1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò, mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và ngoài nước đối với sự tăng trưởng, phát triển kinh tế

50 1,3K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò, mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và ngoài nước đối với sự tăng trưởng, phát triển kinh tế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 400 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đầu tư là sự bỏ ra hoặc hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để thực hiện các hoạt động nhằm đạt được các kết quả, thực hiện được các mục tiêu nhất định trong trong tương lai

Trang 1

Vai trò, mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và ngoài nước

đối với sự tăng trưởng, phát triển kinh tế

Chương I : Những vấn đề lý luận chung về nguồn vốn đầu tư - Vai trò và mối quan hệ của các nguồn vốn trong tăng trưởng và phát triển kinh tế.

I - Khái niệm về nguồn vốn đầu tư.

1 Khái niệm về đầu tư và vốn đầu tư.

Đầu tư là sự bỏ ra hoặc hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để thực hiện cáchoạt động nhằm đạt được các kết quả, thực hiện được các mục tiêu nhất địnhtrong trong tương lai

Vốn đầu tư là lượng tiền để đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế

-xã hội.Vốn đầu tư được đăc trưng bởi những điểm sau đây:luôn luon gắn vớimột chủ nhất định,có giá trị về mặt thời gian,có khả năng sinh lời

2 Khái niệm nguồn vốn đầu tư:

Nguồn vốn đầu tư là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phânphối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của Nhà nước vàcủa xã hội

Về bản chất: nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tíchluỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuẩt xã hộiNguồn vốn đầu tư bao gồm: nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốnđầu tư nước ngoài

II - Phân loại

1 Nguồn vốn trong nước

Nguồn vốn đầu tư trong nước của mỗi quốc gia được hình thành chủ yếutừ: tiết kiệm của chính phủ, tiết kiệm dân cư, tiết kiệm của các doanh nghiệp vàvốn huy động thông qua các tài sản quốc gia

1.1 Nguồn vốn Nhà nước

Nguồn vốn đầu tư Nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách Nhà nước,nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và nguồn vốn đầu tư pháttriển của doanh nghiệp Nhà nước

1.1.1.Nguồn vốn ngân sách Nhà nước

Nguồn vốn ngân sách Nhà nước là nguồn chi của ngân sách Nhà nước chođầu tư Đó là nguồn vốn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hộicủa mỗi quốc gia

Ngân sách Nhà nước được hình thành từ việc thu thuế, phí, lệ phí, từ vayviện trợ ưu đãi của nước ngoài, vay trên thị trường vốn quốc tế và vay trong dândựa trên việc phát hành trái phiếu chính phủ

Trang 2

Hiện nay có sự đa dạng vốn đầu tư Nhà nước, không có sự tách biệt giữa:đầu tư Nhà nước cho sự phát triển chung của xã hội và đầu tư Nhà nước cho sảnxuất kinh doanh Chính vì vậy mà phải xác định cụ thể nguồn vốn ngân sáchkhông thể đầu tư tràn lan được, mà phải hạn chế trong một số lĩnh vực chủ yếunhất định

Để làm tăng ngân sách Nhà nước, tức là tăng tiết kiệm chính phủ thì phảităng thu và tăng tiết kiệm trong chi ngân sách Trong thu ngân sách thì thu từthuế chiếm tỷ trọng lớn

- Nguồn vốn dùng để chi cho công tác lập kế hoạch tổng thể phát triển kinh

tế - xã hội, vùng lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn

- Vốn ngân sách là cơ sở để tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi cho cácthành phần kinh tế khác đầu tư

1.1.2 Vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước

Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức quá độchuyển từ phương thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối vớicác dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp Hình thức tín dụng tức là có vay cótrả, và phải trả với một lãi suất nhất định, thường là lãi suất ưu đãi khi vay vốnhay sau khi đầu tư (đầu tư có hiệu quả mới được ưu đãi) Nguồn vốn này có vịtrí quan trọng trong chính sách đầu tư của chính phủ

Hiện nay ở nước ta chính phủ sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển củaNhà nước nhằm tập trung hỗ trợ đầu tư cho những ngành, lĩnh vực hoặc sảnphẩm quan trọng, then chốt của nền kinh tế một cách có trọng tâm, trọng điểm;giảm sự bao cấp và tách bạch tín dụng ngân sách và tín dụng thương mại tronglĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản

*Vai trò:

- Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng trongviệc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước.Với cơ chế tín dụngnhằm tránh sự thất thoát và lãng phí nguồn vốn, các doanh nghiệp vay vốn sửdụng vốn tiết kiệm và hiệu quả hơn do phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốnvay.Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức quá độ chuyển

từ phương thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án

có khả năng thu hồi vốn trực tiếp

- Vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước thường dùng để phục vụ công tác quản

lý và điều tiết kinh tế vĩ mô, thông qua nguồn tín dụng đầu tư, Nhà nước thựchiện việc khuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực theo

Trang 3

định hướng chiến lược của mình Điều này giúp tăng trưởng kinh tế và thực hiệnmục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

- Phân bổ và sử dụng vốn vay tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát triểnnhững vùng kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói giảmnghèo…

Và trên hết,nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước còn có tácdụng tích cực trong việc chuyển dich cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệphóa-hiện đại hóa

Cho đến năm 2001,nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nướcđầu tư vào ngành công nghiệp trên 60% tổng vốn đầu tư(gần 55% sồ dự án)đãgóp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư vào cơ cấu kinh tế

1.1.3 Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước.

Nguồn vốn này được xác định là thành phần giữ vai trò chủ đạo trong nềnkinh tế, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng vốn Nhà nướckhá lớn

Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước được hình thành do ngânsách Nhà nước cấp, từ lợi nhuận của doanh nghiệp (đầu tư mới), từ quỹ khấuhao của doanh nghiệp đó (đầu tư thay thế), từ vốn vay (vay ngân hàng thươngmại, quỹ tín dụng đầu tư của cán bộ công nhân viên, từ cổ phần )…

*Vai trò:

- Đầu tư của khu vực doanh nghiệp Nhà nước thường được tập trung vàophát triển các lĩnh vực mà khu kinh tế khác không muốn làm, hoặc cơ sở hạ tầngkinh tế - xã hội và các ngành công nghiệp then chốt Việc phát triển những lĩnhvực trên là rất cần thiết để phát triển kinh tế, do đó hiệu quả chung, nhất là hiệuquả về mặt xã hội của nó có thể cao

- Nguồn vốn này là một trong những nguồn vốn quan trọng đóng góp lớncho sự phát triển kinh tế, tạo việc làm

- Đóng góp quan trọng vào sản phẩm quốc nội của cả nước

- Góp phần hình thành gộp về tài sản cố định rất có ý nghĩa đối với nềnkinh tế

1.2 Nguồn vốn từ khu vực tư nhân

Nguồn vốn của khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phầntích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã và lượng kiều hối

1.2.1.Tiết kiệm của dân cư:

Tiết kiệm của dân cư được hình thành từ phần còn lại trong thu nhập củadân cư, sau khi đã đóng góp nghĩa vụ với Nhà nước (nếu có) và đảm bảo tiêudùng cho nhu cầu thiết yếu của bản thân và gia đình họ Phạm vi thu nhập củadân cư bao gồm: thu nhập từ kết quả lao động, từ sản xuất và kinh doanh dịch vụcủa bản thân dân cư và gia đình họ, kể cả xí nghiệp gia đình có quy mô nhỏ

Trang 4

(không phải là công ty); thu nhập do người thân từ nước ngoài gửi về; thu nhập

do thừa kế; thu nhập được hình thành từ những cơ hội may mắn bất ngờ

Tiết kiệm khu vực dân cư là một bộ phận quan trọng của tiết kiệm trongnước, đóng góp vai trò chủ yếu trong việc hình thành vốn đầu tư của các quốcgia, đây là một bộ phận lớn, chiếm tỷ trọng ngày càng tăng

1.2.2.Tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh:

Nguồn vốn bao gồm vốn chủ sở hữu và tiết kiệm (các khoản thu nhập củadoanh nghiệp sau khi trả thuế và trả cổ tức); từ vốn đi vay hoặc tăng vốn cổđông bằng cách phát hành cổ phiếu mới

Phần tích luỹ của các doanh nghiệp này đóng góp đáng kể vào tổng quy môvốn của toàn xã hội

Hoạt động của các doanh nghiệp dân doanh đạt hiệu quả, tạo doanh thu caohơn so với doanh nghiệp Nhà nước, hoạt động kinh doanh đa ngành với nhiềulĩnh vực khác nhau, giải quyết công ăn vịêc làm cho hàng triệu người lao động,đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước

2.Nguồn vốn nước ngoài.

