợ của

chính phủ cho R và D đều hướng vào nghiên cứu ứng dụng và những sáng kiến của chính phủ

luôn luôn có sự tham gia rộng rãi của công nghiệp

Gần 300 công ty Nhật thông báo về một loại hoạt động nào đó có liên quan với CNSH Các công ty lớn và truyền thống đã lấn át trong khu vực kinh doanh Những ước tính trong năm 1987 về R và D CNSH công nghiệp là một tỉ đô la Mỹ, xấp xỉ một nửa lượng chi phí cho công nghiệp ở Mỹ

Các quy chế dựa trên điều luật hiện hành về dược phẩm, sức khỏe và sự an toàn của người lao động, nông nghiệp và bảo vệ môi trường đang được triển khai để ứng dụng vào CNSH Sự tranh cãi gay gắt giữa các cơ quan ở Nhật gây trở ngại cho việc đoán trước sự bảo

vệ chứng chỉ đối với thực vật Vấn đề mấu chốt là các loại cây mới được bảo vệ bởi một chứng chỉ của Nhật hay bởi một đăng ký theo Đạo luật Cây con và Hạt giống của Nhật, là đạo luật giống như Luật Bảo vệ Giống cây của Mỹ

Nhật là nước cạnh tranh hàng đầu của Mỹ về CNSH Mặc dầu Nhật là nước tham gia vào các hiệp ước quốc tế chính về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, việc thực hiện chứng chỉ của

họ vẫn có một số vương mắc Cơ quan cấp chứng chỉ của Nhật (JPO) phải mất nhiều năm để

xem xét cách áp dụng chứng chỉ, so với 21 tháng ở Mỹ Phạm vi cho phép của các yêu sách trong việc áp dụng chung chỉ ở Nhật hẹp hơn so với phạm vi cho phép ở Mỹ, và sự chậm chễ

trong việc giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi có thể lãng quên các ứng dụng hàng năm Vì vậy, các hệ thống xét xử của JPO về vi phạm chứng chỉ là chậm và sự vi phạm khó chứng minh

Trang 10

Trong những năm gần đây, pháp chế đã được thông qua ở Mỹ và Nhật để tăng cường bảo vệ chứng chỉ nhằm bù lại những năm đã bị mất trong quá trình phát triển lệch lạc

6 Anh

Ở Anh, mặc dầu chính phủ không bao giờ thừa nhận CNSH có vai trò đúng đầu quốc gia, song vẫn cho phép các cơ quan nhà nước triển khai các kế hoạch chính sách riêng của mình trong khuôn khổ ngân sách hạn hẹp Do đó, có sự liên kết giữa đại học, công nghiệp và thúc đẩy các công ty nhỏ

Chính phủ Anh thường nâng đỡ công trình nghiên cứu cơ bản Nghiên cứu ứng dụng phần lớn được tài trợ qua các chương trình đại học - công nghiệp Sự tài trợ của chính phù cho R và D CNSH do Bộ Giáo dục và Khoa học và Bộ Thương mại và Công nghiệp chỉ đạo Hội đồng Nghiên cứu Môi trường Thiên nhiên hỗ trợ R và D CNSH ở mức độ ít hơn Sự hỗ trợ nghiện cứu ứng dụng chủ yếu là từ Bộ Thương mại và Công nghiệp, trong đó đơn vị CNSH (được thành lập năm 1982) là nguồn giúp đỡ chính cho các hãng tìm sự hỗ trợ đầu tư mới và đổi mới Gần 300 công ty của Anh có liên quan với một dạng nào đó của CNSH, chỉ khoảng 40 công ty tích cực tham gia kỹ thuật di truyền và sản xuất kháng thể đơn dòng Nhìn chung, các hãng lớn chiếm ưu thế trong CNSH của Anh, mặc dầu Anh hãnh diện về các công

ty đổi mới nhờ hơn so với bất kỳ một nước châu Âu nào khác

Tính an toàn của dược phẩm và thực phẩm, việc tung ra môi trường, sức khỏe và sự

an toàn ở nơi làm việc là ba loại quan tâm chính được quy định ở Anh Trong cả ba lĩnh vực,

các quy chế ở Anh hiện nay đòi hỏi cách tiếp cận từng trường hợp, và sự phối hợp giữa các

cơ quan luật pháp với các cơ quan tình nguyện thường hoạt động có kết quả Anh dẫn đầu về

các thí nghiệm có liên quan đến việc đưa ra ngoài môi trường Vì những thí nghiệm này được

