CÁC KỸTHUẬT VÀ GIAO THỨC HỖ TRỢ TRUYỀN TÍN HIỆU THOẠI QUA MẠNG IP
Trang 1MỤC LỤC
THUẬT NGỮ VIẾT TẮT v
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ MẠNG IP VÀ CÔNG NGHỆ VOIP 3
1.1 KIẾN TRÚC TCP/IP 3
1.1.1 ĐÓNG GÓI DỮ LIỆU 4
1.1.2 ĐỊA CHỈ IP 5
1.1.3 BỘ ĐỊNH TUYẾN IP 6
1.1.4 GIAO THỨC TRUYỀN TẢI TIN CẬY TCP 7
1.1.5 GIAO THỨC TRUYỀN TẢI KHÔNG TIN CẬY UDP 11
1.2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG NGHỆ VOIP 12
1.3 CẤU HÌNH CỦA MẠNG ĐIỆN THOẠI IP 13
1.3.1 THIẾT BỊ ĐẦU CUỐI 14
1.3.2 MẠNG TRUY NHẬP IP 15
1.3.3 GATEKEEPER 16
1.3.4 GATEWAY 17
1.4 CÁC ỨNG DỤNG CỦA VOIP 19
1.4.1 DỊCH VỤ THOẠI QUA INTERNET 19
1.4.2 THOẠI THÔNG MINH 20
1.4.3 DỊCH VỤ TÍNH CƯỚC CHO BỊ GỌI 20
1.4.4 DỊCH VỤ CALLBACK WEB 21
1.4.5 DỊCH VỤ FAX QUA IP 21
1.4.6 DỊCH VỤ CALL CENTER 21
1.5 CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ THOẠI QUA IP 21
1.5.1 MÁY ĐIỆN THOẠI TỚI MÁY ĐIỆN THOẠI 22
1.5.2 MÁY TÍNH TỚI MÁY ĐIỆN THOẠI 22
1.5.3 MÁY TÍNH TỚI MÁY TÍNH 23
1.6 ĐÁNH SỐ, CHUYỂN ĐỔI ĐỊA CHỈ VÀ ĐỊNH TUYẾN 24
1.7 ĐẶC ĐIỂM CỦA VOIP 26
1.7.1 CÁC ƯU ĐIỂM CỦA VOIP 26
1.7.2 CÁC NHƯỢC ĐIỂM CỦA VOIP 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 28
CHƯƠNG II CÁC KỸ THUẬT VÀ GIAO THỨC HỖ TRỢ TRUYỀN TÍN HIỆU
Trang 22.1 GIAO THỨC THỜI GIAN THỰC RTP 28
2.1.1 GIAO THỨC DÒNG THỜI GIAN THỰC RTSP( REAL TIME STREAM PROTOCOL ) 30
2.1.2 GIAO THỨC ĐIỀU KHIỂN THỜI GIAN THỰC RTCP 31
2.1.3 CÁC ĐỊNH DẠNG PAYLOAD 33
2.1.4 GIAO THỨC GIỮ TRƯỚC TÀI NGUYÊN RSVP 33
2.2 CHUẨN H323 35
2.2.1 CHỒNG GIAO THỨC H.323 35
2.2.2 CHUYỂN ĐỔI ĐỊA CHỈ 36
2.2.2.1 ĐỊA CHỈ MẠNG 36
2.2.2.2 ĐỊNH DANH ĐIỂM TRUY NHẬP DỊCH VỤ GIAO VẬN TSAP 36
2.2.2.3 ĐỊA CHỈ THẾ 36
2.2.3 CÁC KÊNH ĐIỀU KHIỂN 37
2.2.3.1 KÊNH RAS 37
2.2.3.2 KÊNH BÁO HIỆU 39
2.2.3.3 KÊNH ĐIỀU KHIỂN 41
2.2.4 CÁC THỦ TỤC BÁO HIỆU 42
2.2.4.1 BƯỚC 1 - THIẾT LẬP CUỘC GỌI 42
2.2.4.2 BƯỚC 2 - THIẾT LẬP KÊNH ĐIỀU KHIỂN 43
2.2.4.3 BƯỚC 3 - THIẾT LẬP KÊNH TRUYỀN THÔNG 43
2.2.4.4 BƯỚC 4 - DỊCH VỤ CUỘC GỌI 44
2.2.4.5 BƯỚC 5 - KẾT THÚC CUỘC GỌI 45
2.3 GIAO THỨC KHỞI ĐẦU PHIÊN SIP 46
2.3.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ GIAO THỨC SIP 46
2.3.2 CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA GIAO THỨC SIP 47
2.3.3 BẢN TIN SIP 50
2.3.3.1 CÁC BẢN TIN YÊU CẦU (REQUEST) 51
2.3.3.2 CÁC BẢN TIN TRẢ LỜI (RESPOND) 51
2.3.4 HỘI THOẠI (DIALOG) 52
2.3.4.1 TẠO MỘT DIALOG 52
2.3.4.2 XỬ LÝ CÁC BẢN TIN TRONG DIALOG 53
2.3.4.3 KẾT THÚC MỘT DIALOG 54
2.3.5 CÁC CHỨC NĂNG CỦA SIP 54
2.3.5.1 ĐĂNG KÝ (REGISTRATION) 54
2.3.5.2 TRUY VẤN KHẢ NĂNG (QUERYING FOR CAPABILITIES) 55
Trang 32.3.5.3 KHỞI TẠO PHIÊN (INITIATING A SESSION) 56
2.3.5.4 HIỆU CHỈNH PHIÊN (MODIFYING AN EXISTING SESSION) 57
2.3.5.5 GIẢI PHÓNG PHIÊN (TERMINATING A SESSION) 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 60
CHƯƠNG III ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TRONG VOIP 60
3.1 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TRONG VOIP 60
3.1.1 TRỄ 60
3.1.2 JITTER 64
3.1.3 MẤT GÓI TIN 65
3.2 CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 66
3.2.1 NÉN TÍN HIỆU THOẠI 67
3.2.1.1 NGUYÊN LÝ CHUNG CỦA BỘ MÃ HOÁ CELP 68
3.2.1.2 NGUYÊN LÝ MÃ HOÁ CS-ACELP 69
3.2.1.3 CHUẨN NÉN G.729A 69
3.2.1.4 CHUẨN NÉN G.729B 70
3.2.1.5 CHUẨN NÉN G.723.1 72
3.2.1.6 CHUẨN NÉN GSM 06.10 74
3.2.2 CÁC CƠ CHẾ ĐIỀU KHIỂN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ BÊN TRONG MỘT PHẦN TỬ MẠNG 75
3.2.2.1 CÁC THUẬT TOÁN XẾP HÀNG 75
3.2.2.2 ĐỊNH HÌNH LƯU LƯỢNG 77
3.2.2.3 CÁC CƠ CHẾ TĂNG HIỆU QUẢ ĐƯỜNG TRUYỀN 77
3.2.3 BÁO HIỆU PHỤC VỤ ĐIỀU KHIỂN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 78
3.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO THỬ 78
3.3.1 ĐO CHẤT LƯỢNG THOẠI IP 78
3.3.1.1 PHƯƠNG PHÁP "ĐIỂM ĐÁNH GIÁ TRUNG BÌNH (MOS-MEAN OPINION SCORE) 78
3.3.1.2 ĐO CHẤT LƯỢNG TIẾNG NÓI THEO CẢM NHẬN (PSQM) 79 3.3.1.3 CÁC ĐẶC TÍNH TRUYỀN DẪN VÀ MÔ HÌNH-E (E-MODEL) 80
3.3.1.4 CÁC PHÉP ĐO CHẤT LƯỢNG TIẾNG NÓI KHÁC 81
3.3.1.5 PHÉP ĐO CHẤT LƯỢNG THOẠI NÀO NÊN ĐƯỢC SỬ DỤNG 82
Trang 43.3.2 ĐO THỬ VOIP 82
3.3.2.1 PHÂN TÍCH MẠNG VOIP 83
3.3.2.2 PHÂN TÍCH THOẠI ĐẦU CUỐI TỚI ĐẦU CUỐI 83
3.3.2.3 ĐO THỬ MỨC CĂNG THẲNG BÁO HIỆU 85
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 86
CHƯƠNG IV MỘT SỐ KỸ THUẬT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TRONG VOIP 86
4.1 CHỈNH SỬA DỮ LIỆU PHÍA NGƯỜI GỬI (SENDER-BASED REPAIR) 86
4.1.1 SỬA LỖI TRƯỚC (FORWARD ERROR CORRECTION) 87
4.1.1.1 FEC ĐỘC LẬP VỚI MÔI TRƯỜNG (MEDIA-INDEPENDENT FEC) 87
4.1.1.2 FEC PHỤ THUỘC VÀO MÔI TRƯỜNG (MEDIA-SPECIFIC FEC) 88
4.1.1.3 ĐIỀU KHIỂN TẮC NGHẼN (CONGESTION CONTROL) 89
4.1.2 ĐAN XEN (INTERLEAVING) 90
4.1.3 SỰ PHÁT LẠI GÓI TIN (RETRANSMISSION) 91
4.2 CÁC KỸ THUẬT SỬA LỖI PHÍA NGƯỜI NHẬN (RECEIVER-BASED REPAIR) 92
4.2.1 SỬA LỖI TRÊN CƠ SỞ CHÈN GÓI (INSERTION-BASED REPAIR)93 4.2.1.1 SỰ THAY THẾ BẰNG KHOẢNG LẶNG (SILENCE SUBSTITUTION) 93
4.2.1.2 CHÈN BẰNG TẠP ÂM (NOISE SUBSTITUTION) 94
4.2.1.3 LẶP (REPETITION) 94
4.2.2 SỬA LỖI BẰNG PHƯƠNG PHÁP NỘI SUY (INTERPOLATION-BASED REPAIR) 94
4.2.3 SỬA LỖI BẰNG CÁCH TÁI TẠO (REGENERATION-BASED REPAIR) 94
4.2.3.1 NỘI SUY TRẠNG THÁI TRUYỀN DẪN (INTERPOLATION OF TRANSMITTED STATE) 95
4.2.3.2 PHỤC HỒI TRÊN CƠ SỞ MÔ HÌNH (MODEL-BASED RECOVERY) 95
KẾT LUẬN CHƯƠNG IV 96
KẾT LUẬN CHUNG 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 5THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
ACF Admission ConFirm Xác nhận đăng nhập
ADPCM Adaptive Delta PCM Điều chế xung mã vi sai
ANSI American National Standards
Institute
Viện tiêu chuẩn quốc gia Mỹ
API Application Programming Interface Giao diện lập trình ứng dụng
ARJ Admission ReJect Từ chối yêu cầu đăng nhập
ARQ Admission ReQuest Yêu cầu đăng nhập
ATM Asynchronous Transfer Mode Phương thức truyền tải không đồng
bộ BCF Bandwith ConFirm Xác nhận yêu cầu băng tần
BGP Border Gateway Protocol Giao thức cổng ngoài
BRJ Bandwith ReJect Từ chối yêu cầu băng tần
BRQ Bandwith ReQuest Yêu cầu băng tần
CAS Channel Associated Signaling Báo hiệu kênh kết hợp
CCS Common Channel Signaling Báo hiệu kênh chung
CODEC COde and DECodec Mã hoá và giải mã
CELP Code Excited Line Predictor Dự đoán tuyến tính kích thích mã
CRC Cyclic Redundancy Check Kiểm tra độ dư thừa có chu kỳ
CS-ACELP Conjugate-Structure ACELP Bảng mã đại số có cấu trúc liên kết
CTI Computer Telephony integration Tích hợp điện thoại máy tính
DCF Disengage ConFirm Xác nhận huỷ bỏ liên kết
DNS Domain Name Server Máy chủ dịch vụ tên miền
DRJ Disengage ReJect Từ chối huỷ bỏ liên kết
DRQ Disengage ReQuest Yêu cầu huỷ bỏ liên kết
DSP Digital Signal Processor Bộ xử lý tín hiệu số
Trang 6DTMF Dial Tone Multi Frequency Quay số đa tần
DTX Discontinuous Transmission Kỹ thuật truyền gián đoạn
ETSI European telecommunications
Standards Institute
Viện tiêu chuẩn viễn thông châu Âu
FEC Forward Error Correction Hiệu chỉnh lỗi trước
FIFO
Queuing
First In First Out Queuing Xếp hàng vào trước ra trước
FTP File Transfer Protocol Giao thức truyền file
GCF Gatekeeper ConFirm Xác nhận gatekeeper
GQOS Guaranteed Quality of Service Bảo đảm chất lượng dịch vụ
GRJ Gatekeeper ReJect Từ chối gatekeeper
GRQ Gatekeeper ReQuest Yêu cầu gatekeeper
HTTP Hyper Text Transfer Protocol Giao thức truyền tải siêu văn bản
ICF Information ConFirm Xác nhận thông tin
ICMP Internet Control Message Protocol Giao thức bản tin điều khiển Internet
IP Internet Protocol Giao thức Internet
IPX Internetwork Protocol Exchange Chuyển đổi giao thức Internetwork
IRJ Information ReJect Từ chối yêu cầu thông tin
IRQ Information ReQuest Yêu cầu thông tin
IRR Information Request Respond Đáp ứng yêu cầu thông tin
ISDN integrated Service Digital Network Mạng số đa dịch vụ