Nguồn vốn nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích luỹ cá nhân, các doanhnghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động được vàoquá trình đầu tư phát triển của nước sở tại

Nó bao gồm: nguồn vốn hỗ trợ chính thức, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài,vốn tín dụng thương mại, vốn đầu tư gián tiếp, nguồn vốn từ thị trường vốn quốctế

2.1.Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

2.1.1 Khái niệm chung.

*

Nguồn vốn ODF (Official Development Finance ): là nguồn tài trợ phát

triển chính thức do các tổ chức quốc tế hoặc chính phủ cung cấp Nguồn này baogồm: viện trợ phát triển chính thức ODA và các hình thức tài trợ phát triển kháctrong đó ODA chiếm tỉ trọng chủ yếu

*

Nguồn vốn ODA (Official Development Assistance ) là nguồn tài chính

do các cơ quan chính thức (chính quyền Nhà nước hay địa phương) của mộtnước hoặc một tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm thúcđẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội của các nước này

* Nội dung viện trợ:

- Viện trợ không hoàn lại: yếu tố không hoàn lại của từng khoản vay được

xác đinh dựa vào các yếu tố lãi suất, thời hạn cho vay, thời gian ân hạn, số lần trả nợ trong năm và tỷ suất chiết khấu Đối với loại viện trợ này chiếm 25% tổngvốn ODA, thường là hỗ trợ kĩ thuật, chủ yếu là chuyển giao công nghệ, kiến thức, kinh nghiệm thông qua các hoạt động của chuyên gia quốc tế Đôi khi việntrợ này lại là viện trợ nhân đạo như lương thực, thuốc men hoặc các loại hàng

Trang 5

hoá khác nên chúng rất khó huy động vào mục đích đầu tư phát triển Nhưng bên cạnh đó các khoản viện trợ này thường kèm theo một số điều kiện về tiếp nhận, về đơn giá

- Viện trợ có hoàn lại: thực chất là cho vay ưu đãi với điều kiện “mềm” có

thể sử dụng cho mục tiêu đầu tư phát triển Tính chất ưu đãi thể hiện ở khía cạnh

đó là: lãi suất thấp; thời hạn cho vay dài, Nhật Bản cho Việt Nam vay trong thờigian là 30 năm, Ngân hàng thế giới là 40 năm; thời gian ân hạn từ khi vay đếnkhi trả vốn gốc đầu tiên khá dài, khoảng từ 5-10 năm trở lên, Nhật Bản ân hạn là

10 năm

- Viện trợ hỗn hợp: bao gồm phần cấp không và phần còn lại thực hiện theo

hình thức vay tín dụng ( có thể ưu đãi hoặc bình thường )

* Các hình thức viện trợ: theo mục đích và cách tiếp cận nhận viện trợ thì

ODA được thực hiện thông qua các hình thức sau

- Hỗ trợ cán cân thanh toán, thường có nghĩa là hỗ trợ tài chính trực tiếp

nhưng đôi khi lại là hỗ trợ hiện vật hoặc hỗ trợ nhập khấu Ngoại tệ hoặc hànghoá chuyển vào trong nước thông qua hình thức hỗ trợ cán cân thanh toán có thểđựơc chuyển thành hỗ trợ ngân sách Điều này xảy ra khi hàng hoá nhập vàonhờ hình thức này được bán ra trên thị trường trong nước, và số thu nhập bằngbản tệ được đưa vào ngân sách của chính phủ

- Tín dụng thương mại với các điều khoàn mềm ( lãi suất thấp, hạn trả

dài ) Trên thực tế là một dạng hỗ trợ có ràng buộc

- Viện trợ chương trình là viện trợ khi đạt được một hiệp định với đối tác

viện trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA cho mục đích tổng quát với thờihạn nhất định, mà không phải xác định nó sẽ phải được sử dụng như thế nào

- Hỗ trợ dự án là hình thức chủ yếu của viện trợ chính thức Hỗ trợ dự án

thường liên quan đến hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kĩ thuật và trên thực tế thường

có cả hai yếu tố này: Hỗ trợ cơ bản thường chủ yếu về xây dựng (đướng xá, cầucống, trường học, bệnh viện ) Thông thường các dự án này có kèm theo một bộphận của viện trợ kĩ thuật, dưới dạng thuê chuyên gia nước ngoài để kiểm tranhững hoạt động nhất định nào đó, hoặc để soạn thảo, xác nhận các báo cáo chocác đối tác nhận viện trợ; hỗ trợ kĩ thuật thường chủ yếu chỉ tập trung vàochuyển giao tri thức hoặc tăng cường lập cơ sở kế hoạch, cố vấn, nghiên cứutình hình cơ bản, nghiên cứu trước khi đầu tư (quy hoạch, lập các luận chứngkinh tế, kĩ thuật ) Chuyển giao tri thức có thể là chuyển giao công nghệ thôngthường, nhưng quan trọng hơn là đào tạo về kĩ thuật phân tích (kinh tế, quản lý,thống kê, thương mại, hành chính Nhà nước, các vấn đề xã hội

2.1.2 Đặc điểm của nguồn vốn ODA.

- ODA là nguồn vốn tài trợ ưu đãi của nước ngoài mà các nhà tài trợ khôngtrực tiếp điều hành dự án nhưng có thể gián tiếp tham gia dưới hình thức nhàthầu hoặc chuyên gia Danh mục các dự án ODA phải có sự thoả thuận với nhàtài trợ

Trang 6

- ODA gồm: viện trợ không hoàn lại và viện trợ có ưu đãi nhưng nếu quản

lý và sử dụng kém hiệu quả thì nó sẽ là gánh nặng nợ trong tương lai

- Các nước nhận viện trợ ODA phải có đủ 1 số điều kiện nhất định thì mớiđược nhận viện trợ Điều này tuỳ thuộc vào quy định của từng nhà tài trợ.Ví dụ:

để nhận tài trợ ưu đãi của IMF nước chủ nhà phải có cổ phần đóng góp vào IMF

và số tiền vay sẽ phụ thuộc vốn cổ phần

- Chủ yếu dành hỗ trợ cho dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng như: giao thôngvận tải, y tế giáo dục

- Các nhà tài trợ là các tổ chức viện trợ là các tổ chức viện trợ đa phương

và các tổ chức viện trợ song phương Các nước cung cấp viện trợ nhiều nhấthiện này là Mỹ, Nhật, Pháp, Anh, Úc, Thuỵ Điển

2.2.Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế

Tín dụng thương mại là nguồn vốn mà các nước nhận vốn vay sau một thờigian sẽ phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho nước cho vay, các nước cho vay nhận lợinhuận thông qua lãi suất tiền vay

Khi sử dụng nguồn vốn tín dụng thương mại, các nước tiếp nhận vốnkhông phải chịu bất cứ sự ràng buộc nào về chính trị xã hội và có toàn quyền sửdụng vốn vay này Tuy nhiên, điều kiện ưu đãi của nguồn vốn này không dễdàng như đối với nguồn vốn ODA, thủ tục vay lại tương đối khắt khe và nghiêmngặt, có những quy định riêng về thời gian trả nợ, cộng với lãi suất cao nên gâycản trở không nhỏ đối với các nước nghèo

Đây là nguồn vốn vay với lãi suất thương mại, được đánh giá là lãi suấttương đối cao, thêm vào nữa là sự thận trọng trong kinh doanh ngân hàng nênnguồn vốn tín dụng thương mại thường được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhucầu xuất nhập khẩu và thường là ngắn hạn Một bộ phận của nguồn vốn này cóthể được dùng cho mục đích đầu tư phát triển Tỷ trọng của nó có thể gia tăngnếu triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế là lâu dài, đặc biệt là tăng trưởng củacác nước đi vay là có triển vọng Tuy nhiên, nếu các nước tiếp nhận không sửdụng hiệu quả nguồn vốn này thì khả năng xảy ra tình trạng mất khả năng chi trảdẫn đến vỡ nợ là rất cao

2.3.Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

* Khái niệm

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức quốc tế mà chủ đầu tư nướcngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào quá trình sản xuất kinh doanh để trực tiếpquản lý hoặc tham gia quản lý vào quá trình sử dụng và thu hồi vốn bỏ ra

Đây là nguồn vốn quan trọng không chỉ đối với các quốc gia phát triển mà

cả với những quốc gia đang phát triển

* Đặc điểm:

-Việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho các nước tiếp nhận

Trang 7

-Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ đầu tư không chỉ chuyển giao vào nước

đó vốn bằng tiền mà còn chuyển giao cả vốn hiện vật như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu (Công nghệ cứng) và vốn vô hình như chuyên gia kĩ thuật - công nghệ, tri thức khoa học, bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị trường ( công nghệ mềm)

- Nâng cao trình độ nguồn nhân lực, giải quyết công ăn việc làm cho ngườilao động vào các nước tiếp nhận

2.4 Thị trường vốn quốc tế.

Trái phiếu quốc tế: là trái phiếu phát hành bằng đồng tiền không phải làđồng tiền Nhà nước, có nhà phát hành để vay vốn các nhà đầu tư nướcngoài.Việc phát hành các trái phiếu chính phủ ra thị trường vốn quốc tế của cácquốc gia nhằm huy động vốn cho đầu tư phát triển hoặc bù đắp thiếu hụt về cáncân thương mại quốc tế Trái phiếu chính phủ cho phép các quốc gia huy độngvốn với khối lượng lớn, kỳ hạn dài Ưu điểm của trái phiếu quốc tế cũng nhưviệc đi vay trong thị trường tài chính trong nước như nhà phát hành có khả năngđộc lập về tài chính, có thể chủ động sử dụng vốn vay mà không bị phụ thuộcbởi những điều kiện đặt ra từ người cho vay Tuy nhiên, việc phát hành tráiphiếu chính phủ ra thị trường vốn quốc tế có những đặc điểm riêng cơ bản như:

- Thị trường trái phiếu chính phủ chịu ảnh hưởng của sự biến động của thịtrường vốn quốc tế, chịu sự ảnh hưởng cuả nền kinh tế thế giới và nhất là sựphát triển kinh tế của các nước có ngoại tệ được sử dụng để định giá trái phiếuhoặc khu vực nơi phát hành trái phiếu

- Trái phiếu chính phủ chịu sự biến động của tỷ giá ngoại tệ Trái phiếuquốc tế có thể mua bằng ngoại tệ, vay nợ và trả nợ bằng ngoại tệ nên khả năngcác quốc gia gặp rủi ro trong trả nợ bằng ngoại tệ là rất cao

- Trái phiếu chính phủ không thể giãn nợ hoặc hoãn nợ, bắt buộc các quốcgia phải bố trí vốn hoàn trả khi đáo hạn

- Việc phát hành trái phiếu chính phủ phải tuân thủ những luật pháp vàthông lệ quốc tế, vậy nên yêu cầu phải có được sự bình đẳng về quyền lợi vànghĩa vụ khi 2 bên ký kết hợp đồng

Đối với trái phiếu của Việt Nam, những đặc điểm trên là những đặc điểmcần được lưu ý trong khi phát hành bởi trái phiếu của chúng ta vẫn còn non trẻ(chỉ chính thức phát hành từ năm 2005) Do vậy, cùng với việc học hỏi kinhnghiệm của các nước đi trước, chúng ta phải cố gắng để nâng cao định mức tínnhiệm quốc gia

Tóm lại, cơ cấu các nguồn vốn đầu tư được thể hiện qua bảng số liệu sau:

Trang 8

Cơ cấu vốn đầu tư ở Việt Nam

tế với nguyên tắc “ Vốn trong nước là quyết định, vốn ngoài nước là quantrọng”

1 Nguồn vốn trong nước là nguồn vốn quyết định

Vốn trong nước là nội lực của mỗi quốc gia vì vậy nó mang tính ổn địnhbền vững, giảm được những ảnh hưởng xấu đối với nền kinh tế do tác động củathị trường tài chính tiền tệ và kinh tế của các nước trên thế giới Với nguồn vốnnày chúng ta hoàn toàn có thể chủ động trong việc huy động và sử dụng màkhông bị phụ thuộc vào bất kì tổ chức, quốc gia nào, và nó cũng sẽ là nhân tốtạo điều kiện cho việc thu hút nguồn vốn nước ngoài có hiệu quả Tính quyếtđịnh của nguồn vốn trong nước thể hiện ở những mặt sau:

1.1 Nguồn vốn trong nước là nhân tố góp phần ổn định đầu tư trong nước, là cơ sở để thu hút đầu tư nước ngoài:

Hiện nay, trong xu thế hội nhập toàn cầu, mỗi 1 quốc gia không chỉ pháttriển đơn lẻ mà còn có sự tác động qua lại đối với các quốc gia khác Chính vìthế, nền kinh tế của mỗi quốc gia sẽ ít nhiều chịu ảnh hưởng của nền kinh tế thế

Trang 9

giới Trong bối cảnh đó, nếu chúng ta phát huy được nội lực nguồn vốn trongnước thì sẽ có được thế chủ động trong việc điều hành nền kinh tế và ổn địnhcác chính sách kinh tế.