Ủy ban cố vấn về Kỹ thuật Di truyền xem xét cẩn thận nên quần chúng không phản đối việc

trao đổi cân nhắc các thí nghiệm giải phóng các sinh vật được biến đổi về mật di truyền

Các luật về sơ hữu trí tuệ của Anh rất chặt chẽ, toàn diện và được tăng cường mạnh Các quan điểm của chính phủ trong các diễn đàn quốc tế, như các thương lượng về WIPO(1)

và GATT(2) (Hội nghị bàn tròn ở Uruguay), thật sự giống như các quan điểm của Mỹ

(1) Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới của LHQ

(2) Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch

Trang 11

7 Mỹ

Mỹ dẫn đầu thế giới trong việc phát triển CNSH thương mại vì có cơ sở nghiên cứu mạnh (nhất là trong các khoa học về y sinh) và khả năng của các nhà doanh nghiệp đài thọ cho các ý định này Vào đầu những năm 1980, một sự phối hợp đầu tư của liên bang với qui

mô lớn cho nghiên cứu y sinh học cơ bản, tình trạng được kích thích về tiềm năng thương mại và sẵn sàng bỏ vốn đã tạo ra hàng trăm công ty CNSH

Chính phủ Liên bang và các Viện hàn lâm là động lực thúc đẩy sự tiến bộ của CNSH, còn nghiên cứu cơ bản đòi hỏi một phần lớn công quỹ cho R và D Năm 1990 chính phủ liên bang đã chi hơn 3,4 tỉ đô la để hỗ trợ R và D trong các lĩnh vực có liên quan với CNSH Các công ty dành cho CNSH (DBCs) hầu như là một hiện tượng độc nhất ở Mỹ Những công ty này chủ yếu bắt đầu như các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ nhưng không có sản phẩm và nhằm vào các công nghệ đặc biệt, có sản phẩm riêng hoặc thị trường phù hợp Cuộc bùng nổ các DBCs bắt đầu từ 1980 đến 1984, là thời kỳ thành lập khoảng 60% số công ty hiện có Đến năm 1988, có 403 DBCs tồn tại và trên 70 tập đoàn lớn đầu tư đáng kể vào CNSH Phần lớn các công ty này nhằm hẳn vào các sản phẩm giữ gìn sức khỏe con người, vì sẵn có vốn cho dược phẩm hơn so vơi thực phẩm hoặc nông phẩm

Năm 1986 cơ quan về Chính sách Khoa học và Công nghệ của Nhà Trắng đã nêu chính sách quy định của các cơ quan liên bang trong cơ cấu điều phối Quy chế về CNSH Nhận thức rằng về cơ bản CNSH là một tập hợp các kỹ thuật để sản xuất các chất sinh hóa mới và những sinh vật bị biến đổi, và rằng các hóa chất và sinh vật thường được điều chỉnh theo ý định sử dụng chúng chứ không phải theo phương pháp sản xuất, chính sách của liên bang đưa các sản phẩm của CNSH vào hệ thống luật và các quy chế của liên bang hiện có

Cơ cấu cũng vạch ra phương pháp điều phối giữa các cơ quan, xác định cơ quan chỉ đạo trong

một số lĩnh vực vượt quyền

Theo điều luật hiện nay, Cơ quan Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) đã thừa nhận nhiều sản phẩm mới, Bộ Nông nghiệp và Cơ quan Bảo vệ Môi trường đã đặt các quy trình đánh giá các thử nghiệm ngoài đồng đối với những thực vật và vi sinh vật bị biến đổi Những

cơ chế được thiết lập để tạo ra sự điều phối của liên bang đối với các hoạt động gắn vơi CNSH đã trở thành trung tâm tranh cãi lý luận giũa các cơ quan về phạm vi của các quy chế

dự định

Trang 12

Việc bảo vệ chứng chỉ rộng rãi thể hiện đối với tất cả các loại phát minh gắn liền với CNSH ở Mỹ Quyết định của Tòa án Tối cao ở Diamond V Chakrabarty cho rằng có thể cấp chứng chỉ cho một sinh vật, cùng với những thay đổi chính sách của quốc hội và ngành hành

