1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa đầu tư vào tài sản hữu hình và tài sản vô hình trong các doanh nghiệp Việt Nam

51 507 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Quan Hệ Giữa Đầu Tư Vào Tài Sản Hữu Hình Và Tài Sản Vô Hình Trong Các Doanh Nghiệp Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Thuỳ Dương
Người hướng dẫn ThS. Trần Thị Mai Hoa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề Tài
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 402,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm 1986.

Trang 1

A phần mở đầu

Việt Nam chớnh thức khởi xướng cụng cuộc đổi mới nền kinh tế từnăm 1986 Kể từ đú, nước ta đó cú nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sựđổi mới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch húa tậptrung, bao cấp, sang kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa, thựchiện cụng nghiệp húa, hiện đại húa đất nước, đa dạng húa và đa phươnghúa cỏc quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế.Con đường đổi mới đú đó giỳp Việt Nam giảm nhanh được tỡnh trạngnghốo đúi, bước đầu xõy dựng nền kinh tế cụng nghiệp húa, đạt được tốc

độ tăng trưởng kinh tế cao đi đụi với sự cụng bằng tương đối trong xóhội Từ đú đưa Việt Nam đến vị thế cao hơn trong khu vực cũng như trờntrường quốc tế

Trờn con đường hội nhập vào xu thế phỏt triển của kinh tế quốc tế,ngày 7/11/2006, Việt Nam đó chớnh thức được phờ duyệt và trở thànhthành viờn thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO Đõy khụng đõykhụng chỉ là cơ hội mở cửa nền kinh tế thu hỳt đầu tư mà cũn là thỏchthức đối với cỏc doanh nghiệp Việt Nam trong mụi trường cạnh tranhkhốc liệt với cỏc doanh nghiệp nước ngoài Trong điều kiện đú, bài toỏnđặt ra lỳc này là giải quyết cỏc vần đề cũn tồn tại trong doanh nghiệp ViệtNam

Trờn cơ sở hoạt động đầu tư với vai trũ là nền tảng quyết định sự rađời, tồn tại và phỏt triển của doanh nghiệp, và với mong muốn đúng gúp,làm hoàn thiện hơn hệ thống tư duy lý luận về hoạt động đầu tư phỏt triểntrong nền kinh tế núi chung và trong cỏc doanh nghiệp núi riờng trongthời đại mới, chỳng tụi nghiờn cứu đề tài:

“MốI QUAN Hệ GIữA ĐầU TƯ VàO TàI SảN HữU HìNH Và TàISảN VÔ HìNH TRONG CáC DOANH NGHIệP VIệT NAM”

Phần III: Cỏc giải phỏp và đề xuất nhằm nõng cao hiệu quả hoạt động đầu

tư vào tài sản hữu hỡnh và tài sản vụ hỡnh cho doanh nghiệp Việt Nam

Em xin cảm ơn Ths Trần Thị Mai Hoa đó hướng dẫn em hoànthành đề tài này

Với kiến thức và kinh nghiệm cũn hạn hẹp, em mong được sự đỏnhgiỏ và cho ý kiến của cô nhằm hoàn thiện đề án môn học

B nội dung đề tài

Trang 2

PhÇn i: lý luËn chung vÒ ®Çu t vµo tµi s¶n h÷u h×nh (tshh) vµ tµi s¶n v« h×nh (tsvh) trong doanh nghiÖp

I Tài sản hữ u hình và tài sản vô hình trong doanh nghiệp

1 Tài sản trong doanh nghiệp

a, Khái niệm

Doanh nghiệp là chủ thể kinh doanh độc lập, có tư cách pháp nhân,hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích ra tăng giá trị củachủ sở hữu Trong khi thực hiện các họat động mua bán trao đổi trên thịtrường hay khi tiến hành sản xuất, các doanh nghiệp đều phải sử dụng cácyếu tố như tiền bạc, nhà xưởng, máy móc, nguyên vật liệu và nguồn nhânlực các yếu tố này là tài sản của doanh nghiệp Có thể hiểu tài sản doanhnghiệp là tên gọi chung của các yếu tố sản xuất mà doanh nghiệp dùngtrong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm kiếm lời

Tài sản doanh nghiệp là toàn bộ tiềm lực kinh tế của đơn vị, biểu thị cho những lợi ích mà doanh nghiệp thu được trong tương lai hoặc những tiềm năng phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nói cách khác, tài sản là tất cả những thứ hữu hình hoặc vô hình gắn với lợi ích trong tương lai của đơn vị thoả mãn các điều kiện sau:

-Thuộc sở hữu hoặc quyền kiểm soát lâu dài của doanh nghiệp -Có giá trị thực sự đối với doanh nghiệp.

-Có giá phí xác định.

b, Phân loại

Có nhiều cách để phân loại tài sản trong doanh nghiệp, trong đótiêu thức phổ biến nhất là dựa trên giá trị và tính chất luân chuyển của tàisản, ta chia tài sản của doanh nghiệp thành 2 loại: tài sản cố định và tàisản lưu động

Tài sản lưu động( tài sản ngắn hạn): là tài sản có thể thay đổi hoặchao phí trong chu kì kinh doanh Những tài sản này có thời gian sử dụng,luân chuyển, thu hồi ngắn Tài sản lưu động bao gồm: tiền, các khoản đầu

tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu và ứng trước, hàng tồn kho vàcác tài sản ngắn hạn khác

Tài sản cố định (tài sản dài hạn): là tài sản có thời gian sử dụngtrên 1 năm trở lên, có đơn giá từ mức tiêu chuẩn qui định trở lên và trongquá trình sử dụng nó bị hao mòn dần về giá trị và hiện vật nhưng vẫn giữnguyên hình thái vật chất vốn có của nó Phần giá trị hao mòn dùng tronghoạt động kinh doanh được chuyển dịch vào trong giá trị sản phẩm củadoanh nghiệp thể hiện dưới hình thức khấu hao Theo qui định hiện hànhnếu thoả mãn đồng thời cả 4 tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài sản cốđịnh:

- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tàisản đó

- Nguyên giá phải xác định một cách đáng tin cậy

Trang 3

- Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên.

- Có giá trị từ 10.000.000 trở lên

Tài sản cố định trong doanh nghiệp có thể chia thành 2 loại: tài sản

cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình

Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất, có

đủ tiêu chuẩn của tài sản về hình thái về giá trị và thời gian sử dụng theoqui định trong chế độ quản lý tài chính hiện hành như nhà cửa, máy mócthiết bị, phương tiện vận tải, phương tiện truyền dẫn…Tài sản hữu hình

có thể do doanh nghiệp tự mua, xây dựng hoặc đi thuê

Tài sản vô hình là những tài sản cố định không có hình thái vậtchất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư, chi trả chi phí nhằm cóđược các lợi ích hoặc các nguồn có tính chất kinh tế, mà giá trị của chúngxuất phát từ những đặc quyền hoặc quyền của doanh nghiệp như quyền

sử dụng đất, bản quyền, bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa,phần mềm máy vi tính, giấy phép nhượng quyền và chi phí triển khai…Tài sản cố định vô hình cũng có thể do doanh nghiệp đầu tư hoặc thuê dàihạn

Khi nền sản xuất xã hội ngày càng phát triển, biểu hiện ở việc xuấthiện các phương thức kinh doanh mới cũng như xu hướng toàn cầu hóanền kinh tế thì các hình thái tồn tại của tài sản trong doanh nghiệp càngtrở nên đa dạng, phức tạp Vì thế, việc đầu tư và quản lý các loại tài sảntrở thành vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp

2 Tài sản hữu hình trong doanh nghiệp

a, Đặc điểm

Tài sản hữu hình là những tài sản thỏa mãn các đặc điểm sau:

- Có hình thái vật chất cụ thể, có thể cân đong, đo, đếm

- Có giá trị tối thiểu nhất định Mức giá trị này thường xuyên điềuchỉnh cho phù hợp với tình hình kinh tế của đất nước Ở Việt Nam, tàisản phải có giá trị trên 10.000.000đ mới đủ tiêu chuẩn xếp vào tài sản cốđịnh

- Được sử dụng như là công cụ chủ yếu trong quá trình sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra sản phẩmcho doanh nghiệp

Trong quá trình sử dụng, tài sản cố định hữu hình có 2 hình thứchao mòn:

Hao mòn hữu hình là sự hao mòn vật lý trong quá trình sử dụngnhư bị cọ sát, bị ăn mòn (do sự tác động của thiên nhiên hoặc mức độ sửdụng) Kết quả của hao mòn vật lý là tài sản bị mất dần giá trị và giá trị

sử dụng, cần phải thay thế bằng một tài sản khác

Hao mòn vô hình hay hao mòn kinh tế xảy ra khi tài sản vẫn còngiá trị sử dụng nhưng giá trị thì bị giảm dần do những tiến bộ về khoa học

kĩ thuật làm cho tài sản trở nên tương đối lỗi thời

Trang 4

- Tài sản hữu hình được khấu hao thường xuyên vào giá trị sảnphẩm của doanh nghiệp thông qua quü khấu hao

- Thời gian sử dụng của một tài sản hữu hình là có thể ước tínhđược, đây là cơ sở khoa học để tính khấu hao

b, Phân loại

- Nhà cửa, vật kiến trúc: Là tài sản cố định của doanh nghiệp hình

thành sau quá trình thi công xây dựng như: trụ sở làm việc, nhà xưởng,nhà kho, hàng rào, bể tháp nước, sân bãi; các công trình cơ sở hạ tầng,như đường xá, cầu cống, đường sắt, cầu cảng, cầu tầu…