Ngoài ra, việc tận dụng nguồn vốn trong nước cũng giúp chúng ta có được

sự phát triển bền vững Để phát triển kinh tế có nhiều con đuờng khác nhau.Nhiều nước đã chọn con đường đi vay và xin viện trợ nước ngoài nhằm pháttriển kinh tế đất nước Thực tế đã cho thấy các nước này có thể đạt được mứctăng trưởng cao nhưng là tăng trưởng nóng, không bền vững và có sự lệ thuộcvào nước cho vay, bởi họ không thấy được cũng như không phát huy được tínhquyết định của nguồn vốn trong nước

Mặt khác, nguồn vốn trong nước chính là cơ sở để thu hút vốn đầu tư nướcngoài Trước tiên, xét về nguồn vốn FDI: Thực tế những năm qua, dòng vốn FDItrên thế giới chủ yếu di chuyển trong nội bộ các nước phát triển, chỉ có khoảng25% - 30% di chuyển đến các nước đang và chậm phát triển Điều đó chứng tỏtài nguyên thiên nhiên dồi dào, lao động rẻ không phải là nhân tố quan trọnghàng đầu trong thu hút FDI Khoảng 90% dòng vốn chảy vào một số ít quốc gia

có môi trường đầu tư hấp dẫn Vì vậy cần quan tâm tới vấn đề sử dụng nguồnvốn trong nước để tạo một môi trường đầu tư hấp dẫn Do đó, tự bản thân chúng

ta phải xây dựng cho mình một nền tảng kinh tế - chính trị - xã hội vững chắc và

ổn định, có cơ sở hạ tầng, giao thông liên lạc tốt, đội ngũ nhân công có tay nghề,cán bộ quản lí có chuyên môn Đó mới là yếu tố quyết định tới việc thu hút vồnnước ngoài để phát triển kinh tế Và đảm nhiệm vai trò này chính là nguồn vốntrong nước

Đối với nguồn vốn ODA, tuy có rất nhiều ưu đãi nhưng về bản chất đâyvẫn là 1 khoản vay nên chúng ta vẫn phải trả nợ Nếu khi đó nguồn vốn trongnước không đủ để chi trả thì sẽ dẫn tới tình trạng nợ cho nền kinh tế và như vậythì mục đích tăng trưởng và phát triển kinh tế đã không đạt được

Do đó nguồn vốn trong nước thực sự đóng vai trò quyết định tới việc thuhút vốn nước ngoài và tới tăng trưởng của nền kinh tế

1.2.Nguồn vốn trong nước chiếm phần lớn trong cơ cấu vốn đầu tư phát triển:

Nguồn vốn trong nước chiếm một tỉ trọng ưu thế ( > 50%) trong tổng vốnđầu tư toàn xã hội .Nếu tỉ trọng này quá thấp so với vốn nước ngoài thì sẽ dẫnđến giảm khả năng thanh toán và có thể không kiểm soát được sự thâm nhập củacác tập đoàn xuyên quốc gia gây lũng đoạn thị trường, thu hẹp thị trường củacác doanh nghiệp trong nước và sản xuất trong nước không phát triển Cácdoanh nghiệp của nước ta hiện nay vẫn chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ,khả năng cạnh tranh còn hạn chế ở nhiều mặt, sự hỗ trợ từ Nhà nước với hệthống chính sách pháp luật là rất cần thiết.Chính vì vậy chúng ta phải giữ cho tỉtrọng nguồn vốn trong nước ở mức có thể kiểm soát được hoạt động của nềnkinh tế.Như vậy chúng ta có thể chủ động ứng pho kịp thời với các biến động

Trang 10

của nền kinh tế, cũng như trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp VN cạnh tranhtrên thị trường, nhất là trong bối cảnh nước ta mới gia nhập tổ chức WTO

1.3.Nguồn vốn trong nước đóng vai trò định hướng cho hoạt động đầu tư:

Nguồn vốn trong nước đóng vai trò then chốt trong việc định hướng cáchoạt động đầu tư.Mỗi nền kinh tế phát triển đều phải trải qua những giai đoạnkhác nhau và không thể áp dụng dập khuôn 1 chính sách cho cả quá trình pháttriển.Với mỗi giai đoạn phát triển sẽ đặt ra những mục tiêu trọng tâm, ưu tiêncho việc phát triển những ngành kinh tế phù hợp.Muốn xây dựng một đất nướcphát triển về mọi mặt thì các ngành, các vùng của chúng ta đều phải có một sựphát triển nhất định với một cơ cấu hợp lí Việc đầu tư vốn trong nước để xâydựng cơ sở hạ tầng, mạng lưới thông tin liên lạc, giao thông…vào ngành, địaphương nào sẽ tạo môi trường đầu tư thuận lợi, từ đó có thể thu hút các nhà đầu

tư nước ngoài Vì vậy việc sử dụng vốn trong nước cho ngành nào, vùng nào cầnphải được cân nhắc kĩ theo sự định hướng đúng đắn của Nhà nước sẽ giúp nềnkinh tế phát triển nhanh chóng

2.Vai trò của nguồn vốn nước ngoài :là nguồn vốn quan trọng :

Các nước đang phát triển luôn có nguồn nhân lực dồi dào, nguồn tàinguyên phong phú.Vậy tại sao họ vẫn mãi chỉ là “đang phát triển”? Thực ra vấn

đề lớn nhất hiện nay của những nước này là thiếu vốn đầu tư nên không thể pháthuy được hết những tiềm lực của bản thân Trong hoàn cảnh như vậy, nguồn vốn

từ bên ngoài sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với bước phát triển ban đầu của cácnước này Đặc biệt trong xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới như hiệnnay các nước đang phát triển bị đặt trong tình huống phải tạo ra tốc độ phát triểnnhanh để đuổi kịp và từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới.Có thêm sự hỗtrợ từ bên ngoài sẽ rất có ích cho các nước nghèo trên con đường phát triển

.2.1 Nguồn vốn nước ngoài hỗ trợ nguồn vốn trong nước trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế

2.1.1 Góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng.

Thực trạng chung của những nuớc đang phát triển như Việt Nam là kết cấu hạtầng còn thiếu, lại quá tải và cũ kĩ: đường, cầu, sân bay, nhà máy điện, tàu biển,cảng, viễn thông, trường học, bệnh viện… đều trong tình trạng yếu kém Vì vậy,

để duy trì cho tăng trưởng và phát triển bền vững, Việt Nam nhất thiết phải đầu

tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản và đồng bộ Trong khi đó ngân sáchnhà nước lại vô cùng eo hẹp Chính vì thế, nguồn vốn nước ngoài đóng vai trò

vô cùng quan trọng Thực tế cho thấy việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng thường đòihỏi vốn đầu tư lớn nhưng việc thu hồi vốn lại chậm, khả năng sinh lời thấp, nênkhông hấp dẫn được đầu tư của tư nhân ODA trở thành giải pháp hiệu quả choviệc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng Không chỉ ở Việt Nam, ngay cả nhữngnước phát triển cũng đã lựa chọn ODA để đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng.Nguồn vốn ODA cho phép phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ vàhiệu quả Với khối lượng vốn lớn, thời hạn vay dài, lãi suất thấp và được cung

Trang 11

cấp từ nhiều nhà tài trợ khác nhau, ODA là nguồn vốn cho phép tiến hành đồngthời nhiều dự án trên địa bàn và ở nhiều ngành khác nhau Điều này sẽ tạo được

sự phát triển mang tính chất đồng bộ của hệ thống kết cấu hạ tầng, nhờ đó, tạođược năng suất tổng hợp phục vụ hiểu quả đối với hoạt động sản xuất kinhdoanhvà sự phát triển chung của toàn xã hội

Hơn nữa, ODA cũng làm tăng khả năng thu hút vốn FDI và tạo điều kiện để

mở rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang phát triển.Như đã biết, để

có thể thu hút được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài bỏ vốn đầu tư vào mộtlĩnh vực nào đó, các quốc gia phải đảm bảo cho họ có được môi trường đầu tưtốt ( cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ thống chính sách, pháp luật ổn định ),đảm bảo đầu tư có lợi với phí tổn đầu tư thấp, hiệu quả đầu tư cao Muốn vậy,đầu tư của Nhà nước phải được tập trung vào việc nâng cấp, cải thiện và xâydựng mới cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng Nguồn vốn để Nhà nước

có thể giải quyết những đầu tư này là phải dựa vào nguồn vốn ODA giúp bổsung cho vốn đầu tư hạn hẹp từ ngân sách Nhà nước Một khi môi trường đầu tưđược cải thiện sẽ tăng sức hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thúc đẩyđầu tư trong nước tăng, dẫn đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế

Mặt khác, việc sử dụng nguồn vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽtạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trìnhsản xuất kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận

Như vậy, hỗ trợ phát triển chính thức, ngoài việc bản thân nó là nguồnvốn bổ sung quan trọng cho các nước dang phát triển, còn có tác dụng tăng khảnăng thu hút vốn từ nguồn đầu tư trực tiếp và tạo điều kiện để mở rộng đầu tưphát triển trong nước cho các nước này

2.1.2 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Cơ cấu kinh tế của một quốc gia là tổng thể mối quan hệ hữu cơ giữa cácyếu tố cấu thành nền kinh tế Một nước có nền kinh tế phát triển phải có một cơcấu kinh tế hợp lí.Muốn chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một đất nước thì cần rấtnhiều các yếu tố nguồn lực.Trong đó yếu tố vốn đóng vai trò quyết định.Nếu chỉdựa vào nguồn vốn trong nước sẽ không thể đáp ứng được, có thêm nguồn vốnnước ngoài sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Nguồn vốn nước ngoài làm thay đổi cơ cấu ngành của nước tiếp nhận đầutư: chuyển đổi từ ngành sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch

vụ và sau cùng là sang ngành sản xuất dịch vụ; thay đổi cơ cấu bên trong mộtngành sản xuất từ năng suất thấp, công nghệ lạc hậu, lao động nhiều sang sảnxuất có năng suất cao, công nghệ hiện đại, sử dụng lao động ít; Thay đổi cơ cấubên trong của một lĩnh vực sản xuất từ lĩnh vực có hàm lượng công nghệ thấpsang ngành sản xuất áp dụng công nghệ tiên tiến, có hàm lượng khoa học côngnghệ cao

2.1.3.Góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:

Nguồn nhân lực có một vị trí hết sức quan trọng tác động đến sự pháttriển của mỗi quốc gia.Hiện nay việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngày

Trang 12

càng được chú trọng Đặc biệt ở những nước đang phát triển như VN, nguồnnhân lực dồi lực dồi dào nhưng chất lượng không cao, vấn đề này càng trở nêncấp thiết.

Nguồn vốn ngoài nước tác động đến vấn đề lao động của nước tiếp nhậnđầu tư liên quan đến cả số lượng và chất lượng lao động Số lượng lao động ởđây được hiểu là số lao động có việc làm Còn đối với chất lượng, là sự thay đổi

cơ bản, nâng cao năng lực, kĩ năng lao động và quản trị doanh nghiệp thông quatrực tiếp đào tạo lao động và gián tiếp nâng cao trình độ lao động.Thông qua các

dự án về huấn luyện đào tạo chuyên môn, các chương trình về cử chuyên gia,các chương trình cử các đoàn khảo sát về phát triển …… giúp cho các nướcnhận viện trợ phát triển nguồn nhân lực

2.1.4.Hỗ trợ tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ:

Ngoài các yếu tố về vốn, nguồn nhân lực thì khoa học công nghệ được coi

là yếu tố then chốt tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Đây là yếu tố quyếtđịnh để các nước có thể đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, cải thiện được cuộcsống

Đối với các nước đang phát triển, công nghệ giúp những nước này theo kịptốc độ tăng trưởng kinh tế ở những nước công nghiệp phát triển dựa trên lợi thếcủa những nước đi sau Nguồn vốn nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng đốivới quá trình phát triển khoa học - công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất vànăng suất lao động tại nước tiếp nhận đầu tư thông qua hiệu ứng tích cực Nó cótác động đến phát triển công nghệ của một quốc gia thông qua: chuyển giaocông nghệ; phổ biến công nghệ và phát minh công nghệ

2.1.5.Góp phần cải thiện cán cân xuất nhập khẩu

Đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy xuất khẩu thông qua xây dựng nănglực xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu Các công ty nước ngoài thamgia vào quá trình sản xuất với mức công nghệ từ đơn giản đến trung bình và cao,xây dựng các nhà máy lắp ráp để xuất khẩu, phổ biến ở các khu chế xuất, xâydựng các ngành công nghiệp xuất khẩu mới, tham gia khai thác tài nguyên đểxuất khẩu rồi phân phối sản phẩm qua hệ thống công ty mẹ công ty con

Thông qua hoạt động xuất khẩu và thay thế nhập khẩu đã mang lại nguồnthu ngoại tệ cho nước tiếp nhận đầu tư từ đó cũng góp phần cải thiện cán cânthanh toán Việc các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào sản xuất những mặthàng mà nước tiếp nhận đầu tư chưa có khả năng sản xuất đã giúp cho các nướcnày không phải nhập khẩu những hàng hoá đó, làm giảm lượng ngoại tệ phảithanh toán

2.2 Nguồn vốn nước ngoài hỗ trợ nguồn vốn trong nước trong việc thực hiện các mục tiêu xã hội

2.2.1.Giải quyết việc làm nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống.

Từ khi mở cửa hội nhập, tiếp nhận luồng vốn đầu tư nước ngoài, số lượngdoanh nghiệp trong nước tăng lên đáng kể Bằng cách tuyển dụng lao động địa

Trang 13

phương vào trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã trực tiếp tạoviệc làm cho người lao động hoặc gián tiếp tạo việc làm thông qua việc hìnhthành các doanh nghiệp vệ tinh cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho các doanhnghiệp này và khi các doanh nghiệp vệ tinh này được hình thành và phát triển sẽtạo việc làm trong phạm vi toàn xã hội Ngoài ra điều kiện lao động và chămsóc về mặt sức khoẻ, y tế đối với người lao động tại các nước tiếp nhận đầu tưtốt hơn so với các doanh nghiệp địa phương.Với nguồn thu nhập ngày càngđược cải thiện thì chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao.

2.2.2 Là công cụ quan trọng hỗ trợ các nước đang và chậm phát triển thực hiện chiến lược xoá đói giảm nghèo.

Công cụ chủ yếu để thực hiện mục tiêu này chính là từ nguồn viện trợODA Đối với các nước nghèo ODA là một cơ hội nâng cao chất lượng cuộcsống của những người nghèo Trong giai đoạn từ nay đến năm 2015 mục tiêucủa viện trợ ODA là giảm một nửa tỷ lệ người cực nghèo (mức thu nhập dưới 1USD/ngày, giảm 2.3 lần tỷ lệ chết ở trẻ sơ sinh và trẻ dưới 5 tuổi, giảm 3/4 tỷ lệchết của sản phụ và mọi trẻ em đều được đến trường

Chương II : Thực trạng huy động, sử dụng và mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam

I Vốn trong nước có ý nghĩa quyết định trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, thực trạng nguồn vốn trong nước:

1.Vai trò quyết định của nguồn vốn trong nước với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế VN:

1.1.Hiện nay trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, nguồn vốn trong nước luôn chiếm tỉ trọng lớn và giữ vai trò chủ đạo.

Theo số liệu thống kê ta có thể nhận thấy Vốn trong nước luôn chiếm tỉtrọng trên 70% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội và có xu hướng tăng lên Sựtăng lên đó là có sự đóng góp đáng kể của nguồn vốn ngoài quốc doanh Sở dĩnguồn vốn này gia tăng trong những năm gần đây là do sự xuất hiện ngày càngnhiều của các doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp này làm ăn có hiệuquả, đồng thời lượng tiền trong dân cư cũng tăng mạnh do người dân đã từ bỏthói quen cất trữ tiền để đem đi đầu tư , cũng phải kể đến lượng kiều hối nhữngnăm qua đã tăng đáng kể

Mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam trong thời kì 2006 - 2010 là: tổng vốnđầu tư phát triển đạt 2.200.000 tỷ đồng (140 tỷ USD), bằng 40% GDP trong đóvốn trong nước chiếm 65% Và khẳng định.:" Nguồn vốn trong nước giữ vai tròquan trọng, mang tính chất quyết định"

1.2.Nguồn vốn trong nước đã được sử dụng hiệu quả trong những năm qua,chúng ta đã xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, phát triển

Trang 14

các cơ sở nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, và các yếu tố xã hội khác.

Nhờ huy động tốt các nguồn lực, khối lượng vốn đầu tư đã tăng nhanh, chophép dành được một lượng vốn lớn để tập trung đầu tư vào một số công trìnhchủ yếu quan trọng trong các ngành, lĩnh vực và địa phương, đầu tư chuyển đổimạnh cơ cấu sản xuất theo hướng hiệu quả và phát huy được lợi thế từng vùng,từng ngành, từng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, chuyểnđổi sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn; đã và đang đầu tư nhiều cơ sởsản xuất công nghiệp, kết cấu hạ tầng kỹ thuật (giao thông vận tải, viễn thông,thuỷ lợi, công nghiệp điện), hạ tầng cơ sở nông thôn, du lịch, bảo vệ môi trường,giảm nhẹ thiên tai

Bên cạnh đó, nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước đã được tập trung đầu tưcho phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ và môi trường, y tế xãhội, các chương trình quốc gia, xoá đói giảm nghèo và ưu tiên đầu tư thực hiệnphát triển kinh tế, xã hội các tỉnh thành còn khó khăn, các vùng thường bị thiêntai bão lũ

Đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế chiếm khoảng 70% tổng đầu tư toàn xã hội

và chiếm khoảng trên 55% trong tổng đầu tư ngân sách

Tổng đầu tư cho Giao thông vận tải và bưu điện trong 5 năm qua tiếp tụcduy trì ở mức 12% vốn đầu tư toàn xã hội Đầu tư bằng nguồn vốn ngân sáchchiếm khoảng 27,5% tổng nguồn vốn ngân sách Đã tập trung đầu tư cho hệthống đường quốc lộ, đường trục quan trọng, hạ tầng giao thông nông thôn, đặcbiệt là ở vùng núi, vùng biên giới hải đảo Đã hoàn thành một số đoạn đườngquan trọng trên các trục đường quốc lộ như Đường mòn Hồ Chí Minh, đồng thờikhởi công và tập trung đầu tư cho một số dự án lớn

Đầu tư vào lĩnh vực xã hội: tỷ lệ đầu tư trong 5 năm đạt 28% tổng mức đầu

tư toàn xã hội và 43.5% vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, trong đó:

