Vấn đề huy động và tích lũy vốn cho Công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước mang tính cấp thiết hiện nay và lâu dài.
Trang 1B NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: ODA VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THU HÚT, SỬ DỤNG ODA 3
I Những vấn đề chung về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA 3
1.Khái niệm 3
2 Đặc điểm 3
3.Phân loại: 4
4.Nguồn gốc lịch sử của ODA: 5
5.Vai trò của ODA với các nước đang phát triển: 6
II Những nhân tố ảnh hưởng 10
CHƯƠNG II TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA TRONG THỜI GIAN QUA 15
I.Thực trạngODA trong giai đoạn 1975- 1993:nguồn vốn ODA 15
II.Thực trạng ODA ở Việt nam từ năm 1993 trở lại đây 15
III.Tồn tại 18
IV, Tổng kết các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thu hút và sử dụng ODA 19
1.Công tác đàm phán và chuẩn bị dự án: 19
2.Sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA 20
3.Thành tựu trong công cuộc đổi mới 20
4.Đường lối đối ngoại đúng đắn 21
5 Những thay đổi trong bối cảnh quốc tế và khu vực 21
V.Tính quy luật , mối quan hệ phổ biến 22
1.ODA gắn liền với tình hình kinh tế , chính trị ổn định trong nước và khu vực 22
2.ODA gắn liền với hiêu quả sử dụng 22
3.Đường lối đối ngoại đúng đắn 22
V Thu thập số liệu và phương pháp dự dáo 23
1 Mục tiêu của dư báo 23
2 Thu thập số liệu 23
CHƯƠNG III: DỰ BÁO VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 25
1.Xây dựng mô hình 25
2.Đánh giá kết quả dự báo: 26
3.Phân tích đánh giá kết quả dự báo 26
C/ KẾT LUẬN 28
Trang 3PHÂN TÍCH NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ DỰ BÁO NGUỒN VỐN ODA CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2010.
A MỞ ĐẦU.
Vấn đề huy động và tích lũy vốn cho Công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nướcmang tính cấp thiết hiện nay và lâu dài.Chiến lược lâu dài là phải tối đa huy độngnguồn vốn trong nước để nguồn vốn này chiếm tỷ lệ cao trong đầu tư Tuy nhiênnhững năm đầu của thời kỳ công nghiệp hóa đòi hỏi nguồn vốn lớn mà vốn trongnước còn hạn chế nên nguồn vốn bên ngoài đóng một vai trò rất quan trọng
Để đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, mà phần lớn là chậm thu hồivốn, chúng ta phải khai thác nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA (OfficialDevelopment Asistance) Trong mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10năm từ năm 2001 đến 2010 và định hướng kế hoạch 5 năm 2006-2010, chính phủViệt Nam khẳng định: “ tiếp tục nâng cao khả năng cạnh tranh về thu hút và sửdụng có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) và ODA Thực tế việc sửdụng ODA trong thời gian qua đã phù hợp với ưu tiên phát triển của chính phủ,đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triển của kinh tế, xã hội của Việt Nam Trongbối cảnh của nước ta, vẫn tiếp tục có nhu cầu cao về ODA để bổ sung nguồn lựccho sự phát triển, đồng thời cạnh tranh thu hút nguồn vốn này trên phạm vi toàncầu đang ngày càng gay gắt.Viếc phân tích những nhân tố ảnh hưởng đên việc thuhút và sử dụng nguồn vốn ODA và công tác dự báo nguồn vốn này vào Việt Namtrong thời gian tới để giúp cân đối vốn đầu tư toàn xã hội, định hướng đầu tư và cóbiện pháp quản lý, sử dụng hiệu quả… là hết sức cần thiết và cấp bách
Chính vì vậy mà đề án môn hoc này sẽ phân tích những nhân tố ảnh hưởng đókết hợp với phương pháp dự báo mang tính chất khái quát để đưa ra kết quả dự báođáng tin cậy về nguồn vốn ODA vào Việt Nam đến 2010
Trang 4Nội dung của đề án môn học gồm 3 phần chính:
CHƯƠNG 1:Giới thiệu chung về nguồn vốn ODA.
CHƯƠNG 2: Tình hình thu hút và sử dụng ODA trong thời gian qua CHƯƠNG 3.Dự báo và phân tích kết quả.
Trang 5B NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: ODA VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
VIỆC THU HÚT, SỬ DỤNG ODA.
I Những vấn đề chung về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA.