-Máy móc, thiết bị: bao gồm các loại máy móc thiết bị dùng trong

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: máy móc chuyên dùng, thiết

bị công tác, dây chuyền công nghệ, máy móc đơn lẻ…

-Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các phương tiện vận tải

gồm phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường không,đường ống và các thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệ thốngđiện, đường ống nước, băng tải…

-Thiết bị, dụng cụ dùng cho quản lý: gồm các thiết bị dụng cụ dùng

cho công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như thiết bịdụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, máy vi tính, máy photocopy

-Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm: như vườn

chè, vườn cà phê, vườn cao su, vườn cây ăn quả, thảm cỏ, tham câyxanh…; súc vật làm việc như voi, ngựa, trâu và súc vật nuôi để lấy sảnphẩm như dê, cừu…

-Tài sản cố định khác: gồm những loại tài sản chưa được phản ánh

vào các loại trên như sách chuyên môn kỹ thuật, tranh ảnh nghệ thuật

c, Vai trò

Tài sản cố định hữu hình chiếm tỉ trọng lớn trong tổng giá trị tàisản của một doanh nghiệp, là công cụ tác động trực tiếp vào đối tượng laođộng trong quá trình sản xuất Vì vậy, đầu tư vào tài sản cố định là nộidung rất quan trọng trong quá trình hoạt động của mỗi doanh nghiệp.Vớivai trò quyết định tới sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và của nềnkinh tế nói chung đòi hỏi phải có một cơ cấu đầu tư hợp lý cũng như đặt

ra yêu cầu phải quản lý tốt các tài sản loại này

Dưới góc độ xã hội, sự phát triển của tài sản hữu hình qui định trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội C.Mac đã viết “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào với những tư liệu lao động nào”

Tài sản cố định hữu hình dưới hình thái máy móc thiết bị là những

tư liệu sản xuất quan trọng nhất và có tính chất quyết định tới hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Vì vậy, nó có vai trò vô cùng quantrọng đối với doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung

Tài sản hữu hình xét trên góc độ là kết cấu hạ tầng của sản xuấtgồm đường xá, cầu cảng, sân bay, phương tiện chuyên chở, phương tiệnliên lạc… là điều kiện cần thiết đối với quá trình sản xuất Trong đó việc

Trang 5

xây dựng kết cấu hạ tầng cần phải đi trước một bước, làm nền tảng đểtiến hành đầu tư sản xuất trực tiếp cũng như tạo đièu kiện thuận lợi choviệc tiêu thụ hàng hoá.

Đặc biệt với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch

vụ, việc đầu tư vào tài sản hữu hình quyết định tới chất lượng và số lượngsản phẩm tạo ra Theo đó, tài sản hữu hình là nền tảng tạo nên những giátrị vô hình cho doanh nghiệp như nhãn hiệu, thương hiệu, uy tín… Trongthực tế, một phần lớn các tài sản vô hình đều hàm chứa các yếu tố hữuhình và do những yếu tố hữu hình quyết định

Với những vai trò trên, có thể khẳng định tài sản hữu hình là nhân

tố quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển và là chìa khoá sự thành côngcủa mỗi doanh nghiệp

3 Tµi s¶n v« h×nh trong doanh nghiÖp

a, Đặc điểm

Là những tài sản đặc biệt không tồn tại dưới hình thái vật chất cụthể Đây là những tài sản mà doanh nghiệp sử dụng lâu dài, thường biểuhiện ở quyền được pháp luật qui định và quyền ưu tiên của doanh nghiệp,hoặc là những khả năng sinh lợi của doanh nghiệp cao hơn mức bìnhthường Tài sản vô hình có những đặc điểm sau đây

- Không có hình thái vật chất rõ ràng Tài sản vô hình có loại thểhiện bằng những hình thái vật chất cụ thể như quyền phát hành, quuyền

sử dụng đất, bằng phát minh…cũng có loại hoàn toàn vô hình như uy tíncủa doanh nghiệp trên thương trường, lòng trung thành của khác hàng,các mối quan hệ mà doanh nghiệp tạo dựng được,năng lực của nhà lãnhđạo

- Việc xác định giá trị của tài sản vô hình là rất phức tạp Có loạitài sản vô hình được định giá và có thể đem ra mua như bán bản quyền,phát minh sáng chế, công thức pha chế… Giá trị của những tài sản nàyđược đo bằng chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được tài sản đó Phápluật thừa nhận quyền sở hữu của doanh nghiệp với các tài sản vô hìnhtrên thông qua các giấy chứng nhận sở hữu, bằng sáng chế Bên cạnh đó,

có những tài sản hữu hình rất khó xác định được giá trị cũng như khôngthể đem ra mua bán trên thị trường như uy tín của công ty, các mối quan

hệ làm ăn… bởi nó được tạo ra gắn liền với doanh nghiệp, do sự cố gắngcủa tập thể công nhân và người lãnh đạo

- Hiệu quả kinh tế mà tài sản vô hình đem lại cho doanh nghiệptrong tương lai có tính chất không xác định rất lớn Ví dụ với tài sảnthương hiệu của doanh nghiệp, tài sản này có thể có giá trị tăng dần vàtạo ra lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp, hoặc có thể nhanh chóng mất đigiá trị Việc xác định chính xác giá trị tài sản vô hình trong tương lai làrất khó và nó không những phụ thuộc vào tình hình kinh doanh và chấtlượng sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp mà còn chịu ảnh

Trang 6

hưởng của những biến động trên thị trường và các nhân tố khách quankhác.

- Với tài sản vô hình, chỉ có một hình thức hao mòn là hao mòn vôhình Nguyên nhân là sự phát triển của khoa học kĩ thuật dẫn tới nhữngphát minh mới, sản phảm mới ưu việt hơn, sự cạnh tranh trên thươngtrường dẫn tới việc ra đời những thương hiệu mạnh khác, làm giảm gíatrị của tài sản vô hình trong doanh nghiệp

- Tài sản vô hình có tính mới: có thể là một sáng chế, một kĩ thuật,công thức hay một loại sản phẩm mới Đây là nét đặc trưng của nhữngsản phẩm trí tuệ, là kết tinh sự sang tạo của con người Vì vậy, để sở hữumột tài sản vô hình, các doanh nghiệp phải tốn một chi phí rất lớn chocông tác nghiên cứu triển khai

b, Phân loại

- Quyền sử dụng đất: bao gồm toàn bộ chi phí thực tế mà doanh

nghiệp đã chi ra liên quan trực tiếp đến đất sử dụng Bao gồm: tiền chi ra

để có được quyền sử dụng đất hợp pháp, chi phí đền bù cho giải phóngmặt bằng, san lấp mặt bằng, lệ phí trước bạ… hoặc giá trị quyền sử dụngđất nhận góp vốn

- Quyền phát hành: là các chi phí thực tế doanh nghiệp đã chi ra để

có quyền phát hành

- Bản quyền, bằng sáng chế: là các chi phí trực tiếp mà doanh

nghiệp đã chi ra để có được các bản quyền tác giả, bằng sáng chế

- Nhãn hiệu hàng hoá: là các chi phí thực tế liên quan trực tiếp tới

việc mua nhãn hiệu hàng hoá

- Phần mềm máy vi tính: là toàn bộ các chi phí thực tế mà doanh

nghiệp đã chi ra để có được phần mềm máy vi tính

- Giấy phép và giấy nhượng quyền: là các chi phí thực tế mà doanh

nghiệp đã chi ra để có được giấy phép, giấy nhượng quyền thực hiên côngviệc đó: giấy phép khai thác, giấy phép sản xuất sản phẩm mới

- Tài sản cố định vô hình khác: bao gồm những tài sản vô hình

khác chưa được phản ánh vào các tài sản trên như: quyền đặc nhượng,quyền thuê nhà, quyền sử dụng hợp đồng; công thức, cách pha chế, kiểumẫu, thiết kế và mẫu vật; tài sản cố định vô hình đang triển khai

II Đầu tư vào tài sản hữu hình và tài sản vô hình trong doanh nghiệp

Trang 7

1 Hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp

a, Khái niệm

Đầu tư là sự hi sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạtđộng nhằm thu được các kết quả, thực hiện những mục tiêu nhất địnhtrong tương lai

Hoạt động đầu tư trong nền kinh tế có thể chia thành đầu tư tàichính, đầu tư thương mại và đầu tư phát triển Trong đó, đầu tư phát triển

có ý nghĩa quan trọng nhất đối với nền kinh tế Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất( nhà xưởng, thiết bị,…) và tài sản trí tụê( tri thức, kĩ năng…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm vì mục tiêu phát triển.