Về Giáo dục đào tạo, chúng ta đã tập trung đầu tư tạo bước chuyển biến vềgiáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo công nhân lành nghề,thêm nhiều trường đại học ra đời, những trường đại học đầu ngành không ngừngnâng cao đổi mới, đại học vùng, các trường cao đẳng và dạy nghề cũng đáp ứngđược nhu cầu lớn về học tập

Về Khoa học và công nghệ: tập trung xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật chocác cơ quan khoa học công nghệ, hạ tầng kĩ thuật về công nghệ thông tin và khuvực công nghệ cao Hoà Lạc, khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh, Bệnhviện gen Trung ương.Chúng ta đầu tư thêm nhiều trang thiết bị mới phục vụ chocông tác nghiên cứu và ứng dụng với những ngành khoa học mũi nhọn.Cụ thểnhiều phòng thí nghiệm trọng điểm được xây dựng, hạ tầng kĩ thuật Internet, cáctrung tâm phát triển phần mềm, tin học hoá hoạt đông thông tin quản lí hànhchính Nhà nước cũng được triển khai một cách sâu rộng.Tập trung vào cácngành mũi nhọn như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vậtliệu mới và công nghệ tự động hoá

Trang 15

Như vậy với việc không ngừng hoàn thiện chính sách huy động vốn, hoànthiện cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng đã huy động được khối lượng vốn đầu

tư lớn; hoàn thành và đưa vào sử dụng nhiều công trình quan trọng về cơ sở hạtầng kinh tế, xã hội

Sự ra đời của các Quỹ ĐTPT đã tạo tiền đề cho việc chuyển hoá một phầnhoạt động đầu tư của Nhà nước sang cho toàn xã hội nhằm thực hiện chủ trương

“Nhà nước và nhân dân cùng làm” Nhà nước chỉ tập trung đầu tư vào các dự án,chương trình quan trọng, những dự án không có khả năng thu hồi vốn, hoặcnhững dự án phục vụ lợi ích cộng đồng Đối với các dự án, chương trình gắnliền với kinh tế xã hội theo địa bàn và có khả năng thu hồi vốn trực tiếp thì việcđầu tư sẽ được xã hội hoá thông qua các kênh khác nhau, trong đó có kênh QuỹĐTPT

Vốn trong nước từ quỹ đầu tư phát triển đã hình thành thêm một định chếtrung gian tài chính mới góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốntrong nước

1.3 Nguồn vốn trong nước mang tính định hướng cho các nguồn vốn ngoài nước tham gia đầu tư vào các lĩnh vực, các vùng ngành, địa phương.

Việt Nam bắt đầu chú trọng phát triển các khu công nghiệp và các khu chếxuất xuất khẩu Từ những năm 90, số dự án đầu tư nước ngoài và tổng vốn đầu

tư tăng lên mỗi năm Trong 7 năm từ 2001 - 2007, có khoảng 9500 dự án vớitổng vốn đầu tư 98 tỷ USD so với

155 dự án và 1,55 tỷ USD thời kì 1999 - 2000

Vốn của Quỹ ĐTPT đã phát huy tác dụng là nguồn vốn "mồi" để huyđộng các nguồn vốn khác từ mọi thành phần kinh tế trong xã hội, tạo nên độnglực mới để thu hút các nguồn lực tài chính trên địa bàn cùng tham gia đầu tư.Trong những năm gần đây, ngoài các tỉnh thành phố lớn như thành phố HồChí Minh, Hà Nội, Hải Phòng Nhà nước ta đã chú trọng tập trung vốn vào cácthành phố khác như Đà Nẵng, Bình Định, Bình Dương…khiến các tỉnh này đã

có những bước phát triển đáng kể Bình Dương và Đà Nẵng là hai khu côngnghiệp lớn , đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và thu hút nguồn vốncủa các nhà đầu tư nước ngoài

1.4.Nguồn vốn đầu tư được sử dụng để đa dạng hóa các loại hình đầu tư:

Trước kia nguồn vốn trong nước chỉ được sử dụng chủ yếu để phát triển

các thành phần kinh tế nhà nước do nguồn vốn từ ngân sách nhà nước chiếm tỉ

lệ rất lớn

Ngày nay,với sự góp mặt của nhiều nguồn vốn mới nên các hình thức đầu

tư cũng được đa dạng hóa.ví dụ như chúng ta có thêm các loại công ty liên

Trang 16

doanh liên kết,tập đoàn.đây đều là những hình thức mới nhằm thu hút vốn nướcngoài và tăng hiệu quả nguồn vốn trong nước

Vì nguồn vốn trong nước có vai trò quyết định như vậy nên chúng ta đang

cố gắng thu hút ngày càng nhiều vốn trong nước đặc biệt là từ doanh nghiệp vàdân cư để tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hôi Cụ thể tình hình thu hút vốn từcác nguồn trong nước như sau:

2.Thực trạng huy động và sử dụng vốn ngân sách Nhà nước:

2.1.Ngân sách nhà nước:

Đối với nguồn vốn Nhà nước ta trong những năm gần đây chiếm gần 50%vốn đầu tư toàn xã hội Trên thực tế, đầu tư từ nguồn vốn Nhà nước đã góp phầntạo dựng và phát triển nhanh, mạnh hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách tích cực theohướng CNH-HĐH, tăng đáng kể năng lực sản xuất mới; góp phần xoá đói giảmnghèo và giải quyết vấn đề bức thiết của đất nước Nguồn vốn từ Nhà nước đãthực sự giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt và thu hút các nguồn vốn khác huy động chođầu tư phát triển ngày càng tăng và đa dạng hơn Công tác quản lý Nhà nước vềđầu tư phát triển, về xây dựng đã có một số tiến bộ đáng kể

Thực tế cho thấy, trong những năm qua, quy mô vốn Nhà nước đã giảmdần trong tổng vốn đầu tư của nền kinh tế, nhưng giá trị tuyệt đối lại khôngngừng gia tăng Đến nay, lượng vốn Nhà nước đầu tư vào kinh doanh lên đếngần 340.000 tỷ đồng (báo cáo của Bộ Tài Chính) gấp 2 so với năm 2000 Nguồnvốn đã được tập trung đầu tư vào những lĩnh vực quan trọng thiết yếu, tránhđược sự dàn trải

Hiện nay đã thành lập tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước(SCIC) với vốn điều lệ ban đầu là 5.000 tỷ đồng Trong đó, vốn ngân sách Nhànước cấp 1.000 tỷ đồng, còn lại là vốn tiếp nhận từ các công ty thực hiện chuyểngiao về Tổng công ty Đây là một trong số 19 tổng công ty và tập đoàn kinh tếtrực thuộc Chính phủ, thuộc sở hữu 100% vốn Nhà nước và được tổ chức theo

mô hình tập đoàn tài chính SCIC có mục tiêu chính thúc đẩy cải cách các doanhnghiệp Nhà nước và chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, thúc đẩythị trường vốn và thị trường chứng khoán phát triển ;làm đầu mối hỗ trợ cácdoanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ;nâng cao hiệu quả quản

lý, sử dụng và đầu tư vốn và tài sản Nhà nước, chuyển việc quản lý doanhnghiệp có vốn của Nhà nước từ phương thức hành chính sang phương thức kinhdoanh vốn, chuyển từ cơ chế bao cấp về vốn (cấp vốn không hoàn lại) sang hìnhthức đầu tư tài chính vào doanh nghiệp ; có sự phân định giữa chức năng quản lýNhà nước của các bộ chủ quản, UBND các cấp với chức năng kinh doanh củacác doanh nghiệp ; thúc đẩy việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế về quản trịdoanh nghiệp

2.2 Vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước:

Chính sách tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, qua hơn 6 năm thựchiện, đến nay đã khẳng định tính đúng đắn đường lối đổi mới của Đảng và Nhà

Trang 17

nước trong lĩnh vực đầu tư, phản ánh tính tất yếu của quá trình phát triển kinh tế

- xã hội chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế vận hành theo

cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Trong điều kiện khả năng tích luỹvốn của ngân sách Nhà nước, cùng với chính sách thu hút đầu tư, chính phủ đã

có thêm công cụ khai thác nguồn vốn trong xã hội để hỗ trợ đầu tư phát triểnphục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Những thành tựu đạt được của nguồn vốn này thể hiện ở một số mặt sauđây:

- Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đã góp phần tăng cường cơ sởvật chất kĩ thuật, nâng cao năng lực của nền kinh tế Nguồn vốn tín dụng đầu tưphát triển của Nhà nước tăng trưởng cao và chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng sốvốn đầu tư của toàn xã hội, giai đoạn 2000-2004 đạt: 13%-14%, đến nay khoảng20% Khoảng 32% tổng số vốn cho vay được đầu tư vào vùng có điều kiện kinh

tế - xã hội khó khăn và đặc biệt kho khăn- nơi các dự án đầu tư có hiệu quả kinh

tế và khả năng sinh lời thấp, độ rủi ro cao không hấp dẫn các nhà đầu tư và tổchức tín dụng Như vậy sẽ từng bước xoá bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển

và đời sống của nhân dân giữa các vùng, miền tạo đà cho các vùng kinh tế cùngphát triển

- Hỗ trợ phát triển một số lĩnh vực trọng điểm của nền kinh tế:

Về phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế: hàng nghìn km cầu đường giao thôngđược làm mới và nâng cấp mở rộng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xãhội trên từng địa bàn và trong phạm vi cả nước nhất là vùng miền núi,vùng biêngiới hải đảo

Phát triển các ngành sản phẩm công nghiệp trọng điểm: vốn tín dụng pháttriển của Nhà nước đầu tư cho các nhà máy đóng tàu có khả năng đóng mớihàng chục trọng tải từ 6500 tấn đến 53000 tấn mỗi năm; Ngành đường sắt đượcđầu tư đóng mới , nguồn vốn này cũng có phần tăng thêm năng lực sản xuất ximăng, thép…

Phát triển kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn: trên 800 dự ántrong lĩnh vực nông nghiệp-nông thôn được vốn tín dụng phát triển đầu tư,vì vậynăng lực chế biến sản phẩm nông lâm thuỷ hải sản được tăng thêm, trồng mới

240 nghìn rừng nguyên liệu…Nhiều chương trình dự án vẫn đang được vốn tíndụng phát triển của Nhà nước tiếp tục đầu tư

- Tạo sự chuyển biến về lượng và chất trong việc khai thác các nguồn vốncho đầu tư, thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính: tổng nguồn vốn trongnước của kênh tín dụng và phát triển của Nhà nước đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhucầu giải ngân của các dự án đầu tư và hợp đồng xuất khẩu

- Giải quyết các vấn đề xã hội: vốn tín dụng đã đầu tư vào sử dụng hàngtrăm bệnh viện, trường học, trường dạy nghề, các khu nhà ở và đô thị mới Các

dự án được đầu tư bằng vốn này góp phần tạo công ăn việc làm cho hàng triệulao động, đào tạo nguồn nhân lực, bảo vệ sức khoẻ và nâng cao mức sốn cho

Trang 18

người dân, đặc biệt người dân ở khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, vùngĐồng Bằng sông Cửu Long.