ISP Internet Service Provider Nhà cung cấp dịch vụ Internet
ITU-T International telecommunication
Union - telecommunication
Standardization
Hiệp hội viễn thông quốc tế
IWF Inter Working Function Chức năng liên mạng
Kbps Kilobit per second Kilô bít trên giây
LAN Local Area Network Mạng nội hạt
Trang 7LCF Location ConFirm Xác định định vị
PL Line Predictor Bộ lọc dự đoán tuyến tính
LPC Line Predict Coder Bộ mã hoá dự báo tuyến tính
LRJ Location ReJect Từ chối yêu cầu định vị
LRQ Location ReQuest Yêu cầu định vị
Mbps Megabit per second Mêga bít trên 1 giây
MC Multipoint Controller Bộ điều khiển đa điểm
MCU Multipoint Control Unit Khối điều khiển đa điểm
MOS Mean Opinion Score Điểm đánh giá trung bình
MP Multipoint Processor Bộ xử lý đa điểm
MPE MultiPulse Excite Bộ kích thích đa xung
MP-MLQ Multipulse Maximum Likelihood
Quantization
Lượng tử hoá đúng cực đại đa xung
MTU Maximum Transfer Unit Kích thước tối đa của một đơn vị
truyền tải NGN Next Generation Network Mạng thế hệ sau
OSI Open System Interconnection Mô hình kết nối các hệ thống mở
OSPF Open Shortest Path First Mở đường ngắn nhất đầu tiên
PC Personal Computer Máy tính cá nhân
PCM Pulse Code Modulation Điều chế xung mã
PPP Point to Point Protocol Giao thức điểm tới điểm
PQ Priority Queuing Xếp hàng theo mức ưu tiên
PSTN Public Switching Telephone
Network
Mạng điện thoại công cộng
PSVQ Predictive Split Vector Quantizer Lượng tử hoá vectơ phân chia dự
báo QoS Quality of Service Chất lượng dịch vụ
RAS Register Admission Status Kênh đăng ký, đăng nhập, trạng thái
RCF Registration ConFirm Xác nhận đăng ký
Trang 8RRJ Registration ReJect Từ chối đăng ký
RRQ Registration ReQuest Yêu cầu đăng ký
RTCP Real Time Control Protocol Giao thức điều khiển thời gian thực
RTP Real Time Protocol Giao thức thời gian thực
SDP Session Description Protocol Giao thức miêu tả phiên
SGCP Simple Gateway Control Protocol Giao thức điều khiển gateway
SIP Session Initiation Protocol Giao thức khởi đầu phiên
SMTP Simple Mail Transfer Protocol Giao thức truyền tải mail
SS7 Signalling System No.7 Hệ thống báo hiệu số 7
STM Synchronous Tranfer Mode Chế độ truyền tải đồng bộ
TCP Transmission Control Protocol Giao thức điều khiển truyền tải
TSAP Transport layer Service Access
Point
Điểm truy nhập dịch vụ lớp truyền tải
UAC User Agent Client Tác nhân khách
UCF unregistered ConFirm Xác nhận yêu cầu không đăng ký
UDP User Datagram Protocol Giao thức gói tin người dùng
URJ unregistered ReJect Từ chối yêu cầu không đăng ký
URQ unregistered ReQuest Yêu cầu không đăng ký
VAD Voice Activity Detector Bộ dò hoạt động thoại
VPN Virtual Private Network Mạng riêng ảo
VoIP Voice over Internet Protocol Thoại truyền qua giao thức Internet
WFQ Weighted Fair Queuing Xếp hàng theo công bằng trọng số
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, công nghiệp viễn thông đã đạt những thành tựu to lớn Nhờ sự phát triển
của kỹ thuật số, kỹ thuật phần cứng và công nghệ phần mềm đã và đang đem lại cho
người sử dụng các dịch vụ mới đa dạng và phong phú
Mạng IP và các dịch vụ ứng dụng công nghệ IP có các ưu điểm như tính linh hoạt,
khả năng mở rộng dễ dàng cũng hiệu quả sử dụng cao đã và đang dần chiếm ưu thế
trên thị trường viễn thông thế giới Nhiều nghiên cứu về công nghệ IP đã được thực
hiện để đưa ra các giải pháp tiến đến một mạng hội tụ toàn IP Trong đó, bước triển
khai đầu tiên chính là loại hình dịch vụ thoại qua giao thức Internet VoIP
Mạng IP vốn là mạng không đảm bảo chất lượng dịch vụ Chính vì vậy muốn chất
lượng dịch vụ được đảm bảo thì người ta cần phải thêm vào mạng đó một số phần tử
khác cũng như thiết kế các giao thức phù hợp để có thể đảm bảo chất lượng dịch vụ
cho người dùng, đây chính là công nghệ VoIP Việc nâng cao chất lượng dịch vụ trong
VoIP là vấn đề không thể thiếu được nhằm cải thiện hơn nữa chất lượng dịch vụ cho
người sử dụng
Đứng trước sự phát triển nhanh chóng của các hệ thống VoIP, việc tìm hiểu và
nghiên cứu về công nghệ VoIP nói chung và vấn đề nâng cao chất lượng dịch vụ trong
VoIP nói riêng là một vấn đề rất quan trọng Chính vì vậy mà tôi lựa chọn đề tài này
để thực hiện đồ án tốt nghiệp của mình Đồ án đã tiến hành nghiên cứu "Một số giải
pháp nâng cao chất lượng dịch vụ trong VoIP", trong đó đồ án chủ yếu nghiên cứu
một số kỹ thuật phục hồi các gói bị mất cho luồng thoại và audio
Bản đồ án được chia làm bốn chương:
Chương I Tổng quan về mạng IP và công nghệ VoIP: Trình bày kiến trúc
về TCP/IP, cấu hình của mạng điện thoại IP, các ứng dụng của VoIP cũng
như các loại hình dịch vụ thoại qua VoIP
Trang 10Chương II Các kỹ thuật và giao thức hỗ trợ truyền tín hiệu thoại qua
mạng IP: Trình bày giao thức thời gian thực RTP và đặc biệt đi sâu nghiên
cứu về hai giao thức báo hiệu H.323 và SIP
Chương III Đánh giá chất lượng dịch vụ trong VoIP: Trình bày các yếu
tố đảm bảo chất lượng dịch vụ trong VoIP, các biện pháp đảm bảo chất
lượng dịch vụ và các phương pháp để đo thử chất lượng dịch vụ đó
Chương IV Một vài kỹ thuật nâng cao chất lượng dịch vụ trong VoIP:
Trình bày về các phương pháp sửa lỗi phía người gửi và phía người nhận
dùng cho tín hiệu audio như chèn, lặp, nội suy, hiệu chỉnh lỗi trước (FEC)
…
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Tiến Ban cùng
các ý kiến đóng góp quý báu của các bạn trong lớp D2001VT đã giúp đỡ em hoàn
thành bản đồ án tốt nghiệp này
Hà nội, ngày 25 tháng 10 năm 2005
Sinh viên: Đỗ Như Toản
Trang 11CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ MẠNG IP
VÀ CÔNG NGHỆ VoIP
1.1 Kiến trúc TCP/IP
TCP/IP là một bộ giao thức mở được xây dựng cho mạng Internet mà tiền thân của
nó là mạng ARPAnet của bộ quốc phòng Mỹ Do đây là một giao thức mở, nên nó cho
phép bất kỳ một đầu cuối nào sử dụng bộ giao thức này đều có thể được kết nối vào
mạng Internet Chính điều này đã tạo ra sự bùng nổ của mạng Internet toàn cầu trong
thời gian gần đây Trong bộ giao thức này, hai giao thức được sử dụng chủ yếu đó là
giao thức truyền tải tin cậy TCP (Transmission Control Protocol) và IP (Internet
Protocol) Chúng cùng làm việc với nhau để cung cấp phương tiện truyền thông liên
mạng
Hình 1.1 M ối tương quan giữ kiến trúc TCP/IP và mô hình OSI
Điểm khác nhau cơ bản của TCP/IP so với OSI đó là tầng liên mạng sử dụng giao
Trang 12Internet Cùng với các giao thức định tuyến như RIP, OSPF, BGP… tầng liên mạng IP
cho phép kết nối một cách mềm dẻo và linh hoạt các loại mạng vật lý khác nhau như:
Ethernet, Token Ring, X25
Giao thức được sử dụng ở tầng trao đổi dữ liệu có thể là giao thức hướng liên kết
TCP để đảm bảo tính chính xác và tin cậy cho các dịch vụ số liệu hay giao thức không
liên kết UDP được sử dụng cho các dịch vụ yêu cầu thời gian thực Trong mạng VoIP,
giao thức TCP được sử dụng cho điều khiển và truyền số liệu trong khi giao thức UDP
được sử dụng cho các dịch vụ thời gian thực như thoại, audio và video
Các giao thức ở tầng ứng dụng hỗ trợ các dịch vụ phổ biến truy nhập từ xa (telnet),
chuyển tệp (FTP), dịch vụ Web, thư điện tử (SMTP) và dịch vụ tên miền … Trong
mạng VoIP, lớp ứng dụng sẽ hỗ trợ dịch vụ thoại Internet là các phần mềm điều khiển
để triển khai thoại qua IP
1.1.1 Đóng gói dữ liệu
Cũng giống như tất cả các mạng gói khác, các gói tin trong mạng IP cũng được bổ
sung thêm các trường tiêu đề ở đầu bản tin qua các lớp giao thức ở phía phát và được
gỡ bỏ các trường tiêu để này ở phía thu để xử lý Quá trình đó được gọi là đóng gói dữ
liệu (encapsulation) Trong ngăn xếp giao thức TCP/IP gồm bốn lớp Tại mỗi lớp, các
gói dữ liệu được gửi tới từ lớp trên sẽ được bổ sung thêm một tiêu đề tương ứng mang
các thông tin điều khiển cần thiết cho lớp này Quá trình đóng gói dữ liệu được mô tả
trong hình vẽ 1.2 ở dưới