pháp để tăng cơ hội cấp chứng chỉ cho các sản phẩm và phương pháp từ nghiên cứu được liên

bang đài thọ, đã khuyến khích hoạt động cấp chứng chỉ gắn với CNSH Mặc dầu bầu không khí quốc tế nói chung là thuận lợi, vẫn có một số yếu tố ảnh hưởng đến những khuyến khích của Mỹ về triển khai các phát minh mới và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Những yếu tố này bao gồm phần đơn đặt hàng chưa thực hiện được ở Cơ quan cấp Chứng chỉ và Nhãn hiệu (PTO), những sự bấp bênh trong nước và trên thế giới về điều tạo nên nội dung vấn đề có thể cấp chứng chỉ, những khác biệt về thủ tục trong đạo luật của Mỹ (ví dụ, phát minh trước so với đệ trình trước, thời hạn ưu tiên, thời hạn cho phép, bí mật của những ứng dụng chứng chỉ

và những cân nhắc ký gửi), những bấp bênh trong việc giải thích phương pháp bảo vệ chứng chỉ, và nhiều kiện tụng vi phạm chứng chỉ

Phần chưa thực hiện được của những ứng dụng chứng chỉ thường được nêu như là trở ngại chính đối với việc thương mại hóa các quy trình và sản phẩm gắn với CNSH Phần này tạo ra sự bấp bênh đối với việc kế hoạch hóa doanh nghiệp và không khuyến khích thực hiện một số dự án R và D; tuy nhiên, không có bằng chứng là nó ảnh hưởng đáng kể đến sự cạnh tranh trên thế giới về CNSH So với các nước khác chẳng hạn, Mỹ tài trợ cho các chứng chỉ phát minh về CNSH nhanh hơn so với bất kỳ cơ quan cấp chứng chỉ chủ yếu nào khác trên thế giới Và, đối với những sản phẩm có thời gian thừa nhận dài theo qui định, thì sự trì hoàn

để có được chứng chỉ có thể dẫn đến kéo dài thời gian bảo vệ, vì thời hạn 17 năm chưa bắt đầu cho đến khi chứng chỉ được ghi vào danh mục thực sự

B CÔNG NGHỆ SINH HỌC Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á

Một số nước châu Á đã nhận ra CNSH là một công nghệ chủ chốt của tương lai và dành cho nó sự ưu tiên cao nhất để phát triển khoa học và công nghiệp, ở châu Á có nhiều cơ hội để phát triển các chủng vi sinh vật và các giống thực vật mới, thay thế hóa chất bằng các tác nhân sinh học để không chế sâu bệnh và cỏ dại, và thực hiện các phương pháp có hiệu quả hơn trong công nghiệp thực phẩm Các hóa chất chuyên dùng, đặc biệt là những chất gắn với công nghiệp thực phẩm, cũng quan trọng

Trong lĩnh vực cải tạo cây trồng, các CNSH thực vật như nhân dòng vô tính, tạo phôi soma, dung hợp tế bào trần hoặc nuôi cấy bao phấn, có thể đem lại những giống mới và cây trồng có giá trị cao hơn cho thị trường

Trang 13

Trong chăn nuôi, dự án CNSH hứa hẹn nhất có liên quan với metionin somatotropin của bò hoặc hocmon sinh trưởng của bò (bSt hoặc bGH) Việc sử dụng loại hocmon này có thể có nhiều tác dụng ở đâu mà bò châu Á sản xuất sửa ít hơn so với bò nơi khác Nhưng vẫn còn hai trở ngại ngăn cản việc sử dụng rộng rãi dùng hocmon một cách kinh tế và sản xuất hàng loạt bGH

Các nước Đông Nam Á như Inđônêxia, Malaixia, Philippin, và Thái Lan giàu tài nguyên thiên nhiên, và cho tới đầu thập kỷ 1990, vẫn còn dựa nhiều vào các mặt hàng xuất khẩu có giá trị thấp Nếu các CNSH có nguy cơ khả dĩ đối với vị trí của họ là những nước xuất khẩu nông phẩm (như qua việc thay thế), thì những công nghệ này cũng tạo các cơ hội

