Mục tiêu dựa vào đầu vào giải quyết vấn đề giữu gìn nguồn tài nguyên chủ đạo là năng lượng và nguyên liệu Mục tiêu dựa vào đầu ra liên quan tới đầu ra không mong muốn mà điển hình là các
Trang 1-Chương 4
Hệ thống quản lý môi trường công nghiệp
4.1 Khái niệm về hệ thống quản lý môi trường doanh nghiệp
Quản lý môi trường ở doanh nghiệp là phân tích một cách toàn diện về vai trò của doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường
Kinh doanh tạo nên hệ thống kinh tế xã hội ổn định từ bao đời nay nhưng lại phá hoại môi trường và lãng phí tài nguyên Khái niệm mới về kinh doanh ra đời trong bối cảnh khi con người chuyển sang phương thức phát triển bền vững hơn Vì kinh doanh không phải là ngành cô lập nên khái niệm về mô hình sinh thái cho kinh doanh cũng phải mở rộng ra toàn xã hội Nhiệm vụ quan trọng là làm thế nào áp dụng khái niệm sinh thái cho kinh doanh và cho xã hội, tạo lập được con đường phát triển bền vững mà vẫn giữ được sức mạnh và tính linh hoạt của kinh tế, môi trường và văn hóa
Về cơ bản, mục tiêu bảo vệ môi trường doanh nghiệp được phân định thành hai mảng: Mục tiêu dụa vào đầu vào và mục tiêu dựa vào đầu ra
Mục tiêu dựa vào đầu vào giải quyết vấn đề giữu gìn nguồn tài nguyên chủ đạo là năng lượng và nguyên liệu
Mục tiêu dựa vào đầu ra liên quan tới đầu ra không mong muốn mà điển hình là các loại chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất
Như vậy việc đưa các mục tiêu môi trường vào hệ thống mục tiêu doanh nghiệp ngày càng được xem xét như một cơ hội để cải thiện khả năng đạt được của các mục tiêu kinh tế
Điều này được thể hiện ở hai khía cạnh :
- Cải thiện doanh thu thông qua thị trường mới và sản phẩm mới;
- Giảm bớt chi phí thông qua tiết kiệm vật tư, năng lượng; tiết kiệm phụ liệu, cải tiến qui trình thao tác, giảm lượng phát thải
4.2 Các loại chất thải ( đầu ra không mong muốn từ quá trình sản xuất )
Quá trình phát sinh ra chất thải từ hoạt động của các xí nghiệp công nghiệp theo nhiều dạng khác nhau như thể hiện ở hình 4.1
Từ hình 4.1 ta thấy lượng và thành phần chất thải phụ thuộc chất lượng nguyên liệu, mức tiên tiến của sản xuất Để giảm lượng chất thải ta phải tăng cường áp dụng các quá trình công nghệ không và ít phế thải, đẩy mạnh các quá trình xử lý, tận dụng phế liệu, sản xuất các
đồ dùng bền đẹp, đóng gói sao cho tốn ít bao bì
Các quá trình sản xuất có công nghệ và thiết bị cũ sẽ sản ra nhiều chất thải/ đơn vị sản phẩm và hiệu quả sử dụng nguyên liệu và năng lượng thấp làm phí phạm các nguồn tài nguyên, trong khi các nguồn này ngày càng bị khai thác cạn kiệt Điều đó đặt ra cho mọi quốc gia cần phải quản lý chất thải rắn một cách hữu hiệu để giảm thiểu ô nhiễm môi trường
và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên khai thác được
Trang 2-Khí thải
Chất thải
Quá trình
Công nghiệp
Nước thải
Hình 4.1 Trường hợp cơ sở doanh nghiệp không có biện pháp giảm thiểu
Khí thải
Giảm thiểu khí thải
Nguyên liệu thô
Quá trình
Chất thải
Giảm thiểu chất thải
Giảm thiểu
Hình 4.1b Trường hợp có biện pháp giảm thiểu