Đầu tư phát triển trong doanh nghiêp là một bộ phận của đầu tưphát triển, mà mục đích cuối cùng của doanh nghiệp là nhằm tối thiểu hoáchi phí, tối đa hoá lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượngnguồn nhân lực

b, Vai trò

Đối với doanh nghiệp, đầu tư là nhân tố quyết định sự ra đời, tồntại và phát triển của doanh nghiệp Biểu hiện cụ thể của hoạt động đầu tưphát triển gồm việc xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật ban đầu cho sự ra đờicủa doanh nghiệp như xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc…tiếnhành sửa chữa thay thế các tài sản bị hư hỏng, cải tiến thay thế các máymóc lạc hậu

Đầu tư tốt tạo điều kiện để nâng cao chất lượng hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nâng cao trình độ khoahọc kĩ thuật, đổi mới công nghệ, nâng cao nguồn nhân lực từ đó hạ giáthành sản phẩm, gia tăng lợi nhuận, tăng khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp

c, Nội dung

Hoạt động của đầu tư bao gồm nhiều nội dung, tuỳ thuộc vào cáchtiếp cận Theo khái niệm, nội dung của đầu tư phát triển bao gồm: đầu tưvào tài sản vật chất (tài sản thực) và đầu tư vào những tài sản vô hình

Đầu tư vào những tài sản vật chất gồm:

+ Đầu tư vào tài sản cố định( đầu tư xây dựng cơ bản) + Đầu tư vào hàng tồn trữ

Đầu tư vào tài sản vô hình gồm:

+ Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

+ Đầu tư nghiên cứu triển khai các hoạt động khoa học kĩthuật

+ Đầu tư xây dựng thương hiệu, quảng cáo…

2 Đầu tư vào tài sản hữu hình trong doanh nghiệp và tác động của nó đối với hoạt động của doanh nghiệp

 Đầu tư vào tài sản cố định

Trang 8

Đầu tư vào tài sản cố định là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản

cố định của doanh nghiệp Bao gồm hoạt động chính là xây lắp và muasắm máy móc thiết bị Hoạt động này đòi hỏi vốn lớn và chiếm tỉ trọngcao trong tổng số vốn đầu tư của doanh nghiệp Có thể chia thành cáchoạt động như sau:

* Đầu tư vào nhà cửa

Gồm xây dựng nhà xưởng, kho bãi, văn phòng làm việc và nghỉngơi

Đây được coi là một hạng mục công trình lớn trong khi tiến hànhcác dự án đầu tư Việc xây dựng lắp đặt nhà cửa trong một dự án đượcthực hiện sớm nhất, nó được coi là nhân tố đi đầu trong quá trình thựchiện dự án vì chỉ khi thực hiện xong các hạng mục công trình xây dựngthì các hoạt động khác mới có thể thực hiện được và hoạt động sản xuấtmới có thể tiến hành

Nhà cửa là nơi chứa đựng các nhân tố sản xuất, vì vậy trong quátrình lập dự án việc thiết kế, lập tổng dự toán phải được thực hiện cẩnthận, tỉ mỉ về địa hình, vị trí, qui mô cũng như cách sắp xếp bố trí cáchạng mục sao cho hợp lý Việc thi công xây dưng công trình nhà củathường chiếm một nguồn vốn lớn trong tổng số vốn đầu tư Mặt khác,thời gian thi công kéo dài, trong thời gian đó vốn bị ứ đọng không sinhlợi cho doanh nghiệp, do đó quá trình thi công cần được giám sát chặtchẽ, đảm bảo an toàn trong thi công, chất lượng công trình, tránh thấtthoát vốn, đặc biệt là đảm bảo đúng tiến độ thi công

* Đầu tư vào máy móc thiết bị

Có thể nói đầu tư vào máy móc thiết bị là hoạt động có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Máy móc thiết

bị trong doanh nghiệp có thể do doanh nghiệp tự nghiên cứu chế tạo hoặc

do mua sắm từ bên ngoài Với trình độ của Việt Nam hiện nay thì việctrang bị máy móc thiết bị hay cả một công nghệ thường được thực hiệnthông qua hoạt động mua sắm Do vai trò hết sức quan trọng của máymóc thiết bị- là công cụ lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm do đó muasắm máy móc có thể quyết định tới công suất của nhà máy, chất lượngcủa sản phẩm cũng như chủng loại mẫu mã của mặt hàng Số tiền màdoanh nghiệp bỏ ra để có được máy móc cũng chiếm một tỉ trọng lớntrong tổng vốn đầu tư của dự án, vì vậy cần phải lựa chọn kĩ càng trướckhi ra quyết định mua sắm máy móc sao cho không những phù hợp vớikhả năng tài chính kĩ thuật (công nhân có thể vận hành máy hết công suất

và có khả năng sửa chữa khi có sự cố xảy ra) của doanh nghiệp mà cònphải đảm bảo tài sản này hoạt động tốt trong điều kiện khí hậu cũng nhưsản phẩm của nó được thị trường chấp nhận Việc mua sắm máy móckhông chỉ liên quan tới những vấn đề về phần cứng mà còn phải đảm bảophần mềm như đội ngũ công nhân có kinh nghiệm, kĩ năng, cán bộ quản

lý có trình độ, thông tin về công nghệ sử dụng… Vì vậy vấn đề lựa chọn

Trang 9

công nghệ không hề đơn giản, cần phải có nhưng người am hiểu kĩ thuật

tư vấn và ra quyết định

* Đầu tư vào phương tiện vận tải

Bộ phận này thường chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng cơ cấu đầu tưcủa doanh nghiệp, do doanh nghiệp có thể thuê bên ngoài Trong quátrình thi công xây dựng công trình, doanh nghiệp thường thuê loại hìnhtài sản này vì công việc này không diễn ra liên tục, cần tới những phươngtiện chuyên dụng đắt tiền, nếu thực hiện mua sắm sẽ gây lãng phí Đốivới nhu cầu chuyên chở nguyên vật liệu cũng như tiêu thụ hàng hóa vàcác phương tiện chuyên chở phục vụ cán bộ quản lý và người lao độngthì các doanh nghiệp thường mua sắm Tuy nhiên cần phải cân nhắc mứcmua hợp lý loại hình tài sản này dể tránh gây lãng phí

* Đầu tư vào phương tiện truyền dẫn

Gồm đầu tư vào hệ thống điện nước, khí đốt, băng tải, hệ thốngthông tin liên lạc Nhìn chung thì trước khi thực hiện dự án, quá trình lập

dự án đã ngiên cứu kĩ về cơ sở hạ tầng ở địa phương thực hiện Vì vậy chiphí đầu tư vào phương tiện truyền dẫn thường là không lớn Tuy nhiêncần chú ý rằng những yếu tố này đảm bảo cơ sở vật chất cho quá trình sảnxuất được diễn ra liên tục và ổn định,việc lắp đặt các hệ thống này phải đitrước quá trình sản xuất Hệ thống thông tin liên lạc được thông suốt giúpcho doanh nghiệp nắm bắt kịp thời sự thay đổi của thị trường Nhất làtrong thời đại ngày nay, thông tin có ý nghĩa quyết định tới sự sống còncủa doanh nghiệp đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống trên để dự án đạt hiệuquả cao nhất

 Đầu tư vào hàng dự trữ trong doanh nghiệp

Gồm toàn bộ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và sản phẩm đượchoàn thành được tồn trữ trong doanh nghiệp Tùy theo loại hình doanhnghiệp mà tỉ trọng đầu tư vào hàng tồn trữ là rất khác nhau, việc xác địnhqui mô hàng tồn trữ tối ưu là rất cần thiết Đối với doanh nghiệp sản xuất,nguyên vật liệu được ví như cơm gạo của quá trình sản xuất, nó quyếtđịnh giá thành, tính nhịp nhàng của quá trình sản xuất Trong khi đó, tỉtrọng đầu tư vào hàng tồn trữ của doanh nghiệp thương mại là khá lớn

Cơ cấu đầu tư hợp lý vào hàng tồn kho giúp doanh nghiệp tránh đượclãng phí nguồn lực do tăng chi phí bảo quản và ứ đọng vốn khi đầu tư quámức hay tổn thất do quá trình sản xuất bị đình trệ

3 Đầu tư vào tài sản vô hình trong doanh nghiệp và tác động của

nó đối với hoạt động trong doanh nghiệp

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và xu hướng toàncầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ thì càng có nhiều loại tài sản vô hình khácxuất hiện và chiếm tỉ trọng không nhỏ trong tổng giá trị tài sản của doanhnghiệp Có thể chia hoạt động đầu tư vào tài sản vô hình thành các loạisau

Chi phí thành lập doanh nghiệp

Trang 10

Là tài sản doanh nghiệp đầu tư ngay trong giai đoạn đầu, chi phíthành lập doanh nghiệp bao gồm các khoản chi ra để doanh nghiệp cóđược giấy phếp thành lập doanh nghiệp, giấy phép kinh doanh, chi chocác chứng từ, các khoản thuê chuyên gia, tư vấn Các khoản chi phí nàycần được hạch toán đầy đủ là cơ sỏ để tính khấu hao vào giá trị sản phẩm.