Tình hình huy động vốn của quỹ ĐTPT tính đến hết năm 2004, nguồn vốnhoạt động của các Quỹ ĐTPT đạt trên 4.000 tỷ đồng, tăng gấp gần 10 lần so vớinăm 1997 và gấp 2,7 lần so với năm 2000 Trong đó, nguồn vốn chủ sở hữuchiếm gần 40% tổng nguồn vốn hoạt động của Quỹ Vốn điều lệ của các QuỹĐTPT phần lớn có nguồn gốc từ ngân sách địa phương Ngoài ra, các Quỹ cũng

tự bổ sung thêm vốn điều lệ để mở rộng hoạt động Mặc dù nguồn vốn bổ sungthêm còn chiếm tỷ trọng nhỏ (khoảng 10% tổng vốn điều lệ của Quỹ) nhưng đãcho thấy nhiều Quỹ đã hoạt động có hiệu quả; nguồn vốn được bảo toàn và pháttriển Tính đến 31/12/2004, tổng số dư các nguồn vốn huy động đạt trên 2.200 tỷđồng, chiếm trên 60% tổng vốn hoạt động Tốc độ tăng trưởng huy động vốn đạtbình quân trên 40%/năm Thực tiễn triển khai hoạt động của các Quỹ ĐTPT -chính là quỹ tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ở địa phương 8 năm quacho thấy đây là một chủ trương đúng; cho phép giải quyết đồng thời nhiều mụctiêu khác nhau trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương

2.3.Nguồn vốn từ doanh nghiệp Nhà nước:

Đây là một nguồn vốn quan trọng đang góp phần quan trọng vào sự tăngtrưởng kinh tế của nước ta Với lợi thế nguồn lực lớn, lực lượng đông đảo, lạihoạt động trong nhiều ngành kinh tế thiết yếu của đất nước, nguồn vốn đầu tưcủa các doanh nghiệp này đã mang lại rất nhiều tác động quan trọng tới nền kinh

tế Mặc dù tốc độ tăng trưởng, hiệu quả kinh doanh kém hơn khối doanh nghiệp

tư nhân hay khu vực có vốn đầu tư Nhà nước nhưng rõ ràng các doanh nghiệpNhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực kinh tế, ví dụ như:ngành điện, ngành đường sắt, viễn thông liên lạc…Cho dù có diễn ra cổ phầnhoá nhiều doanh nghiệp nhằm hạn chế những hoạt động kém hiệu quả và thấtthoát vốn, nhưng những thành tựu và hiệu quả hoạt động trong một số ngànhchủ chốt của nền kinh tế là không thể phủ nhận được về vai trò của nguồn vốnnày Ví dụ :ngành điện đã đóng góp vào GDP hơn 2 tỷ USD, mặt khác nhà máyđiện đã cung cấp lượng điện thiết yếu phục vụ cho đời sống sinh hoạt của ngườidân và phục vụ sản xuất Gần đây ngành điện đã đưa vào vận hành đường dây

500 KV Bắc-Nam mạch 2, kịp thời cung cấp điện cho miền Bắc Đồng thời đangxây dựng 23 nhà máy điện với tổng công suất 8000 MW, trong đó có 20 nhàmáy thuỷ điện ở vùng sâu, vùng xa…góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ởnhững vùng khó khăn

Cùng với việc sắp xếp, đổi mới nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nướcthì việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp Nhà nước(DNNN) là khâu quan trọng Vốn đầu tư cho các DNNN do các ngân hàngthương mại Nhà nước cho vay chiếm xấp xỉ đến trên dưới 50%

Trong những năm vừa qua, phần lớn các DNNN được sắp xếp lại theohướng cổ phần hóa đã nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm đối với nền kinh

tế, sản xuất kinh doanh đã có lãi, nhiều DN đã mạnh dạn đầu tư đổi mới công

Trang 19

nghệ, máy móc thiết bị để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, khắcphục tình trạng lỗ và có vốn tích lũy để tái sản xuất mở rộng.

.4.Vốn tư nhân:

Mặc dù doanh nghiệp Nhà nước được xác định là giữ vai trò chủ đạo trongnền kinh tế, nhưng theo thực tế thì khu vực tư nhân lại là yếu tố quan trọng giúpnước ta duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững

Điểm nổi bật về đầu tư trong 5 năm qua là sự tăng lên mạnh mẽ của đầu tư

từ khu vực kinh tế tư nhân Do tác động của luật Doanh nghiệp năm 1999, từnăm 2000 đến 2005 đã có trên 160 nghìn doanh nghiệp đăng kí thành lập mớivới số vốn đăng kí khoảng 321 nghìn tỷ đồng, số doanh nghiệp tham gia thịtrường tăng bình quân mỗi năm khoảng 23% về số lượng và tăng 51,7% về vốnđăng kí; số lượng doanh nghiệp thành lập mới từ 2001-2005 bằng 2,6 lần so vớigiai đoạn 10 năm từ 1991 đến 2000 cộng lại với số vốn đăng kí gấp 7,7 lần.Luậtđầu tư mới được áp dụng năm 2007 cũng tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi đểcác doanh nghiệp tham gia

Tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp dân doanh trong nước liên tục tăng vàvượt cao hơn vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước Vốn đầu tư của khu vựcdân cư và tư nhân năm 2001 chiếm 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, năm 2007tăng lên 37%

Doanh nghiệp dân doanh đã đóng góp tích cực vào kim ngạch xuất khẩu,nhất là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản, thuỷ sản…và tạo ranguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước Với 96% doanh nghiệp dândoanh là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã đóng góp 26% tổng sản phẩm trongnước, 8% tổng thu ngân sách Nhà nước, 31% giá trị tổng sản phẩm công nghiệp,78% tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ, 64% khối lượng vậnchuyển hàng hoá và tạo ra 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn.Doanh nghiệp nhỏ và vừa là nơi có khả năng tiếp nhận 91% số lao động mớihàng năm và số lao động dôi dư trong quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp Nhànước, góp phần ổn định xã hội và nâng cao thu nhập của người lao động

Doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân là một bộ phận rất quan trọng của nềnkinh tế nước ta Hiện nay Việt Nam có khoảng 230000 doanh nghiệp, trong đókhoảng 95% là doanh nghiệp vừa và nhỏ của tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏđóng góp khoảng trên 30% tổng sản lượng công nghiệp tạo ra khoảng 40% laođộng việc làm… chưa kể hợp tác xã, các hộ kinh doanh có thể chuyển lên thànhdoanh nghiệp Như vậy có thể thấy, bên cạnh các doanh nghiệp Nhà nước, cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhiều cơ hộivay vốn hơn từ ngân hàng thương mại Các ngân hàng có những chính sách cởi

mở thông thoáng nhằm phục vụ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồnvốn vay dễ dàng Những động thái trên của một số ngân hàng đã thể hiện sựthông thoáng cởi mở trong việc phát triển phục vụ các đối tượng, đồng thời

Trang 20

những tin tốt lành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang có nhu cầu rất lớn dễdàng tiếp cận được với nguồn vốn vay để phát triển sản xuất kinh doanh.

Có thể nói, hiện nay hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân của ViệtNam đang ở đoạn non trẻ, thiếu vốn, thiếu trang bị kĩ thuật hiện đại so với cácdoanh nghiệp tại các nước tiên tiến Do đó việc tạo cơ chế hỗ trợ doanh nghiệpvừa và nhỏ tiếp cận vốn để đổi mới hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng thịtrường, nâng cao sức cạnh tranh là hết sức quan trọng

Ngoài việc phát triển các doanh nghiệp tư nhân thì phát triển mô hình hợptác xã là một trong những nội dung quan trọng trong phương hướng phát triểnkinh tế - xã hội của nước ta giai đoạn 2006-2010 mà Văn kiện Đại hội Đảng lầnthứ X đã đề cập Trước hết phải kể đến việc nhiều HTX đã trở thành cầu nốikinh tế giữa các hộ nông dân với doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp ngoàiquốc doanh, góp phần tăng cường năng lực sản xuất hàng hoá khu vực nôngnghiệp, nông thôn và kinh tế hộ sản xuất Các hợp tác xã nông nghiệp trong thờigian qua đã thực hiện tốt vai trò khuyến nông, dịch vụ thuỷ lợi, bảo vệ thực vật,trông coi đồng ruộng và an ninh ở nông thôn…Nhìn chung các HTX nôngnghiệp đã đóng vai trò tích cực trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp,đưa giá trị sản xuất bình quân ở phía Bắc từ 22 triệu đồng lên 37 triệu đồng/ha/năm Với định hướng phát triển mô hình hợp tác xã chủ yếu tập trung vào pháttriển công nghiệp, dịch vụ, đặc biệt là công nghiệp chế biến… yếu tố quan trọng

để thúc đẩy mô hình phát triển đó chính là chính sách về vốn

Theo báo cáo của Cục HTX&PTNT, năm 2005, gần 4450 HTX hoạt động

có lãi, chiếm tỷ lệ 77% tổng số HTX, tăng 8% so với 2002 Mức lãi bình quâncủa mỗi HTX là 24,5 triệu đồng Tuy con số lãi còn hết sức khiêm tốn, nhưngcho thấy hơn 2/3 số HTX đã hoạt động có lãi và bảo toàn được vốn