1.Khái niệm
Nguồn vốn ODA là nguồn vốn tài chính do các cơ quan chính thức ( chínhquyền nhà nước hay địa phương) của một nhà nước hoặc một tổ chức quốc tế việntrợ cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi xãhội của nước này
2 Đặc điểm
ODA mang tính ưu đãi:
- ODA có thời gian cho vay( hoàn trả vốn) dài,có thời gian ân hạn dài(chỉ trảlãi, chưa trả nợ gốc).Đây cũng là sự ưu đãi dành cho nước vay, vốn là nước nghèo.Thông thường, trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại( tức là cho không).Đây chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại Thành tố chokhông được xác đinh dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh mứclãi suất viện trợ với lãi suất tín dụng thương mại Cho vay ưu đãi hay còn gọi là chovay mền
- ODA mang tính ràng buộc:
ODA có thể ràng buộc ( hoặc ràng buộc một phần hoặc không rằng buộc)nước nhận về địa điểm chi tiêu Ngoài ra, mỗi nước cung cấp cũng có những ràngbuộc khác và nhiều khi những ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nước nhận Ví dụ,Nhật Bản quy định vốn ODA của Nhật Bản ( hoàn lại hoặc không hoàn lại) đều
Trang 6được thực hiện bằng đồng Yên Nhật Bản.ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi chonước nhận và lợi ích của nước viện trợ.Viện trợ của các nước phát triển không chỉđơn thuần là việc trợ giúp hữu nghị, mà còn là một công cụ lợi hại để thiết lập vàduy trì lợi ích kinh tế và vị thế chính trị của nước tài trợ.Vì vậy, khi nhận viện trợ,các nước cần cân nhắc kỹ lưỡng những điều kiện của nhà tài trợ Không vì lợi íchtrước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài Quan hệ hỗ trợ phát triển chínhthức phải đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào côngviệc nội bộ của nhau, trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi.
- ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ:
Khi tiếp nhận và sử dụng vốn ODA, do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ nầnthường chưa xuất hiện ngay ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất,nhất là cho xuất khẩu, trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ Do
đó, trong khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp các loại nguồnvốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu
3.Phân loại:
Theo tính chất:
- Viện trợ không hoàn lại:các khoản cho không, không phải trả lại
- Viện trợ có hoàn lại: các khoản vay ưu đãi ( tín dụng với lãi suất thấp và thờigian ân hạn dài)
- Viện trợ hỗn hợp:gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện theo hìnhthức tín dụng ( có thể là ưu đãi hoặc thương mại)
Theo mục đích:
- Hỗ trợ cơ bản: là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng kinh tế, xã hội và môi trường Đây là những khoản cho vay ưu đãi
Trang 7- Hỗ trợ kỹ thuật: là những nguồn lực dành cho chuyển giao trí thức, côngnghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu tư,phất triển thể chế và các nguồn lực…laoị hỗ trợ này chủ yếu là hỗ trợ không hoànlại.
Theo điều kiện:
- ODA không ràng buộc nước nhận: việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràngbuộc bởi nguồn sử dụng
- ODA có ràng buộc nước nhận
- Theo đối tượng sử dụng:
- Hỗ trợ dự án: là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ thể
Nó có thể hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc cho vay ưuđãi
- Hỗ trợ phi dự án bao gồm các loại hình như sau: hỗ trợ cán cân thanh toán,
hỗ trợ trả nợ và viện trợ chương trình
4.Nguồn gốc lịch sử của ODA:
ODA ra đời sau chiến tranh thế giới thứ II, cùng với kế hoạch Marshall đểgiúp các nước Châu Âu phục hồi các ngành công nghiệp bị chiến tranh tàn phá Đểtiếp nhận viện trợ của kế hoạch Marshall, các nước Châu Âu thành lập tổ chức hợptác và phát triển kinh tế (OECD) Ngày nay, tổ chức này không chỉ có thành viên làcác nước Châu Âu mà còn có Mỹ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc… Trong khuôn khổhợp tác phát triển, các nước OECD lập ra những ủy ban chuyên môn, trong đó có
