1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành Da-Giày Việt nam

40 381 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Đầu Tư Nâng Cao Khả Năng Cạnh Tranh Của Ngành Da-Giày Việt Nam
Tác giả Trần Thị Thúy
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận Văn
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 350,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn kinh tế: Thực trạng đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành Da-Giày Việt nam

Trang 1

M c l cục lục ục lục

Mục lục 1

Lời nói đầu 4

Phần I Những lý luận chung về đầu tư phát triển và đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh - vấn đề tất yếu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập 6

I/ Đầu tư phát triển 6

1/ Khái niệm: 6

2/ Vai trò của ĐTPT 6

2.1 Đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tỏng cầu 6

2.1 Đầu tư tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế 7

2.3 Đầu tư tác động đến sự chuyển dịch kinh tế 7

2.4 Đầu tư tăng khả năng khoa học công nghệ của đất nước 7

3/ Nguồn vốn cho ĐTPT 7

3.1 Nguồn vốn trong nước 7

3.2 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài 8

3.3 Mối quan hệ giữa các nguồn vốn trong và ngoài nước 9

II/ Cạnh tranh và phân loại cạnh tranh 10

1/ Cạnh tranh 10

2/ Các loại cạnh tranh 10

3/ Vai trò của cạnh tranh 11

3.1 Đối với các doanh nghiệp 11

3.2 Đối với người tiêu dùng 11

3.3 Đối với nền kinh tế quốc dân 11

4/ Các công cụ cạnh tranh chủ yếu của các doanh nghiệp 11

4.1 Giá cả sản phẩm 11

4.2 Chất lượng sản phẩm 11

4.3 Mạng lưới tiêu thụ sản phẩm 11

4.4 Hoạt động giao tiếp khuyếch trương: 12

4.5 Uy tín của doanh nghiệp 12

III/ Vai trò ngành Da-Giày đối với sự phát triển của đất nước 12

Trang 2

-Phần II Thực trạng đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành Da-Giày Việt

nam 14

I/ Khái quát tình hình phát triển ngành Da-Giày; sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh 14

1/ Tình hình phát triển ngành Da-Giày Việt nam 14

2/ Sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh ngành Da-Giày Việt nam 17

3/ Thực tế ở một số công ty Da-Giày Việt nam 18

3.1 Công ty cổ phần Giày Hiệp An 18

3.2 Công ty Da-Giày xuất khẩu Thái Bình 19

3.3 Công ty Da-Giày Hà nội 20

II/ Đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh ngành Da-Giày Việt nam 20

1/ Vốn và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong doanh nghiệp 20

2 / Đầu tư vào máy móc thiết bị và công nghệ 22

3/ Đầu tư phát triển nguyên vật liệu 24

3.1/ Tầm quan trọng của nguyên phụ liệu 25

3.2/ Hiện trạng của nguyên phụ liệu cho ngành Da-Giày 25

4/ Đầu tư đào tạo đội ngũ kỹ sư Da-Giày 27

5/ Đầu tư vào tài sản vô hình 27

6/ Đầu tư vào tài sản cố định 28

III/ Những kết quả đạt được và hạn chế còn tồn tại của ngành Da-Giày Việt nam 28

1/ Kết quả đạt được 28

2/ Những hạn chế còn tồn tại của ngành Da-Giày Việt nam 30

2.1 Những thách thức 30

2.2/ Hạn chế 30

Phần III Định hướng phát triển và một số giải pháp của Tổng công ty Da-Giày Việt nam 32

I/ Định hướng phát triển của tổng công ty Da-Giày Việt nam trong thời kỳ 2001 – 2005 32

1/ Mục tiêu dài hạn đến 2010 của ngành Da-Giày Việt nam 32

2/ Định hướng phát triển của Tổng công ty Da-Giày Việt nam 32

3/ Chương trình hành động 34

3.1 Dự án tăng sản lượng da thuộc thành phẩm 34

Trang 3

3.3 Dự án cụm công nghiệp Giày miền Nam 34

3.4 Các dự án đầu tư chiều sâu 35

II/ Một số giải pháp 35

1/ Về nguồn nhân lực 35

2 / Về công nghệ 35

3/ Về thị trường 36

4/ Về môi trường 36

5/ Về nguồn vốn 36

6/ Về nguyên phụ liệu 37

7/ Về cơ sở hạ tầng 38

Kết luận 39

Tài liệu tham khảo 40

Trang 4

-Lời nói đầu

Cạnh tranh xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nền kinh tế thị trường và nónhư là một tất yếu không thể xóa bỏ Cạnh tranh là điều kiện thúc đẩy nền kinh tếthị trường phát triển Kể từ sau chủ trương chuyển đổi nền kinh tế từ tập trungquan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã thực sự là động lực thúc đẩy pháttriển kinh tế Xây dựng nền kinh tế thị trường có nghĩa là phải chấp nhận cạnhtranh, chấp nhận sự bung ra hàng loạt các doanh nghiệp thuộc mọi thành phầnkinh tế Hơn nữa, Việt nam đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức quốc tế:ASEAN, APEC, WTO, đến 2006 sẽ gia nhập AFTA Thực hiện lộ trình cắt giảmthuế quan theo hiệp định CEPT, Việt nam đã thực hiện cắt giảm thuế cho 4230nhóm mặt hàng Trong khi xu thế này đã trở thành tất yếu, một thực tế đặt ra làcác doanh nghiệp Việt nam nói chung và Tổng Công ty Da-Giày Việt nam nóiriêng phải chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc hội nhập và như vậy cạnh tranh trong nềnkinh tế thị trường sẽ ngày càng diễn ra gay gắt

Hệ thống XHCN ở Liên xô và Đông Âu tan rã đã tác động sâu sắc đến ngành Giày non trẻ và mới phát triển ở Việt nam Hầu hết các doanh nghiệp sản xuấtgiày da đều lâm vào tình trạng khó khăn do thiếu đơn đặt hàng Song để phục hồinăng lực sản xuất, ngành Da-Giày Việt nam đã chuyển sang thời kỳ phát triểnmới: đổi mới công nghệ, hòa nhập với xu thế mở cửa nền kinh tế, và đây chính làthời điểm đánh dấu bước ngoặt đáng ghi nhớ cho những tín hiệu khởi sắc củangành Da-Giày Việt nam

