1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHẬN ĐỊNH CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HSSV

22 973 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận định chung về chính sách tín dụng đối với hssv
Tác giả Nhóm 38
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Tín dụng
Thể loại Bài luận
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 160,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách “ tín dụng đối với HSSV” được đề ra trên tình hình thực tế của HSSV có hoàn cảnh khó khăn và dựa trên lý thuyết về phân phối lại thu nhập của Kinh tế công cộng.

Trang 1

TÓM TẮT 1

I LUẬN GIẢI CƠ SỞ KHÁCH QUAN ĐỀ RA CHÍNH SÁCH “TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỌC SINH, SINH VIÊN” 2

II KHÁT QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH “TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HSSV” 3

1 Mục tiêu ý nghĩa của chính sách 3

2 Đối tượng, phương thức cho vay và phạm vi tác động của chính sách tín dụng đối với HSSV 4

2.1 Đối tượng được vay vốn tín dụng HSSV. 4

2.2 Phương thức cho vay và điều kiện cho vay. 4

2.3 Mức vốn và lãi suất cho vay HSSV. 5

2.4 Thời hạn cho vay, thu hồi nợ. 5

2.5 Phạm vi tác động của chính sách. 6

3 Đánh giá ưu điểm, nhược điểm của chính sách tín dụng đối với HSSV 6

3.1 Ưu điểm. 6

3.2 Nhược điểm. 7

III NHẬN ĐỊNH CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH “TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HSSV” 8

IV.GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH 9

KẾT LUẬN 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

PHỤ LỤC 1 12

PHỤ LỤC 2 16

PHỤ LỤC 3 20

Trang 2

TÓM TẮT

Chính sách “ tín dụng đối với HSSV” được đề ra trên tình hình thực tế của HSSV

có hoàn cảnh khó khăn và dựa trên lý thuyết về phân phối lại thu nhập của Kinh tế côngcộng Điều này được thể hiện rất cụ thể qua cách quyết định và chỉ thị của Thủ tướngchính phủ

Với mục tiêu tạo điều kiện HSSV hoàn cảnh khó khăn có thể tiếp tục và yên tâmhọc tập, nên đối tượng của chính sách chủ yếu là con em các gia đình nghèo và hoàn cảnhkhó khăn Trong quá trình thực hiện, chính sách đã đạt được mục tiêu đề với mức vay ưuđãi và hình thức vay đơn giản, giúp cho HSSV và gia đình có thể tiếp cận dễ dàng

Tuy có nhiều ưu điểm nhưng chính sách cũng gặp phải không ít vứng mắc Vì vậy,

để chính sách hoàn thiện hơn cần đưa ra những giải pháp để khắc phục những hạn chế màchính sách đang gặp phải

Trang 3

I. LUẬN GIẢI CƠ SỞ KHÁCH QUAN ĐỀ RA CHÍNH SÁCH “TÍN DỤNG

ĐỐI VỚI HỌC SINH, SINH VIÊN”

Trong những năm qua với đường lối và chiến lược phát triển nền kinh tế , Đảng

và nhà nước ta đã khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực,nhân tố quyết định sự tăng trưởng của nền kinh tế và phát triển xã hội Chính vì lẽ đó, nềngiáo dục nước nhà đã được Đảng và Nhà nước và toàn bộ xã hội đặc biệt quan tâm đầu tưphát triển Để hỗ trợ những sinh viên học sinh có hoàn cảnh khó khăn, không đủ khảnăng tài chính trang trải chi phí học tập, đặc biệt là HSSV thuộc diện chính sách xã hội,thuộc diện hộ nghèo và vùng sâu, vùng xa Từ đó, Đảng ta đã đề ra chính sách hỗ trợ tíndụng đối với đối tượng này là một chủ trương cần thiết vì sự phát triển chung của toàn xãhội