Các gói IP phải được nhúng trong các khung dữ liệu ở tầng liên kết dữ liệu tương
ứng trước khi chuyển tiếp trong mạng Quá trình nhận một gói tin diễn ra ngược lại
Độ dài tối đa của một gói dữ liệu liên kết là MTU (Maximum Transmit Unit) Khi cần
chuyển một gói dữ liệu IP có độ dài lớn hơn MTU của một mạng cụ thể cần phải chia
nhỏ gói dữ liệu IP đó thành những gói IP nhỏ hơn hoặc bằng MTU Quá trình này
được gọi là phân mảnh (fragment) Trong phần tiêu đề của gói tin IP có thông tin về
phân mảnh và xác định các mảnh có quan hệ phụ thuộc để hợp thành gói tin ban đầu
tại phía thu
Trang 13Hình 1.2 Đóng gói dữ liệu trong kiến trúc TCP/IP
1.1.2 Địa chỉ IP
Địa chỉ IP là địa chỉ lớp mạng, được sử dụng để định danh các máy trạm (host)
trong liên mạng Địa chỉ IP có độ dài 32 bít đối với IPv4 và 48 bít với IPv6 Nó có thể
được biểu thị dưới dạng thập phân, bát phân , thập lục phân và nhị phân
Có hai cách cấp phát địa chỉ IP phụ thuộc vào cách thức ta kết nối mạng Nếu mạng
của ta kết nối vào mạng Internet, địa chỉ mạng được xác nhận bởi NIC (Network
Information Center) Nếu mạng của ta không kết nối với Internet, người quản trị mạng
sẽ cấp phát địa chỉ IP cho mạng này
Về cơ bản, khuôn dạng địa chỉ IP gồm hai phần: <Network Number, Host
Number> Trong đó, phần Network Number là địa chỉ mạng còn Host Number là địa
chỉ các máy trạm làm việc trong mạng đó
Do nhu cầu sử dụng có rất nhiều quy mô mạng khác nhau, nên người ta chia các địa
chỉ IP thành 5 lớp ký hiệu là A, B, C, D và E có cấu trúc như sau:
Trang 14Lớp A được xác định bằng bít đầu tiên trong byte thứ nhất là 0 và dùng các bít
còn lại của byte này để định danh mạng Do đó nó cho phép định danh tới 126
mạng, với 16 triệu máy trạm trong mỗi mạng
Lớp B được xác định bằng hai bít đầu tiên nhận giá trị 10, và sử dụng byte thứ
nhất và thứ hai cho định danh mạng Nó cho phép định danh 16384 mạng với tối
đa 65535 máy trạm trên mỗi mạng
Lớp C được xác định bằng ba bít đầu tiên là 110 và dùng ba byte đầu để định
danh mạng Nó cho phép định danh tới 2.097.150 mạng với tối đa 254 máy trạm
trong mỗi mạng Do đó, nó được sử dụng trong các mạng có quy mô nhỏ
Lớp D được xác định bằng bốn bít đầu tiên là 1110, nó được dùng để gửi các IP
datagram tới một nhóm các host trên một mạng Tất cả các số lớn hơn 233 trong
trường đầu là thuộc nhóm D
Lớp E được xác định bằng năm bít đầu tiên là 11110, nó được dự phòng cho
tương lai
Với phương thức đánh địa chỉ IP như trên, số lượng mạng và số máy tối đa trong
mỗi lớp mạng là cố định Do đó, sẽ nảy sinh vấn đề đó là có các địa chỉ không được sử
dụng trong mạng của một doanh nghiệp, trong khi một doanh nghiệp khác lại không có
địa chỉ mạng để dùng Do đó để tiết kiệm địa chỉ mạng, trong nhiều trường hợp một
mạng có thể được chia thành nhiều mạng con (subnet) Khi đó, có thể đưa thêm các
vùng subnetid để định danh cho các mạng con Vùng subnetid này được lấy từ vùng
hostid của các lớp A, B và C
1.1.3 Bộ định tuyến IP
Trong quá trình truyền thông trong mạng IP, dữ liệu được đóng gói trong các
datagram và được điều khiển để truyền qua các trạm trung gian giữa điểm cuối nguồn
và điểm cuối đích Quá trình điều khiển các datagram để nó đến được đúng đích gọi là
định tuyến
Cấu trúc mạng IP thường là cấu trúc liên mạng Do đó, có hai trường hợp xảy ra
Nếu như máy nguồn và máy đích ở trong cùng một mạng vật lý, gói tin sẽ được gửi
trực tiếp từ máy nguồn tới máy đích và quá trình xác định đường nối giữa hai máy này
Trang 15được gọi là định tuyến trực tiếp Trong trường hợp, hai trạm làm việc không ở trong
cùng một mạng vật lý, việc truyền tin giữa chúng phải thực hiện thông qua các trạm
trung gian là các gateway Đó là định tuyến gián tiếp
Hình 1.3 B ộ định tuyến IP
Để kiểm tra xem trạm đích có nằm trên cùng một mạng vật lý với trạm nguồn hay
không, trạm gửi phải tách lấy phần địa chỉ mạng trong phần địa chỉ IP và so sánh phần
địa chỉ này với phần địa chỉ mạng của nó Nếu có sự trùng hợp, thì gói tin này được
gửi tới một máy trạm ở trong cùng một mạng vật lý với nó và gói tin sẽ được truyền
trực tiếp Ngược lại, gói tin được yêu cầu gửi tới một mạng bên ngoài Khi đó, phải
xác định một gateway để chuyển tiếp datagram
Như vậy, tại các trạm làm việc, các gói tin được xử lý xuyên suốt qua cả bốn lớp,
còn tại các cổng truyền trung gian, các gói tin chỉ được xử lý tới lớp IP để quyết định
tuyến đường tiếp theo để chuyển tiếp gói dữ liệu
1.1.4 Giao thức truyền tải tin cậy TCP
TCP (Transmission Control Protocol) là một giao thức hướng liên kết (connnection
oriented) Do đó, các cập thực thể TCP phải thiết lập một kênh logic giữa chúng trước
khi trao đổi dữ liệu với nhau Nhờ vào kênh logic này, TCP đảm bảo khả năng truyền
dữ liệu an toàn giữa các máy trạm trong hệ thống các mạng Ngoài ra, nó còn cung cấp
Trang 16thêm các chức năng khác nhằm kiểm tra tính chính xác của dữ liệu khi có lỗi xảy ra
Nó cung cấp các chức năng chính sau:
Thiết lập, duy trì và kết thúc liên kết giữa hai thực thể TCP
Phân phát gói tin một cách tin cậy
Đánh số thứ tự (sequencing) các gói dữ liệu nhằm truyền dữ liệu một cách tin
cậy
Cho phép điều khiển lỗi
Cung cấp khả năng đa kết nối thông qua việc sử dụng các cổng
Truyền dữ liệu sử dụng cơ chế song công
Kết nối giữa các thực thể TCP được thực hiện bằng một thủ tục bắt tay ba bước
(Three way handsake)
Khi có nhu cầu kết nối, tiến trình trạm khởi tạo một yêu cầu kết nối bằng cách
gửi đi một gói TCP với cờ SYN=1 và chứa giá trị tạo số tuần tự ISN của client
Giá trị ISN này là một số 4 byte không dấu và được tăng lên mỗi khi một bản tin
TCP được truyền đi trong kết nối logic và quay trở lại 0 khi giá trị đạt tới 232
Trong thông điệp SYN này còn chứa số hiệu cổng TCP của phần mềm dịch vụ
mà tiến trình trạm muốn kết nối
Khi thực thể TCP của phần mềm dịch vụ trạm đích nhận được thông điệp SYN,
nó gửi lại gói tin SYN cùng giá trị ISN của nó và đặt cờ ACK=1 khi sẵn sàng
nhận kết nối Thông điệp này còn chứa giá trị ISN của tiến trình trạm nguồn
trong trường số tuần tự thu để báo rằng thực thể dịch vụ đã nhận được giá trị
ISN của tiến trình trạm nguồn
Tiến trình trạm nguồn trả lời lại gói SYN của thực thể dịch vụ bằng một thông
báo trả lời ACK cuối cùng Bằng cách này, các thực thể TCP trao đổi một cách
tin cậy các giá trị ISN của nhau và có thể bắt đầu trao đổi dữ liệu
Cả ba thông điệp trên không chứa bất kỳ dữ liệu nào, tất cả các thông tin trao đổi
đều nằm trong phần tiêu đề của bản tin TCP
Trang 17Khi có nhu cầu kết thúc kết nối, thực thể TCP sẽ gửi đi yêu cầu kết thúc với trường
FIN=1 tới thực thể TCP bên kia Vì kết nối TCP là song công nên mặc dù nhận được
yêu cầu kết thúc kết nối, thực thể nhận vẫn tiếp tục truyền số liệu cho đến khi hết số
liệu để gửi Khi đó, nó gửi trở lại thực thể yêu cầu kết thúc kết nối một yêu cầu kết
thúc với cũng với trường FIN=1 Kết nối giữa hai thực thể TCP được huỷ bỏ
Đơn vị giao thức TCP được gọi là segment và có định dạng như hình 1.4 Trong đó
mỗi segment gồm hai phần: tiêu đề (header) và tải tin (payload) Phần tiêu đề bao gồm
các trường tiêu đề chứa các thông tin điều khiển và các định danh cần thiết khác
Hình 1.4 C ấu trúc gói dữ liệu TCP
Các cổng nguồn và cổng đích chứa các địa chỉ cổng TCP Địa chỉ này cùng với
địa chỉ IP xác định duy nhất một địa chỉ truyền tải (socket) duy nhất trong liên
mạng tại một thời điểm Địa chỉ này tương ứng với một chương trình tại máy
nguồn và một chương trình tại máy đích đang thực hiện quá trình truyền thông
với nhau
Trường số thứ tự là số thứ tự của byte dữ liệu đầu tiên trong segment này trong
trường hợp bít SYN không được lập do độ dài của segment là không xác định
trước Nếu như bít SYN được thiết lập, trường số thứ tự là số thứ tự khởi đầu