Cũng trong thời gian qua số HTX tín dụng tiếp tục tăng và hoạt động cóhiệu quả, với hơn 900 quỹ tín dụng nhân dân hoạt động theo mô hình mới, vừahoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng, vừa hoạt động theo Luật HTX

Ngoài các nguồn vốn đã nói trên thì nguồn vốn có được từ sự đầu tư vềnước của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài thời kỳ đổi mới cũng là mộtnguồn vốn quan trọng tác động đến nền kinh tế - xã hội của nước ta.với LuậtKhuyến kích đầu tư trong nước, với số vốn của Việt Kiều đăng kí trên 5000 tỷđồng, trong đó có một số dự án được cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư Đểtriển khai dự án đầu tư, các chủ đầu tư đã thành lập doanh nghiệp dưới 3 loạihình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân Lĩnhvực đầu tư kinh doanh của doanh nhân Việt Kiều chủ yếu là thương mại dịch vụ(chiếm 58% dự án), lĩnh vực sản xuất ( chiếm 25% dự án) Đối với ngành côngnghiệp xây dựng chỉ chiếm 5% do đòi hỏi vốn lớn, thời hạn thu hồi vốn dài Cácdoanh nghiệp đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài của người Việt Nam định cư

ở nước ngoài đi vào hoạt động đã tạo ra doanh thu bình quân trên 40 triệu USD/năm, đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu của nước ta trung bình trên 20 triêuUSD/năm Bên cạnh đó, cho đến nay các dự án này của Việt kiều đã tạo ra việclàm cho hơn 7 nghìn lao động trong nước Ngoài đầu tư như trên thì còn có đầu

Trang 21

tư gián tiếp như: chuyển tiền về nước, mang theo về nước và mở tài khoản tạicác ngân hàng Việt Nam Những việc làm này đã giúp nước ta tăng một lượngngoại tệ lớn.

3 Những hạn chế còn tồn tại trong việc thu hút và sử dụng các nguồn vốn trong nước:

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc huy động các nguồn lực tàichính đáp ứng vốn cho đầu tư phát triển còn hạn chế nhiều, tiềm năng vốn trongnước chưa được khai thác tốt

Tỷ trọng nguồn vốn trong nước tuy chiếm tỷ trọng lớn song giá trị tạo racho nền kinh tế vẫn chưa cao Đặc biệt là khu vực kinh tế Nhà nước

Sở dĩ như vậy là do khu vực kinh tế Nhà nước làm ăn không hiệu quả,nguồn thu ngân sách Nhà nước thì chưa thật ổn định Tổng thu Ngân sách Nhànước vẫn còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài, trong đó thu hút từ dầu thôchiếm 28,3% tổng thu cân đối ngân sách, thu từ thuế xuất nhập khẩu chiếm17,5% Công tác dự báo và và xây dựng dự toán hàng năm chưa sát thực tế, thựchiện thu, chi ngân sách hàng năm đều vượt quá cao so với dự toán ban đầu Hiệuquả sử dụng vốn ngân sách Nhà nước chưa cao, tình trạng thất thoát, lãng phíkém hiệu quả trong sử dụng ngân sách Nhà nước chưa được khắc phục

Tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư so với tổng sản phẩm trong nước tuy đã có bướccải thiện đáng kể nhưng vẫn còn thấp so với khả năng và còn có thể huy độngcao hơn để đáp ứng yêu cầu phát triển, vẫn còn 15% tiết kiệm nội địa chưa đượchuy động vào đầu tư Ngân sách Nhà nước dành cho đầu tư phát triển vừa hạnhẹp vừa phụ thuộc một phần vào nguồn vay nợ từ bên ngoài

Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng Nhà nước chưathật sự tạo cú huých mạnh trong việc thu hút các nguồn vốn khác để hình thành

cơ cấu đầu tư hợp lý, có hiệu quả, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bố trívốn còn dàn trải, thiếu tập trung, thất thoát lãng phí còn lớn đã ảnh hưởng tớichất lượng các công trình Tình trạng tiêu cực, lãng phí, thất thoát, tham nhũng,chất lượng công trình kém trong đầu tư xây dựng cơ bản còn phổ biến, nhưngchưa có biện pháp khắc phục triệt để

Các cơ chế chính sách định hướng thu hút các nguồn vốn đầu tư toàn xãhội chưa đủ hấp dẫn, môi trường đầu tư tuy có nhiều cải thiện nhưng vẫn cònnhiều rủi ro, còn có sự phân biệt đối xử với các thành phần kinh tế làm cho cácthành phần kinh tế chưa mạnh dạn bỏ vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh Các khuvực trọng điểm có lợi thế còn nhiều tiềm năng chưa được quan tâm đầu tư, nhất

là đầu tư hạ tầng kinh tế xã hội, đào tạo nguồn nhân lực nên hiệu quả mang lạithấp Công tác cải cách hành chính liên quan đến đầu tư tuy đã có đổi mới một

số khâu nhưng nhìn chung vẫn còn trì trệ, gây khó khăn, làm lỡ cơ hội đầu tư…Thu hút vốn vào miền núi, vùng đồng bào dân tộc còn hạn chế

Trang 22

Trong xây dựng kế hoạch đầu tư, một số Bộ, ngành và địa phương chưaquan tâm đến việc huy động các nguồn vốn khác với những hình thức đầu tư đadạng trong các thành phần kinh tế để thực hiện mục tiêu đầu tư, còn trông chờ ỷlại vào các nguồn vốn Nhà nước, nên kết quả đầu tư còn nhiều hạn chế Nợ đọngvốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách Nhà nước chưa có nguồn thanhtoán đang là vấn đề bức xúc chưa được giải quyết triệt để.

Các quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế, xã hội, cũng như quy hoạchphát triển hạ tầng chưa được cập nhật, bổ sung, điều chỉnh k ịp thời, thiếu tínhdài hạn, chất lượng các quy hoạch, nhất là quy hoạch đô thị chưa cao, chưa thực

sự là cơ sở vững chắc cho hoạch định các kế hoạch phát triển, nhất là xây dựngchương trình đầu tư công cộng, việc xây dựng kế hoạch chưa gắn với nguồn lực,lúng túng trong việc định ra các mục tiêu ưu tiên hướng dẫn của thành phần kinh

tế khác đầu tư

Cơ cấu đầu tư trong một số ngành và lĩnh vực còn nhiều bất hợp lí Trongnông nghiệp còn nặng vào đầu tư cho thuỷ lợi chủ yếu là thuỷ lợi phục vụ câylúa Việc xây dựng các công trình thuỷ lơi cho các cây công nghiệp, thuỷ lợi cấpnước cho công nghiệp, dân sinh và cho nuôi trồng thuỷ sản còn bị hạn chế Vốnđầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ chưa đượcquan tâm thoả đáng Trong các ngành đã quá chú trọng đầu tư vào tăng côngsuất sản xuất mà chưa chú ý đúng mức đến đầu ra sản phẩm, chưa tập trungđúng mức cho ngành công nghiệp nặng nhất là công nghiệp cơ khí Chưa tạođược một bước đột phá về đầu tư đối với các ngành quan trọng như: một sốngành công nghiệp mũi nhọn, các ngành thuộc lĩnh vực xã hội như giáo dục, y

tế, khoa học công nghệ…Chưa thoả đáng đối với cac vùng khó khăn, vùng miềnnúi, vùng sâu, vùng xa

Kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, chất lượng một số côngtrình thấp Hệ thống hạ tầng giao thông chưa đồng bộ, chưa bảo đảm thông suốttrong mùa mưa ở khu vực thường xuyên ngập lụt, khu vực miền núi Hệ thốngđường giao thông qua các thành phố thị xã, một số vùng kinh tế trọng điểm chưađáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế Hệ thống cảng biển, mạng lưới đườngsắt, hạ tầng hàng không chưa đáp ứng yêu cầu, năng lực vận chuyển kém, khảnăng kho bãi, thông tin quản lý còn bất cập, chi phí dịch vụ cao

Hạ tầng về điện chưa đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế, nhất là trongthời điểm có nhu cầu sử dụng điện cao Cơ cấu hạ tầng chưa hợp lí, một số côngtrình nhà máy nhiệt điện không hoàn thành kế hoạch

Việc đầu tư và tổ chức quản lí hạ tầng bưu chính viễn thông và công nghệthông tin theo địa giới hành chính chưa hợp lí và đồng bộ Cơ chế sử dụngchung hạ tầng thông tin chưa được các doanh nghiệp chú trọng, đầu tư phát triển

hạ tầng bưu chính viễn thông của các doanh nghiệp mới còn chưa tương xứngvới phát triển dịch vụ

Tuy nhiên chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước đã thực hiện 13năm nay nhưng tiến độ rất ì ạch, nặng về số lượng nhưng chất lượng không cao

Trang 23

tiến độ cổ phần hóa vẫn còn chậm, nhiều doanh nghiệp mà Nhà nước không cầnnắm giữ vẫn tiếp tục duy trì 100% vốn Nhà nước, tỷ lệ cổ phần bán ra ngoàidoanh nghiệp còn thấp Ở một số nơi, nhận thức về cổ phần hóa doanh nghiệpNhà nước còn chưa đầy đủ và thống nhất, vướng mắc trong quá trình thực hiệnchưa được tháo gỡ kịp thời Một số quy định của cơ quan quản lý Nhà nước cònchưa phù hợp, thời gian cổ phần hóa một doanh nghiệp còn dài Khi chuyểnthành công ty cổ phần, chưa quan tâm đúng mức đến đổi mới phương thức quảntrị và điều hành doanh nghiệp, hiệu quả sản xuất, kinh doanh của một số công ty

cổ phần chưa cao Số lượng doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoánrất ít

Sau 13 năm tiến hành cổ phần hóa, phần vốn của Nhà nước được cổ phầnhóa hiện mới chỉ đạt 10%, trong khi 90% Nhà nước vẫn nắm lại

Trong số 2.600 doanh nghiệp thuộc diện đã cổ phần, thì chỉ có 30% Nhànước không giữ một đồng vốn nào; 29% Nhà nước giữ cổ phần chi phối trên51% Cũng trong số 2.600 doanh nghiệp thì Nhà nước còn nắm lại 46,5%