ủy ban phát triển (DAC) nhằm giúp các nước đang phát triển ODA được thực hiệntrên cơ sở đa phương hoặc song phương
Các nước và các tổ chức cung cấp ODA
Trang 8Các nguồn cung cấp ODA chủ yếu:
- Các nước thành viên của DAC
- Liên Xô và các nước Đông Âu
- Một số nước Ả Rập
- Một số nước đang phát triển
Trong các nguồn này ODA từ các nước thành viên của DAC là lớn nhất Năm
1992 DAC cung cấp 62,711 tỷ USD chiếm 0,34% tổng GNP của các nước này.Năm 1997 DAC cung cấp 48,324 tỷ USD bằng 0,225% tổng GNP
Bên cạnh việc cung cấp ODA trực tiếp( viện trợ song phương), các nước cungcấp ODA còn chuyển giao ODA cho các nước đang phát triển thông qua các tổchức viện trợ đa phương Các tổ chức đó là:
- Các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp quốc như: chương trình phát triển củaLiên Hợp Quốc, Quỹ Nhi Đồng Liên hợp Quốc, chương trình lương thực thế giới,quỹ dân số Liên Hợp Quốc, Tổ chức Y tế thế Giới, tổ chức nông nghiệp và lươngthực v.v
- Liên minh Châu Âu (european Union-EU)
- Các tổ chức phi chính phủ (NGO)
- Các tổ chức tài chính quốc tế: IMF, WB, ADB, Quỹ viện trợ của các tổ chứcOPEC, quỹ CÔ-OET, ngân hàng phát triển Châu Phi…
5.Vai trò của ODA với các nước đang phát triển:
ODA là một nguồn vốn quan trọng đối với các nước đang và chậm phát triển Vốn đầu tư cùng với tài nguyên thiên nhiên, lao động và kỹ thuật là bốn nguồnlực cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Tất cả các nước khi tiến hành công
Trang 9nghiệp hóa đều cần có vốn đầu tư lớn Đó là trở ngại lớn nhất để thực hiện côngnghiệp hóa đối với nước nghèo.
Trong điều kiện hiện nay, với những thành tựu mới của công nghệ các nước
có thể tiến nhanh ko chỉ bằng khả năng tích lũy trong nước mà còn phải kết hợptận dụng xu thế thời đại Bên cạnh nguồn vốn trong nước còn có thể huy độngnguồn vốn nước ngoài, nhiều khi với khối lượng lớn tuy nhiên vốn trong nước cóvai trò quan trọng, vốn nước ngoài có khả năng thúc đẩy sự phát triển đối với cácnước đang phát triển ODA là nguồn vốn tài chính quan trọng nhiều nước đã tiếpthu một lượng ODA khá lớn như một bổ sung quan trọng cho phát triển sau chiếntranh thế giới thứ 2, nhiều nước ở châu á đã thiếu vón để khôi phục và phát triểnkinh tế đầu tư vào cơ sở hạ tầng đòi hỏi một lượng vốn khá lớn, lãi suất thấp thờigian thu hồi vốn lâu, nhiều rủi ro Vì vậy các nước gặp nhiều khó khăn trong việcthu hồi vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực này Nhiều nước đãtranh thủ được nguồn vốn ODA từ các nước giàu Trong giai đoạn đầu phát triểnkinh tế, đài loan đã nhận viện trợ từ hoa kì tới 1,482 tỷ USD Vốn viện trợ đã gópphần rất đáng kể cho quá trình đi lên của Đài Loan Từ một nước nhận viện trợ,những năm gần đây Đài Loan đã trở thành một nước cung cấp viện trợ Hiện nayNhật Bản là nhà viện trợ hàng đầu trên thế giới, nhưng trước đây cũng là một nướcnhận viện trợ Năm 1945, ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, NhậtBản đã gặp rất nhiều khó khăn và đã nhận được giúp đỡ của Hoa Kỳ cùng các nướckhác trên thế giới, quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) và các tổ chức của LiênHợp Quốc bằng thực phẩm, thuốc men, các dịch vụ y tế và một số hình thức khác.Trong nhưng năm 50 nhật bản đã phục hồi với một tốc đọ thần kì Với sự giúp đỡcủa Hoa Kỳ, các tổ chức tài chính quốc tế như WB, nhiều dự án lớn đã được thựchiện: các dự án đường xe lửa cao tốc Shinkansen, những dự án đường cao tốc, các
dự án xây dựng đập nước… nền kinh tế Nhật Bản đã phát triển nhanh chóng với sựgiúp đỡ của vốn ODA Đầu những năm 60 nhật bản là nước nhận viện trợ từ WB