(ISN) và byte dữ liệu đầu tiên là ISN +1
Trang 18Số tuần tự thu là vị trí tương đối của byte cuối cùng đã được nhận đúng cộng
thêm 1, tức là vị trí tương đối của byte đầu tiên sẽ được bên gửi chuyển tới bên
nhận qua segment TCP
Độ dài tiêu đề là số lượng từ 32 bít trong tiêu đề của segment Từ tham số này
cũng có thể xác định vị trí byte đầu tiên của phần dữ liệu
Các bít dự phòng dành cho tương lai
Có 6 bít điều khiển bao gồm bít báo control khẩn URG, bít báo nhận ACK, bít
chức năng push PSH, bít thiết lập lại kết nối, bít đồng bộ hoá số tuần tự SYN và
bít thông báo kết thúc gửi FIN
TCP cung cấp quản lý truy nhập mạng thông qua cơ chế cửa sổ Trường window
gồm 16 bít cho biết số lượng các byte dữ liệu bắt đầu từ byte được chỉ ra trong
vùng số xác nhận ACK mà trạm nguồn sẵn sàng để nhận
Tổng kiểm tra là tổng CRC cho toàn bộ segment bao gồm cả tiêu đề và số liệu
con trỏ khẩn trỏ tới số thứ tự của byte sau dữ liệu khẩn, cho phép bên thu biết
được độ dài của vùng dữ liệu khẩn
Phần tuỳ chọn khai báo các tuỳ chọn của TCP, trong đó có độ dài tối đa của
phần dữ liệu TCP trong một segment
Phần bù là phần chèn thêm để đảm bảo cho độ dài tiêu đề luôn là bội số của từ
32 bít
Phần dữ liệu chứa bản tin giao thức lớp trên Nó có độ dài thay đổi và độ dài tối
đa ngầm định là 536 byte
Như vậy có thể thấy rằng, TCP cung cấp đầy đủ các chức năng để đảm bảo truyền
tải một cách tin cậy các gói số liệu qua liên mạng Do đó, TCP phù hợp để truyền tải
các gói tin của dịch vụ truyền số liệu Tuy nhiên, do phần tiêu đề của TCP quá lớn và
quá phức tạp nên độ trễ truyền tin qua liên mạng khá cao Mặt khác TCP cung cấp quá
nhiều chức năng mà các dịch vụ thời gian thực không cần đến Do đó, TCP không phù
hợp để truyền tải các dịch vụ này và cần thiết phải xây dựng một giao thức truyền tải
mới bên cạnh TCP để đáp ứng cho các dịch vụ thời gian thực qua IP
Trang 191.1.5 Giao thức truyền tải không tin cậy UDP
Cùng với giao thức TCP, tại mức 4 của bộ giao thức TCP/IP còn một giao thức nữa
hoạt động đó là giao thức dữ liệu người dùng UDP (User Datagram Protocol) Đây là
một giao thức phi liên kết và không cung cấp chức năng tuần tự (sequencing) và xác
nhận (acknowledgment) Nó được sử dụng bên cạnh TCP trong trường hợp các dịch
vụ đầy đủ của TCP là không cần thiết Một ứng dụng điển hình của UDP đó là sử dụng
để truyền tải các gói tin thời gian thực của những dịch vụ như thoại gói hay lưu lượng
video – những dịch vụ chỉ cần độ trễ thấp mà không yêu cầu quá cao về chất lượng dữ
liệu nhận được tại phía thu
Một gói tin UDP gồm hai phần: phần tiêu đề và phần dữ liệu:
Hình 1.5 C ấu trúc gói dữ liệu UDP
Ưu điểm của UDP đó là do không cung cấp các chức năng tin cậy, điều khiển
luồng, khôi phục lỗi… nên tiêu đề của UDP rất nhỏ so với TCP và nó rất phù hợp với
các dịch vụ thời gian thực yêu cầu độ trễ thấp
Cổng nguồn và cổng đích là các giá trị 16 bít dùng cho các cổng giao thức UDP
được sử dụng để tách các gói tin trong tiến trình đang đợi để nhận chúng Cổng
nguồn là một trường dữ liệu tuỳ chọn, khi được sử dụng, nó xác định địa chỉ
cổng để gửi các bản tin xác nhận Ngược lại, nếu không được sử dụng nó sẽ
nhận giá trị 0
Trường độ dài chứa độ dài bản tin UDP tính theo octet bao gồm cả tiêu đề UDP
và dữ liệu
Trường tổng kiểm tra là tổng CRC của phần tiêu đề bản tin UDP Nó là trường
tuỳ chọn cho phép có thể đơn giản các thủ tục trong các mạng có độ tin cậy cao
Trang 20Như vậy, so với bản tin giao thức truyền tải TCP, bản tin giao thức dữ liệu người sử
dụng UDP có cấu trúc đơn giản hơn rất nhiều Phần tiêu đề bản tin chỉ xác định rõ giá
trị cổng giao thức bên gửi và bên nhận Các thủ tục kiểm tra lỗi cũng được đơn giản
hoá và là tuỳ chọn cho phép giảm tới tối đa thời gian trễ khi truyền dữ liệu qua giao
thức lớp truyền tải UDP Do đó UDP rất phù hợp để truyền tải các dữ liệu yêu cầu tính
thời gian thực cao và khi lại cho phép tỷ lệ lỗi nhất định Trong khi đó, TCP sẽ phù
hợp với để truyền tải các thông tin số liệu yêu cầu tính chính xác rất cao mà lại không
yêu cầu qua lớn về thời gian trễ Như vậy, có thể thấy rằng hai giao thức lớp truyền tải
TCP và UDP là hai giao thức bổ sung cho nhau Chúng cùng tồn tại và không thể thay
thế cho nhau Hai giao thức này toạ nên tính linh hoạt của bộ giao thức IP và cho phép
nó có thể tương thích với tất cả các loại hình dịch vụ trong hiện tại cũng như của tương
lai Đây chính là điểm mạnh của giao thức IP trước các bộ giao thức khác trong quá
trình triển khai mạng thế hệ sau NGN
1.2 Giới thiệu chung về công nghệ VoIP
VoIP (Voice over Internet Protocol) là một thuật ngữ dùng để chỉ một phương thức
truyền thoại mới, đó là truyền tín hiệu thoại qua mạng gói sử dụng giao thức Internet
Đây là một ứng dụng mở rộng của bộ giao thức IP để tiến tới một mạng đa phương
tiện hội tụ toàn IP trong tương lai
Trong công nghệ điện thoại IP thông tin thoại sẽ được đóng trong các gói và truyền
đi trên một đường truyền chung thay vì các kênh riêng như trong mạng PSTN truyền
thống Chúng ta có thể nhìn nhận VoIP như là khả năng thiết lập các cuộc gọi điện
thoại và gửi những bản fax qua mạng dữ liệu IP với chất lượng dịch vụ có thể chấp
nhận được và với cước phí thấp hơn rất nhiều so với dịch vụ của mạng PSTN thông
thường Để thực hiện truyền thoại qua mạng IP, trước hết tại phía phát tín hiệu thoại
phải được số hoá, nén và đóng gói để truyền qua mạng IP như những gói dữ liệu thông
thường Tại phía thu, các gói thoại được mở gói, giải nén và chuyển từ tín hiệu số sang
tín hiệu tương tự để đưa đến tai nghe của người dùng
Vì đặc điểm của một mạng gói là một mạng tận dụng tối đa hiệu quả sử dụng băng
tần mà ít quan tâm đến thời gian trễ lan truyền trong mạng, trong khi tín hiệu thoại lại
là một dạng thời gian thực Do đó, người ta phải bổ sung vào mạng các phần tử mới và
Trang 21thiết kế các giao thức phù hợp để có thể đảm bảo được chất lượng dịch vụ cho người
dùng Các thành phần này tạo thành một mạng gọi là mạng VoIP
Công nghệ VoIP đã và đang mở ra một viễn cảnh mới trong ngành Viễn Thông trên
toàn thế giới Với ưu điểm rất lớn về giá cước, dịch vụ VoIP thực sự đang thu hút rất
nhiều sự quan tâm của các nhà kinh doanh bao gồm cả các nhà đầu tư cung cấp dịch
vụ và các nhà tiêu dùng dịch vụ Việc đưa dịch vụ VoIP vào phục vụ có thể coi là một
cuộc cách mạng trong ngành Viễn Thông và thực tế đã cho thấy sức cạnh tranh rất lớn
của công nghệ này so với công nghệ thoại chuyển mạch kênh truyền thống Mặc dù
mới ra đời và được triển khai chưa lâu, nhưng dịch vụ VoIP đã chiếm một thị phần rất
đáng kể trên thị trường quốc tế nói chung và nước ta nói riêng
Điểm cốt lõi để tạo nên các ưu điểm của mạng VoIP đó là khả năng sử dụng hiệu
quả và tiết kiệm độ rộng băng tần Đó là do sự kết hợp các đặc tính vốn có của một
mạng số liệu gói với các kỹ thuật mã hoá nén số hiện đại Kĩ thuật này cho phép giảm
được đáng kể số bít phải truyền đi Do đó giảm được băng thông truyền dẫn mà vẫn
đảm bảo được chất lượng dịch vụ theo yêu cầu
Nói chung VoIP là một hình ảnh mới cho mạng Viễn Thông hiện đại Nó đang được
nghiên cứu và triển khai và đang hứa hẹn rất nhiều triển vọng trong tương lai gần
1.3 Cấu hình của mạng điện thoại IP
Theo các nghiên cứu của ETSI, cấu hình chuẩn của mạng điện thoại IP có thể bao
Trang 22Trong các kết nối khác nhau cấu hình mạng có thể thêm hoặc bớt một số phần tử
trên
Cấu hình chung của mạng điện thoại IP gồm các phần tử Gatekeeper, Gateway,
các thiết bị đầu cuối thoại và máy tính Mỗi thiết bị đầu cuối giao tiếp với một
Gatekeeper và giao tiếp này giống với giao tiếp giữa thiết bị đầu cuối và Gateway Mỗi
Gatekeeper sẽ chịu trách nhiệm quản lý một vùng, nhưng cũng có thể nhiều