để cải thiện chất lượng và giá trị của nông phẩm Chẳng hạn Inđônêxia và Malaixia hy vọng

có thể cạnh tranh mạnh hơn bằng cách hiện đại hóa công nghiệp dầu cọ Thái Lan đang tìm cách củng cố vị trí của mình là nước sản xuất sắn chính, đồng thời dùng phần sắn thừa để sản xuất etanol, và đa dạng hóa sản xuất hoa quả

Nuôi cấy mô in vitro đã được thực hiện trong khu vực đối với nghề làm vườn từ năm

1975 Năm 1990, người ta đã ước tính rằng sản lượng thế giới về các cây con được nhân vô tính lên tới 500 triệu, và trong tổng số này, 67 triệu cây bắt nguồn từ Châu Á Nuôi cấy mô, ngày càng được sử dụng đối với các loài cây trồng trong đồn điền, cũng có thể áp dụng được cho các loài cây trồng dùng làm thực phẩm trên qui mô lớn, một khi các dịch vụ triển khai là phù hợp

Trong bầu không khí kinh tế thuận lợi phổ biến ở Châu Á, số đơn vị sản xuất cây con thương mại đã gia tăng Nhiều đơn vị đã được thành lập theo tập đoàn ở các nước công nghiệp (Đan Mạch, Nhật Bản, Mỹ và Xingapo), hy vọng chuyển việc sản xuất sang những vùng có năng suất cao và chi phí lao động thấp Năm 1988 - 1989 có khoảng 85 đơn vị sản xuất thương mại ở Đông Nam Á, trong đó có 30 đơn vị ở Nhật và 18 ở Thái Lan Năm 1990, con số này đã tăng lên khoảng 100 đơn vị thương mại với sản lượng khoảng 100 triệu cây con

1 Trung Quốc

Hàng thập kỷ nay Trung Quốc đã áp dụng các CNSH truyền thống để sản xuất tương, dấm, rượu mùi và các thực phẩm lên men khác Vào cuối thập kỷ 1950, Trung Quốc đã xây đựng công nghiệp chất kháng sinh Một cách nuôi cấy khác và gây tạo cây đơn bội nằm trong

số CNSH thực vật tiên tiến nhất có vào đầu thập kỷ 1970 Một nghiên cứu của Bộ Thương mại Mỹ cho hay rằng phần lớn nghiên cứu CNSH độc đáo nằm trong lĩnh vực nông nghiệp, mặc dầu các nghiên cứu về kỹ thuật y sinh và protein cũng được dành ưu tiên

Trang 14

Ủy ban Khoa học và Công nghệ Nhà nước (SSTC) ở Trung Quốc, chịu trách nhiệm về các ngân sách thuộc chính sách Khoa học và Công nghệ, cũng phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học ở nước này (CAS)

Cả SSTC và CAS đều coi CNSH là một vấn đề ưu tiên quốc gia

Năm 1983, SSTC đã thành lập Trung tâm Phát triển CNSH Quốc gia (CNCBD) và Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NRCSTD) Sau đó CNCBD đã xây dựng một kế hoạch quốc gia về các CNSH, nhằm tạo ra các giống lúa có năng suất cao hơn, lúa mì giàu protein, các đòng kháng sâu bệnh, gia cầm và gia súc kháng bệnh Trung tâm này kích thích sự chuyển giao công nghệ và đang tạo ra một tập hợp các nhà khoa học và kỹ sư giỏi thông qua các khoản trợ cấp vì nhiệm vụ

Mục tiêu phát triển CNSH chính ở Trung Quốc là cải thiện sức khỏe của dân chúng thông qua chế độ dinh dưỡng tốt hơn và các sản phẩm giữ gìn sức khỏe Những ưu tiên trong

nghiên cứu và triển khai CNSH tập trung vào ba vấn đề:

(a) Các giống cây và con mới có năng suất cao hoặc những đặc tính mong muốn khác;

(b) Các dược phẩm, văcxin mới và liệu pháp gen;

(b) Hàng loạt các giống cây mới có kiểu hình kháng virut hoặc chống chịu sâu bệnh

được tạo ra nhờ các kỹ thuật truyền gen;

(c) Kỹ thuật "Bê ống nghiệm" đã được hoàn thiện và đưa ra thị trường;

(d) Văcxin Viêm gan B tái tổ hợp được triển khai qua hệ tế bào CHO;