Da-Tuy nhiên, để tồn tại, đứng vững và khẳng định được vai trò của mình trong tiếntrình phát triển đất nước, ngành Da-Giày Việt nam phải tìm giải pháp tốt nhất đểtăng cường khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế Vấn đề đặt ra là làm gì vàlàm thế nào để phát huy được lợi thế cạnh tranh của ngành Tận dụng có hiệu quảcác nguồn lực và cơ hội có được

Xuất phát từ thực tiễn trên, với sự động viên, hướng dẫn của cô Nguyễn BạchNguyệt, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “ Đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranhngành Da-Giày Việt nam”

Trang 5

Phần III: Định hướng phát triển và một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường khảnăng cạnh tranh ngành Da-Giày

Phần I Những lý luận chung về đầu tư phát triển và đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh - vấn đề tất yếu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và tiến

trình hội nhập

I/ Đầu tư phát triển

1/ Khái niệm:

 Đầu tư có thể hiểu: “ Là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành một

số hoạt động và thu về những kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn cácnguồn lực đã bỏ ra”

 Nguồn lực ở đây có thể là: tiền, sức lao động, tài nguyên thiên nhiên,

 Đầu tư gồm:

 Đầu tư tài chính (ĐTTC)

 Đầu tư thương mại (ĐTTM)

 Đầu tư phát triển (ĐTPT)

Trong đó, ĐTTC và ĐTTM không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ cóĐTPT mới tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế Do đó, ta có thể đưa ra định nghĩa

về ĐTPT như sau:

ĐTPT là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, lao động

và trí tuệ để xây dựng sửa chữa nhà cửa, cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị,máy móc, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực thực hiện chi phí thường xuyên gắnliền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các

cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội, tạo việc làm và nângcao đời sống của mọi thành viên trong xã hội”

ĐTPT tập trung chủ yếu vào một số nội dung sau:

 Đầu tư vào máy móc thiết bị (công nghệ)

 Đầu tư vào nguyên vật liệu

 Đầu tư vào giáo dục đào tạo nguồn nhân lực

 Đầu tư vào tài sản vô hình

2/ Vai trò của ĐTPT

2.1 Đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tỏng cầu

Về tổng cung khi thành quả của ĐTPT phát huy tác dụng các năng lực mới đi vàohoạt động thì tổng cung trong dài hạn sẽ tăng lên

Trang 6

-Về tổng cầu, đầu tư là yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của nền kinh tế và

nó sẽ tác động đến tổng cầu trong ngắn hạn

Sự tác động đồng thời của ĐTPT đến tổng cung và tổng cầu dù tăng hay giảmcũng là yếu tố vừa duy trì vừa phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế

2.2 Đầu tư tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế

Các chuyên gia kinh tế cho rằng, muốn giữ tốc độ tăng trưởng trung bình thì tỷ lệđầu tư hàng năm phải đạt từ 15-28% so với GDP tùy thuộc vào điều kiện cũng như

hệ số ICOR của mỗi quốc gia

Các nước phát triển hệ số ICOR thường lớn, từ 5-7 do thừa vốn, thiếu lao động và

sử dụng công nghệ hiện đại, còn ở các nước đang phát triển hệ số ICOR thấp dothiếu vốn, thừa lao động và công nghệ lạc hậu

2.3 Đầu tư tác động đến sự chuyển dịch kinh tế

Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu để có thể tăngtrưởng với tốc độ như mong muốn là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triểnnhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ Còn ngành nông nghiẹp do hạn chế vềđất đai và chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố thiên tai, khả năng sinh học nên

để đạt tốc độ tăng trưởng 5-6% là rất khó Vậy để đạt được tốc độ tăng trưởngnhanh thì phải tăng cường đầu tư do đó sẽ dẫn đến quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế ở các quốc gia

Về cơ cấu ngành và lãnh thổ, đầu tư có tác động giải quyết tình trạng mất cân đối

về phát triển giữa các ngành, các vùng và lãnh thổ Phát huy lợi thế so sánh giữacác ngành ,vùng, lãnh thổ là điều kiện tiên quyết của tốc độ phát triển kinh tế

2.4 Đầu tư tăng khả năng khoa học công nghệ của đất nước

Để thực hiện quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa thì công nghệ là nhân tố giữvai trò quan trọng Đầu tư vào công nghệ – khoa học giúp tăng năng lực sản xuất,tăng khả năng quản lý,

Có hai con đường cơ bản để có công nghệ hiện đại là tự nghiên cứu phát minhhoặc chuyển giao công nghệ từ phía nước ngoài Dù là con đường nào, cũng đòihỏi phải có vốn đầu tư khá lớn Do đó đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự pháttriển và tăng cường khả năng khoa học - công nghệ của mỗi quốc gia

3/ Nguồn vốn cho ĐTPT

Vốn là nguồn lực không thể thiếu đối với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanhcũng như bất kỳ một công cuộc đầu tư nào Tuy nhiên, để huy động vốn choĐTPT, ta cần xem xét các nguồn sau:

3.1 Nguồn vốn trong nước

3.1.1 Nguồn vốn nhà nước

Trang 7

Đây là nguồn vốn quan trọng có tác dụng làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nhànước sử dụng nguồn vốn này để đầu tư vào ngành, lĩnh vực trọng điểm của nềnkinh tế Hơn nữa, đây là nguồn vốn mà nhà nước trực tiếp điều hành theo kế hoạch

để thực hiện các mục tiêu đề ra

Do sản phẩm của ngành Da-Giày là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lựccủa nước ta; hiện tại kim ngạch xuất khẩu của ngành này đứng vị trí thứ ba saudầu khí và dệt may Cho nên các doanh nghiệp Da-Giày Việt nam cũng là các đơn

vị thuộc diện được ưu tiên cấp vốn ngân sách nhà nước

 Vốn ngân sách nhà nước: là nguồn vốn được hình thành từ các khoản thu thuế,phí, lệ phí, và các khoản viện trợ hay các khoản thu khác Trong năm 2000,vốn ngân sách nhà nước tăng 14,2% so với năm 1999 và chiếm 23,8% tổngvốn đầu tư xã hội

 Vốn tín dụng: là khoản vốn mà nhà nước vay từ dân dưới dạng trái phiếu, côngtrái, từ các tổ chức quốc tế, quốc gia khác