Mặt khác một trong cơ sở để chính phủ đề ra chính sách đó chính là sự thất bại củathị trường khi không thể sản xuất ra hàng hoá dịch vụ ở mức xã hội mong muốn Chínhsách hỗ trợ tín dụng cho HSSV là một loại trợ cấp của chính phủ nhằm khắc phục sự thấtbại của thị trường dẫn tới kết cục sự thiếu công bằng tạo sự phân phối bất bình đẳng màđối tượng chính là HSSV Chính sách “tin dụng đối với HSSV” không những vì mục tiêu

sự nghiệp giáo dục nước nhà mà mục tiêu của chính sách nhằm phân phối lại thu nhập vàđảm bảo công bằng xã hội Xét về phương diện lý thuyết một câu hỏi đặt ra “tại sao chínhsách tín dụng đối với HSSV lại có tác dụng nhằm phân phối lại thu nhập và đảm bảocông bằng xã hội? Khi mà đối tượng cho vay của chính sách còn hạn chế “để có thể trảlời được câu hỏi trên thì việc vận dụng lý thuyết kinh tế công cộng để luận giải cơ sởkhách quan cho chính sách này là rất cần thiết

Theo lý thuyết Kinh tế cộng cộng thì một trong những nguyên nhân dẫn tới bấtbình đẳng trong phân phối thu nhập đó chính là trình độ học vấn, nó quyết định khả năng

và kỹ năng lao động của con người Xu hương chung là những người có tri thức, đượcgiáo dục và có được trình độ học vấn cao thì nhận được mức thu nhập cao hơn, ngườinghèo là nhưng người có trình độ học vấn thấp nên ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt ổnđịnh Học vấn thấp có ảnh hưởng tới các quyết định có liên quan đến đầu tu, kinh doanh,giáo dục, sinh đẻ, nuôi dương con cái… Như vậy, không những học vấn ảnh hưởng đếnthế hệ hiện tại mà cả thế hệ tương lai

Để giảm bớt bất bình đẳng trong phân phối lại thu nhập về trình độ học vấn cầnphải: Xây dựng nền giáo dục công bằng hơn, chú trong nâng cao chất lượng giáo dục chongười nghèo Muốn vậy, cần:

Tiếp tục hoàn thiện các thể chế chính sách nhằm tạo điều kiện công bằng hơntrong giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục cho người nghèo và các nhóm yếuthế trong xã hội là một trong những trọng tâm của quá trình phát triển và mang lại tínhquyết định đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo

Trang 4

Đầu tư cho hệ thống giáo dục của những xã nghèo, vùng nghèo, xây dựng trườngkiên cố cho các vùng thường xảy ra thiên tai Duy trì và mở rộng hệ thông trường nội trúcho vùng sâu, vùng xa, vùng cao để tăng số lượng và chất lượng giáo viên, học sinh ởvùng nghèo.

Miễn giảm hoặc hỗ trợ cho các trẻ em các hộ gia đình nghèo trong lĩnh vực giáodục các khoản đóng góp mà người nghèo ít có khả năng đóng góp, như tiền học phí, tiềnsách giáo khoa, tiền xây dựng trường, tiền ăn ở đi lại, để giảm bớt kho khăn cho các giađình và hạn chế tình trạng con em ho bỏ học

Tăng cường nguồn tài chính cho giáo dục đào tạo Một mặt tăng tỷ lệ chi Ngânsách Nhà nước cho giao dục đào tạo mặt khác mở rộng quỹ khuyến học, quỹ bảo trọ giáodục Khuyến khích các cá nhân và tập thể đầu tư cho giáo dục, phát triển các trung tâmgiáo dục cộng đồng

Dựa trên cơ sở lý thuyết trên với tình hình thực tế của Việt Nam, thực hiện nhấtquán chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện cho tất cả HSSV đã trúng tuyểnvào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề trong cả nước,nhưng có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có thể học cho đến khi tốt nghiệp Thủ tướngchính phủ đã đưa ra các quyết định, chỉ thị liên quan đến chính sách “ tín dụng đối vớiHSSV ” Như: Quyết định Số: 107/2006/QĐ-TTg ban hành ngày 18/5/2006; Quyết định

số 157/2007/QĐ-TTg ban hành ngày 27/9/2007; chỉ thị số 21/2007/CT-TTg ban hànhngày 4/9/2007…