Gatekeeper chia nhau quản lý một vùng trong trường hợp một vùng có nhiều
Gatekeeper
Trong vùng quản lý của các Gatekeeper, các tín hiệu báo hiệu có thể được chuyển
tiếp qua một hoặc nhiều Gatekeeper Do đó các Gatekeeper phải có khả năng trao đổi
các thông tin với nhau khi cuộc gọi liên quan đến nhiều Gatekeeper
Hình 1.6 C ấu hình của mạng điện thoại IP
1.3.1 Thiết bị đầu cuối
Thiết bị đầu cuối là một nút cuối trong cấu hình của mạng điện thoại IP Nó có thể
được kết nối với mạng IP sử dụng một trong các giao diện truy nhập Một thiết bị đầu
cuối có thể cho phép một thuê bao trong mạng IP thực hiện cuộc gọi tới một thuê bao
Trang 23khác trong mạng chuyển mạch kênh Các cuộc gọi đó sẽ được Gatekeeper mà thiết bị
đầu cuối hoặc thuê bao đã đăng ký giám sát
Một thiết bị đầu cuối có thể gồm các khối chức năng sau:
- Chức năng đầu cuối: Thu và nhận các bản tin
- Chức năng bảo mật kênh truyền tải: đảm bảo tính bảo mật của kênh truyền tải
thông tin kết nối với thiết bị đầu cuối
- Chức năng bảo mật kênh báo hiệu: đảm bảo tính bảo mật của kênh báo hiệu kết
nối với thiết bị đầu cuối
- Chức năng xác nhận: thiết lập đặc điểm nhận dạng khách hàng, thiết bị hoặc phần
tử mạng, thu nhập các thông tin dùng để xác định bản tin báo hiệu hay bản tin
chứa thông tin đã được truyền hoặc nhận chưa
- Chức năng quản lý: giao tiếp với hệ thống quản lý mạng
- Chức năng ghi các bản tin sử dụng: xác định hoặc ghi lại các thông tin về sự kiện
(truy nhập, cảnh báo ) và tài nguyên
- Chức năng báo cáo các bản tin sử dụng: báo cáo các bản tin đã được sử dụng ra
thiết bị ngoại vi
1.3.2 Mạng truy nhập IP
Mạng truy nhập IP cho phép thiết bị đầu cuối, Gateway, Gatekeeper truy nhập vào
mạng IP thông qua cơ sở hạ tầng sẵn có Sau đây là một vài loại giao diện truy nhập IP
được sử dụng trong cấu hình chuẩn của mạng điện thoại IP:
Trang 24Đây không phải là tất cả các giao diện truy nhập IP, một vài loại khác đang được
nghiên cứu để sử dụng cho mạng điện thoại IP Đặc điểm của các giao diện này có thể
gây ảnh hưởng đến chất lượng và tính bảo mật của cuộc gọi điện thoại IP
1.3.3 Gatekeeper
Gatekeeper là phần tử của mạng chịu trách nhiệm quản lý việc đăng ký, chấp nhận
và trạng thái của các thiết bị đầu cuối và Gateway Gatekeeper có thể tham gia vào
việc quản lý vùng, xử lý cuộc gọi và báo hiệu cuộc gọi Nó xác định đường dẫn để
truyền báo hiệu cuộc gọi và nội dung đối với mỗi cuộc gọi Gatekeeper có thể bao gồm
các khối chức năng sau:
- Chức năng chuyển đổi địa chỉ E.164 ( Số E.164 là số điện thoại tuân thủ theo
cấu trúc và kế hoạch đánh số được mô tả trong khuyến nghị E.164 của Liên minh viễn
thông quốc tế ITU) : chuyển đổi địa chỉ E.164 sang địa chỉ IP và ngược lại để truyền
các bản tin, nhận và truyền địa chỉ IP để truyền các bản tin, bao gồm cả mã lựa chọn
nhà cung cấp
- Chức năng dịch địa chỉ kênh thông tin: nhận và truyền địa chỉ IP của các kênh
truyền tải thông tin, bao gồm cả mã lựa chọn nhà cung cấp
- Chức năng dịch địa chỉ kênh: nhận và truyền địa chỉ IP phục vụ cho báo hiệu,
bao gồm cả mã lựa chọn nhà cung cấp
- Chức năng giao tiếp giữa các Gatekeeper: thực hiện trao đổi thông tin giữa các
Gatekeeper
- Chức năng đăng ký: cung cấp các thông tin cần đăng ký khi yêu cầu dịch vụ
- Chức năng xác nhận: thiết lập các đặc điểm nhận dạng của khách hàng, thiết bị
đầu cuối hoặc các phần tử mạng
- Chức năng bảo mật kênh thông tin: đảm bảo tính bảo mật của kênh báo hiệu kết
nối Gatekeeper với thiết bị đầu cuối
- Chức năng tính cước: thu thập thông tin để tính cước
- Chức năng điều chỉnh tốc độ và giá cước: xác định tốc độ và giá cước
- Chức năng quản lý: giao tiếp với hệ thống quản lý mạng
Trang 25- Chức năng ghi các bản tin sử dụng: xác định hoặc ghi lại các thông tin về sự kiện
(truy nhập, cảnh báo) và tài nguyên
- Chức năng báo cáo các bản tin sử dụng: báo cáo các bản tin đã được sử dụng ra
thiết bị ngoại vi
1.3.4 Gateway
Gateway là một phần tử không nhất thiết phải có trong một giao tiếp H.323 Nó
đóng vai trò làm phần tử cầu nối và chỉ tham gia vào một cuộc gọi khi có sự chuyển
tiếp từ mạng H.323 ( ví dụ như mạng LAN hay mạng Internet) sang mạng phi H.323
(ví dụ mạng chuyển mạch kênh hay PSTN) Một Gateway có thể kết nối vật lý với một
hay nhiều mạng IP hay với một hay nhiều mạng chuyển mạch kênh Một Gateway có
thể bao gồm: Gateway báo hiệu, Gateway truyền tải kênh thoại, Gateway điều khiển
truyền tải kênh thoại Một hay nhiều chức năng này có thể thực hiện trong một
Gatekeeper hay một Gateway khác
- Gateway báo hiệu SGW: cung cấp kênh báo hiệu giữa mạng IP và mạng chuyển
mạch kênh Gateway báo hiệu là phần tử trung gian chuyển đổi giữa báo hiệu
trong mạng IP ( ví dụ H.323) và báo hiệu trong mạng chuyển mạch kênh (ví dụ
R2, CCS7) Gateway báo hiệu có các chức năng sau:
+ Chức năng kết cuối các giao thức điều khiển cuộc gọi
+ Chức năng kết cuối báo hiệu từ mạng chuyển mạch kênh: phối hợp hoạt
động với các chức năng báo hiệu của Gateway điều khiển truyền tải kênh
thoại
+ Chức năng báo hiệu: chuyển đổi báo hiệu giữa mạng IP với báo hiệu mạng
chuyển mạch kênh khi phối hợp hoạt động với Gateway điều khiển truyền
tải kênh thoại
+ Chức năng giao diện mạng chuyển mạch gói: kết cuối mạng chuyển mạch
gói
+ Chức năng bảo mật kênh báo hiệu: đảm bảo tính bảo mật của kênh báo hiệu
kết nối với thiết bị đầu cuối
+ Chức năng quản lý: giao tiếp với hệ thống quản lý mạng
Trang 26+ Chức năng ghi các bản tin sử dụng: xác định hoặc ghi lại các thông tin về
sự kiện (truy nhập, cảnh báo) và tài nguyên
+ Chức năng báo cáo các bản tin sử dụng: báo cáo các bản tin đã được sử
dụng ra thiết bị ngoại vi
- Gateway truyền tải kênh thoại MGM: cung cấp phương tiện để thực hiện chức
năng chuyển đổi mã hoá Nó sẽ chuyển đổi giữa các mã hoá trong mạng IP với
các mã hoá truyền trong mạng chuyển mạch kênh Gateway truyền tải kênh thoại
bao gồm các khối chức năng sau:
+ Chức năng chuyển đổi địa chỉ kênh thông tin: cung cấp địa chỉ IP cho các
kênh thông tin truyền và nhận
+ Chức năng chuyển đổi luồng: chuyển đổi giữa các luồng thông tin giữa
mạng IP và mạng chuyển mạch kênh bao gồm việc chuyển đôỉ mã hoá và
triệt tiếng vọng
+ Chức năng dịch mã hoá: định tuyến các luồng thông tin giữa mạng IP và
mạng chuyển mạch kênh
+ Chức năng giao diện với mạng chuyển mạch kênh: kết cuối và điều khiển
các kênh mang thông tin từ mạng chuyển mạch kênh
+ Chức năng chuyển đổi kênh thông tin giữa mạng IP và mạng chuyển mạch
kênh: chuyển đổi giữa kênh mang thông tin thoại, Fax, dữ liệu của mạng
chuyển mạch kênh và các gói dữ liệu trong mạch IP Nó cũng thực hiện các
chức năng xử lý tín hiệu thích hợp như: nén tín hiệu thoại, triệt tiếng vọng,
mã hoá, chuyển đổi tín hiệu Fax và điều tiết tốc độ modem tương tự Thêm
vào đó, nó còn thực hiện việc chuyển đổi giữa tín hiệu mã đa tần DTMF
trong mạng chuyển mạch kênh và các tín hiệu thích hợp trong mạng IP khi
các bộ mã hoá tín hiệu thoại không mã hoá tín hiệu mã đa tần DTMF Chức
năng chuyển đổi kênh thông tin giữa mạng IP và mạng chuyển mạch kênh
cũng có thể thu nhập thông tin về lưu lượng gói và chất lượng kênh đối với
mỗi cuộc gọi để sử dụng trong việc báo cáo chi tiết và điều khiển cuộc gọi
+ Chức năng quản lý: giao tiếp với hệ thống quản lý mạng
+ Chức năng ghi các bản tin sử dụng: xác định hoặc ghi lại các thông tin về
sự kiện (truy nhập, cảnh báo) và tài nguyên
Trang 27+ Chức năng báo cáo các bản tin sử dụng: báo cáo các bản tin đã được sử
dụng ra thiết bị ngoại vi
- Gateway điều khiển truyền tải kênh thoại MGWC: đóng vai trò phần tử kết nối
giữa Gateway báo hiệu và Gatekeeper Nó cung cấp chức năng xử lý cuộc gọi cho
Gateway, điều khiển Gateway truyền tải kên thoại, nhận thông tin báo hiệu của mạng