Các nước có trình độ khoa học kỹ thuật phát triển, công nghiệp phát triển lượng chất thải công nghiệp sẽ lớn và chất thải công nghiệp cũng đa dạng hơn, tuy nhiên lượng chất thải trên một đơn vị sản phẩm thường nhỏ hơn so với các nước có nền công nghiệp kém phát triển Bảng 4.1 dưới đây cho biết thành phần của một số chất thải công nghiệp
Trang 3Bảng 4.1 Thành phần của một số chất thải công nghiệp
Loại hình công nghiệp
Thành phần chất thải
I Khai khoáng và tuyển quặng
- Khai thác than - Hệ số thải ở nhà máy sàng tuyển than 30%
- Làm giàu quặng apatit 0,6-0,7 tấn chất thải/tấn apatit, thành phần chất thải:
(Na,K)2Al2O3.nSiO2
- Làm giàu quặng chứa 80% KCl bằng
tuyển nổi, tác nhân tuyển nổi là amin
2,5-3 tấn chất thải/tấn KCl, thành phần chất thải:
NaCl 90-96% CaSO4 0,1-2%
CaCl2 0,02-0,06% KCl 1,8-5%
MgCl 2 0,04-0,2% Cặn 1-4,5%
II Sản xuất phân khoáng và a xit
- Sản xuất H3PO4 từ quặng phôtphat
Ca5(PO4)3F và H2SO4
- 4,25 tấn CaSO4 nH2O/1 tấn P2O5 từ apatit
- 5,66 tấn CaSO4 nH2O/1 tấn P2O5 từ phôtphorit
III Nhiệt điện - Bụi + xỉ : 1-5A kg/tấn than ( A = 10-30 ( % kl tro trong than))
với thành phần SiO 2 52-65% kl Al 2 O 3 22-25%
Fe2O3 2,5-7% CaO 2-2,6 % MgO 1-3% TiO 2 0,1-0,2%
K2O 3.5-4,0% Na2O 0,2-0,3%
P2O5 0,1% MnO 0,1%
IV Chất thải của các quá trình sản xuất
các chất hữu cơ
- Công nghiệp lọc và hoá dầu: cặn dầu của
các quá trình làm sạch dầu bôi trơn, dầu
hoả, khí, paraphin; cặn của sản xuất các sul
fonat, chất tẩy rửa tổng hợp, tác nhân tuyển
nổi,
- Cặn chứa các hợp chất hữu cơ (các hợp chất chứa S, hợp chất cacben, cacbit, a sphan, nhựa, ), H2SO4 và H2O Hàm lượng các chất hữu cơ thay đổi từ 10-93% khối lượng tuỳ quá trình
- Bùn dầu của nhà máy lọc hoá dầu: 7kg bùn/ tấn dầu thô
-Cặn dầu nặng: sản phảm dầu 10-56% kl
H 2 O 30-85% kl Tạp chất rắn 1,3-46% kl Bùn dầu bị phân lớp: lớp trên là nhũ tương dầu - nước, lớp giữa là lớp nước bị bẩn bởi lớp dầu và hạt rắn, lớp dưới 3/4 tổng rắn bị bẩn bởi sản phẩm dầu
V Công nghiệp gia công chất dẻo, cao su
- Sản xuất túi màng mỏng PE
định mức nguyên liệu cho 1 tấn sản phẩm
PE:
hạt PE 979,6 kg
phụ gia 27,9 kg
dung môi 19 kg
mực in 7,6 kg
- Sản xuất các sản phẩm cao su: săm lốp ô
tô, xe máy, xe đạp
- Phế liệu sản xuất túi PE 0,2 kg/tấn sf ( 10-13% nguyên liệu tạo thành: ba via, nguyên liệu rơi vãi, phế phẩm trong sản xuất được tái sinh, tận dụng lại ngay)
- Lượng chất thải ba via từ một số mạt hàng cao su:
35 g/ đôi đế giày
11 g/ chiếc lốp ô tô
0,07 g/ c lốp xe đạp 0,026 g/c săm xe đạp
Trang 4-4 3 Các đặc tính của môi trường trong hoạt động sản xuất
4.3.1 Môi trường là yếu tố đầu vào
Các sản phẩm hoá thạch và khoáng sản của môi trường thiên nhiên trong quá trình sản xuất như là nguồn nguyên liệu và phương tiện sản xuất Tuy nhiên việc sử dụng môi trường hiện nay chủ yếu vẫn ở dạng thức không mất tiền mà chỉ cần phải chi phí cho khai thác và chi phí cho nhu cầu môi trường ( đất, nước, cảnh quan , không khí, nước để tiếp nhận chất thải của sản xuất và tiêu dùng)
Chi phí khai thác ngày càng cao do sự dồi dào về nguồn dự trữ ngày càng bị mất dần Chi phí cho nhu cầu môi trường cũng ngày tăng bởi các lý do:
- Tăng yêu cầu về xử lý chất thải rắn trong đó có cả thành phần nguy hại;
- Tăng yêu cầu về xử lý nước thải;
- Tăng yêu cầu trong việc xử lý khí thải và tiếng ồn
Như vậy, không gian sử dụng môi trường trở thành thước đo sức ép của quần xã tới các chức năng môi trường Đó là chất lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các dịch vụ,
mà nhờ đó hệ sinh thái có thể cung cấp, không kể tới sự tái tạo năng suất sản lượng của các hệ này và các thay đổi không thể đảo ngược trong những phần dự trữ của hệ sinh thái
Tuy nhiên, không gian sử dụng môi trường không cho phép xác định vị trí của các vấn đề môi trường trong toàn bộ trạng thái phát triển của quốc gia Vấn đề chủ yếu trong sử dung không gian môi trường là định lượng hóa mức độ bền vững
Phương pháp tính toán không gian sử dụng môi trường được Hội đồng nghiên cứu về môi trường và tự nhiên Đan Mạch thực hiện với các kết quả sau đây:
Với tốc độ khai thác hiện tại, trữ lượng cạn kiệt sau khoảng 50 năm đối với dầu, 30 năm đối với đồng Tải trọng axit hóa tới hạn của đất Tây Âu vào khoảng 1400 - 2400 đương lượng axit Trong khi đó, tốc độ lắng đọng hiện đang là 5000 - 6000 đương lượng axit Để đạt
được sự bền vững cần phải giảm 50-70% tốc độ lắng đọng Tốc độ suy thoái của đất do xói mòn, bạc mầu và mặn hóa hàng năm là 24tỷ tấn, trong khi suy thoái tự nhiên hàng năm chỉ làm mất đi 9,3 tỷ tấn
Do vậy, để đạt được mức bền vững, loài người cần phải có nhiều cố gắng mới đảo nghịch được xu hướng cạn kiệt tài nguyên và suy thoái môi trường
4.3.2 Môi trường là nơi tiếp nhận đầu ra không mong muốn
Đối với đầu ra không mong muốn thì tại ngay trong khâu sản xuất và phân phối thì môi trường đã trở thành nơi tiếp nhận cần thiết
Cơ sở của sự liên kết ô nhiễm môi trường qua chất thải và sự phát thải tương ứng , cũng như cơ sở của việc tiêu phí môi trường qua phát thải thuộc các vấn đề cần lưu tâm sau:
- Nhu cầu về xử lý, chôn lấp và tiêub huỷ chất thải rắn;
- Khối lượng khí thải;
- Mức độ phát thải khí hoặc xả nước thải;
- Toả nhiệt, phát nhiệt
Và đặc biệt cần lưu tâm đến các thông số cơ bản sau:
chất thải được phân loại theo đặc tính nguy hại đối với môi trường;
Trang 5môi trường
sản phẩm;
lý không còn có nguy cơ gây tác động;
chuyển hoá
Các khía cạnh mục tiêu
Đảm bảo Phân phối thu nhập Quyền lực Các mục tiêu Bảo vệ
chỗ làm việc công bằng và uy tín
Giữ được khả năng cạnh tranh
Các khía cạnh mục tiêu kinh tế
Doanh Khả năng Mục tiêu Mục tiêu Bảo vệ
thu thanh toán xã hội năng suất môi trường
Lợi nhuận Vốn
Thu nhập Chi phí Khía cạnh mục tiêu – Công cụ mục tiêu kinh tế
Cơ hội thu Giảm bớt chi
nhập thông phí thông
qua bảo vệ qua bảo vệ
môi trường môi trường
Hình 4.2 Bảo vệ môi trường trên ba khía cạnh
trong hệ thống của doanh nghiệp
Trang 6-4.4 Các hoạt động thu hồi, tái chế
Các yếu tố sản xuất đã tác động đến quá trình chuyển hóa vật liệu và năng lượng, do vậy có sự đòi hỏi đến môi trường – nơi cung cấp tài nguyên thiên nhiên ở đầu vào có thể phân biệt theo:
- Khối lượng và cách thức sử dụng vật liệu,
- Khối lượng và cách thức sử dụng năng lượng,
- Khối lượng và cách thức sử dụng nước
Điều đáng quan tâm ở đây là đặc tính tái tạo của vật liệu và nhiên liệu, do vậy cần phân biệt giữa vật liệu, nhiên liệu tái tạo lại được và vật liệu, nhiên liệu không tái tạo lại được
Song song với việc hình thành sản phẩm là đầu ra được mong muốn còn có các sản phẩm kèm theo đầu ra không mong muốn được phân biệt theo:
- Khối lượng và chất lượng phế thải rắn,
- Khối lượng và chất lượng phế thải lỏng,
- Khối lượng và chất lượng phế thải khí,
- Sự thoát nhiệt,
- Sự phát xạ tiếng ồn,
- Sự thoát bụi,
- Sự phát tia xạ
Trên phương diện kinh tế, ngành kinh doanh sẽ gặp một loạt các rắc rối khi quay vòng và tái sản xuất các sản phẩm, có khi tiết kiệm được chi phí, có khi chi phí lại tăng lên Ngành kinh doanh phải tính toán lại nhu cầu sản xuất và khả năng tiêu thụ các sản phẩm của mình do có tái chế Một ngành công nghiệp mới, sử dụng và quay vòng vật liệu, năng lượng của các ngành đã có và của người tiêu dùng sẽ ra đời Người tiêu thụ phải đánh giá được giá trị của bao bì và sản phẩm có thể tái sinh
Tái sinh là một khái niệm thời sự thông qua hình thức sử dụng lại hay tận dụng lại giá trị của những sản phẩm đã qua sử dụng
ở đây liên quan đến chất thải của sản xuất và tiêu dùng, cái mà trước khi được đưa vào quá trình tái sinh đã được chủ của nó coi là những thứ không mong muốn và muốn vứt bỏ đi
Có thể sử dụng thiên nhiên làm môi trường tiếp nhận chất thải Song, những chất thải này cũng có thể giữ lại trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, chí ít là tạm thời
Việc tiếp tục sử dụng có thể thực hiện dưới nhiều hình thức, song tất cả các quá trình cũng chỉ là những việc sử dụng lại nhiều lần , do đó vật chất và năng lượng có thể giữ được trong một thời gian có hạn và riêng biệt trong phạm vi của quá trình chuyển hóa kế tiếp nhau và sau
đó được đưa vào chu trình
Tái sử dụng: Trong tái sử dụng, sản phẩm được giữ nguyên về chất liệu kết cấu và hình dáng
cũng như chức năng ban đầu và được đưa vào quá trình chuyển hóa (ví dụ như: bao bì đóng
Trang 7-gói nhiều lần) Thông lệ thì những sản phẩm như vậy không phải là chất thải, do đó trong nghĩa rộng có thể được hiểu là tái sinh, nhưng số lượt của chu trình tái sử dụng bị hạn chế Ví
dụ, chai lọ được sử dụng nhiều lần bị vỡ hay bị mất đi tính năng sử dụng đặc trưng Người ta tính trung bình chai lọ sử dụng khoảng 20 lượt ( hình 4.3a)
Đôi khi cũng có thể tiếp tục sử dụng sản phẩm được nếu như sản phẩm với kết cấu chất liệu, hình dáng ban đầu được sử dụng theo một chức năng khác Ví dụ, cốc đựng tương hạt cải làm cốc uống nước, bình nhựa làm thùng chứa nước mưa, lốp xe ôtô làm ghế đu hay
đài hoa
Đóng chai
Hình 4.3a Tái sử dụng lại các chai
Backup_of_ban1.cdr
Tái tạo giá trị: Tái tạo giá trị là quá trình trong đó chất liệu kết cấu ban đầu được tái tạo lại
thông qua một quá trình xử lý Hình thái ban đầu và chủ đích sử dụng ban đầu có thể được tái tạo Ví dụ, sử dụng sắt vụn trong công nghiệp luyện thép, nấu chảy mảnh kính trong công nghiệp thủy tinh, giấy vụn trong công nghiệp giấy… ( Hình 4.3b)