 Vốn tự có của doanh nghiệp: là nguồn vốn được hình thành từ nguồn ngân sáchcấp các khoản trích từ nguồn vốn khấu hao để lại, nguồn lợi nhuận sau thuế,

3.1.2 Nguồn vốn đầu tư ngoài quốc doanh

Nguồn vốn này có tốc độ phát triển cao, bao gồm:

 Nguồn vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

 Hồ gia đình

 Vốn đầu tư của dân

Nguồn vốn ngoài quốc doanh được hình thành từ nguồn vốn tự có, phần lợi nhuậntích lũy và một phần vốn vay Nguồn vốn này được sử dụng linh hoạt, mang lạihiệu quả cao không chỉ đối với lĩnh vực nhà nước đầu tư mà cả những lĩnh vựcnhà nước không thể đầu tư do sự hạn chế của nguồn ngân sách

3.2 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài

Đây là nguồn vốn nước ngoài chủ yếu cho ĐTPT Việc đầu tư trực tiếp của nướcngoài làm tăng thêm nguồn lực cho sự phát triển của đất nước, không chỉ thể hiệnqua vốn mà còn thông qua trình độ công nghệ, khoa học, kỹ thuật, tổ chức quản lý.Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm:

 Hợp đồng hợp tác kinh doanh

 Hợp đồng liên doanh

Trang 8

- 100% Vốn nước ngoài

 BOT, BTO, BT

3.3 Mối quan hệ giữa các nguồn vốn trong và ngoài nước

Giữa hai loại nguồn vốn này có mối quan hệ qua lại trực tiếp ảnh hưởng đến tăngtrưởng và phát triển kinh tế Cả hai đầu đòn góp vào GDP thông qua hoạt động sảnxuất kinh doanh trực tiếp hoặc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Đối với một sốnước đang phát triển như Việt nam thì nguồn vốn nước ngoài là một ‘cái huých’quan trọng góp phần giúp Việt nam ra khỏi vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói Tuynhiên, nguồn vốn trong nước mới là nguồn lực quan trọng và quyết định, chắcchắn cho quá trình tăng trưởng và phát triển lâu dài Nguồn vốn trong nước cũng

là cơ sở hạ tầng quan trọng để thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nướcngoài Nguồn để trả nợ vay ODA chủ yếu cũng dựa vào nguồn vốn trọng nước.Tuy nhiên, mối quan hệ này thay đổi tùy theo từng thời kỳ phát triển không thểquá coi trọng nguồn này hay nguồn khác bởi sự nhìn nhận sai lầm về vai trò củacác nguồn vốn sẽ dẫn đến hậu quả không lương trước được

Mối quan hệ giữa các nguồn vốn có 3 mức độ như sau:

3.3.1 Vốn trong nước lớn hơn vốn nước ngoài:

Để đạt được mối quan hệ này thì phải có:

 Tỷ lệ tích lũy tăng nhanh hơn tỷ lệ tiêu dùng

 Tỷ lệ tiết kiệm tăng nhanh hơn tỷ lệ đầu tư

 Tỷ lệ đầu tư tăng không quá nhanh so với tỷ lệ tích lũy

Đó cũng chính là mối quan hệ lý tưởng mà chúng ta mong muốn đạt tới Tuynhiên, nó sẽ đem đến cho nền kinh tế sự tăng trưởng cao nhưng chất lượng tăngtrưởng thấp Bởi vậy tương quan này chỉ nên là xu hướng, là căn cứ để xác lập tỷ

lệ giữa vốn trong nước và vốn nước ngoài một cách hợp lý

3.3.2 Vốn trong nước nhỏ hơn vốn nước ngoài

Nếu tình trạng này kéo dài, thì rất nguy hiểm cho sự phát triển của đất nước vì sự

lệ thuộc quá nhiều vào vốn nước ngoài, dẫn tới không thể kiểm soát được nền kinh

tế Các cuộc khủng hoảng kinh tế trong thập kỷ 90 ở một số nước Châu Mỹ La tin

và Châu á là minh chứng và lịch sử cũng đã chỉ ra rằng chưa có một mô hình kinh

tế nào thành công hoàn toàn nhờ chủ yếu vào nguồn vốn nước ngoài Mặt khác,còn có thể diễn ra tình trạng nhập siêu quá mức làm cho chi phí huy động vốnnước ngoài rẻ so với trong nước dẫn đến không khuyến khích đầu tư phát triển dotích lũy thấp Đồng thời khuyến khích tiêu dùng khuyến khích tiêu dùng, biến đấtnước thành nơi tiêu thụ hàng ế, công nghệ lạc hậu

3.3.3 Vốn trong nước bằng vốn nước ngoài

Trang 9

Mối quan hệ này thường không bền vững mặc dù nhiều quốc gia mong muốn duytrì Tuy nhiên, rất khó và đem lại sự tăng trưởng giả tạo Một đất nước tiếp nhậnđầu tư muốn có vốn trong nước bằng vốn nước ngoài thì tìm cách tăng vốn bằngcách nâng giá trị của đất đai hoặc sử dụng những chính sách bất hợp lý đối với nhàđầu tư nước ngoài Kết quả là sẽ giảm sức thu hút nguồn vốn nước ngoài Mốitương quan này có thể gây ra những biến động bất thường hoặc lãng phí nguồn lựcdẫn đến kìm hãm tăng trưởng và phát triển kinh tế

II/ Cạnh tranh và phân loại cạnh tranh

1/ Cạnh tranh

Theo Mark: “ Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gaygắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật điều kiện thuận lợi trong sản xuất để thuđược lợi nhuận siêu ngạch”

Cạnh tranh là qui luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa và là một yếu tố quantrọng trong cơ chế thị trường

Sản xuất hàng hóa càng phát triển, hàng hóa bán ra càng nhiều, số lượngngười cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt Kết quả trong cạnh tranh

sẽ có một số doanh nghiệp bị thua lỗ và bị gạt ra khỏi thị trường, trong khi đó cónhững doanh nghiệp sẽ tồn tại và phát triển hơn Và đó chính là qui luật của cạnhtranh Doanh nghiệp nào mà tận dụng được lợi thế của cạnh tranh thì doanh nghiệp

đó sẽ thắng lợi Cũng chính nhờ sự cạnh tranh không ngừng mà nền kinh tế thịtrường vận động theo hướng ngày càng nâng cao năng suất lao động xã hội Cạnhtranh là yếu tố đảm bảo cho sự thành công của mỗi quốc gia trên con đường pháttriển