(e) Khoảng 40 gen qui định lymphokin và xytokinin đã được nhân dòng hoặc tổng

hợp và xác định đặc tính, và có biểu hiện mạnh ở các tế bào nhân sơ hoặc tế bào động vật có

vú Một số chất, như intefercn a 1B và a 2A tái tổ hợp đã được Chính phủ Trung Quốc thừa nhận là những dược phẩm mới để chữa một số bệnh virut

Trang 15

Một số dự án nghiên cứu trong lĩnh vực giữ gìn sức khỏe đã trở thành hiện thực thương mại Hơn 10 sản phẩm ADN tái tổ hợp hoặc các sản phẩm sinh học khác có công nghệ

cao đã được Vụ Quản lý Dược phẩm thuộc Bộ Y tế chấp nhận và bán ở Trung Quốc Khoảng

20 sản phẩm sinh học đang ở các giai đoạn 1 và 2 của thử nghiệm lâm sàng

ở Pune do Công ty Kháng sinh của Ấn Độ thực hiện Những phát triển gần đây trong CNSH

đã mở rộng cơ hội để ứng dụng công nghệ này trong nhiều lĩnh vực Các sản phẩm được sản xuất bằng cách áp dụng kỹ thuật di truyền và công nghệ tế bào lai được sử dụng ngày càng nhiều trong vòng 5 năm qua Nhận thức được nhu cầu phải đẩy mạnh các lĩnh vực đa ngành của CNSH, Chính phủ Ấn Độ đã thành lập Ủy ban CNSH Nhà nước (NBTB) năm 1932 Sau

đó Ủy ban này đã được mở rộng thành Cục CNSH (DBT) có tầm cỡ hoàn toàn độc lập thuộc

Bộ Khoa học và Công nghệ từ tháng 2 - 1986 để thúc đẩy tiến bộ của CNSH ở Ấn Độ DBT

đã từng nỗ lực củng cố các cơ sở hiện có mà kỹ năng và kiến thức dựa vào một số mặt của sinh học đã có và mở rộng sự giúp đỡ của Cục bằng cách cấp kinh phí R và D cho các trường

đại học và các cơ quan R và D Cục CNSH có thể triển khai các phướng tiện cơ sở hạ tầng R

và D phức tạp ở những địa điểm được chọn trong cả nước và tài trợ cho một số trường đại học và cơ quan để có nhân lực được đào tạo bao gồm những cán bộ sau đại học trong lĩnh vực chuyên môn về CNSH hiện đại

DBT đã xây dựng một số cơ sở hạ tầng của nhà nước trong toàn quốc Một số cơ sở vật chất quan trọng là:

(a) Bộ sưu tập vi sinh vật và ngân hàng gen (IMTECH), Chandigarh;

(b) Các cơ sở sưu tập Tảo Lam Quốc gia (NFBGAC) theo tiền đề của Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Ấn Độ, New Delhi;

(c) Cơ sở Nhà nước về Vi khuẩn lam ở biển;

(đ) Cơ sở Nhà nước để đăng ký nuôi cấy mô thực vật ở Cục Tài nguyên Di truyền Thực vật Quốc gia, New Delhi;

Ngày đăng: 07/12/2015, 09:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Biotechnology, its perspective and applications. Tech Monitor, 7-8/1993 2. Biotechnology in agriculture, forestry and fisheries. FAO, 1993 Khác
3. Genetic Engineering and Bio-technology Monitor. UNIDO, 3/1993 Khác
4. DBT (1991), Annual Report 1990 - 1991, New Delhi, India Khác
5. Kulessa, M. (ed.) (1990), The Nevvly Industrializing Economies of Asia, Berlin, Heidelberg: Springer - Verlag Khác
6. Lau, S , G. Vignaraja (1989), National Capabilities to Master Technological Change: A First Look at Selected Developing Countries, Paris, OECD Development Centre Khác
7. G.J. Persley (1989). The application of biotechnology to agriculture in developing countries. AgriBiotech News anf Information 1(1), 23 - 26 Khác
8. R. Pistorius and P. Smits (1990). Biotechnology in South - East Asia. Biotechnology and Development Monitor 3, 13-17 Khác
9. Nguyễn Ngọc Hải, Công nghệ sinh học và Nông nghiệp, Tổng luận năm 1994. Viện Di truyền Nông nghiệp Khác
10. Nghị quyết của Chính phủ về phát triển CNSH ở Việt Nam đến năm 2010, tháng 3/1994 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w