1 Mục tiêu ý nghĩa của chính sách.

Chỉ thị số 21/2007/CT-TTg về thực hiện “chế độ cho vay ưu đãi để học Đại học,Cao đẳng và dạy nghề” được ban hành ngày mùng 4-9-12007 của Thủ tướng chính phủ.Hơn một năm thực hiện, chính sách tín dụng đối với HSSV Chính sách đã thực sự gópphần hỗ trợ cho HSSV có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi của Nhànước, góp phần trang trải chi phí cho việc học tập, sinh hoạt cho quá trình học tại trường.Bên cạnh đó, đây là một chủ trương, chính sách lớn của nhà nước với mục tiêu đào tạonguồn nhân lực có chất lượng cao, đào tạo đội ngũ công nhân có trình độ cho đất nước.Chính sách này tạo điều kiện cho các gia đình có hoàn cảnh khó khăn về cuộc sống cóđiều kiện tiếp tục đến trường Đất nước không lãng phí nguồn nhân lực cho tương lai.Mặt khác chính sách nhằm mục tiêu giảm bớt áp lực lên Ngân sách nhà nước, mở rộng hệthống Giáo dục- Đào tạo, đáp ứng nguồn lao động cho khu vực các ngành trong nền kinh

tế Giảm bớt khó khăn tài chính cho sinh viên đồng thời tăng cường trách nhiệm của họ(chính họ sẽ phải tự chịu trách nhiệm với số tiền được vay ưu đãi đó).Bên cạnh những

Trang 5

mục đích cần đạt đuơc của chính sách tín dụng đối với HSSV thì chính sách còn có ýnghĩa quan trọng về mặt xã hội Chính sách còn là một trong các chính sách của nhà nướcnhằm thực hiện công bằng xã hội, tạo công bằng cho HSSV tiếp cận với nền giáo dục cóchất lượng cao hơn, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của sự nghiệp GD quốcgia Cho sinh viên vay vốn về bản chất là để tăng thêm mức gánh chịu chi phí của sinhviên, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước theo cách chuyển sự gánh chịu của họ

từ hiện tại sang tương lai khi sinh viên “đã có khả năng chi trả” Như vậy, một măt sinhviên nghèo không phải bỏ học khác với việc viện trợ của nhà nước mới có công bằng hơn

so với khi thực hiện chính sách học phí thấp

2 Đối tượng, phương thức cho vay và phạm vi tác động của chính sách tín dụng

đối với HSSV.

2.1 Đối tượng được vay vốn tín dụng HSSV.

Tất cả HSSV có hoàn cảnh khó khăn học tại các trường đại học( hoặc tươngđương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại các cơ sở đào tạo nghề đượcthành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm: HSSV mồ côi cả chalẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động,hssv là thành viên của hộ gia đình thuộc hộ nghèo, hộ gia đình có mức thu nhập bìnhquân đầu người tối đa bằng 150% mức thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đìnhnghèo

Ngoài ra đối với những HSSV mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn,bệnh tật, thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh có xác nhận của uỷ ban nhân dân xã phường, thịtrấn nơi cư trú thì cũng được ngân hàng chính sách xã hội cho vay vốn để tiếp tục họctập Đối tượng HSSV được vay vốn lần này không có sự phân biệt công lập hay ngoàicông lập, không phân biệt thời gian đào tạo trên 1 năm hay dưới 1 năm.Việc mở rộng đốitượng cho vay nhằm tạo nhiều cơ hội học tập cho các em HSSV

2.2 Phương thức cho vay và điều kiện cho vay.

Theo quyết định số 157/2007/QĐ-TTg, phương thức cho vay được thực hiệnthông qua Hộ gia đình là người trực tiếp giao dịch tín dụng với Ngân hàng Chính sách xãhội và có trách nhiệm, quyền lợi theo quy định của pháp luật Ngoài ra, có thêm phươngthức cho vay trực tiếp đối với HSSV bị mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc mồ côi cha hoặc mẹnhưng người còn lại không có khả năng lao động, được trực tiếp vay vốn tại Ngân hàngchính sách xã hội nơi nhà trường đóng trụ sở Điều này giúp cho HSSV tiếp cận vốn tíndụng ưu đãi được dễ dàng thuận lợi hơn

