Luận văn kinh tế: Phân tích chất lưọng sản phẩm trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Trang 1Lời mở đầu
Hiện nay, Đảng và nhà Nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế thịi
trường nhiều thành phần có sự quảan lý của nhà nước theo định hướng Xã hộichủ nghĩa, mở rộng quyền tự do kinh doanh của các doang nghiệp và cácthành phần kinh tế khác Sự phát triển kinh tế hàng hoá Xã hội chủ nghĩatrong điều kiện "mở cửa và cạnh "tranh kinh tế" đòi hỏi tất cả các đơn vị sảnxuất kinh doanh phải quan tâm đến hai vấn đề cực kỳ quan trọng đó là: Giá cả
và chất lượng sản phẩm, hàng hoá, trong đó chất lượng sản phẩm hầu như làmột yếu tố quyết định Vậy phải làm thế nào để đảm bảo vầ nâng cao chấtlượng một cách kinh tế nhất để nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm ở cácdoanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế hiện nay?
Trong phạm vi giới hạn, cuốn đề án này chỉ xin được đề cập tới việcnâng cao chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp công nghiệp trong nước.Nhằm làm sáng tỏ hơn thực trạng và đưa ra một số giải pháp chính nhằmnâng cao chất lượng sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh với các sản phẩmnước ngoài, trong nước cũng như trên thị trường thế giới
Kết cấu đề tài gồm có 3 phần lớn :
I Lý luận chung về chất lượng sản phẩm
II Phân tích chất lưọng sản phẩm trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
III M ột số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng sức cạnh tranh của hàng Việt Nam trong thị trường trong nước cũng như thị trường Thế giới.
Trang 3Phần I:
Lý luận chung về chất lượng sản phẩm
I Tổng quan về chất lượng sản phẩm
1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm
Theo quan điểm triết học của Mác thì chất lượng sản phẩm là mức độ,thước đo biểu thi giá trị sử dụng của nó Giá trị sử dụng của một sản phẩmlàm nên tính hữu ích của sản phẩm đó và nó chính là chất lượng của sảnphẩm.(Giáo trình QTKDTH_Trung tâm quản trị kinh doanh tổng hợp)
Theo quan điểm của hệ thống Xã hội chủ nghĩa trước đây thì chấtlượng sản phẩm là tổng hợp những đặc tính kinh tế kỹ thuật nội tại phản ánhgiá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng những nhu cầu địnhtrước cho nó trong những điều kiện xác định về kinh tế kỹ thuật (Giáo trìnhQTKDTH_Trung tâm quản trị kinh doamh tổng hợp) Đây là một định nghĩaxuất phát từ quan điểm của các nhà sản xuất Về mặt kinh tế quan điểm nàyphản ánh đúng bản chất của sản phẩm qua đó dễ dàng đánh giá được mức độchất lượng sản phẩm đạt được từ đó xác định được rõ ràng những đặc tính vànhững chỉ tiêu nào cần hoàn thiện Tuy nhiên, chất lượng sản phẩm chỉ đượcxem xét một cách biệt lập, tách rời với thị trường làm cho chất lượng sảnphẩm không thực sự gắn với nhu cầu và sự vận động biến đổi của nhu cầu thịtrường, với hiệu quả kinh tế và điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp
Theo giáo sư Ishikawa chuyên gia về chất lượng của Nhật Bản chorằng: "Chất lượng là sự thoả mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất ".(Quảm lý chất lượng theo phương pháp Nhật.Kaoru Ixikaoa NXB KH_KT1990)
Theo Feigenbaum: "chất lượng sản phẩm là tập hợp các đặc tính kỹthuật công nghệ và vận hành của sản phẩm, nhờ chúng mà sản phẩm đáp ứng
Trang 4được các yêu cầu của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm" ( Quản lý chấtlượng đồng bộ John.S.Oakard NXBTK 1994)
Còn Juran thì định nghĩa chất lượng sản phẩm đơn giản, ngắn gọn:
"Chất lượng là sự phù hợp với sử dụng, với công dụng" (Quản lý chất lượngđồng bộ John.S.Oakard NXBTK 1994) Phần lớn các chuyên gia về chấtlượng trong nền kinh tế thị trường coi chất lượng sản phẩm là sự phù hợp vớinhu cầu hay mục đích sử dụng của người tiêu dùng
Theo quan điểm chất lượng hướng theo công nghệ thì: chất lượng sảnphẩm là tổng tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện ở mức độ thoả mãnnhững yêu cầu định trước cho nó trong những điều kiện xác định về kinh tế,
kỹ thuật, xã hội
Chất lượng sản phẩm là một hệ thống đặc trưng nội tại của sản phẩmđược xác định bằng những thông số có thể đo được hoặc so sánh được.Những thông số này lấy ngay trong sản phẩm hoặc giá trị sử dụng của nó