2/ Các loại cạnh tranh

Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường, người ta chia cạnh tranh làm 3 loại:

 Cạnh tranh giữa người bán và người mua: là cuộc cạnh tranh diễn ra teo quiluật mua rẻ bán đắt

 Cạnh tranh giữa người mua với nhau: là cạnh tranh theo qui luật cung cầu Khicung nhỏ hơn cầu thì cạnh tranh giữa người mua trở nên quyết liệt, giá cả hànghóa và dịch vụ sẽ tăng lên

 Cạnh tranh giữa người bán với nhau; là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệthất Đây là cuộc cạnh tranh quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Để cóthể đứng vững và phát triển các doanh nghiệp phải phát huy mọi lợi thế cạnhtranh, tăng cường khả năng cạnh tranh trong nội bộ ngành và trong khu vực.Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trường người ta chia cạnh tranh 3 loại:Cạnh tranh hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh trên thị trường có nhiều người bánvới ưu thế như nhau Các sản phẩm bán ra được xem như động nhất Các doanh

Trang 10

-nghiệp tham gia trên thị trường này chủ yếu tìm biện pháp cắt giảm chi phí vàosản xuất mà tại đó chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên.

Cạnh tranh không hoàn hảo: là cạnh tranh trên thị trường mà phần lớn các sảnphẩm là không đồng nhất với nhau Người bán có thể ấn định giá linh hoạt theokhu vực bán sản phẩm, tùy theo khách hàng cụ thể và mức lợi nhuận mong muốn.Cạnh tranh độc quyền: là cạnh tranh trên thị trường mà ở đó có một số người bánmột số sản phẩm thuần nhất

3/ Vai trò của cạnh tranh

3.1 Đối với các doanh nghiệp

Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp thúc đẩydoanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và có tác động đến uy tín củadoanh nghiệp trên thị trường

3.2 Đối với người tiêu dùng

Cạnh tranh giúp họ thỏa mãn nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ, chất lượngsản phẩm ngày càng cao cùng với mức giá cả ngày càng phù hợp

3.3 Đối với nền kinh tế quốc dân

Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển bình đẳng của mọi thành phầnkinh tế, tạo điều kiện để phát huy lực lượng sản xuất, nâng cao tiến bộ khoa học kỹthuật, hiện đại hóa nền sản xuất xã hội Đó cũng là điều kiện xóa bỏ độc quyền bấthợp lý, xóa bỏ bất bình đẳng trong kinh doanh, phát huy tính năng động, sáng tạotrong các doanh nghiệp gợi mở nhu cầu thông qua việc tạo ra sản phẩm mới nângcao chất lượng đời sống xã hội, phát huy nền văn minh nhân loại

4/ Các công cụ cạnh tranh chủ yếu của các doanh nghiệp

4.1 Giá cả sản phẩm

Giá cả được sử dụng làm côngcụ cạnh tranh thông qua chính sách giá bán

mà doanh nghiệp áp dụng đối với thị trường, có sự kết hợp với một số điều kiệnkhác Các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả mà doanh nghiệp có thể kiểm soát là : chiphí sản xuất sản phẩm, chi phí bán hàng và chi phí lưu thông

4.2 Chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khâu thiết kế sản phẩm cho đếnkhâu hoàn thành sản xuất sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm Có nhiều yếu tố tác độngđến chất lượng sản phẩm như: thiết kế sản phẩm, chất lượng nguyên vật liệu, chấtlượng hoạt động của máy móc thiết bị, tình trạng ổn định của công nghệ chế tạo vàđặc biệt là chất lượng lao động

Các doanh nghiệp muốn cạnh tranh được cần phải tuân thủ theo nguyên tắc: chấtlượng sản phẩm tuyệt đối với độ tin cậy cao khi sử dụng và lòng trung thực trong

Trang 11

quan hệ mua bán Các doanh nghiệp phải luôn coi đó là chiến lược cạnh tranh trênthị trường.

4.3 Mạng lưới tiêu thụ sản phẩm

Đây là tập hợp các kênh đưa sản phẩm của doanh nghiệp từ nơi sản xuấtđến nơi tiêu thụ sản phẩm Tùy theo đặc điểm của doanh nghiệp, đặc điểm củatừng loại hàng hóa, thị trường tiêu thụ, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của từng nhómdân cư, từng vùng lãnh thổ, mà các doanh nghiệp áp dụng một số loại kênh hoặckết hợp các kênh với nhau thành kênh hỗn hợp để phát huy tối đa vai trò của cáckênh tiêu thụ, sử dụng chúng như một công cụ cạnh tranh để đẩy mạnh hoạt độngtiêu thụ hàng hóa

4.4 Hoạt động giao tiếp khuyếch trương:

Hoạt động này bao gồm: Chào hàng, quảng cáo, chiêu hàng và một số hìnhthức khác

4.5 Uy tín của doanh nghiệp

Đây là yếu tố hết sức quan trọng trong quá trình cạnh tranh của doanhnghiệp trên thị trường Khi sản phẩm của doanh nghiệp chiếm được uy tín đối vớikhách hàng, điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp tiêu thụ được nhiều sản phẩm, từ

đó doanh nghiệp sẽ tiến hành mở rộng qui mô sản xuất , mở rộng, Và như vậymục tiêu của doanh nghiệp được thực hiện và đạt kết quả tốt

III/ Vai trò ngành Da-Giày đối với sự phát triển của đất nước

Với sự phát triển của cơ chế thị trường, chính sách mở cửa của nhà nước ,trong những năm gần đây ngành Da-Giày Việt nam đã trở thành ngành có sức pháttriển mạnh, kim ngạch xuất khẩu lớn đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tếchung của đất nước Cùng với sự phát triển mạnh của ngành Da-Giày thì một sốmặt hàng chủ lực của Việt nam cũng đóng góp đáng kể vào tốc độ phát triển chungcủa đất nước

Dưới đây là một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt nam giai đoạn 1995 vàước tính đến 2000

Trang 12

-Thủy sản 11.4 9.0 8.6 9.1 8.4 10.1

Nguồn: Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế T.W, Báo cáo kinh tế Việt nam 2000