Hình 4.3b Minh hoạ về tái tạo lại giá trị
Sử dụng
nhiều lần
Đã sử dụng
Phế liệu
Sản phẩm mới
Nấu chảy
Trang 8-Tiếp tục tận dụng giá trị: Có thể áp dụng với cả hình thức vật chất và năng lượng Đặc tính
của việc tiếp tục tận dụng giá trị vật chất là sự chuyển hóa vật chất thông qua một quá trình xử
lý và làm thay đổi chức năng của sản phẩm mới hình thành Ví dụ, ủ các chất hữu cơ, sản xuất ván ép từ mùn cưa, sản xuất vật liệu cách âm từ giấy phế thải, vật liệu xây dựng từ chất dẻo
cũ
Một hình thức nữa của việc tận dụng giá trị là tận dụng năng lượng Sự chuyển hóa vật chất sang năng lượng là một quá trình không đảo ngược được Do bản thân năng lượng sau khi
được sử dụng vào quá trình chuyển hóa thì chỉ có thể thu hồi lại được rất ít, nên quá trình này
là mắt xích cuối cùng trong chuỗi chu trình có khả dĩ
Tái tạo năng lượng ngoài việc thể hiện tái sử dụng vào chức năng ban đầu của nó còn thể hiện việc tiếp tục sử dụng vào chức năng khác
Ví dụ, qua việc sử dụng điện năng để sản xuất, nhiệt năng sinh ra trong quá trình sản xuất này
được tận dụng để sưởi ấm
Mục tiêu và hiệu quả của việc tái sinh: Mỗi chu trình nguyên liệu và năng lượng được thiết
lập đều mang trong nó hai hiệu ứng về sinh thái mong muốn có, đó là:
- Tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng
- Giải phóng cho môi trường khỏi nơi tiếp nhận lại chất thải
Tái sinh là sự kéo dài thêm một khoảng ngắn thời gian lưu của nguyên liệu và năng lượng trong quá trình chuyển hóa Vì thế, công nghệ có tính đến giảm thiểu và công nghệ có tính đến phòng ngừa ô nhiễm môi trường phải được ưu tiên hơn trong phương án chuẩn bị sản xuất trước khi thực hiện chu trình Thỉnh thoảng vẫn có những lời than phiền là sự cố gắng lớn
về việc tái tạo giá trị, nhất là việc tái tạo giá trị năng lượng, đã ngăn cản những nỗ lực to lớn trong việc tránh có chất thải Tương tự như vậy về việc tái sinh thủy tinh đã qua sử dụng, trong trường hợp này, sự nỗ lực trong việc tái sinh thủy tinh đã qua sử dụng tăng lên đã chôn vùi cố gắng nhằm sử dụng bao bì đóng gói một lần
Đối tượng của tái sinh và tái sử dụng : Về nguyên tắc, tất cả các sản phẩm, các vật liệu và
năng lượng đều được xem là đối tượng tái sinh Có thể sơ bộ phân loại như sau:
- Chu trình phương tiện sản xuất trong doanh nghiệp ( thí dụ nước tuần hoàn trong quá trình sản xuất )
- Chu trình sản phẩm ( thí dụ chai lọ được sử dụng nhiều lần);
- Tái sinh sản phẩm ( thí dụ : thay động cơ, lốp xe đắp lại )
- Tái sinh phế liệu sản xuất ( mảnh thuỷ tinh sản xuất thuỷ tinh )
- Tái sinh chất thải sinh hoạt ( thí dụ giấy loại, ô tô đã qua sử dụng ) ;
- Khai thác năng lượng dư thừa ( sử dụng nhiệt năng dư của quá trình nạp và toả nhiệt công nghiệp vào sưởi nóng)
Trang 9-Thí dụ trong hoạt động khai khoáng : Cách tiếp cận hợp lý nhất của vấn đề tài nguyên khoáng
sản chuyển chủ yếu sang sự khống chế chu trình sử dụng các tài nguyên đó trong các giai
đoạn chính của sự tồn tại của chúng ( hình 4.4.)