Chất lượng sản phẩm là tập hợp những tính chất của sản phẩm có khảnăng thoả mãn được những nhu cầu phù hợp với công dụng của sản phẩm đó.chất lượng sản phẩm là sự phù hợp với các tiêu chuẩn hoặc tiêu chuẩn kỹthuật
Như quan điểm này chất lượng sản phẩm được quy định bởi đặc tínhnội tại của sản phẩm, không phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài (Quản trị chấtlượng GS Nguyễn Quang Toản NXBTK 1995)
Phù hợp với công dụng sản phẩm theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN5814: 1994 thì: "Chất lượng là tập hợp các đặc tính một thực thể (đối tượng)tạo cho thực thể (đối tượng) có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu rahoặc tiềm ẩn"
Để phát huy mặt tích cực và khắc phục những hạn chế của các quanđiểm trên, tổ chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ISO (Intenational forStandard Organization) đã đưa ra khái niệm ISO cho rằng: "chất lượng sảnphẩm, dịch vụ là tổn thể các chỉ tiêu, những đặc trưng của sản phẩm, thể hiệnđược sự thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định" (Quảntrị chất lượng trong doanh nghiệp theo TCVN ISO 9000 PTS Nguyễn thịĐịnh_ - NXBTK)
Trang 5Đây có thể nói là một khái niệm hiện đại về chất lượng sản phẩm, đượcchấp nhận và sử dụng rộng rãi nhất.
2 Những chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm
Chất lưọng sản phẩm được đánh giá qua một hệ thống các chỉ tiêu cụthể Những chỉ tiêu chất lượng đó chính là các thông số kinh tế_ - kỹ thuật vàcác đặc tính riêng có của sản phẩm phản ánh tính hữu ích của nó Những đặctính này gồm có:
Trang 6+ Tiết kiệm tiêu hao nguyên liệu, năng lượng
+ Chi phí, giá cả
Các chỉ tiêu này không tồn tại độc lập tách rời mà có mối liên hệ chặtchẽ với nhau mỗi loại sản phẩm cụ thể sẽ có những chỉ tiêu mang tính trội vàquan trọng hơn những chỉ tiêu khác Mỗi doanh nghiệp phải lựa chọn vàquyết định những chỉ tiêu quan trọng nhất làm cho sản phẩm của mình mangsắc thái riêng phân biệt với sản phẩm đồng loại khác trên thị trường Ngoài racác chỉ tiêu an toàn đối với người sử dụng và xã hội, môi trường ngày càngquan trọng và trở thành bắt buộc đối với các doanh nghiệp Đặc biệt là đối vớinhững sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và cuộc sống của conngười
3 Những nhân tố tạo nên chất lượng sản phẩm.
cChất lượng sản phẩm được tạo nên từ nhiều yếu tố, nhiều điều kiệntrong chu kỳ sống của sản phẩm PLC (Product Life Cycle) Nó được hìnhthành từ khi xây dựng phương án sản phẩm, thiết kế, lập kế hoạch, chuẩn bịsản xuất, sản xuất, phân phối và tiêu dùng Nói khác đi thì chất lượng sảnphẩm được hình thành trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh, hoạt độngcủa một doanh nghiệp, một tổ chức do nhiều yếu tố quyết định như
+ Chất lượng máy móc thiết bị sử dụng trong quá trình sản xuất
Trang 7Như vậy chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm hànghoá mà ta vẫn thường nghĩ Chất lượng có thể áp dụng cho mọi thực thể đó làchất lượng sản phẩm, chất lượn của một hoạt động, chất lượng của một củamột doanh nghiệp
Từ đó chúng ta thấy rằng chất lượng sản phẩm được cấu thành từ rấtnhiều các nhân tố và các nhân tố này đều có vai trò quan trọng ảnh hưởng tớichất lượng sản phẩm, chúng ta có thể thấy rõ hơn qua chuỗi giá trị (The valuechain)
Trang 8Cơ sở hạ tầng của công tyNguồn nhân lựcPhát triển công nghệCung ứng
Hậu cần
nội bộ Sản xuất
Hậu cầnbên ngoài
Marketing
và bánhàng
Dịch vụ
(vẽ hình chuỗi giá trị)
4 Những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
Có hai nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm đó là: + Nhóm nhân tố bên trong
+ Nhóm nhân tố bên ngoài
Như chúng ta đã biết có rất nhiều nhân tố cấu thành chất lượng sảnphẩm và cũng chính những nhân tố này là nhân tố ảnh hương đến chất lượngsản phẩm và được xếp vào nhóm nhân tố bên trong, ngoài ra cũng còn cónhóm nhân tố bên ngoài ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
4.1 Nhóm nhân tố bên trong
+ Có thể làm chủ được công nghệ ngoại nhập để sản xuất ra sảnphẩm với chất lượng mà kỹ thuật công nghệ quy định hay không?