Theo số liệu báo cáo trên ta thấy giá trị xuất khẩu giày dép tăng dần qua cácnăm

Theo báo cáo của công ty Da-Giày Hà nội, năm 2000 tổng kim ngạch xuất khẩucủa ngành đạt 1.468 triệu USD, đứng thứ ba sau Dầu-khí và Dệt may (bằngkhoảng hơn 10% kim ngạch xuất khẩu toàn quốc) Giải quyết công ăn việc làmcho khoảng trên 350.000 lao động và tốc độ phát triển bình quân của ngành là30%/năm

Về đóng góp cho ngân sách nhà nước thì theo đánh giá tổng kết năm 1998:

 Tổng doanh thu đạt hơn 1.128 tỷ đồng (bằng 102,5% kế hoạch 1998)

 Giá trị xuất khẩu toàn công ty 188 triệu USD đạt 97,1% kế hoạch 1998

 Tổng công ty nộp ngân sách vượt mức kế hoạch 5%, đạt 12,3 tỷ đồng Như vậy, với khả năng phát triển của mình ngành Da-Giày đã khẳng định vai tròcủa mình đối với sự phát triển của đất nước Hy vọng rằng trong những năm tiếptheo ngành Da-Giày vẫn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế và ngày càng pháttriển tốt hơn trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới

Trang 13

Phần II Thực trạng đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh

của ngành Da-Giày Việt nam

I/ Khái quát tình hình phát triển ngành Da-Giày; sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh

1/ Tình hình phát triển ngành Da-Giày Việt nam

Ngành công nghiệp Da-Giày Việt nam có vị trí quan trọng đối với nền kinh

tế, đối với quá trình Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước Côngnghiệp Da-Giày là ngành sản xuất gắn liền với nhu cầu may mặc và thời trang, làngành thu hút nhiều lao động, cung cấp nhiều sản phẩm tiêu dùng trong nước vàxuất khẩu Đây là ngành có khả năng khai thác nguồn nguyên liệu trong nước, cólợi thế về tiềm năng xuất khẩu lớn

Những năm đầu khi mới thành lập, tuy đã sớm trở thành ngành kinh tế độc lập,song cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, lạc hậu Hoạt động sản xuất kinhdoanh của ngành chủ yếu là thực hiện các hợp đồng hợp tác gia công mũ giày choLiên xô và các nước XHCN Đông Âu Sản phẩm làm ra với mẫu mã đơn giản,chất lượng không cao Kim ngạch xuất khẩu năm 1987 đạt 33,27 triệu rúp/USD,đến năm 1990 đạt 125 triệu rúp/USD Toàn ngành có hơn 50 đơn vị gia công sảnxuất da giày được hình thành trên toàn quốc

Khi Liên xô và các nước đông Âu tan rã đã tác động mạnh mẽ đến ngành Da-Giàynon trẻ và mới khởi sắc ở Việt nam Nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa hoặc giảithể, 2/3 trong số 25.000 lao động không có việc làm Kim ngạch xuất khẩu đang ởmức 125 triệu rúp/USD vào năm 1990 đã tụt xuống còn 31 triệu rúp/USD năm

1991 và 48 triệu rúp/USD vào năm 1992 (chủ yếu là giao nộp nốt số hàng tồnđọng từ năm 1990)

Cùng với sự phát triển của cơ chế thị trường, chính sách mở cửa của Nhà nướcnhững năm qua, trong nền kinh tế nói chung và trong ngành Da-Giày nói riêngđang có nhiều nỗ lực thực hiện những mục tiêu đề ra

Năm năm trở lại đây, ngành công nghiệp Da-Giày nước ta đã có sự phát triển vượtbậc về số lượng, chất lượng và chủng loại

Tính đến năm 1998, ngành Da-Giày Việt nam đã có 196 doanh nghiệp, trong đó:

 Doanh nghiệp nhà nước 109 đơn vị

 Doanh nghiệp tập thể và tư nhân 34 đơn vị

 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài 39 đơn vị

 Doanh nghiệp liên doanh 14 đơn vị

Trang 14

-Hiện nay xu hướng ngày càng mở rộng và khuyến khích vốn đầu tư từ nước ngoài,chủ yếu là doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

Nếu thời kỳ 1990-1992 chỉ có 4 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt độngtrong ngành Da-Giày thì đến 1998 con số này đã là 39 doanh nghiệp (tăng 9,75lần), với tổng vốn đầu tư thực hiện hơn 124 triệu USD

Năng lực sản xuất của ngành Da-Giày Việt nam theo các loại hình doanh nghiệpngày một thay đổi Năng lực sản xuất ngày một thay đổi theo hướng các doanhnghiệp 100% vốn nước ngoài sẽ chiếm ưu thế hơn

B ng 2: N ng l c s n xu t tính theo ngu n v n ảng 2: Năng lực sản xuất tính theo nguồn vốn đầu tư thực hiện ăng lực sản xuất tính theo nguồn vốn đầu tư thực hiện ực sản xuất tính theo nguồn vốn đầu tư thực hiện ảng 2: Năng lực sản xuất tính theo nguồn vốn đầu tư thực hiện ất tính theo nguồn vốn đầu tư thực hiện ồn vốn đầu tư thực hiện ốn đầu tư thực hiện đầu tư thực hiện ư thực hiện ực sản xuất tính theo nguồn vốn đầu tư thực hiệnu t th c hi nện

Chủng loại sản

phẩm

Tổng số (x 1000)

Dạng doanh nghiệp Quốc

doanh

Ngoài quốc doanh

Năm 1997, năng lực sản xuất của các thành phần kinh tế tham gia sản xuất

và xuất khẩu phân bố như sau:

Doanh nghiệp quốc doanh T.Ư Chiếm 25% về số lượng sản phẩm và 18% kimngạch xuất khẩu

Doanh nghiệp quốc doanh địa phương chiếm 19,5% về số lượng và 14,5% kimngạch xuất khẩu

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDT) là 37,5% về số lượng và 52,8% vềkim ngạch xuất khẩu

Kim ngạch xuất khẩu giày dép của toàn ngành là một trong những mặt hàng có tốc

độ tăng trưởng nhanh nhất

Bảng 3: Giá trị tổng kim ngạch xuất khẩu (đơn vị triệu USD)

Trang 15

Theo số liệu phân tích trên ta thấy tốc độ phát triển về giá trị xuất khẩu năm

2000 so với năm 1999 có sự chênh lệch khá lớn từ 34,87% xuống mức chỉ đạt0,75% mặc dù kim ngạch xuất khẩu có tăng