chuyển mạch kênh từ Gateway báo hiệu và thông tin báo hiệu của mạng IP từ
Gatekeeper Gateway điều khiển truyền tải kênh thoại bao gồm các chức năng sau:
+ Chức năng truyền và nhận các bản tin
+ Chức năng xác nhận: thiết lập các đặc điểm nhận dạng của người sử dụng,
thiết bị hoặc các phần tử mạng
+ Chức năng điều khiển cuộc gọi: lưu giữ các trạng thái cuộc gọi của
Gateway Chức năng này bao gồm tất cả các điều khiển kết nối logic của
Gateway
+ Chức năng báo hiệu: chuyển đổi giữa báo hiệu mạng IP và báo hiệu mạng
chuyển mạch kênh trong quá trình phối hợp hoạt động với Gateway báo
hiệu
+ Chức năng quản lý: giao tiếp với hệ thống quản lý mạng
+ Chức năng ghi các bản tin sử dụng: xác định hoặc ghi lại các thông tin về sự
kiện (truy nhập, cảnh báo) và tài nguyên
+ Chức năng báo cáo các bản tin sử dụng: báo cáo các bản tin đã được sử
dụng ra thiết bị ngoại vi
1.4 Các ứng dụng của VoIP
1.4.1 Dịch vụ thoại qua Internet
Điện thoại Internet không còn chỉ là công nghệ cho giới sử dụng máy tính mà cho
cả người sử dụng điện thoại quay vào gateway Dịch vụ này được một số nhà khai
thác lớn cung cấp và chất lượng thoại không thua kém chất lượng của mạng thoại
thông thường, đặc biệt là trên các tuyến quốc tế Mặc dù vẫn còn một số vấn đề về sự
tương thích của các gateway, các vấn đề này sẽ sớm được giải quyết khi tiêu chuẩn
H.323 của ITU được sử dụng rộng rãi
Trang 28Suốt từ khi các máy tính bắt đầu kết nối với nhau, vấn đề các mạng tích hợp luôn là
mối quan tâm của mọi người Mạng máy tính phát triển bên cạnh mạng điện thoại Các
mạng máy tính và mạng điện thoại song song tồn tại ngay trong cùng một cơ cấu, giữa
các cơ cấu khác nhau, và trong mạng rộng WAN Công nghệ thoại IP không ngay lập
tức đe doạ đến mạng điện thoại toàn cầu mà nó sẽ dần thay thế thoại chuyển mạch
kênh truyền thống Sau đây là một vài ứng dụng tiêu biểu của dịch vụ thoại Internet
1.4.2 Thoại thông minh
Hệ thống điện thoại ngày càng trở nên hữu hiệu: rẻ, phổ biến, dễ sử dụng, cơ động
Tuy nhiên nó chỉ có 12 phím để điều khiển Trong những năm gần đây, người ta đã cố
gắng để tạo ra thoại thông minh, đầu tiên là các thoại để bàn, sau là đến các server
Nhưng mọi cố gắng đều thất bại do tồn tại các hệ thống có sẵn
Internet sẽ thay đổi điều này Kể từ khi Internet phủ khắp toàn cầu, nó đã được sử
dụng để tăng thêm tính thông minh cho mạng điện thoại toàn cầu Giữa mạng máy tính
và mạng điện thoại tồn tại một mối liên hệ Internet cung cấp cách giám sát và điều
khiển các cuộc thoại một cách tiện lợi hơn Chúng ta có thể thấy được khả năng kiểm
soát và điều khiển các cuộc thoại thông qua mạng Internet
1.4.3 Dịch vụ tính cước cho bị gọi
Thoại qua Internet giúp nhà khai thác có khả năng cung cấp dịch vụ tính cước cho
bị gọi đến các khách hàng ở nước ngoài cũng giống như khách hàng trong nước Để
thực hiện được điều này, khách hàng chỉ cần PC với hệ điều hành Windows9x, địa chỉ
kết nối Internet ( tốc độ 28,8Kbps hoặc nhanh hơn), và chương trình phần mềm
chuyển đổi chẳng hạn như Quicknet's Technologies Internet PhoneJACK
Thay vì gọi qua mạng điện thoại truyền thống, khách hàng có thể gọi cho bạn qua
Internet bằng việc sử dụng chương trình phần mềm chẳng hạn như Internet Phone của
Vocaltec hoặc Netmeeting của Microsoft Với các chương trình phần mềm này, khách
hàng có thể gọi đến công ty của bạn cũng giống như việc họ gọi qua mạng PSTN
Bằng việc sử dụng chương trình chẳng hạn Internet PhoneJACK, bạn cũng có thể
xử lý các cuộc gọi cũng giống như các xử lý các cuộc gọi khác Bạn có thể định tuyến
các cuộc gọi này tới các nhà vận hành, tới các dịch vụ tự động trả lời, tới các ACD
Trang 29Trong thực tế, hệ thống điện thoại qua Internet và hệ thống điện thoại truyền thống là
hoàn toàn như nhau
1.4.4 Dịch vụ Callback Web
"world wide Web" đã làm cuộc cách mạng trong cách giao dịch với khách hàng của
các doanh nghiệp Với tất cả các tiềm năng của web, điện thoại vẫn là một phương tiện
kinh doanh quan trọng trong nhiều nước Điện thoại web hay " bấm số" (click to dial)
cho phép các nhà doanh nghiệp có thể đưa thêm các phím bấm lên trang web để kết
nối tới hệ thống điện thoại của họ Dịch vụ bấm số là cách dễ nhất và an toàn nhất để
đưa thêm các kênh trực tiếp từ trang web của bạn vào hệ thống điện thoại
1.4.5 Dịch vụ fax qua IP
Nếu bạn gửi nhiều fax từ PC, đặc biệt là gửi ra nước ngoài thì việc sử dụng dịch vụ
Internet faxing sẽ giúp bạn tiết kiệm được tiền và cả kênh thoại Dịch vụ này sẽ
chuyển trực tiếp từ PC của bạn qua kết nối Internet
Khi sử dụng dịch vụ thoại và fax qua Internet, có hai vấn đề cơ bản:
Những người sử dụng dịch vụ thoại qua Internet cần có chương trình phần mềm
chẳng hạn Quicknet's Internet PhoneJACK Cấu hình này cung cấp cho người sử dụng
khả năng sử dụng thoại qua Internet thay cho sử dụng điện thoại để bàn truyền thống
Kết nối một gateway thoại qua Internet với hệ thống điện thoại hiện hành Cấu hình
này cung cấp dịch vụ thoại qua Internet giống như việc mở rộng hệ thống điện thoại
hiện hành
1.4.6 Dịch vụ Call center
Gateway call center với công nghệ thoại qua Internet cho phép các nhà kiểm duyệt
trang Web với các PC trang bị multimedia kết nối được với bộ phân phối các cuộc goi
tự động (ACD) Một ưu điểm của thoại IP là khả năng kết hợp cả thoại và dữ liệu trên
cùng một kênh
1.5 Các loại hình dịch vụ thoại qua IP
Về nguyên tắc, các dịch vụ thoại qua giao thức IP gồm một số loại sau đây:
Trang 30Máy điện thoại tới máy điện thoại (Phone to Phone)
Máy tính tới máy điên thoại (PC to Phone)
Máy tính tới máy tính (PC to PC)
1.5.1 Máy điện thoại tới máy điện thoại
Trong loại hình dịch vụ này, bên chủ gọi và bên bị gọi đều sử dụng điện thoại thông
thường Gateway ở mỗi phía làm nhiệm vụ chuyển tín hiệu thoại thông thường thành
gói tin IP và ngược lại Đây là loại hình dịch vụ VoIP đã được triển khai ở Việt Nam
bởi các nhà cung cấp VNPT, VietTel, SPT và ETC Loại hình này được miêu tả trong
hình 1.8
Trong dịch vụ này, người gọi sử dụng một máy tính đa phương tiện để thực hiện
một cuộc gọi tới một thuê bao cố định PSTN hoặc thuê bao di động thông thường Tín
hiệu thoại từ phía người gọi, thông qua máy tính được đóng gói vào các gói IP truyền
qua mạng IP tới gateway Tại đó, các gói tin IP được chuyển đổi thành tín hiệu 64
kbps thông thường và chuyển tới tổng đài nội hạt của thuê bao bị gọi và từ đó chuyển
tới máy điện thoại của thuê bao bị gọi Đây là loại hình dịch vụ thoại Internet đã được
triển khai ở Việt Nam dưới dạng dịch vụ Fone VNN
Trang 31Hình 1.9 K ết nối từ máy tính tới máy điện thoại
1.5.3 Máy tính tới máy tính
Trong trường hợp này, hai PC có thể được kết nối trực tiếp với nhau trong cùng một
mạng IP hay giữa các mạng IP với nhau thông qua một mạng trung gian khác (như
ISDN/PSTN) Trong các kết nối này, các PC đóng vai trò như các đầu cuối H.323 Nó
là một máy tính đa phương tiện gồm sound card, loa, micro và có phần mềm phục vụ
dịch vụ thoại Internet
Tín hiệu thoại từ phía người gọi, thông qua máy tính được đóng vào trong các gói
IP và truyền qua mạng Hai đầu cuối có thể ở trong cùng một mạng IP hoặc thuộc các
mạng IP khác nhau Trong trường hợp thứ hai, các mạng IP có thể được kết nối với
nhau qua một mạng trung gian Mạng này có thể ISDN, PSTN hay Internet Hiện nay,
dịch vụ Fone VNN của Việt Nam cũng đã phép thực hiện cuộc gọi loại này
Trang 321.6 Đánh số, chuyển đổi địa chỉ và định tuyến
Để có thể thực hiện được cuộc gọi giữa các thuê bao trong mạng VoIP, mạng VoIP
phải có cơ chế gán địa chỉ cho các thiết bị trong mạng Do mạng VoIP thường liên kết
với các mạng khác nhau, điển hình là sự kết hợp giữa mạng PSTN và mạng IP, nên khi
triển khai mạng VoIP cũng phải lập kế hoạch để có thể chuyển đổi địa chỉ giữa các