+ Có khả năng ổn định và nâng cao dần chất lượng sản phẩm vớichi phí kinh doanh chấp nhận được hay không?
b Khả năng về kỹ thuật công nghệ
Kỹ thuật công nghệ quy định giới hạn tối đa của chất lượng sản phẩm:
kỹ thuật công nghệ nào thì sẽ cho chất lượng sản phẩm tương ứng Chất lượng
và tính đồng bộ của máy móc thiết bị sản xuất ảnh hưởng đến tính ổn định củachất lượng sản phẩm do máy móc thiết bị đó sản xuất ra
Giá trịgia tăng
Trang 9Nguyên vật liệu là nhân tố trực tiếp cấu thành sản phẩm, tính chất củanguyên vật liệu quyết định trực tiếp đến tính chất của sản phẩm Nên chú ýrằng không phải là từng loại mà là tính đồng bộ về chất lượng của các nguyênvật liệu tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm đều tác động đến tiêu thứcchất lượng sản phẩm Ngày nay, việc nghiên cứu, phát hiện và chế tạo cácnguyên vật liệu mới ở từng doanh nghiệp dẫn đến những thay đổi quan trọng
về chất lượng sản phẩm
d Trình độ tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất
Đây là nhân tố tác động trực tiếp, liên tục đến chất lượng sản phẩm củadoanh nghiệp Có thể nói dù có đầy đủ các nhân tố trên nhưng nhà quản lý,đặc biệt là quản lý sản xuất không tốt sẽ dẫn đến làm giảm hiệu lực của cả banhân tố đã nêu trên, làm gián đoạn sản xuất, giảm chất lượng nguyên vật liệu
và làm giảm thấp tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm Cũng vì có vai trò như vậynên tổ chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế đã tập hợp, tổng kết và tiêu chuẩnhoá, định hướng những thành tựu và kinh nghiệm quản lý chất lượng ở cácdoanh nghiệp thành bộ ISO 9000 ISO 9000 là bộ các tiêu chuẩn về chấtlượng của thế giới trong thập niên cuối thế kỷ 20 với tư tưởng nhất quán làchất lượng sản phẩm do chất lượng quản lý quy định
Trong thực tiễn quản trị kinh doanh ở các doanh nghiệp nhiều chuyêngia về quản lý chất lượng cho rằng 80% các vấn đề về chất lượng do khâuquản lý gây ra
4.2 Nhóm nhân tố bên ngoài
a Nhu cầu và cầu về chất lượng sản phẩm
Nhu cầu và cầu về chất lượng sản phẩm là xuất phát điểm của quản lýchất lượng vì nó là một trong các căn cứ quan trọng để xác định các tiêu thứcchất lượng cụ thể Cầu về chất lượng sản phẩm cụ thể phụ thuộc vào nhiềunhân tố trong đó có nhân tố thu nhập của người tiêu dùng: người tiêu dùng cóthu nhập cao thường có yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm và ngược lại, khithu nhập của người tiêu dùng thấp thì họ không mấy nhậy cảm với chất lượngsản phẩm Hơn nữa, do tập quán, đặc tính tiêu dùng khác nhau mà người tiêudùng ở từng địa phương, từng vùng, từng nước có nhu cầu về chất lượng sảnphẩm khác nhau Mặt khác, cầu về chất lượng sản phẩm là phạm trù phát triểntheo thời gian
b Trình độ phát triển của kỹ thuật công nghệ sản xuất
Nó phản ánh đòi hỏi khách quan về chất lượng sản phẩm Trong quátrình phát triển kinh tế theo hướng hội nhập với khu vực và quốc tế, cạnhtranh ngày càng gay gắt và mang tính "quốc tế hoá" Chất lượng là một trongnhững nhân tố quan trọng quy định lợi thế cạnh tranh, trình độ chất lượng sảnphẩm cũng được "quốc tế hoá" và ngày càng phát triển Nếu doanh nghiệpkhông nghiên cứu kỹ và tính toán nhân tố này, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ
Trang 10bị bất lợi về chất lượng và do đó giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp Chấtlượng sản phẩm của nhiều doanh nghiệp sử dụng kỹ thuật công nghệ lạc hậuhiện nay ở nước ta là ví dụ điển hình về vấn đề này.