Điều kiện cho vay cũng đã được đơn giản hóa, chỉ cần HSSV đang sinh sống trong

hộ gia đình cư trú hợp pháp tại địa phương HSSV năm thứ nhất có giấy báo trúng tuyểnhoặc xác nhận được vào học của nhà trường, đối với HSSV năm thứ hai trở đi sẽ phải cóxác nhận của nhà trường về việc đang theo học tại trường và không bị xử phạt hành chính

về các hành vi: cờ bạc, trộm cắp, nghiện hút, buôn lậu trong quá trình học tập

Trang 6

2.3 Mức vốn và lãi suất cho vay HSSV.

Theo quyết định số 157/2007/QĐ-TTg, mức vốn cho vay HSSV vay đã đượcnâng từ 300.000đ/tháng/HSSV lên mức cho vay tối đa là 800.000đ/tháng/HSSV cho phùhợp với tình hình hiện nay, giúp HSSV có thể trang trải các chi phí trong quá trình họctập Ngân hàng chính sách xã hội sẽ hướng dẫn cụ thể mức vốn cho vay đối với HSSVphù hợp với mức thu học phí của từng trường và tiền sinh hoạt phí theo từng vùng như(khu vực thành phố lớn Hà Nội, Hồ Chí Minh; các tỉnh miền núi vùng khó khăn và cácđịa phương còn lại) để đảm bảo tính công bằng giữa các vùng miền Đối với các emHSSV đã và đang vay vốn theo Quyết định 107/2006/QĐ-TTg cũng sẽ được vay vốntheo mức trần tối đa 800.000đ/tháng kể từ năm học 2007-2008 Mức vay này sẽ đượcđiều chỉnh khi có chính sách thu học phí mới và có biến động về giá cả sinh hoạt Khácvới trước đây, lãi suất cho vay là 0,65%/tháng, nay được điều chỉnh từ năm học 2007-

2008 chỉ ở mức 0,5%/tháng hay là 6%/năm Việc Thủ tướng chính phủ quyết định nângmức vốn vay và giảm lãi suất cho vay đối với HSSV để hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi hơncho hoc sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn trong quá trình học tập thể hiện sự quantâm của Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển giáo dục và thế hệ trẻ của đất nước

2.4 Thời hạn cho vay, thu hồi nợ.

Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ ngày đối tượng được vay vốnbắt đầu nhận vốn vay cho đến ngày trả hết nợ (gốc và lãi ) được ghi trong hợp đồng tíndụng Thời hạn cho vay bao gồm thời hạn phát tiền vay và thời hạn trả nợ

Thời hạn phát tiền vay là khoảng thời gian được tính từ ngày đối tượng được vayvốn nhận món vay đầu tiên cho đến ngày HSSV kết thúc khóa học, kể cả thời gian HSSVđược nhà trường cho phép nghỉ học có thời hạn và được bảo lưu kết quả học tập Ngânhàng chính sách xã hội sẽ quy định hoặc thỏa thuận với đối tượng được vay vốn về thờihạn phát tiền vay theo các kỳ học của từng năm học.Thời hạn trả nợ cũng được tính bằngthời hạn phát tiền vay Thời hạn trả nợ là khoảng thời gian tính từ ngày đối tượng đượcvay vốn trả món nợ đầu tiên đến ngày trả hết nợ (gốc và lãi) Đối với các chương trìnhđào tạo có thời gian đào tạo không quá 1 năm, thì thời gian trả nợ tối đa là 2 lần so vớithời hạn phát tiền vay Ngân hàng chính sách xã hội sẽ quyết định thời hạn trả nợ theocác kỳ hạn Trong quá trình theo học, học sinh sinh vien chưa phải trả nợ gốc và lãinhưng vẫn phải tính lãi suất tiền vay Sau khi ra trường, học sinh sinh viên có việc là, cóthu nhập thì mới trả nợ cho Ngân hàng, nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày HSSV kếtthúc khóa học Giả sử, một sinh viên có thời gian đào tạo trong trường là 4 năm thì trong