mạng với nhau ETSI đã đưa ra hai khuyến nghị TS 101 324 Ver.2.1.1 và TR 101 327
Ver.1.1.1 về yêu cầu đánh số đối với thuê bao VoIP để đảm bảo việc phân phối hoạt
động giữa hai mạng IP và mạng PSTN, trong đó lưu ý một số điểm sau:
Mạng VoIP phải nhận dạng được số bị gọi theo chuẩn E.164 được sử dụng trong
mạng quốc tế
Mạng VoIP có thể nhận dạng được mọi số bị gọi theo chuẩn E.164 được sử
dụng trong mạng quốc gia
Mạng VoIP có thể nhận dạng được số bị gọi trong các mạng nội bộ (trong
trường hợp mạng IP nội bộ kết hợp với mạng SCN nội bộ)
Mạng VoIP phải truyền được đầy đủ mọi tên khách hàng yêu cầu hạn chế nhận
dạng thuê bao chủ gọi
Mạng VoIP phải hỗ trợ cơ chế lựa chọn nhà cung cấp mạng theo quy định của
từng quốc gia trong trường hợp có nhiều nhà cung cấp mạng Lưu ý rằng việc
lựa chọn nhà cung cấp mạng có thể được thực hiện bằng nhiều cách như đặt
ngầm định, lựa chọn trước bởi người sử dụng, quay số mã truy nhập và mã nhận
dạng của nhà cung cấp mạng hoặc bằng một cách thức khác do quốc gia đó quy
định
Mạng VoIP phải hỗ trợ chức năng phân tích số để lựa chọn nhà cung cấp dịch
vụ nếu cần thiết Lưu ý rằng các quốc gia khác nhau có yêu cầu khác nhau về số
để lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ Một vài quốc gia yêu cầu chức năng bổ sung
trong mạng khởi phát cuộc gọi và mạng chuyển tiếp
Trong đó, mỗi gateway được xác định bằng 3 thông số:
Vùng số E.164 mà nó có thể cung cấp dịch vụ
Trang 33Số lượng dịch vụ mà nó có thể cung cấp được
Kiểu dịch vụ mà nó có thể cung cấp
Những đặc điểm này được sử dụng để máy chủ lựa chọn gateway và thiết lập đường
truyền cho cuộc gọi
Khi thực hiện cuộc gọi mà thuê bao chủ gọi và thuê bao bị gọi nằm riêng rẽ trong
mạng SCN và Internet, thuê bao chủ gọi phải đưa ra thông tin địa chỉ của thuê bao bị
gọi để hệ thống định tuyến trong mạng SCN và mạng Internet căn cứ vào đó định
tuyến cuộc gọi Có 3 cách khác nhau để định tuyến cuộc gọi thoại IP giữa các thuê bao
nằm riêng rẽ trong mạng SCN và mạng Internet
Trong cách thứ nhất, thêm các chức năng mới cho mạng SCN để xử lý các thông tin
định tuyến sử dụng trong mạng Internet Các thông tin địa chỉ được sử dụng trên
Internet có thể là địa chỉ IP, tên vùng, địa chỉ e-mail…Những người sử dụng trên dịch
vụ điện thoại IP cần được đăng ký địa chỉ IP Thuê bao chủ gọi sẽ chỉ định thuê bao bị
gọi thông qua các thông tin địa chỉ của thuê bao bị gọi Cấu trúc địa chỉ cũng giống
như cấu trúc tên vùng bằng việc sử dụng các chữ số 0-9 và các kí hiệu #, * Do đó, cần
phải đưa ra các quy ước khi sử dụng những kí tự này Tuy nhiên, điều này có thể
không khả thi do việc đưa địa chỉ vào sẽ rất phức tạp
Trong cách thứ hai, thêm các chức năng mới cho SCN để giao tiếp với số E.164 trên
Internet Mỗi thuê bao sử dụng dịch vụ điện thoại IP được đăng ký số E.164 Mỗi chức
năng mới ra đời cần đưa ra phép chuyển đổi từ số E.164 sang địa chỉ IP Khi đó, người
sử dụng chỉ cần đưa vào số E.164 và hệ thống coi đó như là thông tin địa chỉ của người
sử dụng địa chỉ điện thoại IP Tuy nhiên, do dịch vụ điện thoại IP sử dụng chung số
E.164 với các dịch vụ khác nên dung lượng người sử dụng dịch vụ điện thoại IP sẽ bị
hạn chế
Trong cách thứ ba, thêm các cách thức đánh địa chỉ mới độc lập với hệ thống địa
chỉ IP và số E.164 Một hệ thống đánh địa chỉ mới cần được sử dụng cho dịch vụ điện
thoại IP Hệ thống này cần phải cải tiến từ các hệ thống đánh địa chỉ cũ và áp dụng cho
cả thuê bao chủ gọi và thuê bao bị gọi
Trang 34Tuy nhiên, cũng giống như hệ thống đánh địa chỉ IP, điều này có thể không khả thi
do việc đưa địa chỉ vào sẽ rất phức tạp Vì vậy tác giả quyết định lựa chọn phương
pháp thứ hai là phương thức đăng ký địa chỉ cho các thuê bao sử dụng dịch vụ điện
thoại IP
1.7 Đặc điểm của VoIP
1.7.1 Các ưu điểm của VoIP
Điện thoại IP ra đời nhằm khai thác tính hiệu quả của các mạng truyền số liệu và
tính linh hoạt trong việc phát triển các ứng dụng mới của giao thức IP và làm cho khả
năng các dịch vụ được cung cấp trên một mạng thống nhất toàn cầu trở thành hiện
thực VoIP có các ưu điểm chính sau:
Giảm chi phí cuộc gọi: đây là ưu điểm nổi bật của VoIP so với dịch vụ điện
thoại đường dài thông thường Nếu dịch vụ điện thoại IP được triển khai thì chi
phí cho cuộc gọi đường dài chỉ bằng chi phí cho truy cập Internet vì các gói
thoại lúc này được chuyển qua mạng IP tương tự như các gói dữ liệu khác
Đồng thời kỹ thuật nén thoại tiên tiến giảm tốc độ bít từ 64Kbps xuống dưới
8Kbps, do đó một kênh 64Kbps lúc này có thể dùng được cho 8 cuộc gọi đồng
thời Đối với mạng thoại thông thường thì mạng phải duy trì một kết nối 64Kbps
cho một cuộc gọi thông qua hệ thống các tổng đài, khi không nói chuyện thì vẫn
phải duy trì kết nối đó cho đến khi cuộc gọi hoàn tất Trong trường hợp cuộc gọi
qua mạng IP, người sử dụng từ mạng PSTN chỉ phải duy trì một kết nối 64Kbps
tới Gateway của nhà cung cấp dịch vụ Nhà cung cấp dịch vụ sẽ đảm nhận việc
nén, đóng gói tín hiệu thoại và gửi chúng qua mạng IP một cách có hiệu quả
nhất tới Gateway của mạng thuê bao bị gọi Việc kết nối như vậy tiết kiệm đáng
kể tài nguyên của mạng dẫn đến chi phí được giảm rõ rệt
Tích hợp mạng thoại, mạng số liệu và mạng báo hiệu: trong điện thoại IP, các
tín hiệu báo hiệu, thoại và cả số liệu đều đi trên cùng một mạng IP Điều này sẽ
tiết kiệm chi phí đầu tư về nhân lực cũng như cơ sở hạ tầng so với xây dựng
những mạng riêng rẽ
Trang 35Khả năng quản lý băng thông: trong mạng điện thoại sử dụng công nghệ chuyển
mạch kênh, tài nguyên băng thông cung cấp cho một cuộc gọi là cố định Nhưng
trong mạng IP, tài nguyên cung cấp cho một cuộc gọi mềm dẻo, linh hoạt hơn
nhiều Khi người sử dụng cần tài nguyên để thực hiện một cuộc gọi, nếu lưu
lượng của mạng thấp, băng thông dành cho cuộc gọi sẽ cho chất lượng tốt nhất
Trong thời gian cao điểm, mạng sẽ hạn chế băng thông của từng cuộc gọi ở mức
chấp nhận được nhằm phục vụ một lúc nhiều người nhất
Khả năng Multimedia và đa dịch vụ: thoại và fax chỉ là các ứng dụng khởi đầu
cho VoIP, các lợi ích trong thời gian dài hơn được mong đợi từ các ứng dụng
Multimedia và đa dịch vụ Trong khi tiến hành đàm thoại, người sử dụng có thể
vừa nói chuyện vừa sử dụng các dịch vụ khác như truyền file, chia sẻ dữ liệu
hay xem hình ảnh của người bên kia
1.7.2 Các nhược điểm của VoIP
Do thiết kế ban đầu của giao thức Internet cũng như các giao thức truyền số liệu
khác không dùng để truyền các thông tin thời gian thực Các thông tin thời gian thực
thường được truyền liên tục, với tốc độ không đổi (stream) do đó việc truyền tín hiệu
thời gian thực trên mạng chuyển mạch gói là rất khó thực hiện do các hiện tượng như
là mất gói, độ trễ không cố định của các gói thông tin khi truyền trên mạng và việc
truyền lại các gói bị mất hay bị sai lỗi là không có ý nghĩa đối với các dịch vụ thời
gian thực Tuy trong phần mào đầu của gói IP cũng có các trường để chỉ mức độ ưu
tiên, các yêu cầu về độ trễ, số lượng, độ an toàn nhưng do vẫn còn có sự khác nhau cơ
bản giữa các nhà cung cấp dịch vụ mạng về các vấn đề cần thiết nên IP hỗ trợ mức ưu
tiên không đồng nhất và không có giao thức định tuyến tham số dịch vụ Để cho chất
lượng dịch vụ có thể chấp nhận được, cần phải có một kỹ thuật nén tín hiệu với tỉ số
nén lớn, có khả năng tái tạo các gói bị thất lạc, có cơ chế bộ đệm nhận các gói ở phía
thu để giải quyết vấn đề trễ nối tiếp của các gói trong quá trình truyền lan Tốc độ xử
lý của các bộ Codec phải nhanh để cuộc gọi không bị gián đoạn Đồng thời cơ sở hạ
tầng mạng cũng phải được nâng cấp lên các công nghệ mới như Frame Relay hay
ATM và phải có một cơ chế kiểm soát chất lượng dịch vụ
Trang 36Ngoài ra, còn một số hạn chế của dịch vụ VoIP so với dịch vụ thoại truyền thống là