c Cơ chế quản lý kinh tế
Đây là một nhân tố bên ngoài tác động mạnh mẽ đến phạm trù chấtlượng sản phẩm Cơ chế kế hoạch hoá tập chung quy địmh tính thống nhấtcủa chất lượng sản phẩm Trong điều kiện đó, chất lượng sản phẩm hầu nhưchỉ phản ánh đặc trưng kinh tế - kỹ thuật của sản xuất mà không chú ý đếncầu và nhu cầu của người tiêu dùng Khi chuyển sang cơ chế thị trường, cạnhtranh là nền tảng, chất lượng sản phẩm không còn là phạm trù của riêng nhàsản xuất mà là phạm trù phản ánh cầu của người tiêu dùng Chất lượng sảnphẩm không phải là phạm trù bất biến mà thay đổi theo những nhóm ngườitiêu dùng và thời gian Với cơ chế đóng, chất lượng sản phẩm là một phạm trùchỉ gắn liền với các điều kiện kinh tế kỹ thuật của một nước, ít và hầu nhưkhông chịu ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế - kỹ thuật thuộc phạm vi quốc
tế Do đó, yếu tố sức ỳ của phạm trù chất lượng thường lớn, chất lượng chậmđược thay đổi Cơ chế kinh tế mở, hội nhập chất lượng là một trong nhữngnhân tố quan trọng quy định lợi thế cạnh tranh quốc tế Vì vậy đòi hỏi chấtlượng sản phẩm mang tính "quốc tế hoá"
d Vai trò quản lý kinh tế vĩ mô
Trong cơ chế kinh tế thị trường hoạt động quản lý vĩ mô của nhà nướctrước hết là hoạt động xác lập các cơ chế phấp lý cần thiết vế chất lượng sảnphẩm và quản lý chất lượng sản phẩm Pháp lệnh chất lượng hàng hoá quyđịnh các vấn đề pháp lý liên quan đến cơ quan quản lý chất lượng ban hành và
áp dụng tiêu chuẩn, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân kinh doanh vàquyền của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm Bên cạnh đó, hoạt độngquản lý vĩ mô cũng không kém phần quan trọng là kiểm tra, kiểm soát tínhtrung thực của người sản xuât trong việc sản xuất các sản phẩm theo tiêuchuẩn chất lượng đã đăng ký, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.Với nhiệm vụ
đó quản lý vĩ mô đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo ổn định chấtlượng sản phẩm phù hợp hợp với lợi ích người tiêu dùng, của xã hội
II Đặc điểm của chất lượng sản phẩm
1 a c C hất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế xã hội
Trang 11cChất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế xã hội, công nghệ tổnghợp luôn thay đổi theo thời gian và khôn gian phụ thuộc chặt chẽ vào môitrường và điều kiện kinh doanh cụ thể trong từng thời kỳ.
2 Chất lượng sản phẩm là một chỉ tiêu có thể đo lường
Mỗi sản phẩm được đặc trưng bằng các tính chất, đặc điểm riêng biệtbên trong của bản thân sản phẩm đó Những đặc tính đó phản ánh tính kháchquan của sản phẩm thể hiện trong quá trình hình thành và sử dụng sản phẩm
đó Những đặc tính khách quan này phụ thuộc rất lớn và trình độ thiết kế quyđịnh cho sản phẩm đó Mỗi tính chất được biểu thị các chỉ tiêu cơ lý hoá nhấtđịnh có thể đo lường đánh giá được Vì vậy nói đến chất lượng phải đánh giáthông qua hệ thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể Đặc điểm này khẳng địnhnhững sai lầm cho rằng chất lượng sản phẩm là các chỉ tiêu không thể đolường, đánh giá được
Nói đến chất lượng sản phẩm phải xem xét sản phẩm đó thoả mãn tớimức độ nào nhu cầu của khách hàng mức độ thoả mãn phụ thuộc rất lớn vàochất lượng thiết kế và những tiêu chuẩn kỹ thuật đặt ra cho mỗi sản phẩm ởcác nước tư bản, qua phân tích thực tế chất lượng sản phẩm trong nhiều năm