Trang 10nhiều thứ 2 trên thế giới năm 1990 Nhật Bản đã trả nợ xong cho ngân hàng thếgiới
ODA giúp các nước nghèo tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiệnđại và phát triển nguồn nhân lực
Những lợi ích quan trọng mà ODA mang lại cho các nước nhận tài trợ là côngnghệ, kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và trình độ quản lý tiên tiến hiện đạicác nhà tài trợ còn ưu tiên đầu tự cho nguồn nhân lực vì họ tin tưởng rằng việc pháttriển của một quốc gia quan hệ mật thiết với sự phát triển của nguồn nhân lực đâymới chính là những lợi ích căn bản, lâu dài đối với nước nhận viện trợ Những lợiích này thật khó mà có thể lượng hóa được hộ tác kỹ thuật của Nhật Bản là một ví
dụ rất sinh động về vai trò của hỗ trợ phát triển chính thức trong việc giúp các nướcđang phát triển tiếp thu những thành tựu khoa học hiện đại công nghệ tiến tiến vàphát triển nguồn nhân lực
ODA giúp các nước đang phát triển điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Do dân số tăng nhanh hơn sản xuất và cung cách quản lý kinh tế tài chính kémhiệu quả các nước đang phát triển mà đặc biệt là các nước Châu Phi đang vấp phảinhiều khó khăn kinh tế như nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tếngày càng tăng Để giải quyết các vấn đề này, các quốc gia đang cố gắng hoànthiện cơ cấu kinh tế bằng cách phối hợp với ngân hàng thế giới, quỹ tiền tệ quốc tế
và các tổ chức quốc tế khác tiến hành điều chỉnh cơ cấu chính sách này dự địnhchuyển chính sách kinh tế nhà nước đóng vai trò trung tâm sang chính sách khuyếnkhích nền kinh tế phát triển theo định hướng phát triển khu vực kinh tế tư nhân Thế giới đã thừa nhận sự cần thiết của loại hình viện trợ này đối với các nướcđang phát triển và nhật bản cũng chú trọng loại hình này Nhật Bản đã tích cựctham gia hỗ trợ cho những cuộc cải cách này Trong giai đoạn 3 năm từ 1993 đến
Trang 111995, Nhật Bản đã giành một khoản viện trợ tổng cộng khoảng gần 700 triệu USD
để hỗ trợ điều chỉnh kinh tế của các nước đang phát triển
ODA góp phần tăng khả năng thu hút vốn FDI và tạo điều kiện để mở rộngđầu tư trong nước và các nước đang và chậm phát triển
Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầ tự vào mộtnước, trước hết họ quan tâm đến khả năng sinh lợi của vốn đầu tự tại nước đó Họcảnh giác với nguy cơ làm tăng các phí tổn của đầu tư Một cơ sở hạ tần yếu kémnhư giao thông chưa hoàn chỉnh thiếu thốn và lạc hậu hệ thống cung cấp nănglượng ko đủ sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư về những chi phí mà họ phải trả choviệc sử dụng những tiện nghi hạ tầng sẽ lên cao, chưa kể đến thiệt hại như hoạtđộng của nhà máy, xí nghiệp phải dừng vì mất điện công trình xây dựng phải bỏ dở
vì ko có nước…
Như vậy, đầu tư của chính phủ vào việc nâng cấp cải thiện và xây dựng mới
cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng đều hết sức cần thiết nhằm làm chomôi trường đầu tư trở lên hấp dẫn hơn Nhưng vốn đầu tư cho việc xây dựngcơ sở
hạ tầng là rất lớn nhiều trường hợp các nước đang phát triển cần dựa vào nguồnvốn ODA để bổ sung cho đầu tư hạn hẹp từ ngân sách nhà nước một khi môitrường đầu tư được cải thiện sẽ làm tăng sức hút dòng vốn FDI
Rõ ràng, ngoài việc bản than ODA là một nguồn vốn bổ sung quan trọng chocác nước đang và chậm phát triển, nó còn làm tăng khả năng thu hút vốn từ nguồnFDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước góp phần thực hiệnthành công chiến lược đối ngoại Tất cả các nước theo đuổi chiến lược đối ngoạiđều có nhịp độ tăng trưởng kinh tế rất nhanh và biến đổi kinh tế trong nước mạnh
mẽ để chuyển từ nước nông công nghiệp thành nước công nông nghiệp hiện đại,cómức thu nhập bình quân đầu người cao
Trang 12II Những nhân tố ảnh hưởng.