Đầu tư nâng cao nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế vàđối với doanh nghiệp Nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố đảm bảothắng lợi trong kinh doanh Vì con người là nhân tố chủ động sáng tạo, cóvai trò quyết định trong mọi quá trình sản xuất, do vậy đầu tư nâng caonguồn nhân lực là rất cần thiết Đầu tư phát triển nguồn nhân lực phảiđảm bảo cả về số lượng và chất lượng Nội dung hoạt động này gồm đầu

tư cho hoạt động tuyển dụng và đào tạo (chính qui, không chính qui, dàihạn, ngắn hạn, bồi dưỡng nghiệp vụ…); đầu tư cho công tác chăm sócsức khỏe, y tế; đầu tư cải thiện môi trường,điều kiện làm việc của ngườilao động, trả lương đúng và đủ cho công nhân… Mục đích của hoạt độngđầu tư là nhằm tạo ra một đội ngũ công nhân lành nghề, có sức khỏe tốt,kinh nghiệm làm việc và có khả năng tiếp thu những công nghệ mới, độingũ cán bộ nghiên cứu khoa học có trình độ cao và những nhà quản lýgiỏi chuyên môn nghiệp vụ Với nguồn nhân lực như trên, doanh nghiệp

có thể phát huy tối đa công suất máy móc thiết bị, tận dụng mọi nguồnlực bên trong tổ chức và thích ứng nhanh với những thay đổi từ bênngoài Đây cũng là yếu tố tạo nên thương hiệu của doanh nghiệp

Đầu tư nghiên cứu triển khai các hoạt động khoa học kĩ thuật

và công nghệ

Công nghệ bao gồm các yếu tố cơ bản: phần cứng (máy móc, thiếtbị ), phần mềm (các văn bản, tài liệu, các bí quyết…), yếu tố con người(các kĩ năng quản lý, kinh nghiệm), yếu tố tổ chức (các thể chế, phươngpháp tổ chức…) Muốn có công nghệ, cần phải đầu tư vào các yếu tố cấuthành

Hoạt động đầu tư vào khoa học công nghệ trong doanh nghiệp gồmđầu tư nghiên cứu chế tạo sản phẩm mới và đầu tư mua sắm công nghệmới từ nước ngoài Hoạt động này đòi hỏi một nguồn vốn lớn và độ rủi rocao, vì vậy với khả năng hiện nay của các doanh nghiệp Việt Nam thì tỉtrọng đầu tư cho hoạt động này là khá nhỏ Tuy nhiên ý nghĩa của việcthực hiện hoạt động này là vô cùng to lớn, là điều kiện để doanh nghiệpđổi mới và động lực cho nền kinh tế phát triển cao hơn Trong sản xuấtkinh doanh, các bí quyết và phát minh về công nghệ luôn là yếu tố quyếtđịnh khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp Kếtquả nghiên cứu giúp tăng năng suất, tiết kiệm chi phí, nâng cao chấtlượng, gia tăng lợi nhuận cho đơn vị Do đó các doanh nghiệp cần đầu tưvào những công nghệ phù hợp với những điều kiện sản xuất của doanhnghiệp, nhanh chóng nắm bắt thông tin về thị trường công nghệ và tiếp

Trang 11

cận với những thông tin về các công nghệ mới nhằm nâng cao hiệu quảsản xuất, cải tiến sản phẩm từ đó nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.

Hoạt động nghiên cứu triển khai thường diễn ra trong phạm vidoanh nghiệp nhưng có tác động mở rộng tới toàn bộ nền kinh tế, làm giatăng năng lực sản xuất của quốc gia Khi nền kinh tế phát triển tới trình

độ cao hơn thì doanh nghiệp lại có nhiều khả năng hơn trong việc nghiêncứu ứng dụng các thành tựu khoa học vào trong sản xuất

Đầu tư xây dựng thương hiệu và quảng cáo( đầu tư cho hoạt động marketting)

Danh sách 10 thương hiệu lớn nhất thế giới trong năm 2006:

Hoạtđộng

marketing là một trong những hoạt động quan trọng của doanh nghiệp,phục vụ cho hoạt động bán hàng Đầu tư cho hoạt động marketing bao

Quốcgia

Giá trịnăm

2006 (tỷUSD)

Giá trịnăm

2005 (tỷUSD)

Trang 12

gồm đầu tư cho họat động quảng cáo, xúc tiến thương mại, xây dựngthương hiệu…

Để xây dựng một thương hiệu mạnh cho công ty thì trước hết cần

phải đầu tư vào nhãn hiệu hàng hóa Nhãn hiệu sản phẩm là tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng, hình vẽ, hoặc sự phối hợp giữa chúng, được dùng để xác nhận hàng hóa hay dịch vụ của doanh nghiệp và để phân biệt hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh…Nhãn hiệu là cho biết xuất xứ của hàng hóa và phân biệt hàng hóa

đó với sản phẩm của doanh nghiệp khác, được xem là một tiêu chí đánhgiá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Khách hàng yên tâm hơn vàchọn mua những sản phẩm mà họ đã có thông tin từ trước Sản phẩm cókhả năng cạnh tranh có nhãn hiệu được nhiều người lựa chọn, có uy tín

và ấn tượng tốt đối với đa số khách hàng

Vì tầm quan trọng của nhãn hiệu trong việc tiêu thụ sản phẩm nêncác doanh nghiệp cũng cần có chiến lược xây dựng nhãn hiệu của mình.Việc tạo lập và duy trì một nhãn hiệu thương mại không đơn giản, kể cảkhi đã có một nhãn hiệu thành công thì chủ doanh nghiệp cũng cần đầu tưliên tục nhằm duy trì nhãn hiệu của mình Nội dung của hoạt động đầu tưnày gồm: đầu tư nghiên cứu thị trường (về nhu cầu của khách hàng, đốithủ cạnh tranh, xu hướng phát triển của sản phẩm…); xây dựng chiếnlược kinh doanh; thử nghiệm nhãn hiệu trên thị trường; hoạt độngmarketing và đánh giá kết quả Ngoài ra doanh nghiệp còn phải chi phí đểgiữ vững vị trí thương hiệu trên thị trường Tuy nhiên khi sở hữu mộtnhãn hiệu tốt thì khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp là cao hơn

và lợi nhuận nhiều hơn Đây cũng là điều kiện cần để xây dựng thươnghiệu cho doanh nghiệp

Thương hiệu là một kí hiệu liên tưởng, tên hay nhãn hiệu hàng hóa độc nhất vô nhị, có thể nhận biết được, được dùng để phân biệt với các sản phẩm hay dịch vụ cạnh tranh Thương hiệu là uy tín , là sự hiểu

biết cũng như lòng trung thành của khách hàng Một thương hiệu mạnh làkết quả của đầu tư hợp lý vào công nghệ sản xuất, kiểu dáng sản phẩm,nhãn hàng, marketing… Quá trình xây dựng thương hiệu đòi hỏi doanhnghiệp phải tốn một chi phí lớn và thực hiện trong thời gian dài Cùng với

xu hương toàn cầu hóa, giá trị của thương hiệu ngày càng được coi trọng,đem lại lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp Vì vậy việc đầu tư cũng nhưquản lý loại tài sản này ngày càng được chú ý tới Khi doanh nghiệp tạocho mình thương hiệu mạnh, giá trị thị trường của công ty cũng tăng lên

Cách phân loại trên nhằm xác định tỉ trọng và vai trò của từng bộphận trong tổng vốn đầu tư của đơn vị Từ đó doanh nghiệp điều chỉnh cơcấu đầu tư sao cho phù hợp với nguồn vốn cũng như đặc điểm riêng củatừng mặt hàng mà doanh nghiệp kinh doanh

III Mối quan hệ giữa đầu tư vào tài sản vô hình và tài sản hữu hình trongdoanh nghiệp

Trang 13

Hoạt động đầu tư vào tài sản hữu hình và tài sản vô hình trongdoanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau Nếudoanh nghiệp xác định đúng vai trò của 2 loại tài sản này, từ đó có cơ cấuđầu tư hợp lý thì 2 bộ phận tài sản trên sẽ hỗ trợ, thúc đẩy nhau nâng caohiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Ngược lại, nếu đầu tư khôngđúng mức, cơ cấu đầu tư bất hợp lý sẽ gây lãng phí các nguồn lực, hiệuquả kinh doanh thấp.

Vấn đề đặt ra là tầm quan trọng của 2 loại tài sản này đối với từngdoanh nghiệp, từng ngành nghề lại khác nhau, và để có một cơ cấu đầu tưhợp lý chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Có nhiều doanh nghiệp màtài sản vô hình đóng vai trò rất lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanhnhư: các doanh nghiệp sản xuất ô tô, đồ cao cấp, dịch vụ tài chính

1 Đầu tư vào tài sản hữu hình tác động tới đầu tư vào tài sản vô hình trong doanh nghiệp

Đầu tư vào tài sản hữu hình là điều kiện tiên quyết và cơ bản làmtăng tiềm lực về sản vô hình Khi doanh nghiệp đã bỏ vốn để đầu tư vàotài sản hữu hình như: nhà xưởng, văn phòng làm việc, phòng thí nghiệm,mua sắm trang bị các loại máy móc thiết bị phương tiện vận tải, phươngtiện truyền dẫn điều này sẽ là cơ sở để tăng khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp và nâng cao uy tín của doanh nghiệp trong nền kinh tế.Việc doanh nghiệp tăng cường đầu tư vào tài sản hữu hình sẽ làm tăngkhả năng tạo nguồn cho doanh nghiệp đổi mới, tránh sự tụt hậu về côngnghệ sản xuất, dần dần đuổi kịp các níc ph¸t triÓn trªn thÕ giíi Đầu tưvào tài sản hữu hình là bước đi đầu tiên, tạo tiền đề để thực hiện đầu tưvào tài sản vô hình Một doanh nghiệp chỉ thực sự hoạt động được khi nó

có một cơ sở vật chất nhất định gồm nhà xưởng, văn phòng, phòng thínghiệm, kho bãi… các máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, hệ thốngthông tin Sau khi sản xuất sản phấm và tiếp đó là khâu tiêu thụ sản phẩmthì doanh nghiệp mới có động lực và cơ sở vật chất để đầu tư vào các tàisản hữu hình khác Vì quá trình hoạt động của doanh nghiệp đặt ra yêucầu khách quan phải có hoạt động xây dựng thương hiệu, marketing,cáchoạt động nghiên cứu triển khai công nghệ mới, nghiên cứu sáng tạo kiểudáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa và đào tạo nguồn nhân lực Tài sảnhữu hình là cơ sở để tiến hành các hoạt động trên, đồng thời tạo ra yêucầu để doanh nghiệp đầu tư vào tài sản vô hình