đi đến kết luận rằng chất lượng sản phẩm tốt hay xấu thì 75% phụ thuộc vàogiải pháp thiết kế, 20% phụ thuộc vào công tác kiểm tra kiểm soát và chỉ có5% phụ thuộc vào kết quả nghiệm thu cuối cùng
3 Chất lượng sản phẩm mang tính dân tộc
C
chất lượng sản phẩm còn mang tính dân tộc thể hiện ở truyền thống tiêudùng Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và mỗi vùng đều có thị hiếu tiêu dùng khácnhau Mỗi sản phẩm có thể được xem là tốt ở nơi này nhưng lại được coi làkhông tốt ở nơi khác Trong kinh doanh không thể có một chất lượng nhưnhau ở tất cả các vùng mà phải cần câưăn cứ vào hoàn cảnh cụ thể để đề racác phương án về chất lượng cho phù hợp Chất lượng chính là sự phù hợp vềmọi mặt với yêu cầu của khách hàng Chất lượng biểu thị ở hai cấp độ vàphản ánh hai mặt khách quan và chủ quan hay nói cách khác còn gọi là hailoại chất lượng:
+ Chất lượng trong tuân thủ thiết kế: thể hiện ở mức độ sản phẩm đạtđược so với tiêu chuẩn thiết kế đề ra Khi sản phẩm sản xuất ra có những đặctính kinh tế kỹ thuật càng gần với tiêu chuẩn thiết kế thì chất lượn càng cao,được phản ánh thôn qua các chỉ tiêu như:
Trang 12Tỷ lệ phế phẩm
*
Sản phẩm không đạt yêu cầu thiết kế
Loại chất lượng này phản ánh những đặc tính bản chất khách quan cuẩsản phẩm do đó liên quan chặt chẽ đến khả năng cạnh tanh và chi phí
+ Chất lượng trong sự phù hợp: nó phản ánh mức phù hợp của sảnphẩm với nhu cầu khách hàng.Chất lượng phụ thuộc vào mức độ phù hợp củasản phẩm thiết kế so với nhu cầu và mong muốn của khách hàng Mức độ phùhợp càng cao thì chất lượng càng cao Loại chất lượng này phụ thuộc vàomong muốn và sự đánh giá chủ quan của người tiêu dùng vì vậy nó tác độngmạnh mẽ đến khả năng tiêu thụ sản phẩm
III Các loại chất lượng sản phẩm
Để hiểu đầy đủ và có những biện pháp không ngừng nâng cao chấtlượng sản phẩm, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm chắc các loại chất lượngsản phẩm Theo hệ thống chất lượng ISO_9000 người ta phân các loại chấtlượng sau
- Chất lượng thiết kế: là giá trị riêng của các thuộc tính được phác thảo
ra trên cơ sở nghiên cứu trắc nghiệm của sản xuất và tiêu dùng Đồng thời có
so sánh với các hàng tương tự của nhiều nước Chất lượng thiết kế được hìnhthành ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành chất lượng sản phẩm
- Chất lượng tiêu chuẩn: là giá trị riêng của những thuộc tính của sảnphẩm được thừa nhận, phê chuẩn trong quản lý chất lượng sản phẩm Chấtlượn sản phẩm là nội dung tiêu chuẩn một loại hàng hoá Chất lượng tiêuchuẩn có ý nghĩa pháp lệnh buộc phải thực hiên nghiêm chỉnh trong quá trìnhquản lý chất lượng Chất lượng tiêu chuẩn có nhiều loại:
+ Tiêu chuẩn quốc tế là những tiêu chuẩn do tổ chức chất lượng quốc tế
đề ra được các nước chấp nhận và xem xét áp dụng cho phù hợp với điều kiệntừng nước
Trang 13+ Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) là tiêu chuẩn nhà nước, được xâydựng trên cơ sở nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, kinhnghiệm tiêu biểu và tiêu chuẩn quốc tế phù hợp với điều kiện kinh tế xã hộiViệt Nam.