4 năm học sẽ được nhận tiền vay và không phải trả lãi, trong vòng 1 năm, sau khi ratrường có việc làm và có thu nhập thì sinh viên đó sẽ phải trả nợ lần đầu tiên, và thời giantrả nợ cũng được kéo dài trong 4 năm (bằng thời gian đi học) Như vậy, tổng thời giancho vay và thu hồi nợ đối với một sinh viên trong trường hợp này là 9 năm Nhà nướckhuyến khích HSSV trả nợ sớm trước hạn để có vốn quay vòng cho các HSSV khác vayvốn Trường hợp đối tượng vay vốn trả nợ trước hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng

Trang 7

thì sẽ được giảm lãi, mức giảm lãi cụ thể sẽ phụ thuộc vào số tiền trả nợ trước hạn, thờigian trả nợ trước hạn dài hay ngắn Ngân hàng chính sách xã hội sẽ có hướng dẫn cụ thểviệc tính toán xác định số tiền ưu đãi lãi suất trong trường hợp HSSV trả nợ trước hạn.

2.5 Phạm vi tác động của chính sách.

Tín dụng đối với HSSV của Thủ tướng chính phủ là những chủ trương kịp thời, có

ý nghĩa chính trị to lớn được đông đảo nhân dân quan tâm và ủng hộ nhằm hỗ trợ HSSVthuộc diện có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước trang trảichi phí cho việc học tập sinh hoạt trong quá trình theo học tại trường đồng thời thể hiện

rõ tính công bằng xã hội của Nhà nước Chủ trương, chính sách này sẽ đẩy mạnh việc đàotạo gắn liền với xóa đói giảm nghèo

Thực trạng hiện nay ở Việt Nam rất nhiều HSSV phải nghỉ học giữa chừng vàkhông có đủ tiền lo các khoản chi phí cho việc đi học cho đến khi kết thúc khóa học, nhất

là những sinh viên ở tỉnh lẻ, vùng sâu vùng xa lên thành phố học Từ khi tín dụng sinhviên, học sinh đi vào thực tế như một nguồn động lực vô cùng lớn lao tạo cơ hội chonhững sinh viên đang theo học có điều kiện học tập tốt hơn và hoàn thành được khóa học,thực hiện được ước mơ vượt nghèo của họ Và những học sinh nghèo có niềm tin hơn vàocánh cửa đại học rộng mở chào đón họ Họ sẽ có cơ hội được đem tài năng và trí tuệ củamình để góp phần xây dựng đất nước ta ngày càng phát triển hơn Những gia đình nghèo

có con ham học, họ sẽ yên tâm hơn khi có quỹ tín dụng HSSV để lo trang trải một phầnchi phí học hành của con mình Ngoài ra, chính sách tín dụng HSSV còn góp phần ổnđịnh xã hội đưa thanh thiếu niên vào trường học, giảm các vấn đề xã hội do thanh thiếuniên gây ra: trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút…Hơn nữa có một số gương điển hình sinh viênvượt khó đã vượt qua hoàn cảnh khó khăn để có tấm bằng đại học nhờ quỹ tín dụng này.Giờ đây họ đã trở thành những người có đóng góp quan trọng cho sự nghiệp phát triểncủa nước nhà

Như vậy, chính sách tín dụng cho sinh viên học sinh có tác dụng trong phạm vi tolớn cả về mặt kinh tế và xã hội; từ thành thị đến nông thôn; từ các bậc phụ huynh đếnnhững HSSV nhất là các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn về tài chính

3 Đánh giá ưu điểm, nhược điểm của chính sách tín dụng đối với HSSV.

3.1 Ưu điểm.

Chính sách tín dụng đối với HSSV nhằm hỗ trợ các em HSSV thuộc diện có hoàncảnh khó khăn tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước, góp phần trang trải chi phícho việc học tập, sinh hoạt trong quá trình học tại trường

Những ưu đãi về lãi suất và thời hạn trả nợ do ngân hàng chính sách xã hội đề ra dựa trêntinh thần chỉ đạo của chỉ thị 21/2007/CT-TTg thực sự là cơ hội lớn cho sinh viên nghèo

có điều kiện học tập, lãi suất chỉ bằng 60%- 65%, trong thời gian học tập thì chưa phải trả

nợ gốc và lãi, vay không phải thế chấp Nhờ đó số lượng HSSV tăng lên đáng kể thôngqua chinh sách cho vay ưu đãi của Nhà nước, đảm bảo cho tất cả các sinh viên, học sinh