chế biến
Kết thúc chu trình sống của phế liệu
Các mỏ nhân tạo
Mỏ
thiên nhiên
(1) Bụi, phế liệu gia công Dung dịch kim loại
(2) Bãi chứa tạm thời kho phế liệu, kho trong nhà máy
tuyển chọn
(1) Tái chế có thể được, chủ yếu trong dây chuyền nội bộ
(2) Tái chế dễ nhất bằng cách đặt một dây chuyền riêng
(3) Tái chế rất khó
Người ta thấy rằng ở tất cả mọi khâu (khai thác mỏ, luyện kim chế biến, thương mại ), với những khó khăn do số lượng biến động, các vật liệu đều có thể tái sinh được bắt
đầu từ các mỏ, như:
- Khói, bụi, dung dịch
- Những bãi chứa do người tạo ra trong thời gian ngắn
- Những mỏ nhân tạo trong thời gian dài
Rõ là mỗi loại kim loại có một chu trình riêng, đặc biệt, về phương diện các sản phẩm thương mại và cách sử dụng sản phẩm Cũng là những kim loại, ở trong các xe ôtô các phụ tùng có thể là đối tượng để quay vòng phục hồi Nhưng khó khăn hơn trong việc phục hồi các loại pin và càng không thể tưởng tượng được có thể phục hồi các chất mầu kim loại trong các lớp sơn
Có những chính sách khác nhau bổ sung có thể hội vào việc tái chế để cạnh tranh với nguyên liệu về mặt kinh tế Đó là:
thập niên gần đây trong các lĩnh vực như gia công bằng máy cho phép đặt lại lời
Trang 10-phán quyết về cái gọi là đặc tính duy nhất của nhiều vật liệu thường được coi một cách vô lý là không thể thay thế trong lĩnh vực sử dụng nào đó
Thí dụ trường hợp của sự thay thế đồng bằng nhôm trong nhiều thiết bị điện,
nguồn dự trữ của nhôm rõ ràng là lớn hơn dữ trữ đồng Khả năng giải phóng việc
sử dụng bạc trong chụp ảnh, cống hiến một triểnvọng rất lớn cho loại kim loại này
phần của bêtông khai thác từ những phế liệu của sự phá hủy, bêtông có thành phần
là đất sét, vật liệu xây dựng trên cơ sở phế liệu mỏ, tái sử dụng phế liệu gỗ;
nhau: sắt, nhôm, đồng, phân bón, gỗ, xi măng, Sự quản lý đó chuyển sang nghiên cứu sự không cho lan rộng những gián đoạn trong chu trình và sự khống chế số lượng tùy thuộc vào chi phí năng lượng
Chuyển hóa năng lượng: là đặc trưng nhất của năng lượng trong đời sống và hoạt động kinh
tế Những sự chuyển hóa tuân theo những điều luật rõ ràng: đó là hai nguyên lý của nhiệt
động học
lượng ban đầu có dưới một dạng nào đó sẽ lấy lại một cách toàn vẹn ở dạng khác khi kết thúc quá trình chuyển hóa
năng và các dạng năng lượng khác Carnot đã chỉ rõ rằng không một loại máy nào
có thể chuyển hóa được một cách toàn vẹn năng lượng thành công năng Thực vậy nếu sự chuyển hóa của các dạng khác thành nhiệt năng luôn luôn là khả dĩ thì quá trình ngược lại chỉ có thể là bộ phận, thậm chí không thể được Chính vì lý do đó người ta coi nhiệt năng như một dạng suy thoái của năng lượng
Quản lý và xử lý phế liệu có mối quan hệ đặc biệt với năng lượng ở nhiều mặt:
- Sản xuất phế liệu ở công trường khai thác tài nguyên, vận chuyển và sử dụng: phế thải của mỏ, bùn khoan, lưu huỳnh của khí thiên nhiên
- Tiêu thụ năng lượng đòi hỏi các công đoạn thu thập, tuyển chọn, xử lý phế liệu, sửa chữa cơ khí
- Khả năng sử dụng năng lượng (trường hợp vật liệu chất dẻo và sinh khối)
Một trong những trọng tâm của việc tái sinh năng lượng là việc tái khai thác nhiệt năng từ bức xạ nhiệt ở doanh nghiệp Nguồn bức xạ nhiệt có thể là tất cả các quá trình chuyển hoá các hình thái năng lượng có liên quan tới sự phát triển và hình thành nhiệt, nhiệt năng đó
có thể là nhiệt dư, thí dụ như quá trình sản xuất với sự trợ giúp của hơi nước và qua đó hình thành nhiệt dư thừa mà nó có thể có nhiệt độ rất cao