Theo báo cáo của Tổng công ty Da-Giày Việt nam, 6 tháng đầu năm 2001 giá trịxuất khẩu đạt 56 triệu USD Nguyên nhân của sự giảm sút đó là:

 Nhu cầu tiêu dùng giày dép trên thị trường thế giới giảm

 Sự cạnh tranh gay gắt và quyết liệt trên thị trường Da-Giày thế giới (đặc biệt làTrung quốc)

 Sự biến động, dịch chuyển đơn hàng, dịch chuyển lao động có tay nghề cao rangoài làm việc đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sản phẩm, tiến độgiao hàng cũng như sự thiếu hụt đơn hàng của một số doanh nghiệp

Tuy giá trị xuất khẩu có giảm, song ngành Da-Giày Việt nam vẫn không ngừngthay đổi mẫu mã sản phẩm, chất lượng sản phẩm ngày càng tăng và chiếm được

uy tín từ khách hàng trong nước cũng như nước ngoài Trong năm 1999, thị trườngxuất khẩu chủ yếu của ngành là EU đạt 932,4 triệu USD, chiếm 6,7% Trong đóAnh 14%, Đức 13,8%, Bỉ 10,5%, Pháp 9,5%, Hà lan 9%

Ngoài ra còn có Hoa kỳ, Hàn quốc, và Đài loan Hy vọng trong những năm tới tỷ

lệ này sẽ còn cao hơn, ngành Da-Giày Việt nam sẽ mở rộng thị trường hơn nữa racác nước khác, chiếm lĩnh thị trường thế giới và tạo được uy tín lớn đối với kháchhàng

Về cơ cấu sản phẩm, các loại giày thể thao, giày nữ, và giày vải đang là những mặthàng chủ lực của ngành Da-Giày Việt nam Trong năm 1999:

 Giày thể thao đạt sản lượng 102,734 triệu đôi, trị giá 879,966 triệu USD, chiếm66% tổng kim ngạch xuất khẩu

 Giày nữ đạt 39,201 triệu đôi, trị giá 182,099 triệu USD chiếm 14% tổng kimngạch xuất khẩu

 Giày vải đạt 33,095 triệu đôi, với trị giá 133,361 triệu USD chiếm 10% tổngkim ngạch xuất khẩu

 Các loại giày dép khác đạt 46,171 triệu đôi, trị giá 138,58 triệu USD, chiếm10% tổng kim ngạch xuất khẩu

Biểu đồ phân bố tỷ trọng xuất khẩu như hình dưới đây

-Tû träng xuÊt khÈu giµy (%)

Giµy v¶i C¸c lo¹i kh¸c

Trang 16

Thực tế cho thấy, các chủng loại giày hiện nay đã được nâng cao chất lượng

và mẫu mã nhưng vẫn phải đương đầu với sức ép cạnh tranh của các nước trongkhu vực Hơn nữa , ngành càn đang tồn tại những khó khăn lớn:

 Giày thể thao ở một số doanh nghiệp không thực hiện hết đơn hàng Đồng thời

do khó khăn về tài chính một số đối tác của doanh nghiệp đồng ý chuyển sangphương thức gia công

 Ngành Da-Giày vẫn gặp khoa khăn trong khâu mua nguyên liệu, chất lượngnguyên liệu không đảm bảo

Công nghiệp Da-Giày tuy có tiềm năng phát triển, có lợi thế trong xuấtkhẩu, song ngành vẫn còn nhỏ bé so với các nước trong khu vực và thế giới Tuy

đã đạt mức trưởng cao trong xuất khẩu nhưng sản lượng hàng xuất khẩu chỉ đạtmột tỉ lệ không đáng kể so với các nước trong khu vực (3) Trình độ công nghệ vàtrang thiết bị tuy đã đổi mới đáng kể song chỉ đạt mức trung bình trong khu vực Loại thiết bị cũ thế hệ thứ hai, thứ 3 còn đang được sử dụng phổ biến

Mặt khác, do thiếu vốn nên các doanh nghiệp phần lớn chỉ gia công sản phẩm chonước ngoài Trình độ nghiên cứu công nghệ mới, thiết kế mẫu thời trang và đàotạo chuyên ngành còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển và khả năng cạnhtranh Việc nghiên cứu chưa thực sự trở thành trung tâm chất xám

Nguyên vật liệu trong đó có thuộc da và các thiết bị chưa được quan tâmđầu tư Hầu hết các doanh nghiệp phụ thuộc vào đối tác nước ngoài và phải nhậpnguyên liệu, do đó mức độ chủ động và hiệu quả sản xuất không cao

Đầu tư còn manh mún tản mạn nhất là các doanh nghiệp nhà nước Các doanhnghiệp cạnh tranh lẫn nhau về giá gia công, làm hạn chế lợi ích của phía Việt nam

Tình trạng đánh thuế trùng, hoàn thuế chậm còn phổ biến, hàng nhập lậutràn lan, làm cho các doanh nghiệp khó cạnh tranh về giá bán trên thị trường nộiđịa Cơ chế chính sách về tại chính còn nhiều điểm cứng nhắc, chưa phù hợp với

cơ chế thị trường, chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp quốcdoanh Đặc biệt đối với lĩnh vực hết sức khó khăn trong phát triển như thuộc dacần có sự quan tâm đúng mức từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các doanhnghiệp thực sự tin tưởng , yên tâm phát triển sản xuất

2/ Sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh ngành Da-Giày Việt nam

Ngành công nghiệp Da-Giày của nhiều nước, nhất là các nước đang pháttriển nói chung và Việt nam nói riêng, có vị trí quan trọng trong quá trình chuyểndịch cơ cấu và phát triển kinh tế, góp phần tạo thêm việc làm , tăng nguồn thungoại tệ cho quốc gia thông qua xuất khẩu

Công nghiệp Da-Giày Việt nam là ngành công nghiệp nhẹ tuy đã tồn tại vàphát triển khá lâu, hoạt động sản xuất và xuất khẩu giày dép đã đem lại nhiều kếtquả tốt, hiện tại ngành đang ở vị trí thứ ba sau dầu khí và dệt may về kim ngạch

Trang 17

nguyên liệu, về sáng tác và phát triển mẫu mã, về công nghệ và kỹ thuật, về quản

lý Đứng trước thực trạng trên thì việc tăng cường khả năng cạnh tranh của toànngành là tất yếu khách quan