Điều kiện để các nước có thể nhận được nguồn vốn ODA:
Vốn ODA chỉ dành riêng cho các nước đang và chậm phát triển, vì mục tiêuphát triển Có hai điều kiện cơ bản nhất để các nước đang và chậm phát triển có thểnhận được viện trợ:
- Điều kiện thứ nhất: Tổng sản phẩm quốc ( gross domestic product – GDP)bình quân đầu người thấp Nước có bình quân đầu người càng thấp thì thường được
tỷ lệ viện trợ không hoàn lại càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp và thời hạn
ưu đãi càng lớn khi các nước này đạt trình độ phát triển nhất định qua ngưỡng đóinghèo thì sự ưu đãi này sẽ giảm đi
Việt Nam sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình( dự kiến đến năm 2010,GDP bình quân đầu người của Việt Nam sẽ đạt 1.050 USD), các nhà tài trợ sẽ tănglượng ODA cho vay thay vì ODA ưu đãi như hiện nay Do đó, Việt Nam cần phải
sử dụng tốt hơn nguồn vốn ODA hiện nay
Điều kiện thứ hai: mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải phù hợpvới chính sách và phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp
và bên nhận ODA
Thông thường, các nước cung cấp ODA đều có những chính sách và ưu tiênriêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹthuật và tư vấn (về công nghệ, kinh nghiệm quản lý…) Đồng thời, đối tượng ưutiên của các nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể
Vì vậy phải nắm được hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước, các tổ chức cungcấp ODA là rất cần thiết
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trongnhững điều kiện nhất định, một phần GNP từ các nước phát triển sang các nướcđang phát triển Như vậy, nguồn gốc thực chất của ODA chính là một phần tổngsản phẩm quốc dân của các nước giàu được chuyển sang các nước nghèo Do vậy,
Trang 13ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội từ phíanước cung cấp cũng như từ phía nước tiếp nhận ODA Vì vậy, chúng ta phải hàihoà quy trình và thủ tục ODA giữa Chính phủ và các nhà tài trợ.
Để thu hút được nguồn vốn ODA từ nhà tài trợ thì Việt Nam phải sử dụnghiệu quả nguồn vốn ODA, có như vậy mới tạo được niềm tin từ phía người cungcấp Về phía nhà tài trợ cũng đánh giá cao hiệu quả và hiệu suất sử dụng nguồn vốnODA ở Việt Nam nói chung và từng nhà tài trợ nói riêng Việt Nam cũng đượcđánh giá là quốc gia thành công nhất trong số các nước nhận IDA Trên cơ sở này,ngân hàng thế giới đã đánh giá cao hệ số tin cậy tín dụng của Việt Nam và đã quyếtđịnh mở kênh tín dụng mới của ngân hàng tái thiết và phát triển dành cho Việt Nam
Xu hướng vận động của nguồn vốn ODA:
Trong thời đại ngày nay, dòng vốn ODA đang vận động với nhiều sắc tháimới Đây cũng là một trong nhiều nhân tố tác động đến việc thu hút nguồn vốnODA.Bởi vậy, nắm bắt được những xu hướng vận động mới này là rất cần thiếtđối với các nước nhận viện trợ
Về số lượng:
Tổng khối lượng của ODA trên thế giới tăng chậm trong những năm 1960.trong những năm 1970 và 1980 viện trợ từ các nước thuộc OECD vẫn tăng liêntục Đến giữa thập niên 80 khối lượng viện trợ đạt mức gấp đôi đầu thập niên 70.cuối những năm 1980 đến những năm 1990 ODA vẫn tăng nhưng với tỷ lệ thấp.năm 1991, viện trợ phát triển chính thức đã đạt tới con số đỉnh điểm là 69 tỷ USDtheo giá năm 1995 Năm 1996, 21 nước tài trợ OECD đã dành 55,114 tỷ USD choviện trợ, bằng 0,25% tổng GDP của họ và bằng 1,71% tổng chi ngân sách củachính phủ các nước này Cũng trong năm này tỷ lệ ODA/GNP của các nước DACchỉ là 0,25% So với năm 1995, viện trợ của OECD đã giảm 3,768 tỷ USD, tứckhoảng 4,2%
Trang 14Năm 1995, tại hội nghị cấp cao thế giới về phát triển xã hội, chính phủ cácnước đã tự nguyện cam kết thực hiện “ thỏa thuận 2020” Các nước viện trợ camkết dành 20% nguồn viện trợ và các nước viện trợ dành 20% chi tiêu công cộngcho các dịch vụ cơ bản.