Một thực tế khác, cổ đông là người lao động chỉ chiếm 15,1% Cũng trong2.600 doanh nghiệp nói trên, chỉ có 25 doanh nghiệp có nhà đầu tư nước ngoài.Theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế thì đây là cơ chế không thỏa đáng.Còn về các doanh nghiệp tư nhân thì ít được Nhà nước quan tâm và ưu tiênhơn so với doanh nghiệp Nhà nước trong các chính sách đầu tư của Nhà nước.Theo số liệu điều tra doanh nghiệp các năm 2000-2003 trong cơ cấu đầu tư từngân sách Nhà nước cho khu vực doanh nghiệp, các doanh nghiệp Nhà nướcchiếm 99,30%, trong khi đó doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ chiếm chưa đầy1% Không chỉ vậy, các doanh nghiệp Nhà nước còn chiếm 82,5% tổng vốn vay

ưu đãi cho doanh nghiệp trong năm 2002, trong khi doanh nghiệp ngoài quốcdoanh chỉ là 12,06% Hầu hết các khoản viện trợ phát triển, giải ngân qua các bộđều được phân bổ cho các doanh nghiệp Nhà nước do trung ương quản lý Đây

là một bất hợp lý và thiệt thói cho các doanh nghiệp tư nhân vì khu vực doanhnghiệp Nhà nước làm ăn kém hiệu quả, trong khi các doanh nghiệp thuộc thànhphần kinh tế ngoài quốc doanh lại là khu vực làm ăn có hiệu quả hơn

Thu hút vốn kiều hối vẫn còn nhiều cản trở lớn Với khoảng 2,7 triệu ngườiđang sinh sống ở nước ngoài, trong đó khoảng gần 300.000 tri thức đang sinhsống tại hơn 80% quốc gia, thu nhập hang năm khoảng 30 tỷ USD, chúng tađang có một nguồn lực rất lớn Tuy nhiên, đến nay mới chỉ có 1157 dự án vớitổng số vốn đăng kí hơn 600 triệu USD của người Việt Nam định cư ở nướcngoài đầu tư về Việt Nam Những con số này là nhỏ bé nếu so với tiềm năng củaViệt kiều Các dự án của kiều bào chủ yếu là các dự án nhỏ, có quy mô nhỏ, quy

mô vốn trung bình một dự án mới đạt được khoảng 100.000 USD, đầu tư vềnước phân bố không đều, tập trung chủ yếu vào các vùng kinh tế thuận lợi về cơ

sở hạ tầng, có thị trường đầu vào đầu ra lớn như vùng Đồng Bằng Bắc Bộ vàvùng Đông Nam bộ Một số lĩnh vực như khoa học công nghệ, giáo dục và đàotạo, nghiên cứu và ứng dụng triển khai rất cần thu hút đầu tư, nhưng chưa được

bà con Việt kiều quan tâm

Trang 24

II VỐN NƯỚC NGOÀI ĐÓNG VAI TRÒ QUAN TRỌNG TRONG VIỆC THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM

Bên cạnh nguồn vốn trong nước, những năm qua việc thu hút nguồn vốn từbên ngoài như vốn ODA, FDI vẫn được chú trọng và góp phần thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế

1.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI):

Vốn đầu tư nước ngoài ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh

tế Việt Nam Trước hết, FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng vào tổng đầu tư

xã hội góp phần cải thiện cán cân thanh toán, góp phần tăng cường năng lực sảnxuất và đổi mới công nghệ của nhiều ngành kinh tế, khai thông thị trường sảnphẩm (đặc biệt là trong gia tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá), đóng góp chongân sách Nhà nước và tạo việc làm cho một bộ phận lao động Bên cạnh đó,FDI có vai trò trong chuyển giao công nghệ và các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài tạo sức ép buộc các doanh nghiệp trong nước phải tự đổi mới côngnghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất Các dự án FDI cũng có tác động tích cực tớiviệc nâng cao năng lực quản lý và trình độ của người lao động làm việc trongcác dự án FDI,

FDI đối với vốn đầu tư xã hội và tăng trưởng kinh tế.

Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới với nguồn vốn không đáng kể Dovậy, xét về nhu cầu vốn, FDI được coi là một nguồn vốn bổ sung quan trọng chovốn đầu tư trong nước, nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư cho phát triển Đóng gópcủa FDI trong đầu tư xã hội biến động lớn, một phần phản ánh diễn biến thấtthường của nguồn vốn này, một phần thể hiện những thay đổi về đầu tư của cácthành phần kinh tế trong nước

Giai đoạn 1994-1995, tỷ trọng của FDI trong tổng đầu tư xã hội lên tới 31%, là mức cao nhất cho đến nay Tỷ lệ này đã giảm dần và năm 2004, FDIthực hiện ước còn chiếm 6,4% của khu vực này năm 1994 Bên cạnh đó, khuvực có vốn FDI luôn dẫn đầu về tốc độ tăng giá trị gia tăng so với các khu vựckinh tế khác và là khu vực phát triển năng động nhất Tốc độ tăng giá trị gia tăngcủa khu vực này luôn cao hơn mức trung bình của cả nước

30-1.2 FDI với việc nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu:

FDI vào Việt Nam chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp Nhờ đó,trong hơn một thập kỷ qua Việt Nam đã cải thiện được nhiều ngành kinh tế quantrọng như thăm dò, khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông, điện tử, xây dựng

hạ tầng v.v

Nhìn chung, tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực có vốnFDI luôn duy trì ở mức cao, cao hơn tốc độ tăng trưởng chung toàn ngành trongsuốt giai đoạn 1995-2003, trừ năm 2001 Năm 2004, giá trị sản xuất công nghiệpcủa khu vực này tuy cao, đạt15,7% nhưng thấp hơn mức chung của toàn ngành,

Trang 25

chủ yếu do tốc độ tăng rất cao của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong nước(22,8%).

Trong những năm gần đây, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vựcFDI luôn cao hơn so với tốc độ tăng trung bình của cả nước Năm 1991, kimngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 2 tỷ USD, trong khi đó năm 2004 con số này

đã là 26,5 tỷ đô la, tăng gấp 13,5 lần so với năm 1991 Khu vực FDI chiếm tỷtrọng ngày càng tăng trong tổng giá trị xuất khẩu, từ 4% năm 1991 lên 54,6%năm 2004 Cần lưu ý rằng, mặc dù FDI có tỷ trọng xuất khẩu cao song giá trịxuất khẩu ròng của khu vực có vốn FDI không cao Sở dĩ như vậy vì các dự ánFDI trong công nghiệp vẫn chủ yếu sử dụng các dây chuyền lắp ráp có qui mônhỏ và sử dụng nguồn đầu vào từ nhập khẩu là chính

1.3 FDI đối với việc làm và cải thiện nguồn nhân lực.

Hiện tại, các dự án có vốn FDI tại Việt Nam đang sử dụng khoảng 730ngàn lao động, chỉ chiếm 1,5% tổng lao động có việc làm tại Việt Nam so với tỷtrọng này năm 1996 là 0,7% Điều đó cho thấy FDI vẫn xuất hiện chủ yếu trongcác ngành tập trung vốn và sử dụng lao động có trình độ kỹ năng cao Đó cũng

là một cách lý giải cho mức thu nhập trung bình của lao động trong khu vực nàycao gấp 2 lần so với các doanh nghiệp khác cùng ngành Chẳng hạn, lương củalao động thông thường trong khu vực có vốn FDI hiện khoảng 75-80USD/tháng,lương của kỹ sư khoảng 220-250 USD/tháng và của cán bộ quản lý khoảng 490-

510 USD/tháng (Nguồn từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Bên cạnh số việc làm trực tiếp do FDI tạo ra nói trên, khu vực FDI còn giántiếp tạo thêm việc làm trong lĩnh vực dịch vụ và có thể tạo thêm lao động trongcác ngành công nghiệp phụ trợ trong nước với điều kiện tồn tại mối quan hệmua bán nguyên vật liệu hoặc hàng hóa trung gian giữa các doanh nghiệp này.Tuy nhiên, cho đến nay chưa có số liệu thống kê chính thức về số lao động giántiếp được tạo ra bởi khu vực FDI tại Việt Nam

1.4 FDI với nguồn thu ngân sách Nhà nước và các cân đối vĩ mô.

Cùng với sự phát triển, khu vực có vốn FDI đóng góp ngày càng tăng vàonguồn thu ngân sách của Nhà nước Theo tính toán của Tổng cục Thuế, năm

2002, khu vực FDI đóng góp khoảng 480 triệu USD vào ngân sách Nhà nước,tăng 4,2 lần so với năm 1994 Tính riêng giai đoạn 1996-2002, khu vực nàyđóng góp (trực tiếp) vào ngân sách trung bình ở mức khoảng 6,16% Tỷ trọngđóng góp nhỏ là do các DN FDI được hưởng chính sách khuyến khích củaChính phủ thông qua giảm thuế thu nhập trong những năm đầu hoạt động Tuynhiên, nếu tính cả thu từ dầu thô thì tỷ trọng này ước khoảng 20%

1.5.Tình hình thu hút FDI trong những năm gần đây

Với vai trò quan trọng như trên, FDI đã trở thành nguồn vốn nước ngoàiđược ưu tiên thu hút của nước ta Sau khi Luật đầu tư nước ngoài ra đời (1987),làn sóng FDI đã nhanh chóng chảy vào Việt Nam và năm 2006 vừa qua đượcxem là một năm "bội thu" FDI, FDI đang "Dậy sóng", đã có những kết quả rất

ấn tượng với kỷ lục về số lượng và chuyển biến về chất thể hiện qua việc đã có

Ngày đăng: 25/04/2013, 14:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4 cho thấy kích cỡ thị trường tương lai và lao động rẻ là hai yếu tố quan  trọng nhất hấp - Vai trò, mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và ngoài nước đối với sự tăng trưởng, phát triển kinh tế
Hình 4 cho thấy kích cỡ thị trường tương lai và lao động rẻ là hai yếu tố quan trọng nhất hấp (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w