Đầu tư vào tài sản hữu hình có hiệu quả sẽ ổn định được sản lượng,chất lượng sản phẩm và các dịch vụ khách hàng, nâng cao uy tín củadoanh nghiệp, giúp doanh nghiệp cạnh tranh tốt trên thị trường Tuynhiên việc đầu tư vào tài sản hữu hình khi cơ cấu đầu tư được thực hiệnhợp lý, đúng chỗ, phù hợp cả về qui mô và chất lượng Việc đầu tư trànlan, không có kế hoạch vào tài sản vô hình chỉ làm gia tăng khó khăn vềvốn cho doanh nghiệp, làm giảm nguồn vốn đầu tư vào tài sản vô hình vàcác tài sản khác đem lại lợi ích cao hơn

Trang 14

2 Đầu tư vào tài sản vô hình tác động tới đầu tư vào tài sản hữu hình trong doanh nghiệp

Mối quan hệ giữa đầu tư vào tài sản hữu hình và vô hình trongdoanh nghiệp là mối quan hệ 2 chiều, đầu tư tốt vào tài sản vô hình cũng

có tác động tích cực tới hoạt động đầu tư vào tài sản hữu hình

Khi khởi sự kinh doanh, hoạt động đầu tư vào tài sản vô hình gồmmua các loại giấy phép kinh doanh, quyền sử dụng đất, chi phí để cóđược các loại giấy phép khác… hoạt động này được thực hiện cùng vớiquá trình đầu tư vào tài sản vô hình, là điều kiện cần để doanh nghiệphoạt động

Khi hoạt động đầu tư vào các tài sản vô hình khác đạt kết quả,doanh nghiệp khẳng định được vị trí của mình trên thị trường và sảnphẩm tiêu thụ tốt thì doanh nghiệp lại có điều kiện mở rộng qui mô sảnxuất, xây lắp thêm nhà xưởng, mua sắm đổi mới máy móc thiết bị

Một sự đầu tư hợp lý vào tài sản vô hình làm tăng giá trị thươnghiệu, trực tiếp gia tăng doanh thu nhờ nhượng bán bản quyền thương hiệu

và tăng doanh sổ cũng như giá bán Một sự đầu tư không hợp lý vào tàisản vô hình sẽ dẫn tới lãng phí các nguồn lực, ảnh hưởng tiêu cực đếnhoạt động đầu tư vào tài sản hữu hình

3. Tác động của hoạt động đầu tư vào tài sản hữu hình và vô hình tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Nếu hoạt động đầu tư vào tài sản hữu hình và đầu tư vào tài sản vôhình được phối hợp một cách nhịp nhàng đồng bộ thì điều đó sẽ mang lạihiệu quả kinh tế cao cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp

Chẳng hạn, khi doanh nghiệp muốn định vị một sản phẩm cao cấptrên thị trường, thì phải tập trung vào mua sắm máy móc thiết bị phù hợpđồng thời phải tìm hiểu bí quyết công nghệ, đào tạo cán bộ khoa họcnghiên cứu trong lĩnh vực này, phải xác định được khách hàng mục tiêutrên thị trường, tức là phải đầu tư vào nguồn nhân lực để tìm hiểu, nghiêncứu thị trường Đồng thời doanh nghiệp cần có các chiến lược Marketingnhư: đóng gói bao bì, quảng cáo, khuyến mại, và xúc tiến bán cho phùhợp với nhãn hiệu đang được định vị, tức là chúng ta phải đầu tư đồng bộvào cả tài sản cố định hữu hình và tài sản vô hình một cách hợp lý Nếukhông thực hiện được đồng bộ những công việc nói trên, thì sản phẩm củadoanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc chiếm lĩnh thị trường.Chẳng hạn, nhãn hiệu bia Laser được định vị là một sản phẩm cao cấp,được khách hàng chấp nhận là một sản phẩm có chất lượng cao vì công ty

đã đầu tư rất nhiều vào hoạt động quảng cáo, công nghệ, kĩ thuật sảnxuất… nhưng do sự đầu tư hợp lý đồng bộ vào kênh phân phối nên nhãnhiệu này đã thất bại trong quá trình xâm nhập thị trường

Trang 15

Mặt khác, nếu doanh nghiệp chỉ quan tâm đến các vấn đề đầu tưvào tài sản vô hình như: nhãn hiệu hàng hoá, thương hiệu… mà khôngchú ý một cách đúng mức đến tài sản hữu hình thì cũng khó có thể thànhcông trong việc sản xuất kinh doanh Một doanh nghiệp không thể thuđược lợi nhuận cao nếu không có hệ thống máy móc, trang thiết bị hiệnđại với quy mô sản xuất và chi phí hợp lý Chẳng hạn như hãng caféTrung Nguyên, một thương hiệu nổi tiếng trên thị trường trong nước vàquốc tế nhưng trong những năm gần đây, do Trung Nguyên quá chú trọngvào việc mở rộng thương hiệu thông qua hình thức nhượng quyền thươnghiệu mà không chú ý đến việc đầu tư vào chất lượng sản phẩm Việc mởrộng thương hiệu một cách tràn lan không đi kèm với việc đầu tư vào tàisản hữu hình, nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất đã đặt ra nhiều khókhăn đối với Trung Nguyên trong thời gian sắp tới

Sự đầu tư đồng bộ giữa tài sản vô hình và tài sản hữu hình là điềutối quan trọng trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nó quyết định sứcsản xuất, tiêu thụ và trưởng thành của doanh nghiệp Tuỳ vào từng điềukiện cụ thể, tuỳ vào cách thức định vị sản phẩm trên thị trường mà doanhnghiệp xác định chiến lược đầu tư phù hợp giữa tài sản hữu hình và tàisản vô hình

Nói tóm lại, đầu tư vào tài sản hữu hình và vô hình có mối quan hệqua lại với nhau Cơ cấu đầu tư hợp lý, hoạt động đầu tư được tiến hànhđồng bộ nhịp nhàng thì sẽ đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp

Tuy nhiên, tùy từng doanh nghiệp với những mặt hàng cụ thể mà

có cơ cấu hợp lý Cơ cấu này phụ thuộc vào tính chất sản phẩm và đốitượng khách hàng mà doanh nghiệp muốn hướng tới

Đối với các mặt hàng cao cấp, thì song song với việc đầu tư vào tàisản hữu hình nhằm tạo được sản phẩm có chất lượng cao, doanh nghiệpcần đặc biệt chú trọng đầu tư vào tài sản vô hình Có thể nói đây là chìakhóa giúp doanh nghiệp tồn tại và khẳng định mình trên thương trường.Ngược lại, với những doanh nghiệp sản xuất mặt hàng thông thường (nhưhàng tiêu dùng), giá trị thương hiệu là rất nhỏ trong tổng tài sản thì việcđầu tư quá nhiều vào tài sản vô hình sẽ gây lãng phí rất lớn Hướng điđúng của những doanh nghiệp loại này là tập trung đầu tư vào tài sản hữuhình, mở rộng quy mô nhằm tận dụng lợi thế cạnh tranh tự nhiên

Việc lựa chọn cơ cấu đầu tư còn phải chú ý tới thị yếu và văn hóamua hàng của từng nhóm khách hàng và từng địa phương cụ thể Nhữngkhách hàng có thu nhập thấp thường quan tâm tới giá cả và chất lượngsản phẩm, trong khi những khách hàng có thu nhập cao hơn quan tâmnhiều hơn tới thương hiệu của sản phẩm mà họ sử dụng

Trang 16

PhÇn II: thùc tr¹ng ®Çu t vµo tµi s¶n h÷u h×nh vµ tµis¶n v« h×nh trong doanh nghiÖp viÖt nam hiÖn nay

I. Thực trạng đầu tư vào tài sản hữu hình của doanh nghiệp

có hay không có sẵn các cơ sở hạ tầng này

Năng lượng có nhiều loại có thể sử dụng như điện, các nguồn từ dầuhoả, các nguồn từ thực vật… phải xem xét nhu cầu sử dụng, nguồn cungcấp, đặc tính chất lượng, tính kinh tế khi sử dụng, chính sách nhà nướcđối với các loại năng lượng phải nhập, vấn đề ô nhiễm môi trường… củamỗi loại được sử dụng để ước tính chi phí Năng lượng được sử dụng chocác nhà máy cần phải thoả mãn các yêu cầu đó là: nguồn năng lượng ổnđịnh, thoả mãn yêu cầu của sản xuất, có nguồn dồi dào trong nước, ít gây

ô nhiễm môi trường và có tính kinh tế cao

Nước là dạng năng lượng đặc biệt và rất cần cho một số ngành sảnxuất dịch vụ Đối với các nhà máy sản xuất việc xây dựng gần các khu

Trang 17

nguyên liệu thuận tiện cho việc thu mua nguyên liệu đầu vào, giảm thiểuchi phí vận chuyển Một số các công trình như công trình thủy điện, cácnhà máy khoan dầu hay việc khai thác than thì chọn việc xây dựng nhàxưởng ở gần khu nhiên liệu là yếu tố “sống còn”.