chất lượng dịch vụ và khả năng truy nhập dịch vụ Hạn chế về chất lượng dịch vụ có
nguyên nhân không phải là do công nghệ mà do mạng IP hoạt động trên nguyên tắc
“cố gắng tối đa” và không tin cậy, tức mạng IP không đảm bảo chất lượng dịch vụ cho
các ứng dụng Mức độ phức tạp của mạng cũng như các kết nối mạng cũng là yếu tố
làm giảm chất lượng dịch vụ Các vấn đề liên quan tới bộ định tuyến VoIP có thể là:
Định tuyến không đối xứng: tất cả các ISP đều cố gắng tối thiểu thời gian truyền
gói do đó các bộ định tuyến truyền càng nhanh càng tốt Vì vậy, nếu các điểm
cuối của một cuộc gọi VoIP được phục vụ bởi các ISP khác nhau thì trễ ra ngoài
và trễ vào trong có thể rất khác nhau, hay là không đối xứng Nguyên nhân là tải
và số bước nhảy giữa các Gateway của các ISP là khác nhau
Vòng định tuyến: do một bộ định tuyến nào đó có thể bị hỏng nên một gói sau
một thời gian truyền trên mạng lại quay về bộ định tuyến cũ, thời gian trễ như
vậy là quá lớn đối với một cuộc gọi thoại, và gói tin sẽ không còn ý nghĩa nữa
Định tuyến không ổn định: một bộ định tuyến có thể quyết định các đường đi
khác nhau đến cùng một đích, các đường đi này có thể rất khác nhau, điều này
cũng gây nên trễ giữa các gói khi đến đích
Một yếu tố khác cũng ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ VoIP là do trên mạng
Internet, dịch vụ VoIP phải chia đường truyền cùng lúc với nhiều dịch vụ khác và nó
không có một đặc trưng riêng biệt nào để bộ định tuyến có thể nhận biết và xử lý ưu
tiên hơn
Kết luận chương I
Để hiểu rõ hơn về mạng trước tiên ta phải biết về mô hình TCP/IP (nền tảng của
mạng) Chương I trình bày tổng quan về mô hình TCP/IP Ngoài ra đề cập tới công
nghệ VoIP đang rất phổ biến ngày nay Với những dịch vụ thường thấy của VoIP dựa
trên nền mạng IP, cách thức hoạt động của nó, các ứngdụng trong đời sống, cùng với
những ưu nhược điểm của công nghệ này Công nghệ VoIP dựa trên nền mạng IP
cũng được đề cập tới trong chương này Các chương sau sẽ tìm hiểu cụ thể hơn về các
vấn đề được nêu ra trong chương I về công nghệ VoIP
Trang 37
Trang 38CHƯƠNG II CÁC KỸ THUẬT VÀ GIAO THỨC HỖ TRỢ
TRUYỀN TÍN HIỆU THOẠI QUA MẠNG IP
Để có thể thiết lập và quản lý cuộc gọi VoIP, các giao thức điều khiển phải được bổ
sung Các giao thức điển hình đang được sử dụng rất rộng rãi hiện nay đó là giao thức
thời gian thực, giao thức khởi đầu phiên SIP của IETF và H.323 tham chiếu tới các
giao thức báo hiệu H.225 và điều khiển H.245 của ITU-T Các giao thức này cho phép
các đầu cuối đăng ký, đăng nhập mạng và thực hiện các cuộc gọi tới các đầu cuối
khác Bên cạnh đó, chúng cũng cho phép thực hiện các chức năng quản lý cuộc gọi
như thay đổi băng thông cho cuộc gọi, mở rộng cuộc gọi đa điểm
2.1 Giao thức thời gian thực RTP
Luồng tín hiệu thoại VoIP và các tín hiệu Video có một số yêu cầu chung để phân
biệt với các dịch vụ internet truyền thống khác ở một số đặc điểm sau :
Sự liên tục: Các gói phải được sắp xếp lại theo thứ tự thời gian thực ở bên nhận, có
thể các gói bị mất trên đường truyền, khi đó phải thực hiện dò tìm và bù lại cho sự mất
này mà không truyền lại
S ự đồng bộ bên trong phương thức truyền thông: thời gian truyền giữa các gói phải
đều đặn Nghĩa là nếu không có tín hiệu thì cũng phải tìm cách lấp đầy các khoảng im
lặng đó
Sự đồng bộ giữa các phương thức truyền thông: Nếu có nhiều phương thức truyền
thông cùng được sử dụng trong một phiên truyền thông thì các phương thức đó phải
đồng bộ với nhau Ví dụ như việc truyền đồng thời tín hiệu âm thanh và tín hiệu hình
thì hai tín hiệu này phải đồng bộ với nhau, gọi là sự đồng bộ hình và tiếng
S ự nhận diện payload: Trong internet, thông thường cần sự thay đổi sự mã hoá cho
các phương thức truyền tải (payload ) trên đường truyền để hiệu chỉnh thay đổi băng
thông sẵn sàng hoặc đủ khả năng cho người dùng mới liên kết vào Do đó cần có một
vài cơ chế nhận diện sự mã hoá cho mỗi gói
Trang 39Nh ận diện khung: Tín hiệu âm thanh và tín hiệu truyền hình được gửi trong một
đơn vị dữ liệu logic đó là các khung Tín hiệu nhận dạng khung dùng để chỉ cho bên
nhận chỗ nào bắt đầu và kết thúc của các khung, để giúp cho sự phân phối đồng bộ tới
các tầng cao hơn
Để thực hiện điều này thì cần có các giao thức thời gian thực Thực tế các dịch vụ
này được cung cấp bởi các giao thức tầng truyền tải ( transport layer ) Các giao thức
thời gian thực bao gồm: giao thức dòng thời gian thực RTSP ( Real Time Stream
Protocol ), giao thức điều khiển thời gian thực RTCP ( Real Time Control Protocol ),
giao thức khởi đầu phiên SIP ( Session Initiation Protocol ), giao thức giữ trước tài
nguyên RSVP ( Resources Reservation Set - up Protocol ) Các giao thức này đưa ra
một vài chức năng liên tục và tìm sự mất gói rất tốt
Đa phát đáp thuận tiện (Multicast of friendly): RTSP và RTCP là các kỹ thuật cho
phát đáp (Multicast) Trên thực tế, chúng được thiết kế để hoạt động trong cả các các
nhóm phát đáp nhỏ phù hợp cho các cuộc gọi điện ba người Đôi với các nhóm lớn thì
phải dùng phát đáp quảng bá
Độc lập thiết bị: RTSP cung cấp các dịch vụ cần thiết cho các dịch vụ thời gian
thực nói chung như thoại và video, bất kỳ một bộ mã hoá và giải mã nào và giải mã cụ
thể nào được thêm các trường thông tin tiêu đề và ngữ nghĩa sẽ định nghĩa cho mỗi
phương thức mã hoá và giải mã theo một tiêu chuẩn kỹ thuật riêng
Các b ộ trôn và chuyển đổi: các bộ trộn là các thiết bị nắm giữ phương thức truyền
từ một vài người sử dụng để trộn và nối chúng vào dòng phương thức truyền thông, và
gửi kết quả đến dòng đầu ra bộ chuyển đổi sẽ nắm giữ một dòng các phương thức
truyền thông, chuyển đổi chúng vào các khuôn dạng khác nhau và gửi đi Các bộ
chuyển đổi có vai trò thu nhỏ băng thông yêu cầu của dòng số liệu so với yêu cầu băng
thông trước khi được chuyển đổi mà không cần nguồn phát thu nhỏ tốc độ bit của nó,
điều này cho phép bên nhận thực hiện kết nối nhanh mà không bị giảm về chất lượng
dịch vụ so với băng thông ban đầu Các bộ trộn sẽ giới hạn băng thông nếu có vài
người đồng thời gửi một lúc, đáp ứng chức năng cầu hội thoại RTPTS hỗ trợ cả bộ
trộn lẫn bộ chuyển đổi
Trang 40Ch ất lượng dịch vụ phản hồi: RTCP cho phép bên nhận có thể đưa ra phản hồi về
chất lượng nhận được đến tất cả các thành viên của nhóm Các nguồn phát có thể dùng
thông tin này để điều chỉnh tốc độ bit số liệu, trong khi các bên nhận khác có thể xác
định xem chất lượng này là toàn mạng hay cục bộ Người quan sát ở ngoài có thể dùng
thông tin này để thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ
Điều khiển phiên lỏng: RTCP cũng cho phép các bên tham gia có thể trao đổi thông
tin nhận diện như tên, email, số điện thoại và các thông điệp vắn tắt
Mã hoá thành m ật mã: các dòng phương thức truyền thông RTSP có thể mã hoá
thành mật mã dùng các khoá Các khoá đó là sự trao đổi một vài phương pháp không
phải RTP ví dụ như SIP hoặc giao thức mô tả phiên SDP ( session Describe Protocol )
2.1.1 Giao thức dòng thời gian thực RTSP( Real Time Stream Protocol )
RTSP nói chung được dùng trong liên kết với UDP(User Datagram Protocol)
Nhưng có thể lợi dụng bất kỳ một giao thức nào của tầng thấp hơn trên cơ sở gói tin
Khi một trạm chủ muốn gửi một gói, thì cần phải biết phương thức truyền thông cụ thể
để tạo khuôn dạng gói, thêm vào phần tiêu đề của gói phương thức truyền thông đó
Công việc này phải thực hiện để quyết định trước tiêu đề của RTSP và đưa vào
phương thức truyền tầng thấp hơn Sau đó chúng được gửi vào mạng (dùng một trong
hai cách đa phát đáp hay đơn phát đáp) đến các thành viên khác tham dự
CS
RC
M payload type
Sequence number
Timestamp
Synchronization source identifier (SSRC)
Contributing source identifiers (CSRC)
Header extension
Payload ( audio, video )