+ Tiêu chuẩn nghành (TCN) là các chỉ tiêu về chất lượng do các bộ, cáctổng cục xét duyệt và ban hành, có hiệu lực đối với tất cả các đơn vị trongnghành địa phương đó
+ Tiêu chuẩn doanh nghiệp (TCDN) là các chỉ tiêu về chất lượng dodoanh nghiệp tự nghiên cứu và áp dụng trong doanh nghiệp mình cho phùhợp với điều kiện riêng của doanh nghiệp đó
- Chất lượng thực tế: chỉ mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng củasản phẩm, bao gồm chất lượng thực tế trong sản xuất và chất lượng thực tếtrong tiêu dùng
- Chất lượng cho phép: là dung sai cho phép giữa chất lượng thực tế vớichất lượng tiêu chuẩn Chất lượng cho phép phụ thuộc vào điều kiện kỹ thuậtcủa từng nước, phụ thuộc vào trình độ lành nghề của công nhân Khi chấtlượng thực tế của sản phẩm vượt quá dung sai cho phép thì hàng hoá sẽ trởthành hàng hoá phế phẩm
- Chất lượng tối ưu: biểu thị khả năng thoả mãn toàn diện nhu cầu củathị trường trong những điều kiện xác định với chi phí xã hội thấp nhất.Thường người ta phải giải quyết mối quan hệ chi phí và chất lượng sao chochi phí thấp mà chất lượng vẫn đảm bảo có như vậy doanh nghiệp mới có lợithế cạnh tranh và tăng được sức cạnh tranh
4 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm (chuyển lên phần
4 của I)
Có hai nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm đó là:
Trang 14+ Nhóm nhân tố bên trong
+ Nhóm nhân tố bên ngoài
Như chúng ta đã biết có rất nhiều nhân tố cấu thành chất lượng sản phẩm và cũng chính những nhân tố này là nhân tố ảnh hương đến chất lượng sản phẩm và được xếp vào nhóm nhân tố bên trong, ngoài ra cũng còn có nhóm nhân tố bên ngoài ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm 4.1 Nhóm nhân tố bên trong
b Khả năng về kỹ thuật công nghệ
Kỹ thuật công nghệ quy định giới hạn tối đa của chất lượng sản phẩm:
kỹ thuật công nghệ nào thì sẽ cho chất lượng sản phẩm tương ứng Chất lượng và tính đồng bộ của máy móc thiết bị sản xuất ảnh hưởng đến tính
ổn định của chất lượng sản phẩm do máy móc thiết bị đó sản xuất ra.
c Nguyên vật liệu và hệ thống tổ chức nguyên vật liệu.
Trang 15nguyên vật liệu là nhân tố trực tiếp cấu thành sản phẩm, tính chất của nguyên vật liệu quyết định trực tiếp đến tính chất của sản phẩm Nên chú
ý rằng không phải là từng loại mà là tính đồng bộ về chất lượng của các nguyên vật liệu tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm đều tác động đến tiêu thức chất lượng sản phẩm Ngày nay, việc nghiên cứu, phát hiện
và chế tạo các nguyên vật liệu mới ở từng doanh nghiệp dẫn đến những thay đổi quan trọng về chất lượng sản phẩm.
vì có vai trò như vậy nên tổ chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế đã tập hợp, tổng kết và tiêu chuẩn hoá, định hướng những thành tựu và kinh nghiệm quản lý chất lượng ở các doanh nghiệp thành bộ ISO 9000 ISO
9000 là bộ các tiêu chuẩn về chất lượng của thế giới trong thập niên cuối thế kỷ 20 với tư tưởng nhất quán là chất lượng sản phẩm do chất lượng quản lý quy định.
Trong thực tiễn quản trị kinh doanh ở các doanh nghiệp nhiều chuyên gia về quản lý chất lượng cho rằng 80% các vấn đề về chất lượng do khâu quản lý gây ra.
4.2 Nhóm nhân tố bên ngoài
a Nhu cầu và cầu về chất lượng sản phẩm
Nhu cầu và cầu về chất lượng sản phẩm là xuất phát điểm của quản lý chất lượng vì nó là một trong các căn cứ quan trọng để xác định các tiêu thức chất lượng cụ thể Cầu về chất lượng sản phẩm cụ thể phụ thuộc vào nhiều nhân tố trong đó có nhân tố thu nhập của người tiêu dùng: người tiêu dùng có thu nhập cao thường có yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm và ngược lại, khi thu nhập của ntd thấp thì họ không mấy nhậy cảm với chất lượng sản phẩm Hơn nữa, do tập quán, đặc tính tiêu dùng khác nhau mà người tiêu dùng ở từng địa phương, từng vùng, từng nước
có nhu cầu về chất lượng sản phẩm khác nhau Mặt khác, cầu về chất lượng sản phẩm là phạm trù phát triển theo thời gian.
Trang 16b Trình độ phát triển của kỹ thuật công nghệ sản xuất
Nó phản ánh đòi hỏi khách quan về chất lượng sản phẩm Trong quá trình phát triển kinh tế theo hướng hội nhập với khu vực và quốc tế, cạnh tranh ngày càng gay gắt và mang tính "quốc tế hoá" Chất lượng là một trong những nhân tố quan trọng quy định lợi thế cạnh tranh, trình
độ chất lượng sản phẩm cũng được "quốc tế hoá" và ngày càng phát triển Nếu doanh nghiệp không nghiên cứu kỹ và tính toán nhân tố này, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ bị bất lợi về chất lượng và do đó giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp Chất lượng sản phẩm của nhiều doanh nghiệp sử dụng kỹ thuật công nghệ lạc hậu hiện nay ở nước ta là ví dụ điển hình về vấn đề này.