Công ty Sông Đà đã thành công trong việc xây dựng các công trìnhnhà máy thuỷ điện gần nguồn nhiên liệu, tận dụng tốt nguồn nước Nhàmáy thuỷ diện Hoà Bình với công suất 1.920 MW, công trình nhà máythuỷ điện Thác Bà với công suất 110 MW Trải qua hơn 40 năm xâydựng, tổng công ty sông Đà đã trở thành một trong những công ty xâydựng hàng đầu Việt Nam

Chính phủ vẫn đang tập trung cho việc phát triển cơ sở hạ tầng, vàkhẳng định đó là một vấn đề nóng bỏng hiện nay Trong điều kiện đường

xá chưa phát triển thì vấn đề vấn chuyển hàng hóa đi tiêu thụ thực sự gặpnhiều khó khăn Nhiều đại biểu trong một diễn đàn đã phát biểu “ điệnnăng không đủ đáp ứng nhu cầu trong công nghiệp, chất lượng đường xákhông đồng đều tại các nơi khác nhau của Việt Nam hay tình trạng ngậplụt trên nhiều tuyến đường ảnh hưởng lớn tới việc vận chuyển hànghóa ” Vì thế đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ doanh nghiệp cũng là mốiquan tâm đặc biệt của chính phủ Trưởng đại diện tập đoàn Nike tại ViệtNam cho biết Nike đã có sự tăng trưởng rất tốt tại Việt Nam kể từ năm1995,các sản phẩm chế tạo của Nike cũng tăng từ 30%, các sản phẩm chếbiến cũng tăng trưởng mạnh Tuy nhiên, ông John Isbell, giám đốc phụtrách hậu cần của Nike cho rằng mặc dù có kết quả tốt nhưng Nike cũngđang gặp một số khó khăn, đặc biệt về cơ sở hạ tầng kĩ thuật Chính phủViệt Nam cũng đã có những chính sách về xây dựng cơ sở hạ tầng nhưcầu, đường, cảng biển nhưng tiến độ quá chậm, trong khi các yếu tố hạtầng này là rất cần thiết để đáp ứng cho nhu cầu vận chuyển hàng hóa.Hiện tại, sự tắc nghẽn tại các con đường ở TP HCM, đặc biệt vào các giờcao điểm là một bức xúc Ngay cầu Đồng Nai, một cây cầu nằm trongvùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cũng đang gây ra những lo lắng vìkhông đáp ứng được nhu cầu vận chuyển, lưu thông hàng hóa Sự tắcnghẽn về các yếu tố hạ tầng trên đang gây nhiều cản trở cho các hãng vậntải quốc tế và phần nào đó ngăn cản sự phát triển của các doanh nghiệptại Việt Nam

Nếu xây dựng nhà máy ở xa thị trường tiêu thụ thì chi phí vận chuyểnhàng hóa là khá tốn kém Việc xây dựng nhà máy phải phải phù hợp vớiđiều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở nơi đó, cần quan tâm đến vấn đề bảo

vệ môi trường và cảnh quan thiên nhiên khu vực đó Không thể xây mộtnhà máy hóa chất ở gần nơi dân cư cũng như không thể xây nhà máy biếnchế biến quặng vì nó sẽ gây ô nhiễm tiếng ồn ảnh hưởng đến đời sốngnhân dân quanh vùng Một số dự án đã bị đình trệ đắp chiếu vì không giảiquyết đựơc vấn đề và đã bị người dân khiếu nại

Trang 18

Một vị trí tốt gần nguồn nguyên liệu, có giao thông thuận tiện choviệc trao đổi mua bán, và không gây ô nhiễm cho môi trương xung quanhluôn là vấn đề được đặt ra khi thành lập một doanh nghiệp.

1 2 Đầu tư công nghệ, máy móc, thiết bị

Hiện nay các doanh nghiệp đã chú trọng đến việc đầu tư cho máy móc

và công nghệ hơn để tạo ra được các sản phẩm có sức cạnh tranh trên thịtrường

Đối với các doanh nghiệp ở tỉnh Đồng Nai trong 5 năm qua tổng vốnđầu tư chiều sâu của các DNNN ước thực hiện 3992 tỉ đồng, vượt 9% sovới mục tiêu đề ra, trong đó đầu tư cho máy móc thiết bị 2721 tỉ đồng(chiếm 68%) và phần xây lắp 1271 tỉ đồng, gồm máy móc thiết bị 1598 tỉđồng và xây lắp 911 tỉ đồng

Nhìn chung nếu so sánh các DNNN trung ương thì DNNN địaphương có trình độ máy móc, thiết bị chỉ dừng lại ở mức trung bình vàlạc hậu, do vây việc mạnh dạn đẩy nhanh tiến độ đầu tư, đổi mới côngnghệ, làm ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao là vấn đề mang tính

“sống còn” Nhiều doanh nghiệp địa phương đã đề ra chiến lược đầu tưđổi mới công nghệ cho chiến lược phát triển 5 năm, do vậy khi chuyểnsang công ty cổ phần vẫn tiếp tục triển khai thực hiện Điển hình như:công ty cổ phần bao bì Biên Hòa trong 5 năm đầu tư hơn 74 tỉ đồng đểđưa công suất từ 15 tấn sp/năm tăng lên 40 tấn/năm, trong đó xây dựngmột phân xưởng sản xuất với thiết bị máy móc được đầu tư mới Công tyDonafoods đầu tư gần 80 tỉ đồng mở rộng qui mô chế biến sản phẩm xuấtkhẩu từ 2000 tấn lên đến 5000 tấn/ năm Công ty thuốc lá Đồng Nai cũng

đã đầu tư khoảng 175 tỉ đồng để nâng cao năng lực sản xuất và chấtlượng, năm 2005 doanh thu 1000 tỉ, tăng gấp 3 so với năm 2000 Và một

số công ty khác như như công ty cổ phần thực phẩm chế biến Lodoco,công ty Tín Nghĩa cũng đã thực hiện đầu tư đổi mới công nghệ, tuy sốvốn không lớn nhưng đem lại hiệu quả cao

Bên cạnh đó do thiếu vốn nên nhiều doanh nghiệp vẫn còn hạn chếtrong việc thực hiện dự án đầu tư mới và cũng có các doanh nghiệp thựchiện vốn đầu tư lớn nhưng hiệu quả thấp như: Nhà máy gạch graniteLong Thành có vốn đầu tư trên 10 tỉ song việc tiêu thụ sản phẩm gặp khókhăn Công ty gạch ngói Đồng Nai đầu tư 1136 tỉ đồng nhưng đầu ra vàsản phẩm cạnh tranh còn hạn chế

Một trong những chương trình đầu tư lớn mà không mang lại hiệu quảnhất phải kể đến là chương trình sản xuất 1 triệu tấn đường Theo kết quảkiểm tra của các cơ quan chức năng, tính đến năm 2002, cả nước xâydựng 44 nhà máy đường, tổng vốn đẩu tư, mở rộng, xây dựng mới cácnhà máy lên tới 10050 tỉ đồng, trong đó 6677 tỉ đồng thiết bị và hơn 3372

tỉ đồng xây lắp Tính đến nay tình hình các nhà máy đường trên toàn quốc

là hết sức bi thảm Nguyên nhân một phần cũng do các doanh nghiệp đó

Trang 19

nhập sai công nghệ Việc nhập thiết bị của Trung Quốc với giá rẻ nhưngcông nghệ thì đã lạc hậu, lỗi thời Nhiều nhà máy đã nhập thiết bị củaÚc,giá đắt gấp đôi nhưng sau nhiều năm vẫn không thể hoạt động hếtcông suất như thiết kế.

Công nghệ phù hợp mang tính sống còn cho một doanh nghiệp vì thếcần nghiên cứu kĩ trước khi ra quyết định đầu tư Một công nghệ phù hợpkhông chỉ sản xuất ra nhiều sản phẩm với chất lượng cao mà việc hoạtđộng của nó không gây ra ô nhiễm cho môi trường Việc đầu tư vào côngnghệ với các ngành chiến lược để phat triển đất nước luôn được đặt lênhàng đầu

1.3 Đầu tư vào phương tiện vận chuyển hàng hóa, đầu tư của hàng và các đại lí bán lẻ.