Năm 1969, DAC đã xác định mục tiêu là các nước phát triển dành 0,7% GNPcủa nước mình cho viện trợ phát triển của nước ngoài Tháng 6/1997, tại phiên họpđặc biệt của đại hội đồng Liên Hợp Quốc (UNGASS), các nước thành viên DACmột lần nữa khẳng định cam kết dành 0,7% GNP cho viện trợ Mặc dù từ đó tới nay
có rất ít đạt được mục tiêu này và đã có một số nước giảm khối lượng viện trợtrong những năm qua Các nước thành viên DAC trừ Hoa Kỳ vẫn tiếp tục khẳngđịnh cam kết này
Năm 1996, DAC đã công bố một công trình có tiêu đề “kiến tạo thế kỷ 21:cống hiến của hợp tác phát triển” trong công trình này, các nước thành viên DACcam kết phấn đấu đạt mục tiêu cụ thể đã dược nhất trí tại hội nghị của Liên HợpQuốc Đó là:
- Giảm một nửa tỷ lệ những người đang sống trong cảnh nghèo khổ cùng cựcvào năm 2015
- Phổ cập giáo dục tiểu học ở tất cả các nước vào 2015
- Xóa bỏ sự phân biệt giới tính trong giáo dục tiểu học và trung học vào năm
2005, coi đây là một sự tiến bộ bình đẳng về giới và tăng quyền lực của phụ nữ
- Giảm 2/3 tỷ lệ tỷ vong ở trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi và giảm 3/4 tỷ lệ tỷvong ở tuổi trưởng thành vào năm 2015
- Thực hiện các chiến lược quốc gia và toàn cầu vào năm 2000 vì sự phát triểnbền vững của tất cả các nước
Tuy ngày càng nhiều cam kết quan trọng trong quan hệ hỗ trợ phát triển chínhthức nhưng nguồn vốn ODA tăng chậm Liên hợp quốc kêu gọi các nước phát triểnphấn đấu đạt tỷ lệ ODA/gnp là 1% trong tương lai nhng các nước phát triển vẫn
Trang 15còn cách xa mục tiêu 0,7% GNP cho viện trợ Nhật Bản và Hoa Kỳ, hai nhà tài trợhàng đầu thế giới, từ trước tới nay chưa bao giờ dành 0,35%GNP cho ODA Nhiềunước đang phải đối mặt với những vấn đề mang tính toàn cầu như dịch bệnh, khủngbố…khiến cho ODA tăng chậm.
Tình trạng tài chính của các nghèo mắc nợ nhiều, khả năng hấp thụ ODA cònhạn chế, thiếu chủ động trong thu hút viện trợ… cũng là nguyên nhân “làm nguội”nhiệt tình của nhà tài trợ Ngoài ra trên thế giới xuất hiện những quan điểm mới,tiến bộ và hiệu quả ODA Hiêu quả sử dụng ODA được quan tâm hơn bao giờ hếtchứ không phải chú trọng vào số lượng bởi vậy them một lý do để các nước giàu
mở hầu bao của mình một cách thận trọng hơn Hơn nữa, hiện nay ở nhiều nước,người dân muốn chính phủ giảm bớt ngoại viện để tập trung giải quyết những vấn
đề kinh tế, xã hội môi trường trong nước
Cơ cấu:
- ODA không hoàn lại: không quá 25% tổng vốn ODA cam kết
- ODA ưu đãi: cho vay tín dụng với lãi suất thấp và thời gian ân hạn dài có xuhướng tăng
- ODA thường ưu tiên các lĩnh vưc:bảo vệ môi trường,vấn đề phụ nữ, giáodục, y tế, giao thông, xóa đói giảm nghèo…
Mục tiêu và yêu cầu của các nhà tài trợ ngày càng cụ thể, tuy nhiên ngày càng
có sự nhất trí cao giữa nước tài trợ và nước nhận viện trợ về một số mục tiêu và yêucầu ngầy càng cụ thể hơn Mục tiêu và yêu cầu ngày cụ thể khiến cho nước nhậnviện trợ nhanh chóng xác định khả năng thỏa mãn những vấn đề mà nhà tài trợ đặt
ra, đồng thời không lệch hướng trong quá trình thực hiện Các mục tiêu đạt được sựnhất trí ngày càng cao giữa nhà tài trợ và nước nhận viện trợ là:
- Tạo tiền đề tăng trưởng kinh tế
- Xóa đói giảm nghèo