c Cơ chế quản lý kinh tế
Đây là một nhân tố bên ngoài tác động mạnh mẽ đến phạm trù chất lượng sản phẩm Cơ chế kế hoạch hoá tập chung quy địmh tính thống nhất của chất lượng sản phẩm Trong điều kiện đó, chất lượng sản phẩm hầu như chỉ phản ánh đặc trưng kinh tế_ kỹ thuật của sản xuất mà không chú ý đến cầu và nhu cầu của người tiêu dùng Khi chuyển sang cơ chế thị trường, cạnh tramh là nền tảng, chất lượng sản phẩm không còn
là phạm trù của riêng nhà sản xuất mà là phạm trù phản ánh cầu của người tiêu dùng Chất lượng sản phẩm không phải là phạm trù bất biến
mà thay đổi theo những nhóm người tiêu dùng và thời gian Với cơ chế đóng, chất lượng sản phẩm là một phạm trù chỉ gắn liền với các điều kiện kinh tế kỹ thuật của một nước, ít và hầu như không chịu ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế kỹ thuật thuộc phạm vi quốc tế Do đó, yếu tố sức ỳ của p[hạm trù chất lượng thường lớn, chất lượng chậm được thay đổi.
Cơ chế kimh tế mở, hội nhập chất lượng là một trong những nhân tố quan trọng quy định lợi thế cạnh tranh quốc tế Vì vậy đòi hỏi chất lượng sản phẩm mang tính "quốc tế hoá"
d Vai trò quản lý kinh tế vĩ mô
Trong cơ chế kinh tế thị trường hoạt động quản lý vĩ mô của nhà nước trước hết là hoạt động xác lập các cơ chế phấp lý cần thiết vế chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm Pháp lệnh chất lượng hàng hoá quy định các vấn đề pháp lý liên quan đến cơ quan quản lý chất lượng ban hành và áp dụng tiêu chuẩn, trách nhiệm của các tổ chức , cá
Trang 17nhân kinh doanh và quyền của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm.Bên cạnh đó, hoạt động quản lý vĩ mô cũng không kém phần quan trọng là kiểm tra, kiểm soát tính trung thực của người sản xuât trong việc sản xuất các sản phẩm theo tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.Với nhiệm vụ đó quản lý vĩ mô đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo ổn định chất lượng sản phẩm phù hợp hợp với lợi ích người tiêu dùng, của xã hội.
VI Tầm quan trọng và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng sản phẩm
1 Tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm
Cơ chế thị trường tạo động lực mạnh mẽ và thúc đẩy sự phát triển củacác doanh nghiệp và nền kinh tế Đồng thời cũng đặt ra những thách thức đốivới các doanh nghiệp Hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự chi phối củaquy luật kinh tế, trong đó quy luật cạnh tranh chi phối một cách mạnh nhất,đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm vững nhu cầu thị trường cả về mặt khônggian, thời gian, số lượng, chất lượng
Thế mạnh của kinh tế thị trường là hàng hoá phong phú đa dạng, cạnhtranh gay gắt, người tiêu dùng được các sản phẩm theo nhu cầu, sở thích, khảnăng mua của họ Trong doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm luôn là mộttrong những nhân tố quan trọng quyết định khả năng trên thị trường
Chất lượng sản phẩm là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện các chiến lượcMarketing, mở rộng thị trường, tạo uy tín, danh tiếng cho sản phẩm của doanhnghiệp, khẳng định vị trí của sản phẩm đó trên thị trường.Từ đó làm cơ sở cho
sự tồn tại và phát triển lâu bền của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh tế, sự thành công của một doanh nghiệp không chỉ phụthuộc vào sự phát triển sản xuất có năng suất, chất lượng mà còn được tạothành bởi sự tiết kiệm, đặc biệt là tiết kiệm nguyên vật liệu, thiết bị, lao độngtrong quá trình sản xuất và không sản xuất ra các phế phẩm Nâng cao chấtlượng chính là điều kiẹn để đạt được sự tiết kiệm đó Nhờ tăng chất lượng sảnphẩm dẫn đế tăng giá trị sử dụng và lợi ích kinh tế xã hội trên một đơn vị chiphí đầu vào, giảm lượng nguyên vật liệu sử dụng, tiết kiệm tài nguyên, giảm ônhiễm môi trường Như vậy, nâng cao chất lượng sản phẩm chính là conđường ngắn nhất và tốt nhất đem lại hiệu quả kinh tế
Trang 18Chất lượng sản phẩm được nâng cao giúp doanh nghiệp đạt được mụctiêu kinh doanh của mình là lợi nhuận Đây đồng thời là điều kiện để doanhnghiệp tồn tại và phát triển Chất lượng sản phẩm góp phần đẩy mạnh tiến bộsản xuất, tổ chức lao động trong một doanh nghiệp nóiopí riêng cũng như trênphạm vi quốc gia nói chung Khi doanh nghiệp đã đạt được lợi nhuận thì cóđiều kiện để bảo đảm việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho họ vàlàm cho tin tưởng gắn bó với doanh nghiệp, góp hết công sức để sản xuấtnhững sản phẩm có chất lượng tốt giúp doangh nghiệp kinh doanh hiệu quảhơn.