Đối với các doanh nghiệp vận chuyển thì khi nhà máy đi vào hoạtđộng đồng nghĩa với việc đưa các phường tiện vào hoạt động Còn đốivới các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, việc không có phương tiện vậnchuyển đồng nghĩa với việc không thể mang hàng hóa đến tay người tiêudùng đúng lúc Việc đầu tư vốn vào phương tiện vận chuyển là rất cầnthiết, nó sẽ giúp ích rất nhiều trong việc cạnh tranh, và xây dựng được uyphương tiện vận chuyển rất hữu dụng đối với những doanh nghiệp chưa

có đủ vốn để đầu tư riêng phương tiện cho mình

Rất nhiều doanh nghiệp đã thành công trong lĩnh vực vận chuyển vàkho bãi Như công ty vận tải Hải Khánh ngay từ những ngày đầu hoạtđộng công ty đã cố gắng đầu tư một đội xe mạnh, với nhiều chủng loạikhác nhau nhằm đáp ứng được nhiều những yêu cầu khác nhau của từngchủ hàng Với tinh thần đó, hiện nay công ty có một đội xe khá hoànchỉnh, bao gồm xe tải nhẹ đến xe chở container, xe mooc, xe kéo chuyêndụng để phục vụ khách hàng Công ty hoạt động trên nhiều lĩnh vực, vậntải đa phương thức và tiếp vận, vận chuyển và kho bãi với việc khôngngừng đổi mới, mua sắm thêm nhiều chủng loại xe,công ty còn mở rộngthêm nhiều vùng vận chuyển, luôn đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng

1.4 Đánh giá hiệu quả và nguyên nhân

Ngày càng có nhiều thêm các doanh nghiệp và việc thành công của

họ chứng tỏ họ đã biết đầu tư đúng hướng, tạo lập được một nền tảngvững chắc và tạo đựợc sự tin cậy từ phía người tiêu dùng.NÕu xÐt theolo¹i h×nh doanh nghiÖp chóng ta cã thÓ thÊy r»ng:

-Vốn đầu tư XDCB của khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm 37,7%

- 38% vốn đầu tư XDCB của toàn xã hội.Với vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước phần vốn của khối doanh nghiệp và tổ chức khác chiếm khoảng 41,8% - 44,1%.Trong khối doanh nghiệp và tổ chức khác ngoài nhà nước ,vốn đầu tư của doanh nghiệp tập thể chiếm 3,2%, doanh

Trang 20

nghiệp tư nhân 19,6%, công ty TNHH chiếm 38,8% , công ty cổ phần 34,6%

( Kết quả điều tra vốn đầu tư năm 2005,NXB Thống kê HN -2007)

Khối lượng và giá trị hệ thống tài sản cố định liên tục được đầu tư tăng cao trong những năm qua,trong đó có tỷ trọng lớn là do các doanh nghiệp tư nhân đóng góp:

1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 GDP

(tỷ đồng)

Tổng tích lũy

tài sản 62.131 130.771 150.033 177.983 217.434 253.686 298.543 347.900 Tài sản cố

(nguồn:Kinh tế 2007 – 2008 Việt Nam và Thế giới)

-Vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước chiếm 47,1% - 48,1% tổngvốn đầu tư xây dựng cơ bản của toàn xã hội.Trong vốn đầu tư XDCB củakhu vực kinh tế nhà nước,vốn của doanh nghiệp nhà nước chiếm 41,9% -46,4% tổng nguồn vốn

Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp đang hoạt động tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp:

Trang 21

Về trình độ công nghệ, nếu xét dưới góc độ trang bị tài sản cố định thì số doanh nghiệp có tài sản cố định dưới 5 tỷ đồng chiếm 86% Tài sản cố định của doanh nghiệp như trên là thấp nhưng nếu nếu xét trên tiêu chí tàisản cố định trên mỗi lao động lại càng thấp hơn, bình quân 1 lao động chỉđạt 153 triệu đồng

Trong đó, doanh nghiệp nhà nước khả dĩ nhất là 239 triệu đồng/lao động, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 221 triệu đồng/lao động, doanh nghiệp ngoài quốc doanh đứng thấp nhất 66 triệu đồng/lao động

+ Những hạn chế tồn tại:

Tài sản cố định của doanh nghiệp thường không chứng minh được nguồngốc chủ sở hữu Có những tài sản được mua từ trước khi hình thànhdoanh nghiệp, mang tên chủ sở hữu cá nhân của chủ doanh nghiệp, sau

đó được đưa vào sử dụng cho doanh nghiệp và ghi vào sổ sách kế toán làtài sản của doanh nghiệp Những tài sản này về mặt pháp lý sẽ khôngthuộc sở hữu của doanh nghiệp và càng có giá trị lớn nếu như tài sản đó

là đất đai, nhà cửa hay quyền sử dụng đất

Việc đánh giá lại tài sản cố định cũng được thực hiện một cách khôngchính thức, cơ sở đánh giá lại không tin cậy và không được các chuẩnmực kế toán của Việt Nam công nhận Ngoài ra, có nhiều trường hợp tàisản cố định được dùng làm tài sản thế chấp cho ngân hàng mà khôngđược khai báo với nhà đầu tư

Công ty TNHH Acecook Việt Nam được thành lập ngày15/12/1993 có vốn đầu tư 4 triệu USD, sau hơn 10 năm thành lập đến naycông ty Acecook Việt Nam đã phát triển và xây dựng được 5 nhà máy sảnxuất mì ăn liền trên toàn quốc

Tổng quan về chuỗi sản phẩm: sản phẩm đầu tiên của công ty là Mì

và phở cao cấp gồm phở bò phở gà và mì gà được tung ra thị trường phíaNam đã để dấu ấn tin tưởng mang tính đột phá trong lĩnh vực ẩm thực.Lần đầu tiên phở truyền thống được sản xuất công nghiệp

Luôn phấn đấu ngày càng thoả mãn nhu cầu của mọi tầng lớp tiêudùng, không ngừng nghiên cứu và phát triển ẩm thực, công ty liên tục cho

ra thị trương những sản phẩm mang tính đột phá cao như: Hoành Thánh,Lẩu Thái, Kim Chi…Các dòng sản phẩm trên được người tiêu dùng vàcác nhà chuyên môn đánh giá cao

Tiếp sau đó sản phẩm Hảo Hảo ra đời vào năm 2000, đây là mộtdấu mốc quan trọng trong chuỗi phát triển của công ty, sau đó là hànglọat các sản phẩm như mì Đệ Nhất, miến Phú Hương…Tính đến đầu năm

2004, Acecook Việt Nam đã nghiên cứu đưa ra thị trường hơn 50 chủngloại sản phẩm với đầy đủ hương vị, cấp giá và dành cho mọi đối tượngngười tiêu dùng Acecook Việt Nam được đánh giá là nhà tiên phongtrong lĩnh vực sản phẩm mới

Trang 22

Công ty TNHH Acecook Việt Nam thực hiện chính sách quản línhất quán, triệt để nhằm ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo vệmôi truờng và an toàn thực phẩm Để đạt được chính sách trên công ty đãcam kết:

• Đầu tư thiết bị công nghệ thích hợp và hạng mục công trình cầnthiết để nâmg cao chất lượng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường

• Thực hiện đầy đủ các yêu cầu pháp lý liên quan đến chất lượng,môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm

• Đảm bảo an toàn thực phẩm thông qua việc kiểm soát chặt chẽtoàn bộ qui trình sản xuất cung ứng

• Quan tâm và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng về chất lượng

Phương châm của công ty là “Học hỏi, cải tiến và phát triển liên tục”

để trở thành nhà sản xuất thực phẩm hàng đầu tại Việt Nam và trên thếgiới

Bên cạnh những doanh nghiệp sử dụng hiệu quả vốn đầu tư vàoTSHH làm tăng doanh thu,tăng lợi nhuận, thì còn có nhiều doanh nghiệp

đã phải đóng cửa hay vẫn đang duy trì nhưng trong tình trạng thua lỗ khótrả hết nợ Việc đánh giá sai qui mô,vị trí cũng như chất luợng sản phẩm

là một yếu tố chủ quan quyết định sự thành bại của doanh nghiệp

2 Thực trạng đầu tư bổ sung hàng tồn trữ

Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam thường xuyên phải đối mặtvới bài toán nan giải: giải quyết lượng hàng hóa, tài sản tồn kho, chậmluân chuyển Hàng tồn kho có thể là hàng dự trữ, hàng thừa từ việc xuấtkhẩu, hàng bán trái mùa, hàng bán bị trả lại… Mặc dù, doanh nghiệp đã

cố gắng làm tốt ở khâu cung ứng, Marketting nhưng do vốn tồn đọng, chiphí, mất mát nên trở thành mối quan ngại lớn

Trang 23

Thay đổi tồn kho 2,1 2,1 2,2 2,7 3,0

Các khoản tồn kho thường chiếm tới 50% tài sản của doanh nghiệpcon số này cho thấy việc để một số lượng lớn tồn kho là điều thực sựkhiến cho các doanh nghiệp lo lắng, đặc biệt trong vấn đề xoay vòngnguốn vốn mở rộng đầu tư của doanh nghiệp

Có một lượng tồn trữ các doanh nghiệp còn phải cân nhắc về chiphí trông coi bảo quản lượng tồn kho đó, bên cạch đó là vấn đề khấu haomất mát với những tài sản của công ty đang tồn trữ, ứ đọng, việc áp dụngchế độ kế toán để tính toán khấu hao của lượng tồn kho sẽ xảy ra sai số,khó bảo quản

Các hình thức mà doanh nghiệp hay sử dụng với hàng tồn kho làhình thức bán thanh lý tuy nhiên hiệu quả mang lại sẽ thấp hơn so với kỳvọng Nguyên nhân chính là do thông tin bán hàng hạn hẹp, số lượngngười mua ít ỏi, tính cạnh trang thấp dẫn tới giá trị hàng bán không cao,hiệu quả thu hồi vốn thấp