Hơn nữa, mọi doanh nghiệp tham gia sản xuất đều theo đuổi mục tiêu củamình, mục tiêu chủ yếu và xuyên suốt quá trình hoạt động kinh doanh đó là lợinhuận Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi các doanh nghiệp nói chung, các doanhnghiệp Da-Giày nói riêng cần tăng cường khả năng cạnh tranh Thực chất của tăngkhả năng cạnh tranh là tạo ra ưu thế về mọi mặt như: giá cả, giá trị sử dụng, chấtlượng, chủng loại và mẫu mã sản phẩm và khi sản phẩm được tung ra thị trườngthì sẽ thu hút được sự chú ý của mọi người Như vậy, mục tiêu của doanh nghiệp

đã đạt được , nhất định sẽ đem lại kết quả tốt

3/ Thực tế ở một số công ty Da-Giày Việt nam

3.1 Công ty cổ phần Giày Hiệp An

Từ năm 1993 trở về trước, nhà máy Giày Hiệp an sản xuất chủ yếu là giacông cho nước ngoài các sản phẩm như giày, dép đi trong nhà, túi xách, cặp, vali, Do kết quả sản xuất kinh doanh không cao, đứng trước thực trạng trên, nhàmáy Giày Hiệp An đã có kế hoạch chuyển đổi hình thức hoạt động Đến tháng 10năm 1994, nhà máy Giày Hiệp An được chuyển thành Công ty cổ phần Giày Hiệp

An với vốn điều lệ là 4,79 tỷ đồng Việt nam Trong đó:

 Cổ phần củ nhà nước chiếm 36%

 Cổ phần bán cho cán bộ công nhân viên trong công ty 34%

 Cổ phần bán ra ngoài 30%

Tình hình sản xuất của công ty được minh họa trong bảng sau:

B ng 4: Tình hình s n xu t c a công ty Gi u Hi p Anảng 2: Năng lực sản xuất tính theo nguồn vốn đầu tư thực hiện ảng 2: Năng lực sản xuất tính theo nguồn vốn đầu tư thực hiện ất tính theo nguồn vốn đầu tư thực hiện ủa công ty Giàu Hiệp An àu Hiệp An ện

cCPH

Trang 18

-Nguồn: Công ty Hiệp An ngày 14/12/2000

Vậy sau hơn 5 năm Công ty cổ phần hóa, kết quả sản xuất kinh doanh của Công tyHiệp An đã có nhiều chuyển biến đáng kể:

 Doanh thu qua các năm đều tăng, từ 6,3 tỷ năm 1995 lên 30,8 tỷ năm 1999(riêng năm 1996 có giảm do ảnh hưởng của tình hình khủng hoảng tàichính tại Châu á làm cho Công ty không ký được hợp đồng)

 Lợi nhuận tăng nhanh từ 18 triệu đồng/năm trước khi cổ phần hóa, lên

2320 tr.DVN năm 1999 và dự kiến 2300 tr.DVN vào năm 2000

 Nhờ có lợi nhuận tăng nhanh kéo theo tỷ suất lợi nhuận trên vốn tăng từ0,24% trước cổ phần hóa lên 30,08% năm 1999

 Số lượng lao động trước cổ phần hóa và hiện nay nhìn chung là ổn định

 Lợi ích của người lao động được tính từ thu nhập hàng tháng tăng khá, từ

lệ gia công là 40%, năm 1999 là 60% dự kiến năm 2000 là 80% Thị trường kháchhàng đơn hàng đầu được mở rộng

3.2 Công ty Da-Giày xuất khẩu Thái Bình

Trước đây hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Da-Giày xuất khẩuThái Bình chủ yếu là sản xuất dép cung cấp cho thị trường Liên xô cũ Sau khiLiên xô sụp đổ, mặt hàng truyền thống bị mất thị trường, phân xưởng sản xuất dép

đã nhanh chóng được thay thế bằng phân xưởng sản xuất găng tay da xuất khẩu.Những năm 1990-1996, Công ty lại rơi vào tình trạng khó khăn gay gắt Thịtrường không ổn định, công nhân không có việc làm Công ty chưa tạo lập đượcmột thị trường truyền thống ổn định Đến 1998, được sự giúp đỡ của Công ty giàyThăng long, Công ty đã đưa 2 dây chuyền sản xuất găng vải mới vào hoạt độngvới công suất 1,2 triệu đôi / năm, một phân xưởng sản xuất găng tay da công suất

150 ngàn đôi / năm Mặc dù mới huy động được 60%công suất , Công ty đã xuấtkhẩu hơn 400 ngàn đôi giày vải và 130 ngàn đôi găng tay da với doanh thu đạt 12

tỷ đồng

Máy móc hiện đại và đồng bộ nguồn nhân lực dồi dào (hiện Côngty có 550công nhân có kỹ thuật) nhưng với khó khăn về vị trí, nguyên liệu sản xuất nhất là

Trang 19

Công ty Giày Thăng long Sự sát nhập để thống nhất và tiện lợi trong việc quản lý

sẽ tạo sức mạnh cạnh tranh, giữ vững thị trường ổn định, tránh đầu tư tràn lan,manh mún gây hiệu quả thấp Hy vọng rằng, trong thời gian sắp tới một mô hình

tổ chức mới sẽ mở ra một triển vọng thuận lợi hơn cho sự phát triển sản xuất kinhdoanh của ngành

3.3 Công ty Da-Giày Hà nội

Công ty Da-Giày Hà nội tiền thân là nhà máy da Thụy khuê với hoạt độngsản xuất chính là thuộc da và phục vụ ngành dệt Hầu hết các máy móc, thiết bịđều cũ và lạc hậu Hoạt động sản xuất của Côngty thời gian này hết sức khó khăn,qui mô sản xuất không thích ứng, doanh thu bị gỉam sút, việc làm của người laođộng không được đảm bảo Từ 1998 đến nay, Công ty Da-Giày Hà nội đã quyếttâm chuyển hướng kinh doanh các loại hình sản phẩm Công ty đã mạnh dạn đầu

tư 2 dây chuyền sản xuất giày vải với công suất 1,2 triệu đôi mỗi năm và một dâychuyền sản xuất giày da nam, nữ có công suất 500 ngàn đôi/năm

Hiện nay, sản phẩm của Công ty đã và đang chiếm lĩnh được thị trườngtrong và ngoài nước Công ty đã xuất khẩu được sang thị trường các nước EU, Đàiloan, Hàn quốc,

Ngoài các công ty trên, còn rất nhiều công ty như: Công ty giày Hải dương,Công ty giày Hải phòng, Công ty giày Yên viên, Công ty giày T.P Hồ Chí Minh,Công ty giày Hưng yên, cũng không ngừng đầu tư thay đổi dây chuyền côngnghệ vào sản xuất giày dép nhằm nâng cao năng suất chất lượng, và uy tín về sảnphẩm của mình đối với thị trường trong và ngoài nước Tạo ra được một sức mạnhcạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới

II/ Đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh ngành Da-Giày Việt nam

Đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh ngành Da-Giày Việt nam là tất yếukhách quan trong quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Đầu tư vào đâu?Đầu tư như thế nào? Hiệu quả vốn đầu tư ra sao để nâng cao khả năng cạnh tranh?