Trang 8

trúng tuyển và các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề không phải bỏ học vì không cókhả năng đóng học phí và không có khả năng chi trả các chi phí tối thiểu như: ăn, ở, đilại, mua tài liệu học tập

Chính sách tín dụng đối với HSSV là một trong các chính sách của Nhà nướcnhằm thực hiện công bằng xã hội, tạo cơ hội cho HSSV có hoàn cảnh khó khăn có thểtiếp cận với nền giáo dục ở cấp độ cao, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của

sự nghiệp giáo dục Quốc gia

Trước khi chưa có chính sách trên thì những gia đình khó khăn không có khả năngcho con em mình đi học vào các trường đại học, cao đẳng, học nghề làm cho cuộc sốnggặp phải những khó khăn triền miên từ thế hệ này sang thế hệ khác Còn các gia đình khágiả thì con em họ con em họ lại được tiếp cận với những văn minh và khoa học mới…cònnhững con em gia đình khó khăn thì không có khả năng đi học thì dễ xa vào các tệ nạn xãhội như cờ bạc, rượu chè, ma túy…

Bên cạch đó chính sách còn có tác động tích cực về phía nhà trường tạo nguồn thukinh phí ổn định, tránh tình trạng nợ học phí của sinh viên Măt khác chính sách này cũngtạo ra tâm lý yên tâm cho HSSV có hoàn cánh khó khăn có thể tiếp tục học tập, phấn đấutạo chỗ đứng cho mình trong xã hội

Chính sách này ra đời giúp lấp dần khoảng cách giữa những người giàu và nghèo,giúp xã hội công bằng hơn, đất nước đào tạo được nhiều nhân tài hơn, giúp đấy nhanhquá trình phát triển kinh tế - xã hội quốc gia

3.2 Nhược điểm.

Bên cạnh những ưu điểm chính sách này còn rất nhiều bất cập, ngân sách Nhànước và các ngân hàng chính sách xã hội có đủ yêu cầu về vốn hay không đó chính làmột hạn chế của chính sách Thủ tục không rõ ràng, rườm rà đã không xác định đúng đốitượng, còn cho thấy việc quản lý thiếu chặt chẽ trong công tác triển khai chính sách Việcxác định đối tượng là con em của những hộ gia đình nghèo, những gia đình chính sáchcũng không được minh bạch hoặc đúng đối tượng nhưng cũng không thể tiếp tới nguồnvốn ưu đãi này do chính sách không đến được với tận nơi họ sinh sống, kèm theo đó làchính quyền địa phương cũng không nắm bắt được kịp thời chính sách này Những đốitượng không thuộc diện ưu đãi của chính sách này, vẫn dễ dàng tiếp cận được nguồn vốnnày với mục đính khác, ảnh hưởng đến lượng cung vốn không đủ để đáp ứng kịp thời nhucầu cho những học sinh sinh viên thuộc diện ưu đãi

Chính sách còn hạn chế trong việc chưa đưa ra một chế tài cụ thể cho việc thu hồivốn Khả năng trả nợ khi mới ra trường, với mức lương thấp của sinh viên, học sinh là rấtkhó nên nợ quá hạn khó đòi là rất cao

Trang 9

III. NHẬN ĐỊNH CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH “TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HSSV”

Có thể nói chính sách ưu đãi đối với học sinh sinh viên là tin vui, là niềm hi vọnglớn, tạo cơ hội thực sự cho gia đình và học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn có thểtiếp tục con đường học tập của mình Cùng với những ưu nhược điểm của chính sách.Xét trên bình diện chung, chính sách ưu đãi cho học sinh sinh viên đã đạt được mục tiêu