Chất lượng sản phẩm tốt đảm bảo hướng dẫn và kích thích tiêu dùng.Riêng đối với sản phẩm là tư liệu sản xuất thì chất lượng sản phẩm tốt sẽ đảmbảo cho việc trang bị kỹ thuật hiên đại cho nền kinh tế quốc dân, tăng năgsuất lao động Chất lượng sản phẩm không những làm nâng cao uy tín hànghoá của nước ta trên thị trường quốc tế mà còn tạo điều kiện để tăng cườngthu nhập ngoại tệ cho đất nước
2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng sản phẩm
2.1 Do yếu tố cạnh tranh
Hội nhập vào kinh tế thị trường thế giới, nghĩa là chấp nhận sự cạnhtranh, chịu sự tác động của quy luật cạnh tranh Với chính sách mở cửa, tự dohoá thương mại các nhà sản xuất kinh doanh muốn tồn tại và phát triển thì sảnphẩm của họ phải mang tính cạnh tranh cao nghĩa là doanh nghiệp phải cókhả năng cạnh tranh về nhiều mặt Một doanh nghiệp muốn tồn tại và pháttriển thì viêc liên tục hạ giá thành sản phẩm và không ngừng hoàn thiện chấtlượng là một trong những mục tiêu quan trọng trong các hoạt động của mình
2.2 Do yêu cầu của người tiêu dùng
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng có vai trò quyết địnhtrong việc lựa chọn sản phẩm tiêu dùng Các sản phẩm muốn thoả mãn yêuncầu người tiêu dùng, được người tiêu dùng tín nhiệm phải phù hợp về kiểudáng, hiệu suất cao khi sử dụng, giá cả, sự an toàn, dịch vụ sau khi bán hàng
Trang 19phải tuân thủ những quy định, luật lệ quốc tế, thống nhất về yêu cầu chấtlượng Với sự ra đời của hiệp hội quốc tế người tiêu dùng IOCU(International Organization Consumer Union) vào năm 1962, vai trò củangười tiêu dùng trở nên quan trọng trong việc toàn cầu hoá thị trường Từ đócho đến nay nhiều nước đã có luật bảo vệ người tiêu dùng, nhằm đấu tranhcho chất lượng và đảm bảo chất lượng sản phẩm Đặc biệt là bảo sự thông tinkịp thời, sự kiểm tra nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh môi trường.2
2.3 Do yêu cầu tiết kiệm
Hiệu quả kinh tế, sự phồn thịnh của một công ty không chỉ phụ thuộcvào sự phát triển của nền sản xuất có năng suất cao, sự hùng hậu của lao động
mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự tiết kiệm (cả tầm vĩ mô và vi mô) Kinhnghiệm của Nhật Bản và các con rồng Châu á đã cho thấy một trong nhữngnguyên nhânthành công của họ là nhờ vào sự tiết kiệm
Tiết kiệm trong kinh tế là tìm các giải pháp sản xuất kinh doanh hợp lýcho phép hạ giá thành sản phẩm mà vẫn đảm bảo chất lượng, đủ sức cạnhtranh với giá cả sản phẩm trong nước cũng như ngoài nước
2.4 Do đòi hỏi của một hệ thống quản lý kinh tế thống nhất
Thực tế chứng minh rằng ở bất kỳ nền sản xuất nào, dù phát triển đếnđâu đi nữa người ta vãn còn thấy có những vấn đề liên quan đế chất lượng cầnphải giải quyết nhằm nâng cao hơn nữa tính cạnh tranh của sản phẩm, nângcao hiệu quả chung của nền sản xuất xã hội (vấn đề thị trường, nguyên liệu,trao đổi quốc tế, tranh giành ảnh hưởng, vấn đề ô nhiễm môi trường ) vì vậyvấn đề chất lượng luôn được xem xét, cân nhắc trong các chương trình pháttriển chung của các doanh nghiệp và các quốc gia
V Quá trình hình thành và phát triển của khoa học quản lý chất lượng
1 Khái niệm quản lý chất lượng sản phẩm hiện đại