Là những câu hỏi bức xúc luôn đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp Tuy nhiên, để trảlời những câu hỏi này cần phải xác định dựa vào qui mô doanh nghiệp, nhu cầu thịtrường trong và ngoài nước; lợi thế sẵn có của doanh nghiệp mà đi đến quyết địnhđầu tư cho hợp lý

Xét về nguyên nhân dẫn đến khả năng cạnh tranh kém thì bản thân doanhnghiệp có rất nhiều Có thể nêu ra một số nguyên nhân chính dưới góc độ đầu tưnhư sau:

1/ Vốn và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong doanh nghiệp

Vốn là nhân tố hết sức quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh củacác doanh nghiệp, là nhân tố mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triểndoanh nghiệp, là nguồn lực quan trọng cho hoạt động đầu tư nói chung và đầu tưnâng cao khả năng cạnh tranh của ngành Da-Giày nói riêng

Trang 20

-Để có được lượng vốn cần thiết cho quá trình phát triển, ngành Da-Giày huy động

từ rất nhiều nguồn khác nhau:

 Trong nước: thông qua hình thức vay vốn từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng, Huy động từ dân, vốn đầu tư của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, vốnngân sách nhà nước

 Ngoài nước: chủ yếu thực hiện dưới hai hình thức liên doanh và 100% vốnnước ngoài

Trong giai đoạn 90-95 các doanh nghiệp Việt nam tìm kiếm mọi nguồn vốn

để đầu tư trên 2200 tỷ đồng Nhờ có chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài

và mở cửa nền kinh tế ngành Da-Giày đã tăng trưởng với tốc độ cao, lớn lên vềqui mô, đa dạng về sản phẩm Tiền đề quan trọng của bước phát triển này là sựđầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật của mọi thành phần kinh tế Theo số liệu thống kêtrong khoảng thời gian 92-97, tổng vốn đầu tư vào nhà xưởng thiết bị trong lĩnhvực sản xuất giày, đồ da gần 6000 tỷ đồng, trong đó phần thiết bị chiếm hơn58,3% (trên 3500 tỷ đồng)

Trong lĩnh vực thuộc da, tuy có rất ít sự đầu tư lớn, đồng bộ, các cơ sở sảnxuất da thuộc cũng đã đầu tư trên 200 tỉ đồng vào nhà xưởng và thiết bị, trong đókhoảng 140 tỉ đồng dành cho các loại thiết bị thuộc da, chiếm 70%

Do cuộc khủng hoảng tài chính ở nhiều khu vực trên thế giới đã làm chonhu cầu tiêu dùng giảm, các đơn đặt hàng bị cắt giảm, và ép giá từ 5-7%, nhất làthị trường Hàn quốc (từ 20-30%) Cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhànước với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác đặc biệt là cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng gay gắt Cụ thể hai năm gầnđây các doanh nghiệp Việt nam luôn trong tình trạng thiếu vốn hoạt động sản xuấtkinh doanh Các doanh nghiệp phải tự xoay xở từ các nguồn khác nhau như: vayngắn hạn, trung hạn tại các ngân hàng với lãi suất cao, tự vay các đối tác nướcngoài thậm chí phải sử dụng cả vốn lưu động để đầu tư nên tình hình tài chính rấtkhó khăn và hạn chế đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Ví dụ như doanh nghiệpsản xuất giày dép Hải phòng

Từ năm 1995 trở về trước, nói đến vốn, doanh nghiệp nào cũng đều nóirằng mình đang thiếu; song các ngân hàng lại kêu rằng họ rất khó tìm kiếm kháchhàng để cho vay Điều này có vẻ như một nghịch lý –người muốn vay thì khôngvay được; người cho vay lại không có khách hàng Nguyên nhân là ở cơ chế chínhsách cho các doanh nghiệp vay vốn lúc đó Các nguồn vốn vay phần lớn là trunghạn và ngắn hạn với lãi suất cao, vượt xa khả năng hoàn trả đúng hạn của cácdoanh nghiệp Chẳng hạn với một khoản vay trung hạn cho 3 năm, thì mỗi nămphải trả tới hơn 40 % khoản tiền vay cả gốc và lãi Trước thực tế như vậy dù cóđược vay cũng không dám vay Hơn nữa, nếu doanh nghiệp vay vốn ngân hàng đểđầu tư thì bắt buộc phải có vốn tự có tương đương 30% khoản vay

Ngày đăng: 25/04/2013, 12:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Giá trị tổng kim ngạch xuất khẩu  (đơn vị triệu USD) - Thực trạng đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành Da-Giày Việt nam
Bảng 3 Giá trị tổng kim ngạch xuất khẩu (đơn vị triệu USD) (Trang 14)
Bảng 6: Tỷ lệ nhập xuất qua các năm  (đơn vị 1000 USD) - Thực trạng đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành Da-Giày Việt nam
Bảng 6 Tỷ lệ nhập xuất qua các năm (đơn vị 1000 USD) (Trang 25)
Bảng 7 Một số loại vật liệu và nguồn cấp (triệu yard) - Thực trạng đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành Da-Giày Việt nam
Bảng 7 Một số loại vật liệu và nguồn cấp (triệu yard) (Trang 32)
Bảng 8 Một số mục tiêu định lượng - Thực trạng đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành Da-Giày Việt nam
Bảng 8 Một số mục tiêu định lượng (Trang 33)
Bảng 9 Các dự án đầu tư chiều sâu - Thực trạng đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành Da-Giày Việt nam
Bảng 9 Các dự án đầu tư chiều sâu (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w