đề ra: “ Sẽ không để sinh viên nghèo nghỉ học”, “cứu cánh cho sinh viên nghèo” Theobáo cáo của bộ tài chính và ngân hàng chính sách xã hội cho biết ngay sau khi có quyếtđịnh đã chuyển ngay cho ngân hang chính sách 500 tỷ đồng để có nguồn cho sinh viênvay Sau ba tháng triển khai kể từ ngày ra quyết định nguồn vốn cấp lên đến 2500 tỷ vềphía người cho vay tính đến cuối năm 2007 dư nợ cho vay hoc sinh sinh viên đạt 2803 tỷvới 630.159 sinh viên đang vay Trong đó doanh số cho vay từ ngày mùng 1 tháng 10năm 2007 đạt 2504,6 tỷ với 596.354 học sinh sinh viên đang vay Cơ cấu cụ thể:đại học

và cao đẳng 1930 tỷ với 425.313 học sinh sinh viên vay, trung cấp chuyên nghiệp 680 tỷvới 157.447 học sinh sinh viên được vay, học nghề(thời hạn học trên một năm) 1689 tỷvới 37.773 học sinh sinh viên được vay, học nghề dưới một năm 43 tỷ với 9629 học sinhsinh viên được vay với mức vay bình quân được nâng lên từ 300.000 / tháng lên 800.000/tháng ở hiện tại, đang dự định 1,2 triệu/ tháng

Có thể nói chính sách tín dụng đối với học sinh sinh viên đã thực sự đi vào cuộcsống, nguồn vốn vay của nhà nước đã giúp hàng ngàn học sinh sinh viên có đủ kinh phítrang trải học phí và sinh hoạt phí để theo học, giúp hàng trăm ngàn họ gia đình có điềukiện cho con em đi học Theo khảo sát của bộ tài chính cho biết đa số nguồn vốn sử dụngđúng mục đích vào học tập và sinh hoạt phục vụ học tập Sai phạm về sử dụng nguồn vốnvay sai đối tượng rất thấp chỉ ở mức dưới 1% Với kết quả đạt được bước đầu khẳng địnhchính sách đã được thực hiện hiệu quả và thể hiện nhiều ý nghĩa to lớn

Song song với các kết quả đạt được thì chính sách vẫn tồn tại nhiều vướng mắcảnh hưởng đến các mục tiêu đề ra Vì là chính sách cho vay ưu đãi lên nguồn vốn chỉ cómột tỷ lệ nhỏ là thu nợ để tái cho vay tiếp còn chủ yếu phải được cân đối từ ngân sáchnhà nước, hàng năm cấp cho ngân hàng chính sách để cho vay Tuy nhiên đến hết tháng 7năm 2007 đã đạt gần 70% kế hoạch cả năm trong khi đó số lượng học sinh sinh viêntrúng tuyển vào các trường đại học cao đẳng trong cả nước tăng mạnh nên nhu cầu vayrất lớn Tính bình quân 20% số học sinh sinh viên trúng tuyển vào các trường ĐHCĐ cóhoàn cảnh khó khăn có nhu cầu vay vốn Tổng nhu cầu vốn cần cho vay năm học 2007-

2008 lên 4000 tỷ trong khi đó nhu cầu trước mắt cho vay ngay đầu năm học mới tính đén31-12-2007 là 500 tỷ trong khi kế hoạch còn lại naw2007 chỉ hơn 140 tỷ nên thiếu hụtnguồn vốn cho vay đang đặt ra cấp bách Mặt khác trên thực tế hiện nay khi chính sáchđưa vào thực tế có hiện tượng: “ Sinh viên ồ ạt vay tiền ưu đãi” theo “ phong trào” cónhiều sinh viên không bỏ lỡ cơ hội “ ngàn vàng” này Hiện tượng đua nhau vay vốn diễn

Trang 10

ra ồ ạt “ nhà nhà đi vay, người người đi vay” Theo số liệu phòng đại học Bách khoa hànội cho biết ngày cao điểm nhà trường phải xác nhận hơn 200 trường hợp cần vay vốn.Tình trang “ của trời cho” khó đòi diễn ra khá phổ biến Chương trình cho sinh viên vayvốn bắt đầu thực hiện từ năm 2003, đến tháng 7/2007 đã có 144.335 người vay vố, nhưngđến nay mới có 47.191 người trả được nợ và tổng số dư nọ là 297 tỷ đồng Thực tế chothấy những năm qua với cơ chế cho vay trực tiếp trước đây nhiều sinh viên ra trườngkhông có ý thức trả nợ Khi không “đòi” được tiền từ sinh viên ngân hàng chính sách xãhội đã lien hệ với tận gia đình theo địa chỉ mà sinh viên cung cấp nhưng rất nhiều địa chỉ