Các doanh nghiệp Việt Nam còn gặp phải những khủng hoảng vềsản xuất và bán hàng Khi chiến lược doanh nghiệp bị động, việc sản xuấtkhông bắt kịp với nhu cầu bán hàng hoặc ngược lại khi bán hàng khôngtiêu thụ kịp với tiến độ sản xuất dẫn đến thiếu hàng, hết hàng hoặc tồnkho vượt quá mức an toàn Tình trạng này sẽ đẩy doanh nghiệp đếnnhiều tình thế khó khăn, nan giải Bên cạnh đó, việc các doanh nghiệpchủ quan không quan tâm đến thông tin nghiên cứu thị trường khi họđang kinh doanh phát đạt củng là một khủng hoảng âm thầm chờ ngàydoanh nghiệp phải đối mặt

Nhìn chung, trước khi đầu tư vốn vào TSHH có ba vấn đề chính

mà doanh nghiệp cần phải giải quyết Trước hết đó là vấn đề xây dựng cơ

sở hạ tầng như việc xây dựng nhà xưởng, máy móc, khả năng cung cấpđiện nước của khu vực cũng như đường xá giao thông ở khu vực đó, bêncạnh đó cần quan tâm đến đời sống văn hóa, tập quán để có thể khônglàm ảnh hưởng đến đời sống nhân sốnh lân cận Khi đã có mặt bằng tốt,thì cần phải mua sắm máy móc thiết bị cho phù hợp Việc mua mới haynhập khẩu máy móc thiết bị từ nước ngoài cần phải tuân thủ các tiêuchuẩn mà Bộ khoa học và công nghệ đặt ra sao cho phù hợp nhất Đổimới và mua sắm công nghệ ngoài việc tạo ra những sản phẩm tốt thì cũngcần tạo ra những sản phẩm mới mang tính cạnh tranh cao trên thị trường.Nhà nước ta luôn khuyến khích đối với các công nghệ không gây hại chomôi trường, có thể mang lại lợi ích cho xã hội, vì mục tiêu phát triển đấtnước Không nên vì ham rẻ mà nhập những công nghệ, máy móc lạc hậu,cũng như quá hiện đại, phải phù hợp với trình độ kiến thức cũng như nhucầu của từng sản phẩm Các doanh nghiệp muốn phát triển tốt cũng cầnphải có sự hỗ trợ của nhà nước Nhà nước đầu tư, bỏ vốn cải thiện giao

Trang 24

cách nhanh chóng và dễ dàng hơn Nhưng tuy vậy, với việc đánh thuế caocác mặt hàng ô tô nhập khẩu cũng khiến các doanh nghiệp khó khăn hơntrong việc tự đầu tư lấy phương tiện vận tải mà thay vào đó là phải đithuê với giá đắt hơn…

II Thực trạng đầu tư cho tài sản vô hình của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, tài sản vô hình của doanh nghiệp cóhình thái biểu hiện ngày càng đa dạng, nền kinh tế thị trường càng pháttriển thì chủng loại của tài sản vô hình càng phong phú Theo số liệu củaLiên đoàn quốc tế các nhà kế toán (IFAC), năm 1998 khoảng 50-90% giátrị do một công ty tạo ra là nhờ vào việc quản trị các tài sản vô hình Nhưvậy các tài sản hữu hình chỉ tạo được từ 10-50% giá trị Sự chênh lệchnày sẽ tiếp tục tăng lên khi nền kinh tế tri thức ngày càng trở thành mộtthực thể khách quan Năm 1996, toàn bộ giá trị tài sản của tập đoànMicrosoft là 86 tỷ USD nhưng toàn bộ những tài sản hữu hình bao gồmbất động sản,máy móc thiết bị…chỉ chiếm 1 tỷ USD Phần khổng lồ 85 tỷUSD còn lại là giá trị những tài sản vô hình không thấy được Theo sốliệu của Chính phủ Hà Lan, năm 1992, các tài sản vô hình chiếm đến35% tổng vốn đầu tư của Nhà nước cũng như của tư nhân Ở Thụy Điển

tỷ lệ đó là 20% Cũng trong năm 1992, tại Mỹ vốn đầu tư cho các tài sản

vô hình đã vượt vốn đầu tư cho các tài sản hữu hình Một cuộc khảo sátđược tiến hành năm 2003 lấy mẫu từ 284 doanh nghiệp của Nhật Bản đãcho thấy các tài sản trí tuệ chiếm tới 45,2% giá trị của doanh nghiệp Trong khi đó ở Việt Nam hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp chưanhận thức được vai trò của tài sản vô hình.Khi định giá doanh nghiệp,cáccông ty Việt Nam thường chú ý đến phần tài sản hữu hình như đất đai nhàxưởng thiết bị… mà chưa chú ý đến những tài sản vô hình như uy tín têntuổi của công ty, thương hiệu, các quyền sở hữu trí tuệ, địa thế thuậnlợi…Thậm chí các công ty Việt Nam chưa hề để ý tới các vấn đề này vàcho đó là chuyện không cần lưu ý Song trên thực tế, giá trị tài sản vôhình của các doanh nghiệp trong nhiều trường hợp rất lớn, thậm chí lớnhơn cả giá trị tài sản hữu hình của doanh nghiệp Mặt khác môi trườngpháp lí để bảo hộ tài sản vô hình đang còn nhiều bất cập, vì vậy rất nhiềudoanh nghiệp đã mất những tài sản khổng lồ

1 Đầu tư phát triển nguồn lực

*/ Về đầu tư cho hoạt động đào tạo đội ngũ nguồn nhân lực Hiệnnay, hoạt động đào tạo này đang theo hướng cầu của thị trường lao động

Với việc hoàn thiện Luật doanh nghiệp, mỗi năm có hàng chụcngàn cơ sở sản xuất kinh doanh được thành lập với nhiều loại hình sở hữu

và hình thức hoạt động Theo Tổng cục thống kê, đến nay đã có trên240.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động với số lao động làm việc đạtgần 12triệu người Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệpphải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của mình, dẫn tới nhu cầc về

Trang 25

lao động qua đào tạo nghề cũng như của các ngành kinh tế là rất lớn.Nhận thức được vai trò của việc đầu tư cho hoạt động này, để đáp ứngđược nhu cầu nhân lực kỹ thuật cho các doanh nghiệp, công tác dạy nghề

đã từng bước được đổi mới và phát triển Có thể nêu một số kết quả đạtđược:

- Hệ thống dạy nghề đã bắt đầu được đổi mới, chuyển từ hệ thốngdạy nghề hai cấp trình độ đào tạo sang hệ thống dạy nghề với ba cấp trìnhđộ: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề, coi trọng dạy nghềtrình độ cao đáp ứng nhu cầu

- Mạng lưới các cơ sở dạy nghề được phát triển theo quy hoạchrộng khắp trên toàn quốc, đa dạng về loại hình sở hữu và đào tạo Đếnnay trong cả nước có 2052 cơ sở dạy nghề Số lượng dạy nghề tư thụctăng nhanh, đã có một số cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài (Hiện

có 789 cơ sở dạy nghề ngoài công lập)

- Năng lực đào tạo của các cơ sở dạy nghề đã được nâng lên Quy

mô đào tạo nghề tăng nhanh, năm 2007 ước tính tuyển sinh được1.436.500 người, trong đó trung cấp nghề là 151.000 và cao đẳng nghề là29.500 người

- Cơ cấu ngành nghề được đào tạo đã từng bước được điều chỉnhtheo cơ cấu ngành nghề trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của cácdoanh nghiệp Các cơ sở dạy nghề đã mở rộng thêm nhiều ngành nghề

mà doanh nghiệp có nhu cầu

- Chất lượng và hiệu quả dạy nghề có từng bước chuyển tích cực.Hàng năm tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt trên 95%; trong đó loại khá giỏichiếm 29%; khoảng 70% học sinh tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làmngay sau khi tốt nghiệp ở một số nghề và một số cơ sở dạy nghề tại doanhnghiệp, tỷ lệ này đạt trên 90% Qua điều tra của tổng cục dạy nghề tại gần3.000 doanh nghiệp, đa số lao động qua đào tạo nghề đang làm việc trongcác doanh nghiệp đã được sử dụng có hiệu quả Đa số lao động qua đàotạo nghề được các doanh nghiệp sử dụng phù hợp với trình độ đào tạo cua

họ (khoang 85% so với số lao động qua đào tạo nghề đang làm việc tạidoanh nghiệp) Theo đánh giá của người sử dụng lao động, khoảng 30%

số lao động qua đào tạo nghề có kỹ năng nghề đạt loại khá trở lên

Nhìn chung dạy nghề đã từng bước đáp ứng nhu cầu lao động kỹthuật trực tiếp trong sản xuất của doanh nghiệp; lao động Việt Nam đãđảm nhiệm được hầu hết những vị trí quan trọng trong các ngành sảnxuất, kể cả các ngành đòi hỏi kỹ thuật cao, công nghệ phức tạp, góp phầntăng năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá

Việc dạy nghề được phát triển với các mô hình dạy nghề năngđộng, linh hoạt gắn đào tạo với sử dụng lao động theo hướng cầu của thịtrường lao động để đáp ứng nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp Đặc biệt

mô hình dạy nghề tại doanh nghiệp được triển khai trong những năm qua

đã đạt được những kết quả bước đầu Đến nay, cả nước có 143 cơ sở dạynghề thuộc các doanh nghiệp; hầu hết các tổng công ty, các tập đoàn kinh

Ngày đăng: 25/04/2013, 14:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w