dã thay đổi hoặc có địa chỉ gia đình nhưng họ từ chối trách nhiệm thanh toán khoản nợvay.Thực trạng nhiều cử nhân ra trường nhiều năm vẫn thất nghiệp hoặc lương thấp làkhá phổ biến Vì vậy nếu sinh viên vay trong suốt 5 năm học thì khoản nợ này sẽ lên tới

40 triệu đồng Khoản nợ khổng lồ này sẽ trở thành gánh nặng với bất kỳ học sinh sinhviên nào ra trường

Có thể nói chính sách ưu đãi cho sinh viên là một chính sách mà Đảng và Nhànước quan tâm hàng đầu cho sự nghiệp giáo dục của nước nhà Đảm bảo được công bằng

xã hội hướng tới một xã hội có nguồn nhân lực chất lượng tốt Góp phần phát triển sựnghiệp phát triển đất nước

Chính sách đưa ra được sự đồng tình của nhiều phụ huynh học sinh và ngay cảchính bản thân sinh viên cũng hứng khởi vì có cơ hội được tiếp cận với nền giáo dục tiêntiến Ngay từ khi chính sách đi vào đời sống đã thể hiện được tính ưu việt của nó, bêncạnh đó sự lạm dụng chính sách và trình độ quản lý chưa chặt chẽ đã gây ra quá sức cungcấp vốn của Nhà nước Để có thể khắc phục được những hạn chế của chính sách khi đivào thực tiễn trước hết cần có chế tài xử lý nghiêm minh các sai phạm trong quá trìnhtriển khai; xử lý tình trạng HSSV sử dụng vốn vay sai mục đích để mua sắm tài sảnkhông phục vụ mục đích học tập Bên cạnh đó cần xác định đúng đối tượng vốn vay ưuđãi của Ủy ban nhân dân cấp xã và phường tránh tình trạng xác định sai đối tượng Ngânhàng chính sách xã hội nên thông báo số tiền HSSV vay cho nhà trường được biết, cầnxây dựng phần mềm quản lý đối tượng vay vốn ưu đãi Mặt khác có thể trừ luôn số tiềncho vay vào tiền học phí của sinh viên tại nhà trường nơi sinh viên theo học tránh tìnhtrạng sử dụng sai mục đích vốn Cần có sự liên hệ giữa nhà trường- gia đình- ngân hàngchính sách xã hội để thu hồi được khoản vay khi hết hạn; tạo ra cơ hội việc làm cho sinhviên khi ra trường để tránh tình trạng sinh viên ra trường thất nghiệp không xin được việclàm dẫn đến tình trạng không trả được khoản vay

Trang 11

KẾT LUẬN

Trong quá trình hiện đại hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay Chính sách “ Đàotạo bồi dưỡng nguồn nhân lực” là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhànước Bởi lẽ “ Nguồn nhân lực” chính là yếu tố nội lực quan trọng của mỗi quốc gia gópphần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Chính sách “ tín dụng đối với HSSV” làmột trong những chính sách góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng tốt trongtương lai, tạo điều kiện không những về mặt vật chất mà còn về mặt tinh thần cho sinhviên có hoàn cảnh khó khăn có thể tiếp tục đến trường Tuy còn vứng mắc trong quá trìnhthực hiện nhưng chính sách đã thực sự đi vào cuộc sống đã thể hiện được tính ưu việtkhông nhưng từ phía Nhà nước, Nhà trường mà đặc biệt từ phía gia đình HSSV nghèo.Bên cạnh đó chính sách góp phần đảm bảo được tính công bằng xã hội, thể hiện tính nhânvăn, tính nhân đạo sâu sắc Hi vọng rằng chính sách sẽ gặt hái được nhiều thành quảtrong quá trình thực hiện tiếp theo!

Ngày đăng: 25/04/2013, 11:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w